1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số vấn đề về hoạt động đảm bảo vật tư cho sản xuất của công ty khoá minh khai

71 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề về hoạt động đảm bảo vật tư cho sản xuất của Công ty khoá Minh Khai
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Báo cáo luận văn
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 546,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thực tế không ít các doanh nghiệp đã gặp nhiều khó khăn và lúng túng trong công tác đảm bảovật tư cho sản xuất, như tình trạng dư thừa ứ đọng vật tư, không tìm được nguồnvật tư, sử

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Đảm bảo vật tư cho sản xuất là một vấn đề quan trọng rất phức tạp bảnthân nó bao hàm nhiều quá trình kinh tế và giữa chúng lại có một mối quan hệmật thiết với nhau

Ngày nay việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu baocấp sang nền kinh tế thị trường, ở Việt nam đã khiến cho mọi doanh nghiệp phải

tự chịu trách nhiệm từ kết quả sản xuất kinh doanh của mình Trên thực tế không

ít các doanh nghiệp đã gặp nhiều khó khăn và lúng túng trong công tác đảm bảovật tư cho sản xuất, như tình trạng dư thừa ứ đọng vật tư, không tìm được nguồnvật tư, sử dụng lãng phí vật tư Do vậy việc phải làm sao cho công tác đảm bảovật tư cho sản xuất, đáp ứng được các yêu cầu của quá trình sản xuất kinh doanhnhư: cung ứng đầy đủ các loại vật tư về số lượng, chất lượng đúng quy cáchphẩm chất, kịp thời gian và đồng bộ Việc kinh doanh vật tư phải đảm bảođượclợi thế cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường,là những đòi hỏi rất cấpthiết

Để góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, giúp Công ty khoáMinh Khai hoàn thiện công tác tổ chức, đảm bảo vật tư cho công ty một cáchkhoa học, nhằm thích ứng với điều kiện sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị

trường hiện nay Tôi xin nghiên cứu đề tài " Một số vấn đề về hoạt động đảm bảo vật tư cho sản xuất của Công ty khoá Minh Khai"

Các nội dung chủ yếu của đề tài bao gồm

Chương I: Vai trò và nội dung của công tác đảm bảo vật tư cho sản xuất của doanh nghiệp sản xuất.

ChươngII: Thực trạng và công tác đảm bảo vật tư cho sản xuất ở công

ty khoá Minh Khai

ChươngIII: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác đảm bảo vật tư cho sản xuất.

Trang 2

CHƯƠNG I VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC ĐẢM BẢO VẬT TƯ CHO

SẢN XUẤT CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

I ĐẢM BẢO VẬT TƯ CHO SẢN XUẤT LÀ ĐIỀU KIỆN TẤT YẾU CỦA QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT

1 Hàng hoá vật tư

- Là sản phẩm của lao động dùng để sản xuất ra sản phẩm, đó là nguyênnhiên liệu,vật liệu điện lực, bán thành phẩm, thiết bị máy móc, dụng cụ và phụtùng

- Vật tư là sản phẩm của lao động được trên dùng cho sản xuất Nó là mộtyếu tố không thể thiếu được đối với bất kỳ nền sản xuất nào

- Vì vậy chúng ta phải làm rõ hai thuộc tính của hàng hoá đó là:Giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá

- Sản xuất hàng hoá tồn tại nhiều hình thái kinh tế xã hội

- Trong lịch sử đã tồn tại ba loại sản xuất hàng hoá

+ Sản xuất hàng hoá giản đơn

+ Sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa

+ Sản xuất hànghoá xã hội chủ nghĩa

- Sản xuất hàng hoá trong mỗi hình thái kinh tế xã hội có bản chất khácnhau, nhưng đó là hàng hoá thì chúng phải có hai thuộc tính sau:

* Giá trị sử dụng: Do công dụng của vật thể đó quy định nó dùng để thoảmãn nhu cầu tiêu dùnh cho sản xuất Công cụ của vật phẩm nó chở thành giá trị

sử dụng

Giá trị sử dụng do thuộc tính tự nhiên chứ không phải do thuộc tính xã hộicủa vật phẩm đó quyết định Vì vậy giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn

Mác nói: "Giá trị sử dụng cấu thành các nội dung vật chất của cải chẳng

kể hình thái xã hội đó như thế nào”

Trang 3

- Giá trị sử dụng là một thuộc tính hàng hoá gắn liền với vật thể hàng hoá,nhưng đó không phải là giá trị sử dụng cho bản thân người sản xuất hàng hoá,

mà là một giá trị sử dụng cho người sử dụng chúng

- Nhờ thuộc tính đó của hàng hoá nên các hàng hoá đó có thể trao đổiđược với nhau chẳng qua là trao đổi lao động của mình ẩn dấu trong những hànghoá đó

* Giá trị: Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị, là nội dung, là

cơ sở của giá trị trao đổi Hàng hoá là sản phẩm của lao động, nó có hai thuộctính giá trị và giá trị sử dụng Vậy thì vật tư hàng hoá có hai thuộc tính giá trị vàgiá trị sử dụng

Cần chú ý rằng hai thuộc tính này cũng kết tinh trong hàng hoá, điều đó

có nghĩa là giá trị sử dụng và giá trị thống nhất với nhau nhưng không hoàn toàntách lập một cách biệt lập thô thiển

Một giá trị bao giờ cũng đi liền với một giá trị sử dụng nhất định Một giátrị sử dụng được sản xuất để trao đỏi đã là cái chứa đựng trong hàng hoá Nhưvậy khi chúng ta sử dụng một hàng hoá nào đó làm hao mòn giá trị sử dụng, thìcũng có nghĩa là chúng ta đã tiêu tốn một lượng giá trị để mua một giá trị sửdụng đó phải xứng đáng, phải phù hợp với lượng giá trị đã bỏ ra bằng một lượnggiá trị nhất định Chúng ta có thể mua được những giá trị sử dụng nhất định phùhợp với nó

Quan hệ giữa giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá được biểu hiện ở quyluật giá trị Đây là quy luật của nền sản xuất hàng hoá và trao đổi hàng hoá phảiđược tiến hành trên cơ sở ngang giá hay nói cách khác nó yêu cầu giá trị sử dụngcủa một hàng hoá luôn thống nhất với nhau và phù hợp với nhu cầu của xã hội

Đại hội Đảng cộng sản Việt nam lần thứ VI đã thừa nhận nền kinh tế Việtnam là xã hội

Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Vật tư là sản phẩm của lao động,được tiêu dùng trong sản xuất như vậy trong nền kinh tế hàng hoá thì vật tư làhàng hoá, vật tư có hai thuộc tính như các hàng hoá khác đó là giá trị và giá trị

Trang 4

sử dụng Điều đó có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh thương mạivật tư.

2 Sự cần thiết của vấn đề tổ chức quá trình đảm bảo vật tư.

Để quá trình sản xuất có thể diễn ra, đòi hỏi mọi doanh nghiệp phải có bayếu tố; vật tư, lao động, tiền vốn

Vật tư là sản phẩm của lao động, nó được trao đổi thông qua mua bán đểphục vụ cho sản xuất Vật tư là yếu tố quan trọng trong ba yếu tố của quá trìnhsản xuất Trực tiếp cấu tạo nên thực thể của sản phẩm Như vậy vật tư là cầnthiết không thể thiếu được trong bất kỳ nền sản xuất nào Để có vật tư cho sảnxuất thì phải thông qua vấn đề tổ chức quá trình đảm bảo vật tư cho sản xuất,chính là bảo đảm quá trình sản xuất được thực hiện liên tục và bảo đảm sự tồntại phát triển của đơn vị sản xuất Để có vật tư kịp thời cho sản xuất theo đúngtiến độ đòi hỏi mỗi đơn vị phải tổ chức một cách khoa học từ xác định nhu cầuđến tổ chức thu mua, quản lý nhu cầu phù hợp với yêu cầu sản xuất Để giảm giáthành sản phẩm, tuỳ lợi nhuận và thu nhập Như vậy vấn đề tổ chức đảm bảo vật

tư cho sản xuất là cần thiết không thể thếu được, nó là cơ sở cho quá trình sảnxuất diễn ra một cách thường xuyên liên tục trong nhịp độ khác nhau với nhữngbiến động khác nhau của thị trường

3 Ý nghĩa của vấn đề tổ chức quá trình đảm bảo vật tư cho sản xuất.

Để thực hiện quá trình sản xuất liên tục đòi hỏi đảm bảo thường xuyênnguyên nhiên vật liệu và thiết bị máy móc chỉ có đảm bảo đủ số lượng, đúngmặt hàng và chất lượng vật tư cần thiết với thời gian quy định thì sản xuất mới

có thể tiến hành bình thường được và sản xuất kinh doanh mới có hiệu quả

Ngược lại nếu vật tư mua về quá số lượng quy định, chất lượng khôngđúng với yêu cầu dẫn đến tồn đọng vốn, sản phẩm sản xuất ra không bán được,hiệu quả sản xuất kinh doanh kém đi và nếu vật tư mua về không kịp thời dẫntới sản xuất bị ngừng trệ, dẫn tới tăng giá thành sản phẩm

Tóm lại trong điều kiện hiện nay nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế thịtrường, vấn đề đảm bảo vật tư cho sản xuất cần bám sát thị trường Lập kế hoạchcung ứng vật tư phải bám sát kế hoạch sản xuát và tiêu thụ Giải quyết tốt mối

Trang 5

quan hệ Tiền-Hàng-Tiền theo quy luật giá trị để định hướng ổn định vật tưthường xuyên cho quá trình sản xuất.

4 Sự tác động qua lại của việc đảm bảo vật tư và quá trình sản xuất.

Quá trình sản xuất liên quan chặt chẽ đến quá trình cung ứng vật tư vàtiêu dùng vật tư được thể hiện ở những điểm sau

Tên cơ sở kế hoạch sản xuất lập kế hoạch cung ứng vật tư cụ thể là:

Nhu cầu vật tư

= (Sản lượng kế hoạch nhân với định mức tiêu chuẩn )

Kế hoạch cung ứng vật tư càng sát với kế hoạch bao nhiêu càng tốt bấynhiêu, nhất là trong giai đoạn hiện nay Vật tư mua về thừa hoặc thiếu đều ảnhhưởng trực tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh

Cân đối nguồn tài chính mua vật tư đưa vào số lượng vật tư theo kếhoạch, để tránh tình trạng mất cân đối nguồn vốn

Sản xuất mà liên tục, tiêu thụ sản phẩm đều đặn, sẽ tạo ra nguồn vốn cungứng vật tư Nhưng nếu tiêu dùng vật tư không đúng với yêu cầu công nghệ sẽlàm tăng chi phí sản xuất, tăng giá thành sản phẩm, giảm hiệu quả sản xuất kinhdoanh, gây khó khăn về tài chính cho doanh nghiệp, cản trở việc mua bán vật tư

Thực hiện quá trình sản xuất là thực hiện quá trình biến đổi từ nguyên vậtliệu, dưới tác dụng máy móc con người, giá trị vật tư được chuyển dần vào giátrị của sản phẩm Nếu yêu cầu đặt ra giữa sản xuất và tiêu dùng vật tư đúng vớiyêu cầu kỹ thuật là nghiêm ngặt Bên cạnh đó phải đầu tư khoa học kỹ thuật cảitiến công nghệ, giảm định mức tiêu hao vật tư, tăng hiệu quả sản xuất, tăngnguồn vốn và nhu cầu vật tư được đảm bảo

Sản xuất tiêu dùng vật tư phải được qua lưu thông hàng hoá, sản xuất bảođảm tiêu thụ sản phẩm, tránh khê đọng sản phẩm là tránh ứ đọng vật tư Việcthanh toán với khách hàng bằng quan hệ tiền hàng hoặc thông qua tổ chức kinhdoanh khác bằng sản phẩm là tự ngang giá trị, nên giá thành sản phẩm phải đượcthị trường chấp nhận

Trang 6

Ngoài ra việc tiêu dùng vật tư trực tiếp phải tính đến các yếu tố chi phílưu thông vật tư để đảm bảo sản xuất có hiệu quả.

II NỘI DUNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐẢM BẢO VẬT TƯ CHO SẢN XUẤT Ở DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1 Nghiên cứu thị trường và lập kế hoạch mua sắm vật tư cho sản xuất.

Kế hoạch mua sắm vật tư cho sản xuất là một bộ phận quan trọng của kếhoạch sản xuất, kỹ thuật, tài chính của doanh nghiệp Việc xây dựng kế hoạchmua sắm kịp thời và có chất lượng sẽ cho phép đảm bảo các yếu tố sản xuất mộtcách có hiệu quả nhất Lập kế hoạch mua sắm vật tư là một quá trình phức tạp,bao gồm nhiều bước và nhiều công việc phải làm như:

Nghiên cứu thị trường các yếu tố sản xuất để xâm nhập và chiếm lĩnh thịtrường, xác định được thị trường đáp ứng được nhu cầu vật tư cho doanh nghiệp

cả về số lượng, chất lượng, thời gian và giá cả

Nghiên cứu nhiệm vụ sản xuất trong năm kế hoạch, khả năng tiêu thụ sảnphẩm, kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch vật tư trong năm báo cáo

Xác định lại bảng danh mục vật tư dùng trong năm, kế hoạch, xây dựng

và chỉnh lý các loại định mức, bao gồm định mức tiêu hao nguyên vật liệu, địnhmức sử dụng công suất thiết bị máy móc và định mức dự trữ vật tư

Tính toán nhu cầu vật tư trong toàn bộ doanh nghiệp và cho tất cả các loạicông việc

Tính toán nguồn vật tư, lập biểu tổng hợp nhu cầu vật tư và biểu cân đốivật tư

1.1.Vị trí và đặc điểm của kế hoạch mua sắm vật tư cho sản xuất.

Kế hoạch mua sắm vật tư là một bộ phận quan trọng của kế hoạch sảnxuất-Kỹ thuật - Tài chính doanh nghiệp Chúng có quan hệ mật thiết với các kếhoạch khác như kế hoạch tiêu thụ, kế hoạch sản xuất, kế hoạch xây dựng, kếhoạch tài chính Trong mối quan hệ này kế hoạch mua sắm vật tư bảo đảm yếu

tố vật chất để thực hiện các kế hoạch , còn các kế hoạch khác là căn cứ để xâydựng kế hoạch mua sắm vật tư Thật vậy chẳng hạn như mối quan hệ với kế

Trang 7

hoạch sản xuất, kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, kế hoạch vật tư không thể xa rờinhững chỉ tiêu trong những kế hoạch này, để xác định nhu cầu vật tư Vì một sự

xa rời những chỉ tiêu trong kế hoạch sản xuất, kế hoạch tiêu thụ, kế hoạch muasắm vật tư sẽ đưa đến tình trạng ứ đọng vật tư, ứ đọng vốn hoặc tình trạngkhông đảm bảo vật tư cho sản xuất, gây giảm giai đoạn sản xuất

Mặt khác cũng phải thấy rõ những đặc điểm riêng biệt của kế hoạch muasắm vật tư ở doanh nghiệp, để có thể nâng cao chất lượng của kế hoạch xâydựng nhằm phục vụ tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Kế hoạch mua sắm vật tư có những đặc điểm sau:

Kế hoạch và việc thực hiện kế hoạch mua sắm vật tư, sẽ dự kiến trực tiếpthời gian của qúa trình sản xuất, sự tiêu dùng trực tiếp các tư liệu sản xuất sẽphát sinh trong doanh nghiệp

Kế hoạch mua sắm vật tư của doanh nghiệp rất phức tạp Tính chất phứctạp của nó thể hiện ở chỗ trong kế hoạch có rất nhiều loại vật tư với rất nhiềuquy cách, chủng loại rất khác nhau và phương pháp cơ bản để lập kế hoạch này,

là phương pháp cân đối

Kế hoạch mua sắm vật tư ở doanh nghiệp có tính chất cụ thể và nghiệp vụcao độ của kế hoạch mua sắm vật tư Đặc điểm này xuất phát từ tính chất củasản xuất là bao giờ cũng mang tính cụ thể Vì vậy kế hoạch mua sắm vật tư phảirất chi tiết cụ thể, phải đặt mua những vật tư thích hợp phục vụ tốt cho sản xuất,tính chất cụ thể và nghiệp vụ cao độ của kế hoạch mua sắm vật tư ở doanhnghiệp còn thể hiện ở chỗ số lượng mua sắm , sẽ được phân chia ra cho từngphân xưởng, nhất định trong từng thời kỳ nhất định

1.2.Nội dung và trình tự lập kế hoạch mua sắm vật tư.

a)Nội dung của kế hoạch mua sắm vật tư;

- Kế hoạch mua sắm vật tư của doanh nghiệp thực chất là sự tổng hợpnhững tài liệu tính toán kế hoạch, nó là một hệ thống những bảng biểu, tổng hợpnhu cầu vật tư và một hệ thống các bảng biểu cân đối vật tư Nhiệm vụ chủ yếucủa nó là bảo đảm vật tư một cách tốt nhất cho sản xuất Muốn vậy kế hoạch

Trang 8

mua sắm vật tư phải xác định, cho lượng vật tư cần thiết có trong kỳ kế hoạch cả

về số lượng, chất lượng và thời gian

Bên cạnh việc xác định lượng vật tư cần mua, kế hoạch mua sắm vật tưcòn phải xác định rõ nguồn vật để thoả mãn các nhu cầu của doanh nghiệp Bởivậy kế hoạch mua vật tư thường phản ánh hai nội dung cơ bạn sau đây:

Một là phản ánh toàn bộ nhu cầu vật tư của doanh nghiệp trong kỳ kếhoạch như nhu cầu vật tư cho sản xuất, cho xây dựng cơ bản, cho sửa chữa, cho

dự trữ

Hai là phản ánh các nguồn vật tư để thoả mãn nhu cầu nói trên, bao gồmnguồn tồn kho đầu kỳ, nguồn động viên tiềm lực nội bộ doanh nghiệp và nguồnmua ngoài

b)Trình tự lập kế hoạch mua sắmvật tư :

Trình tự lập kế hoạch là những bước công việc phải làm để có được kếhoạch đối với các doanh nghiệp, việc lập kế hoạch mua sắm vật tư chủ yếu là dophòng kinh doanh lập, nhưng thực tế có sự tham gia của nhiều bộ phận trong bộmáy điều hành doanh nghiệp

Các giai đoạn lập kế hoạch vật tư gồm có:

Giai đoạn chuẩn bị: Đây là giai đoạn quan trọng quyết định đến chấtlượng và nội dung của kế hoạch vật tư, ở giai đoạn này, cán bộ thương mạidoanh nghiệp phải thực hiện các công việc sau, nghiên cứu và thu nhập cácthông tin về thị trường, các yếu tố sản xuất chuẩn bị các tài liệu về phường ánsản xuất kinh doanh và kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, mức tiêu dùng nguyên vậtliệu, yêu cầu của các phân xưởng, tổ đội sản xuất và của doanh nghiệp

Giai đoạn tính toán các loại nhu cầu của doanh nghiệp: Đối với các doanhnghiệp sản xuất, để có được kế hoạch mua vật tư chính xác và khoa học, đòi hỏiphải xác định đầy đủ các loại nhu cầu vật tư cho sản xuất Đây là căn cứ quantrọng, để xác định lượng vật tư cần mua về cho doanh nghiệp Trong đó nềnkinh tế thị trường, với cơ chế tự trang chải và có lợi nhuận để tồn tại và pháttriển, việc xác định đúng đắn các loại nhu cầu có ý nghĩa kinh tế to lớn

Trang 9

Giai đoạn xác định số lượng vật tư tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ của doanhnghiệp Đối với các doanh nghiệp số lượng vật tư này thường được xác địnhtheo phương pháp "Uớc tính”và phương pháp "Định mức".

Giai đoạn kết thúc của công việc lập kế hoạch mua sắm vật tư là xác định

số lượng vật tư hàng hoá cần phải mua về cho doanh nghiệp, nhu cầu này củadoanh nghiệp được xác định theo phương pháp cân đối nghĩa là:

Để quản lý hoạt động thương mại doanh nghiệp người ta thường dựa trên

cơ sở hệ thống các định mức kinh tế kỹ thuật

Trang 10

2.Tổ chức mua sắm vật tư

Trên cơ sở kế hoạch mua sắm vật tư và kết qủa nghiên cứu thị trường,doanh nghiệp nên đơn hàng vật tư và tổ chức thực hiện, bảo đảm vật tư cho sảnxuất, lên đơn hàng là quá trình cụ thể hoá, nhu cầu là việc xác định tất cả cácquy cách chủng loại hàng hoá dịch vụ cần thiết Số lượng đặt mua từng quycách, chủng loại và thời gian nhập hàng, lập đơn hàng là công tác hết sức quantrọng trong quá trình mua sắm vật tư, và hiệu quả sản xuất kinh doanh của

Căn cứ định mức của kế hoạch hoá và quản lý Thương mại

bị máy móc

Mức

dự trữ sản xuất

Mức

dự trữ vật tư cho sản xuất nửa TP

Mức điều tiết thươn

g mại đầu vào

n liệu

Mức tiêu dùng điện

Mức chuy

ển thẳn

g đặt hàng giao hàng

Giá

cả vật

tư hàng hoá

Mức hao hụt

tự nhiên

Các mức khác

Trang 11

doanh nghiệp Bất cứ một sai sót nào cũng có thể dẫn đến đặt mua những vật tư

mà nhu cầu sản xuất không cần đến hoặc không đủ so với nhu cầu, với ý nghĩanhư vậy phòng kinh doanh phải có trách nhiệm cao trong công tác lập đơn hàng

Để lập đơn hàng được chính xác bộ phận đơn hàng cần tính đến các cơ sở lậpđơn hàng như nhiệm vụ của sản xuất , hệ thốnh định mức tiêu dùng vật tư, địnhmức dự trữ vật tư, lượng tồn kho vật tư, kế hoạch tác nghiệp về đảm bảo vật tưquý tháng Nhiệm vụ quan trọng trong công tác lập đơn hàng là chọn và đặtmua những loại vật tư, hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao Tổ chức mua sắm vật

tư ở doanh nghiệp được thực hiện trên cơ sở đơn hàng và hợp đồng ký kết

2.1.Dự báo nhu cầu vật tư.

Trong tình hình hiện nay vấn đề dự báo rất quan trọng, do thị trường trong

và ngoài nước có nhiều thay đổi ảnh hưởng đến mặt hàng kinh doanh trong quátrình thực hiện Công ty cần nắm vững diễn biến của thị trường về mặt hàng màcông ty sẽ kinh doanh, về giá cả, về phí lưu thông, nguồn hàng và sự cạnh tranhcủa các đơn vị khác Để từ đó củng cố thay đổi phương thức kinh doanh củacông ty Công ty cần nghiên cứu nhu cầu tiêu thụ sản phẩm từng quý tháng, để

từ đó công ty biết các vật tư mà công ty cần là bao nhiêu, chất lượng ra sao, sốlượng vật tư đó mua ở đâu Qua dự báo này công ty có thể mở rộng thị trường

và bán thêm sản phẩm của mình kinh doanh Khi đó lắm được tình hình tiêu thụsắp tới của công ty cũng biết thêm khả năng cung cấp vật tư trong nước và nướcngoài Nguồn hàng mà bán với số lượng giá trị ổn định, thuận tiện để bảo quảnvận chuyển đến nơi đơn vị cần mua Dự báo nhu cầu vật tư cũng cho công tybiết được, những biến đổi của chất lượng sản phẩm nào công ty đã mua hoặcnhững nguồn hàng mà công ty vừa khai thác, nắm vững được yếu tố này sẽ đápứng mọi yêu cầu của các bộ phận

+ Những luận chứng để dự báo nhu cầu vật tư

- Diễn biếncủa thị trường

- Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trong nước

- Khả năng cung cấp vật tư trong nước

- Những biến đổi của cơ cấu sản phẩm

Trang 12

+ Những điểm cần chú ý khi dự báo nhu cầu vật tư.

ta đã có ít cơ hội mà lại mắc sai lầm ở thị trường, thì có ít cơ hội để làm lại Tuynhiên nếu có hiểu biết nhiều thì hoạt động của các thị trường này, lại có nhữngthuận lợi như thanh toán sòng phẳng, không bị chiếm dụng vốn, thực hiện đúng

Trang 13

hợp đồng Do điều kiện phân công lao động quốc tế và trình độ sản xuất củanước ta hiện nay, thị trường nước ngoài vẫn rất quan trọng đối với vấn đề đảmbảo vật tư, cho tiêu dùng sản xuất trong nước được tiến hành bình thường, liêntục và nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần vào việc sản xuất kinh doanh cóhiệu quả cao và thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển.

Hoạt động ở thị trường quốc tế phải tuân theo các điều kiện thương mạichung, luật pháp và các chính sách buôn bán ở nước bạn hàng, điều kiện về tiền

tệ và thanh toán, điều kiện vận tải và tình hình giá cước Hiện nay đại đa số cáchợp đồng mua bán nước ngoài phải thanh toán bằng ngoại tệ, vì thế phải cânnhắc tính toán cẩn thận khi bỏ ngoại tệ ra mua hàng

+ Nguồn nội địa:

Nguồn nội địa là toàn bộ khả năng vật tư hàng hoá trong nước mà doanhnghiệp có thể khai thác được Nguồn hàng nội địa có thể chia ra làm hai bộphận; nguồn từ các đơn vị sản xuất và từ các tổ chức kinh doanh khác

Nguồn thu mua trực tiếp từ các đon vị sản xuất trong nước có nhiều điểmtích cực như đảm bảo chất lượng, tính chất thường xuyên và khối lượng lớn, chiphí lưu thông thấp

Nhưng bên cạnh đó còn nhiều nhược điểm như là vật tư kinh doanh khôngđồng bộ, nhưng thường phải chấp nhận giá cao hơn ở các tổ chức kinh doanhkhác

Ngoài hai bộ phận trên nguồn nội địa còn có

- Nguồn tồn kho tại các đơn vị phụ thuộc

- Nguồn do doanh nghiệp tự sản xuất lấy; đặc điểm của ngồn hàng này là

ít và không đòi hỏi quy trình sản xuất phức tạp mà các tổ chức lưu thông hànghoá, thấy phù hợp với yêu cầu của sản xuất và tự mình có thể sản xuất một vàiloại vật tư hàng hoá không quan trọng để kinh doanh

- Nguồn do doanh nghiệp thuê gia công

- Nguồn do doanh nghiệp liên doanh liên kết; Đó là nguồn hàng mà các tổchức kinh doanh hàng hoá có thể liên doanh liên kết, với các đơn vị hoặc cánhân sản xuất các loại hàng hoá, phục vụ cho nhu cầu của kinh doanh

Trang 14

- Nguồn do hàng đổi hàng: đây là hình thức tạo nguồn rất phổ biến trongtrường hợp các doanh nghiệp là người cung ứng nguyên liệu, vật tư kỹ thuật chosản xuất.

- Nguồn do doanh nghiệp bán nghuyên vật liệu mua thành phẩm

2.3.Các hình thức thu mua tạo nguồn hàng.

a)Mua hàng; Các tổ chức kinh doanh hàng hoá có thể áp dụng nhiều hình

b)Các hình thức tạo nguồn khác:

+ Khai thác nguồn tồn kho đầu kỳ: là toàn bộ lượng hàng hoá còn lại cuối

kỳ báo cáo mà các tổ chức kinh doanh cung ứng có khả năng cân đối cho kỳ kếhoạch Số lượng thực tế hàng tồn kho đầu kỳ xác định kiểm kê thông qua vàocuối tháng 12, nhưng thực tế khi xây dựng kế hoạch số liệu tồn kho được xácđịnh trước thời gian kiểm kê

Vì vậy người ta phải ước tính được lượng vật tư hàng hoá tồn kho Kếtquả ước tính càng chính xác thì kế hoạch càng gần với tính khoa học và tínhthực tế của nó

Thông thường khi xác định lượng tồn kho đầu kỳ kế hoạch (cuối kỳ báocáo) của một mặt hàng nào đó ta dùng công thức

Ođk = Ott + Nh - X

Trong đó:

Trang 15

-Ođk : Tồn kho ước tính đầu kỳ kế hoạch.

Ott : Tồn kho thực tế tại thời điểm lập kế hoạch

-Nh : Lượng hàng hoá ước nhập vào kể từ thơì điểm lập kế hoạch đến hết nămbáo cáo

-X : Lượng hàng ước xuất cũng trong thời gian đó

+ Khai thác nguồn hàng ứ đọng chậm luân chuyển: Nguồn hàng nàythường phát sinh do yếu tố chủ quan của các tổ chức kinh tế Xác định nhu cầu

về khối lượng, chủng loại và cơ cấu mặt hàng không chính xác Cụ thể khi lập

kế hoạch cung ứng và ký kết các hợp đồng mua bán chưa tính đến nhu cầu cungứng đồng bộ Hàng nhập vào không phù hợp với yêu cầu nên sinh ứ đọng Yếu

tố thứ hai là phải có vật tư hàng hoá dự trữ cho sản xuất kinh doanh Tuy nhiên

do trình độ quản lý yếu tố đã xuất hiện một lượng vật tư hàng hoá vượt quá mức

dự trữ, hoặc không nằm trong danh mục cần cho dự trữ Những lượng vật tưhàng hoá đó cần nhanh chóng huy động vào lưu thông để tiêu dùng cho sảnxuất.Nguồn ứ đọng chậm luân chuyển phát sinh còn do hai nguyên nhân hànghoá được huy động trong kế hoạch không chính xác, luôn thay đổi hoặc nguồnnhập do hạn chế về ngoại hay hạn chế về ngoại tệ nên chưa tiêu thụ được ngay

Để có nguồn hàng cho hoạt động kinh doanh chúng ta còn nhiều nguồnkhác như;

+Nguồn tổ chức sản xuất: Đây là nguồn tự hình thành do các do các tổchức lưu thông kinh doanh vật tư tận dụng tiềm năng của mình là lao động, vật

tư, tièn vốn(vật tư ở đây là vật tư ứ đọng chậm luân chuyển, phế liệu, phế phẩm

do thu mua được) Hình thức này có tác dụng giải quyết công ăn việc làm cholao động dư thừa và tăng vật tư cho lao động xã hội, thực hiện được tiết kiệm

+Nguồn nhờ liên doanh liên kết:

Liên doanh là hình thức hợp tác giữa các tổ chức kinh tế cùng nhau đầu tư

về vật tư,tiền vốn lao động và cùng thống nhất với nhau về quyền lợi lâu dàigiữa các bên về lợi nhuận, cùng chia sản phẩm, liên kết cũng là quá trình hợp tácgiữa hai bên hoặc nhiều bên nhưng không chi phối nhau về sản phẩm

Trang 16

+Nguồn thu tái chế, sử dụng phế thải, phế liệu và phế phẩm: Đây là sảnphẩm sinh ra tất yếu trong quá trình sản xuất cùng với việc đa dạng hoá sử dụngsản xuất thì nguồn hàng này càng trở nên phong phú và đa dạng Nguồn này cóthể tiến hành ngay đầu vào cho một số nghành sản xuất nào đó, hoặc thông quachế biến thành vật tư cho các nghành sản xuất khác Để tận dụng được nguồnnày các tổ chức kinh doanh phải tìm hiểu, liên doanh liên kết với sản xuất để thuđược nguồn hàng này thông qua việc bán đầu vào cho sản xuất, tìm hiểu và biếtđược đầu ra,thông qua hội chợ với khách hàng.

+ Nguồn do nhận làm đại lý ký gửi: Để tạo thêm nguồn hàng phục vụ tốtcho yêu cầu của kinh doanh, các tổ chức kinh doanh hàng hoá, có thể nhận làmđại lý bán hàng cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hưởng hoa hồngtheo tỷ lệ% nhất định tính theo doanh số đại lý sự thoả thuận về giá bản quyền

và nghĩa vụ của các bên giao nhận đại lý

Tóm lại: Công tác thu mua tạo nguồn trong kinh doanh thương mại là

toàn bộ hoạt động về mặt nghiệp vụ, nhằm tạo ra hàng hoá chất lượng tốt, thoảmãn mâu thuẫn các nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, đó là quá trình liên tụcphức tạp từ khâu đầu tiên đến khâu cuối, từ tìm hiểu nhu cầu của thị trường, đếntìm hiểu tiềm năng sản xuất, từ các vật liệu trong và ngoài nước, lao động vàtrình độ lao động trong nước, đến khâu ký kết các hợp đồng kinh tế về sản xuất,vận chuyển bốc dỡ rồi giải quyết khó khăn

Trong quá trình thực hiện hợp đồng và cuối cùng là chuyển hàng hoá, đếnđáp ứng nhu cầu tiêu dùng với chi phí thấp nhất, đạt hiệu quả cao nhất về lợinhuận đáp ứng nhu cầu kinh doanh và các tổ chức kinh doanh hàng hoá

Không thể hiểu thuần tuý mua là khâu đầu tiên của quá trình kinh doanhhàng hoá mà phải hiểu mua gắn liền với bán(bán được mới mua) tạo được nguồnhàng tốt hay xấu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình kinh doanh và ảnh hưởngtới quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân Vì vậy đây là nhiệm vụ quantrọng của các tổ chức kinh doanh hàng hoá,trong việc làm ổn định và phát triểnthị trường Việt nam

Trang 17

Để làm tốt công tác này các tổ chức kinh doanh phải thực sự am hiểu sảnxuất, nắm vững nhu cầu của sản xuất Trong tình hình hiện nay các đơn vị sảnxuất được phép tiêu thụ thẳng sản phẩm, của mình đã đặt các tổ chức kinh lưuthông vào một thế đứng khó khăn mới.

2.4 Tổ chức ký hợp đồng mua bán vật tư phục vụ sản xuất

Sau khi xây dưng kế hoạch vật tư công ty căn cứ vào đó xác định vật tưcòn thiếu phải mua ngoài ,Công ty có thể cử cán bộ thương mại đi giao dịch tìmmua, ở các tổ chức kinh doanh vật tư hay các đơn vị sản xuất khai thác vật tư.Hoặc có thể đặt mua ở nước ngoài nếu như nguồn vật tư có ở trong nước khôngđảm bảo việc mua bán phải thông qua các hợp đồng mua bán vật tư

Hợp đồng mua bán vật tư là văn bản ký kế giữa đơn vị mua và đơn vị bán.Hợp đồng mua báncó tính chất pháp lý, người đại diện cho mỗi bên tham gia kýkết phải là người có tư cách pháp nhân, vì hợp đồng kinh tế là cơ sở,là căn cứcủa trọng tài kinh tế xét sử khi có những tranh chấp xẩy ra giữa hai bên ký kếthợp đồng Hợp đồng mua bán là cơ sở cho việc thực hiện thương mại phục vụnhu cầu sản xuất trong những khoảng thời gian nhất định Hai bên mua bán cóthể gặp nhau bàn bạc thoả thuận và ký kết hợp đồng, thông qua các văn bản theoquy định của pháp luật

Nội dung của hợp đồng mua bán phải đầy đủ các diều khoản sau

-Tên đơn vị ký hợp đồng

-Số tài khoản

-Tên chức vụ của người đứng ra đại diện ký kết

-Các điều khoản cam kết giữa hai bên

-Thời hạn thực hiện hợp đồng

-Trách nhiệm vật chất giữa hai bên

Trong hợp đồng kinh tế nội dung quan trọng nhất, đó là các đièu khoảncam kết giữa hai bên bao gồm ba loại

Những điều khoản chủ yếu như nội dung giao dịch mặt hàng, trọng lượngkhối lượng, số lượng quy cách kích thước mã hiệu, phẩm chất, thời gian, địađiểm phương thức giao nhận, phương thức thanh toán

Trang 18

Những điều khoản thường lệ: là các điều khoản ghi trong hợp đồng,nhưng vẫn được hai bên công nhận.

Những điều khoản thoả thuận: là những điều khoản chưa có quy định củanhà nước được vận dụng một các linh hoạt, vào thực tế của hai bên mà khôngtrái với các điều luật, của nhà nước như giá cả tỷ lệ (chiết khấu hao mòn)

Đối với những hợp đồng kinh tế mua bán với nước ngoài, doanh nghiệpphải nghiên cứu kỹ lưỡng thị trường quốc tế, và có kiến thức nhất định trongquan hệ mua bán quốc tế

3.Tổ chức tiếp nhận,vận chuyển và bảo quản vật tư

3.1.Tổ chức tiếp nhận: làm tốt công tác tiếp nhận vật tư sẽ bảo đảm điều

kiện, thúc đẩy quá trình tái sản xuất phát triển giảm chi phí lưu thông, qua việcgiải phóng nhanh, ga cảng, bến bãi, kho tàng, phương tiện bốc xếp vận chuyển,giảm hao hụt mất mát, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Làm tốt công táctiếp nhận là điều kiện thực hiện tốt các nghiệp vụ kho, nắm vững lực lượng vật

tư, nguồn nhập là cơ sở để xây dựng các chỉ tiêu về chi phí, tổ chức lao động vàhạch toán giá thành

+ Nhiệm vụ:

-Tiếp nhận đúng về số lượng,chất lượng vật tư,thời gian đã ghi trong hợpđồng kinh tế hoặc các chứng từ giao nhận vật tư, bảo đảm đúng chính sách chếđộ

-Giải phóng nhanh phương tiện ga, cảng bến bãi, tiếp nhận đưa nhanh vật

tư về kho an toàn

+ Nội dung công tác tiếp nhận:

-Công tác chuẩn bị: chuẩn bị các thủ tục tiếp nhận (hoá đơn, hợp đồngkinh tế, thủ tục tiếp nhận) chuẩn bị lao động, phương tiện vận chuyển, phươngtiện cân đong, chứa đựng, kiểm tra và kho tàng

+ Phương tiện tiếp nhận:

-Tiếp nhận về số lượng: dùng các phương tiện cân đong để kiểm tra sốlượng vật tư nhập kho

Trang 19

-Tiếp nhận về chất lượng: người nhận cùng với người giao trực tiếp xácđịnh chất lượng vật tư hàng hoá trên các mặt Phẩm cấp chất lượng hàng hoá và

tỷ lệ phẩm cấp trong lô

Xác định về cơ cấu hàng hoá (tính đồng bộ)

Mức độ hư hỏng biến chất vật tư hàng hoá

Hình dáng kích thước mầu sắc

Tính chất cơ lý hoá

Việc tiếp nhận hàng hoá được tiến hành theo hai phương pháp Phươngpháp tiết kiệm toàn bộ và phương pháp kiểm tra điển hình, quy trình tiếp nhậnphụ thuộc vào điều kiện kinh tế kỹ thuật, tiêu chuẩn và điều khoản trong hợpđồng mua bán cũng như các thông lệ hiện hành

+Một số trường hợp cần sử lý khi tiếp nhận:

-Hàng hoá thừa , thiếu, kém, mất phẩm chất người giao và người nhậncùng nhau lập biên bản, hàng hoá vật tư được tiếp nhận bình thường ghi chéptheo đúng biểu mẫu

-Hàng hoá đã về kho nhưng chưa có chứng từ, bộ phận nghiệp vụ tiếnhành kiểm tra toàn bộ các hợp đồng, kinh tế có liên quan để xác định, loại hànghoá đó có đúngtrong kế hoạch tiếp nhận hay không Sau đó tiến hành tiếp nhậntheo đúng nguyên tắc, và ghi vào sổ theo dõi hàng chưa có hoá đơn, khi đã cóhoá đơn chứng từ tiến hành đối chiếu thực nhập với hoá đơn

-Hàng chưa về kho nhưng đã có chứng từ: Nếu đã chấp nhận thanh toánthì tiếp nhận toàn bộ các loại hoá đơn chứng từ đó và ghi vào sổ theo dõi hàngtrên đường đi.Nếu chưa chấp nhận thanh toán thì lưu trữ hoá đơn và ghi vào sổtheo dõi chứng từ chờ khi hàng hoá chuyển đến thì tiếp nhận bình thường

3.2.Tổ chức chuyển vật tư về kho

Tổ chức vận chuyển vật tư về kho,của doanh nghiệp là thực hiện kế hoạchvật tư nhằm đảm bảo,vật tư cho sản xuất, vì vậy lam tốt công tác này sẽ tạo điềukiện cung ứng vật tư kịp thời, và đồng bộ cho sản xuất của doanh nghiệp Côngtấc vận chuyển cũng là một điều khoản, trong hợp đồng mua bán dựa trên việc

Trang 20

tính toán các chi phí cần thiết trên cơ sở khối lượng vật tư cần mua, địa điểmgiao hàng.

3.3.Tổ chức bảo quản vật tư

Làm tốt công tác này có tác dụng tích cực trong viẹc đáp ứng đầy đủ cácchỉ tiêu về số lượng, chất lượng vật tư về bảo quản chính là, bảo vệ nguyên vẹnnhững giá trị và giá trị sử dụng của vật tư hàng hoá Nó góp phần tiết kiệm laođộng xã hội, giảm chi phí kho và nâng cao hiệu quả lao động kho

+ Nội dung của nghiệp vụ bảo quản:

-Quy hoạch kho: dựa vào đặc điểm xây dựng và mặt bằng khu vực kho,đặc điểm của từng loại vật tư hàng hoá, để chia kho thành những khu vực nhàkho, gian kho, ngăn, ô, để chứa đựng các loại vật tư hàng hoá khác nhau

-Định vị định lượng vật tư hàng hoá: xác định vị trí tượng đói ổn định củamột loại vật tư nào đó, theo sơ đồ chi tiết của quy hoạch kho bằng các ký hiệuriêng và bảo quản tính thống nhất trong toàn bộ kho.Xác định khối lượng vật tưtrong mỗi đơn vị đã được định vị

-Kê lót chất xếp vật tư hàng hoá trong một đơn vị đã được định vị,làm tốtcông tác này bảo đảm được nguyên tắc dễ thấy, dễ lấy, hàng nhập trước xuấttrước, hàng nhập sau xuất sau, thuận tiện cho công tác bảo quản

-Điều hoà nhiệt độ, độ ẩm, hạn chế ảnh hưởng của môi trường đến vật tưhàng hoá

Trang 21

4 Tổ chức cấp phát vật tư cho nhu cầu sản xuất.

Tổ chức cấp phát vật tư đến nơi sản xuất ở doanh nghiệp là một trongnhững biện pháp có hiệu quả, nhằm tiết kiệm vật tư ở doanh nghiệp Làm tốtcông tác này sẽ đảm bảo cung ứng các điều kiện vật chất đầy đủ, đúng chấtlượng tạo điều kiện trong quá trình sản xuất tiến hành được nhịp nhàng

Đảm bảo tính đồng bộ của vật tư góp phần thúc đẩy cải tiến quy trìnhcông nghệ rút ngắn thời gian chuẩn bị vật tư cho sản xuất, tạo điều kiện nângcao năng xuất lao động, sử dụng hợp lý và tiết kiệm vật tư, tiền vốn giảm lựclượng dự trữ ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp

+ Nhiệm vụ:

-Xuất vật tư đúng số lượng, đúng chất lượng, đúng hạn mức, đúng nguyêntắc

-Cấp phát nhanh gọn bảo đảm an toàn vật tư

+ Nội dung của công tác cấp phát;

-Công tác chuẩn bị cấp phát: vật tư trước khi đưa vào tiêu dùng cần đượcchuẩn bị tốt về số lượng, chất lượng, quy cách chủng loại và thòi gian cấp phát

Chuẩn bị lượng vật tư về số lượng chất lượng về sổ sách theo dõi chứng

tư xuất kho

Chuẩn bị phương tiện cân đong,đo đếm phương tiện kiểm tra, kiểmnghiệm, chuẩn bị về lao động

Chuẩn bị ở ngoài doanh nghiệp: Mục đích là giảm lượng dự trữ ở trongkho ở doanh nghiệp,tiết kiệm được chi phí bảo quản,đáp ứng được nhu cầu sảnxuất, cần đến loại vật tư nào thì có ngay loại vật tư đó mà không cần phải dự trữtrước Để làm tốt khâu này cán bộ vật tư phải theo dõi để nắm vững nguồn hàng,nguồn cung ứng phương tiện vận chuyển, bốc xếp Chuẩn bị các điều kiện cầnthiết để đưa vật tư về kho của doanh nghiệp, chuẩn bị kế hoạch điều độ, cấpphát, chuẩn bị tài liệu để thực hiện

Chuẩn bị tại kho của doanh nghiệp: Chuẩn bị bảo đảm cấp phát vật tư chotiêu dùng trực tiếp, phân loại đánh giá tình trạng vật tư hiện có, kiểm tra tính

Trang 22

đồng bộ, tính thống nhất Xây dựng phương án cấp phát đảm bảo tính hiệu quả,

bố trí nhân lực phù hợp, cấp phát đảm bảo tính hiệu quả

-Cấp phát vật tư cho yêu cầu sản xuất ,cơ sở của công tác này là dựa vàohạn mức cấp phát, được xác định bằng hệ thống định mức, kinh tế kỹ thuật chotừng loại vật tư với số lượng sản phẩp sản xuất ra trong kỳ kế hoạch việc cấpphát trật tự theo hạn mức nâng cao trách nhiệm của các bộ phận tổ đội sản xuấttrong việc sử dụng số lượng vật tư thực lĩnh một cách hợp lý và tiết kiệm Nângcao trách nhiệm của phòng kinh doanh trong việc thực hiện kế hoạch vật tư,nâng cao trách nhiệm của người làm công tác kế hoạch góp phần sử dụng hợp

lý kho tàng, đơn giản hoá công tác nghi chép bán đều cho công tác hạch toán

Hạn mức được xác định theo công thức:

H = Nsx  Ndd + D - 0

H: Hạn mức cấp phát vật tư

Nsx: Nhu cầu vật tư để sản xuất sản phẩm

Ndd: Nhu cầu vật tư cho sản phẩm dở dang

D: Nhu cầu vật tư cho dự chữ phân xưởng

O: Tồn kho thực tế đầu kỳ

Trên cơ sở hạn mức được xác định, phòng kinh doanh lập phiếu lĩnh vật

tư theo hạn mức cho phân xưởng Theo phiếu này thủ kho tiến hành cấp phátvật tư Thủ kho phải chuẩn bị các điều kiện cấp phát đảm bảo xuất nhanh gọn,

an toàn kinh tế nhất

Để giao vật tư cho các phân xưởng, tổ đội sản xuất người ta tiến hànhtheo hai phương pháp sau:

Một là: giao vật tư tại kho của doanh nghiệp là phương thức giao trong

đó phân xưởng, tổ đội căn cứ vào chứng từ cấp phát của người mang phươngtiện đến để nhập vật tư từ kho của doanh nghiệp Sử dụng phương pháp nàythìphân xưởng, tổ đội phải có bộ phận tiếp liệu và phương tiện vận chuyển do đó

sử dụng không hợp lý lao động và phương tiện vận chuyển trong doanh nghiệp,thủ kho nhiều khi bị động nên khó tránh khỏi sai sót khi xuất Vì vậy phươngpháp này chỉ thích hợp với việc cấp phát vật tư với số lượng ít và không ổn định

Trang 23

Hai là: Giao vật tư tại nơi làm việc Đây là phương thức giao nhận vật tưcăn cứ vào lịch cấp phát vật tư, tự tổ chức chuyển đưa vật tư đến nơi làm việcbằng phương tiện và nhân lực do phân xưởng quản lý Áp dụng phương phápnày phải có bộ phận cấp phát thuộc phòng cung tiêu thực hiện và quyết toán.

5 Kiểm tra tình hình sử dụng vật tư và thanh quyết toán

*Kiểm tra tình hình sử dụng vật tư:

Vật tư cấp cho phân xưởng (tổ, đội sản xuất ) để trực tiếp sản xuất sảnphẩm, kết thúc toàn bộ quá trình vận động từ sản xuất đến tiêu dùng Nếu ở đây

sử dụng không đúng mục đích, nghĩa là quy định cho việc này, cho sản xuất sảnphẩm này lại đem dùng cho việc khác, không tuân thủ kỷ luật công nghệ, khôngtận dụng phế liệu và có nhiều phế phẩm, tăng mức tiêu dùng vật tư đã quy địnhthì tất yếu dẫn đến bội chi vật tư và ảnh hưởng xấu đến kinh tế của doanhnghiệp Ngược lại nếu phân xưởng sử dụng vật tư đúng mục đích, phấn đấugiảm mức tiêu dùng nguyên vật liệu, tận dụng cao độ phế liệu và giảm phế phẩmthì có ảnh hưởng tốt đến kinh tế kinh doanh

Vì vậy phấn đấu tiêu dùng hợp lý và tiết kiệm vật tư là trách nhiệm củaphân xưởng, tổ đội sản xuất, của công nhân của các phòng và nói chung củatoàn doanh nghiệp Phòng quản trị vật tư là người chịu trách nhiệm quản lý vật

tư ở doanh nghiệp, không phải chỉ lo mua vật tư vào còn cấp phát chỉ số vật tưcho phân xưởng là song mà còn phải có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra việctiêu dùng vật tư trong doanh nghiệp

Kiểm tra sử dụng phải căn cứ vào các tài liệu hạn mức cấp phát , số liệuhạch toán xuất kho của doanh nghiệp cho các đơn vị sử dụng vào báo cáo củaphân xưởng, về tình hình sử dụng vật tư, mặt khác phải tiến hành kiểm tra thựchiện việc tiêu dùng ở tổ, đội sản xuất và người công nhân sử dụng

Lượng vật tư xuất từ kho doanh nghiệp thường là khớp với hạn mức, vớicác phiếu lĩnh vật tư Nhưng thực tế có nhiều trường hợp xuất ít hơn hoặc nhiềuhơn so với các chứng từ trên vì có thứ có có lệnh xuất mà không có hoặc không

có đủ, có thứ phải xuất nhiều hơn lệnh xuất vì thứ vật liệu đó không thể chia nhỏ

ra để bớt lại một ít, hoặc do nhiều nguyên nhân khác nữa Vì vậy cuối tháng

Trang 24

phòng vật tư phải đối chiếu giấy tờ Sổ sách với thẻ kho, với các phiếu lĩnh hayphiếu lĩnh vật tư theo hạn mức ở phòng tài vụ.

Lượng vật tư thực tế cấp ra cùng ngàycó thể không khớp với hạn mức cấpphát đã duyệt , vì quá trình sản xuất cần xin thêm vật tư hay vì thay đổi loại vật

tư khác Khi có yêu cầu cấp thêm hay phiếu yêu cầu thay thế vật tư riêng, vàphải được hạch toán riêng

Phiếu yêu cầu cấp thêm vật tư do phân xưởng (tổ đội sản xuất) đề nghịtrưởng phòng kế hoạch và trưởng phòng vật tư ký Trong phiếu yêu cầu nêu rõnguyên nhân xin cấp thêm Nguyên nhân cấp thêm trong thực tế, có thể do hoànthành vượt mức kế hoạch sản xuất và có thể do sử dụng không đúng mục đích,

do có nhiều phế phẩm, do không tuân thủ mục tiêu dùng vật tư Người quyếtđịnh cấp thêm cho phân xưởng là giám đốc hay phó giám đốc doanh nghiệp

Trong trường hợp phải thay thế loại vật tư dự định trong kế hoạch bằngloại vật tư khác, phân xưởng phải viết phiếu yêu cầu thay thế vật liệu Trongphiếu cần ghi rõ nội dung thay thế, ảnh hưởng của việc thay thế đến tiêu dùngvật liệu Vì bất kỳ một sự thay thế vật liệu nào cũng đều ảnh hưởng đến chấtlượng sản phẩm và tiến độ của quá trình sản xuất nói chung, nên việc thay thếvật liệu phải có ý kiến của các phòng cóliên quan như phòng vật tư, phòng thiết

kế phòng kỹ thuật và được giám đốc hoặc phó giám đốc phụ trách kỹ thuậtduyệt

Một căn cứ quan trọng nữa để kiểm tra, phân tích tình hình sử dụng vật tư

là các báo cáo của phân xưởng trưởng, thủ trưởng các bộ phận trong kỳ qua(thường là một tháng) Trong báo cáo nêu rõ lượng vật tư tồn kho đầu kỳ, lượngvật tư đã nhận trong kỳ, lượng vật tư sử dụng để thực hiện kế hoạch sản xuất (kể

cả trường hợp vượt kế hoạch) lượng phế phẩm và tồn kho cuối kỳ

Mặt khác phòng vật tư cần phải tiến hành kiểm tra quan sát ở nơi trựctiếp tiêu dùng vật tư Chỉ có kiểm tra thực tế sử dụng mức xác định được sửdụng đúng đắn của các tài liệu báo cáo và mới hiểu được rõ ràng tình hình quabáo cáo

Trang 25

Sau khi đã có tình hình và số liệu được xác định và tính toán chính xác,

để xác minh được phân xưởng tiêu dùng vật liệu có hợp lý và tiết kiệm không,trước hết cần phải đối chiếu số lượng các loại vật tư mà phân xưởng thực tếnhận trong kỳ với số lượng các loại vật tư quy định trong các phiếu hạn mức

Nếu có trường hợp đối với một số loại vật liệu, phân xưởng không nhậnhết số quy định trong hạn mức, nhưng đối với một số loại vật liệu khác phânxưởng lại nhận quá số quy định trong hạn mức, trong lúc chương trình sản xuấthoàn thành bình thường, điều độ chứng tỏ phân xưởng sử dụng một phần vậtliệu không đúng mục đích, hoặc không thực hiện đúng các mục tiêu dùng đãđịnh Kết luận dứt khoát việc này phải căn cứ vào phiếu yêu cầu cấp thêm vàphiếu yêu cầu thay thế, vào các tài liệu khác

Sau đó ta đối chiếu với các số liệu thực xuất từng loại vật liệu cho phânxưởng (có kể cả cấp vượt hạn mức) với việc phân xưởng hoàn thành kế hoạchsản xuất (kể cả sản phẩm dở dang)

Nếu kế hoạch sản xuất không hoàn thành nhưng số vật liệu quy địnhtrong hạn mức lại lĩnh hết hoặc nhiều hơn, chứng tỏ trong kỳ báo cáo phânxưởng đã bội chi vật liệu Ngược lại, nếu kế hoạch sản xuất hoàn thành hoặchoàn thành vượt mức, nhưng số vật liệu tiêu dùng trong phạm vi hạn mức hoặcthêm chỉ ít hơn, chứng tỏ phân xưởng trong kỳ báo cáo đã đạt được thành tíchnhất định về tiết kiệm vật tư

* Các phương pháp quyết toán:

- Phương pháp kiểm kê: trên cơ sở số liệu kiểm kê thực tế tồn kho tạiphân xưởng đầu kỳ và cuối kỳ báo cáo và có số liệu về lượng vật tư xuất trong

kỳ để xác định thực tế vật tư chi phí cho sản xuất sản phẩm:

C = 0đk + X - 0CK

C: Lượng vật tư thực tế chi phí

Ođk: Số tồn kho đầu kỳ theo kiểm kê

Ock: Lượng vật tư tồn kho cuối kỳ

X: Lượng vật tư thực xuất tại kho của doanh nghiệp cho phân xưởng

Trang 26

Số lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ cung ứng với số lượng vật tư thựcchi bằng số lượng thành phẩm trong kỳ trừ đi số lượng sản phẩm dở dang đầu kỳcộng với số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ.

Mức tiết kiệm hay bội chi được xác định

E = Q M - C

E: Mức tiết kiệm hay bội chi

Q: Số lượng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ

M: Mức tiêu dùng nguyên vật liệu

Kết quả của phép tính nếu là số dương k(+) thì tiết kiệm nếu là số (-) thìbội chi

- Phương pháp nghiên cứu hiện trường: Phương pháp này chủ yếu thuthập thông tin từ trực quan và các quan hệ giao tiếp với thương nhân và ngườitiêu dùng Phương pháp này đòi hỏi chi phí cao và có tính chất phức tạp Do đóngười ta thường sử dụng phương pháp này sau khi có kết quả của phương phápnghiên cứu tài liệu

- Phương pháp đơn hàng: So sánh với mức quy định trong hợp đồng

- Phương pháp quyết toán theo lô hàng cấp ra: Tính cụ thể cho từng lô vật

tư cấp phát trực tiếp tiêu dùng đến tận từng tổ, từng công nhân nếu sử dụngkhông hết sẽ thu hồi nhập kho

Giám sát việc cấp phát vật tư cho sản xuất trên các mặt đồng bộ kịp thờiđầy đủ

Giám sát việc bảo quản, sử dụng hợp lý tiết kiệm vật tư

Chấp hành các định mức dự trữ vật tư, phát hiện các tình trạng thừa,thiếu vật tư để giải quyết nhanh chóng

III CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH ĐẢM BẢO VẬT TƯ CHO SẢN XUẤT CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1 Nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh.

* Chính trị và pháp luật: Để thành công trong kinh doanh các doanhnghiệp phải phân tích dự đoán về chính trị và pháp luật cùng xu hướng vận độngcủa nó bao gồm:

Trang 27

Sự ổn định về chính trị đường lối ngoại giao.

Sự cân bằng các chính sách của Nhà nước

Vai trò và chiến lược phát triển kinh tế Đảng và Chính phủ

Sự điều tiết và khuynh hướng can thiệp của Chính phủ vào đời sống kinh tế

Sự phát triển các quyết định bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng

Hệ thống luật pháp, sự hoàn thiện và hiệu lực thi hành chúng

*Các yếu tố kinh tế: Các yếu tố kinh tế bao gồm các nhân tố tác động đếnsức mua của khách hàng và dạng tiêu dùng hàng hoá "là máy đo nhiệt độ của thịtrường, quy định cách thức doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực của mình"

Sự tăng trưởng kinh tế

Sự thay đổi về cơ cấu sản xuất và phân phối

Tiềm năng kinh tế và sự gia tăng đầu tư

Lạm phát thất nghiệp, sự phát triển ngoại thương

Các chính tiền tệ, tín dụng

*Kỹ thuật và công nghệ

Yếu tố kỹ thuật và công nghệ làm cơ sở cho yếu tố kinh tế là sức mạnh 'tànphá sáng tạo" dẫn đến sự ra đời sản phẩm mới sẽ tác động vào mô thức tiêu thụ

và hệ thống bán hàng Ngược lại yếu tố kỹ thuật bị ảnh hưởng của cách thức vĩ mô

Cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân

Tiến bộ kỹ thuật và khả năng áp dụng kỹ thuật trong hoạt động kinh doanh.Chiến lược phát triển kỹ thuật, công nghệ nền kinh tế

* Yếu tố văn hoá xã hội: Ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và hành vi củacon người, qua đó ảnh hưởng đến hành vi mua sắm của khách hàng bao gồm:

Dân số và xu hướng vận động

Các hộ gia đình và xu hướng vận động

Sự di chuyển của dân cư

Thu thập của dân cư và xu hướng vận động: phân bố thu nhập giữa cácnhóm người và các vùng địa lý

Việc làm và các vấn đề phát triển việc làm

Dân tộc và các đặc điểm tâm sinh lý

Trang 28

Các giá trị văn hoá cốt lõi có tính lâu bền cao Nhưng các niềm tin thứ hai

và của giá trị rất thường thì dễ thay đổi

* Môi trường tự nhiên và cơ sở hạ tầng

Doanh nghiệp cần lưu ý đến các mối đe dọa và tìm cơ hội phối hợp với cáckhuynh hướng của môi trường tự nhiên

Sự thiếu hụt của nguồn nguyên liệu thô gồm các nguyên liệu vô tận, nguyênliệu tái sinh và nguyên liệu không thể tái sinh được

Sự gia tăng chi phí năng lượng

Mức tăng ô nhiễm buộc các doanh nghiệp tìm kiếm cách thay thế để sản xuất

và đóng gói sản phẩm không tác hại đến môi trường

Sự thay đổi vai trò Nhà nước trong bảo vệ môi trường, trình độ hiện tại của

cơ sở hạ tầng sản xuất đường xá giao thông, thông tin liên lạc

2 Nhân tố thuộc về môi trường doanh nghiệp.

*Tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất: Nhân tố tổng hợp này phản ánhtiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực sản xuất và sử dụng vật tư như chế tạonhững máy móc thiết bị có tính năng kỹ thuật cao, sử dụng những vật liệu mới và

sử dụng có hiệu quả nguồn vật tư

* Quy mô sản xuất ở các ngành các doanh nghiệp: Nhân tố này ảnh hưởngtrực tiếp tới khối lượng vật tư tiêu dùng và do đó ảnh hưởng tới khối lượng nhu cầuvật tư Quy mô sản xuất càng lớn thì khối lượng vật tư càng tăng Theo đà pháttriển kinh tế , quy mô sản xuất ngày càng gia tăng và điều đó đòi hỏi nhu cầu vàcầu vật tư ngày càng lớn trong nền kinh tế

* Cơ cấu khối lượng sản phẩm sản xuất

Cơ cấu khối lượng sản phẩm thay đổi theo nhu cầu thị trường và sự tiến bộkhoa học kỹ thuật, đặc biệt thay đổi theo trình độ sử dụng vật tư tiêu dùng và cải tiếnchất lượng sản phẩm từ những vật tư tiêu dùng Điều này ảnh hưởng tới cơ cấu củavật tư tiêu dùng và do đó cơ cấu của nhu cầu vật tư

* Quy mô thị trường vật tư Quy mô thị trường phổ biến số lượng doanhnghiệp tiêu dùng vật tư và quy cách chủng loại vật tư mà các doanh nghiệp có nhu

Trang 29

cầu tiêu dùng trên thị trường quy mô của thị trường càng lớn thì nhu cầu vật tư càngnhiều.

* Cung vật tư- hàng hoá có trên thị trường Cung vật tư thể hiện khả năng vật

tư có trên thị trường và khả năng đáp ứng nhu cầu vật tư của các đơn vị tiêu dùng.Cung vật tư tác động đến cầu vật tư thông qua giá cả và cho đến toàn bộ nhu cầu

Ngoài những nhân tố trên đây còn có nhiều nhân tố khác ảnh hưởng đến nhucầu vật tư nhỏ

Các nhân tố xã hội phản ảnh mục tiêu cải thiện điều kiện lao động trong cácngành sản xuất, ảnh hưởng của những nhân tố này được xác định bằng những chỉtiêu như trình độ cơ giới hoá, tự động hoá sản xuất, và cải thiện điều kiện laođộng

Khả năng thanh toán của các doanh nghiệp tiêu dùng vật tư

Giá cả vật tư hàng hoá và chi phí sản xuất kinh doanh

Nghiên cứu sự tác động của các nhân tố đến nhu cầu vật tư được thực hiệntheo từng nhóm và cho từng loại vật tư, cũng như cho từng loại nhu cầu có tính đếncác giai đoạn khác nhau của công tác kế hoạch hoá Quá trình này có ý nghĩ quantrọng trong công tác nghiên cứu và dự báo thị

Trang 30

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VÀ CÔNG TÁC ĐẢM BẢO VẬT TƯ CHO SẢN XUẤT Ở

CÔNG TY KHÓA MINH KHAI

I TÌNH HÌNH ĐẶC ĐIỂM TRUNG CỦA CÔNG TY KHOÁ MINH KHAI

1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty

- Công ty khoá Minh khai trước đây là nhà máy khoá Minh khai, được thànhlập từ năm 1972 theo quyết định số 561/BKT của bộ kiến trúc (nay là Bộ xây dựng)

Về loại hình tổ chức Công ty khoá Minh khai là một doanh nghiệp Nhà nướchạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về tài chính, còn tư cách pháp nhân chịu sự quản lýtrực tiếp của Tổng công ty cơ khí xây dựng- Bộ xây dựng

- Trụ sở giao dịch: 125D Minh khai, quận Hai Bà Trưng - Hà Nội

Do đặc điểm của công ty xây dựng từ thời chiến tranh chống Mỹ, với trangthiết bị máy móc thiết bị công nghệ sản xuất do Ba Lan giúp Quá trình xây dựng vàphát triển của công ty được phân tích qua các giai đoạn sau:

* Giai đoạn từ 1973-1980:

Công ty hoạt động theo đúng chức năng nhiệm vụ mục tiêu ngành nghề theoquyết định ban đầu về sản xuất sản phẩm gồm các loại khoá, bản lề, ke cửa, chốt,acmôn, móc gió Thời gian đầu sản xuất sản phẩm theo mỗi thiết kế của Ba Lan nên

có phần nào chưa phù hợp với điều kiện của Việt Nam N hững năm sau công ty đổidần mẫu mã sản phẩm cho tích ứng với nhu cầu tiêu dùng

* Từ năm 1981 đến năm 1988: công ty sản xuất theo kế hoạch Bộ giao, ngoàicác sản phẩm cũ như trên còn có giàn giáo thép, xe hoàn thiện, bi đạn mắt sàng ximăng, đồng thời xuất thêm các mặt hàng kim khí phục vụ xây dựng cửa xếp, cửachớp lật cửa hoa Trong giai đoạn công ty đã tiến hành hai vấn đề lớn:

- Nâng cao chất lượng của sản phẩm và đã xuất khẩu các khoá, tre, bản lề,Cremôn, cho các nước Hung gari, Cu Ba, Lào và xuất khẩu tại chỗ cho Tây Đức

Trang 31

- Công ty đã nghiên cứu và chế tạo bi nghiền cho công nghiệp xi măng và cácphụ tùng khác Ngoài ra còn là đơn vị đầu tiên nghiên cứu công nghệ sản xuất giàngiáo thép.

Giai đoạn từ1973-1988 công ty sản xuất theo kế hoạch được giao, vật tư chủyếu được Nhà nước cung ứng, sản phẩm làm ra có địa chỉ tiêu thụ, không để côngnhân nghỉ việc về thiếu việc làm, hàng hoá sản xuất phải được tiêu thụ hết và đảmbảo đời sống công nhân viên Đảm bảo được mục tiêu trên công ty đã tìm mọibiện pháp khai thác mọi khả năng, tiếp xúc làm quen dần dần với kinh tế thịtrường Những biện pháp cụ thể là

- Tích cực tìm kiếm công ăn việc làm bằng cách đi chào hàng ký hợpđồng trực tiếp còn các cơ sở xây dựng trong ngành và các địa phương

- Khai thác mọi nguồn, mọi khả năng đảm bảo đủ vật tư cho sản xuất liêntục

- Tuyên truyền quảng cáo sản phẩm của công ty trên các phương tiệnthông tin đại chúng và tham gia các cuộc triển lãm nhằm giới thiệu đưa sảnphẩm tiếp ứng trực tiếp với thị trường

- Tiến hành mở các đại lý bán các sản phẩm của công ty ở Hà Nội và một

số tích

- Một số yếu tố quan trọng là giữ vững và nâng cao được chất lượng sảnphẩm của công ty gây được uy tín trên thị trường và niềm tin đối với người tiêudùng

* Từ năm 1992 đến nay: ở giai công ty đã chuyển hoá mạnh vào nền kinh

tế thị trường công ty đã tiến hành sắp xếp lại sản xuất theo nghị định số 388/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng Công ty đã chú trọng nhiều vào việc sản xuất

đa dạng hoá các loại sản phẩm, phục vụ đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh

tế đất nước Việc quan tâm tới chất lượng, kỹ thuật mỹ thuật của sản phẩm đượcđưa lên hàng đầu Thời kỳ này bên cạnh việc sản xuất những mặt hàng truyềnthống, công ty đã cho ra thị trường nhiều sản phẩm với mẫu mã phong phú vàcải tiến tiện lợi hơn

Trang 32

Sản phẩm sản xuất ra phải đảm bảo mức trung bình tiên tiến của thế giớinên một số sản phẩm hàng hoá cùng loại sản xuất trong nước mà còn cạnh tranhđược với hàng nhập ngoại Vì vậy giai đoạn này tuy có nhiều khó khăn từnguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng công ty vẫn tồn tại với nền kinh tếthị trường, không những thế mà còn tạo nên thế mạnh vững chắc cho việc pháttriển đi lên.

Trải qua quá trình xây dựng và trưởng thành, Công ty khoá Minh khai đãkhông ngừng khấn đấu về mọi mặt, Công ty thường xuyên cải tiến kỹ thuật nângcao chất lượng sản phẩm, nhạy bén nắm bắt kịp thời thị hiếu người tiêu dùng,luôn tung ra thị trường những sản phẩm phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của xãhội

Kết quả trên thu sản phẩm những năm vừa qua đạt khá tốt do sản phẩmcủa công ty đã được người tiêu dùng chấp nhận không bớt giá cả hợp lý mà còn

do chất lượng của sản phẩm

2 Đặc điểm cơ cấu tổ chức quản lý sản xuất của Công ty

2.1 Chức năng nhiệm vụ của Công ty

- Công ty khoá Minh khai là một doanh nghiệp Nhà nước có đủ tư cáchpháp nhân hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế độc lập., Từ năm 1992theo xu hướng đổi mới kinh tế Nhà nước về tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệpcông ty khoá Minh khai được thành lập lại theo quyết định số BXD/TCLĐ ngày

5 tháng 5 năm 1993của Bộ xây dựng

- Công ty có chức năng nhiệm vụ theo quyết định thành lập và được nghềnhư sau:

+ Công ty là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có các sản phẩm cơkhí xây dựng, có nhiệm vụ tổ chức sản xuất các loại khoá, kê, bản lề, chốt cửa

và các chi tiết phụ tùng cơ khí phục vụ cho ngành xây dựng

+ Sản xuất kinh doanh các loại phụ tùng cho công nghiệp xi măng như bi,đạn nghiền mắt sàng

+ Sản xuất kinh doanh dàn giáo thép, cốp pha tôn, kết cấu thép phục vụcho xây dựng

Trang 33

Để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong xã hội và nhằm mục tiêu phát triển đilên trong cơ chế thị trường, công ty đang chú vào việc mở rộng ngành nghềtrong sản xuất kinh doanh , làm các mặt hàng kết cấu thép xây dựng.

2.2 Cơ cấu tổ chức quản lý sản xuất của công ty

Đối với các nhà máy sản xuất công nghiệp việc tổ chức quản lý khoa họcquá trình công nghệ chế tạo sản phẩm là vô cùng quan trọng, nó quyết định rấtlớn đến năng suất chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh doanh Tuy nhiệm vụ tổchức một quy trình công nghệ trong một doanh nghiệp sao cho hợp lý lại tuỳthuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp đó, như điều kiện cơ sở vậtchất, máy móc thiết bị, trình độ quản lý

a) Tổ chức quản lý của công ty:

Công ty khoá Minh Khai trực thuộc Tổng công ty cơ khí xây dựng Bộxây dựng theo quy chế hoạt động công ty được quyền chủ động tổ chức bộ máyquản lý sao cho phù hợp với các đặc điểm của doanh nghiệp và hoạt động cóhiệu quả

Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo hệ trực tuyến, thực hiệnchế độ một thủ trưởng, giám đốc công ty là người có quyền quyết định cao nhất,chịu trách nhiệm mọi mặt với Nhà nước và tập thể CBCNV, ngoài cương vị phụtrách chung giám đốc công ty còn trực tiếp phụ trách phòng Tổ chức hành chính,

kế hoạch, cung tiêu, Marketing, tài chính kế toán

Giúp việc cho giám đốc có hai phó giám đốc, một phụ trách về sản xuất,một phụ trách về kỹ thuật

Kế toán trưởng giúp việc cho công tác tổ chức hạch toán kế toán và tàichính của công ty cùng một số trưởng phòng ban chức năng

- Công ty có các phòng ban quản lý chức năng sau:

* Phòng tổ chức hành chính: Biên chế 12 người bộ phận này có chứcnăng tham mưu cho giám đốc về công tác tổ chức cán bộ, quản lý hành chính vàquản trị

- Nhiệm vụ cụ thể là:

Nghiên cứu xây dựng hoàn thiện mô hình tổ chức công ty

Trang 34

Sắp xếp nhân sự về số lượng, trình độ nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật.Xây dựng kế hoạch đào tạo CBCNV

Xây dựng các định mức lao động, kế hoạch quỹ lương các quy chế quản

lý và sử dụng lao động, tổ chức ký kết các hợp đồng lao động, giải quyết các chế

độ chính sách về lao động tiền lương, BHXH theo qui định Nhà nước

Thực hiện các nghiệp vụ quản trị, lễ tân, công tác văn thư hành chínhkhác

* Phòng kỹ thuật: Biên chế 9 người

Bộ phận này có chức năng quản lý công tác kỹ thuật sản xuất trong toàncông ty

Lập kế hoạch đầu tư trang bị sản xuất, kế hoạch sửa chữa máy móc thiết

bị công ty

* Phòng kế toán tài chính: Biên chế 6 người Bộ phận này có chức năngtham mưu cho giám đốc về công tác quản lý, huy động sử dụng vốn, về công táchạch toán của công ty, chức năng kiểm tra giám sát toàn bộ hoạt động tài chính

kế toán của công ty

Trang 35

Thực hiện công tác thanh toán trong nội bộ các đối tác có quan hệ kinh tếvới công ty.

* Phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm: Biên chế 11 người Bộ phận này

có chức năng kiểm tra, giám sát về chất lượng sản phẩm toàn công ty

Nhiệm vụ cụ thể:

- Tổ chức kiểm tra chất lượng các sản phẩm trước khi nhập kho, chuẩn bịđưa đi tiêu thụ kiểm tra, quản lý việc chấp hành các tiêu chuẩn chất lượng sảnphẩm

* Phòng marketing: Biên chế 5 người

- Bộ phận này có chức năng là tham mưu cho giám đốc về tình hình thịtrường giá cả, vật tư, sản phẩm liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh củacông ty, phản ánh được nhu cầu thị trường về các sản phẩm tương tự và các sảnphẩm mà công ty có khả năng sản xuất Đề xuất các phương án tiêu thụ sảnphẩm Tổ chức tiêu thụ và thu hồi với hiệu quả công nợ cao nhất, đề xuất cácphương án tiêu thụ bằng mọi hình thức, tổ chức thực hiện khi được lãnh đạothông quâ

- Nhiệm vụ cụ thể là:

Tìm hiểu thị trường bao gồm các hoạt động thu nhập và xử lý một cách

có hệ thống va và toàn diện những thông tin về các sản phẩm vật tư phụ tùngdụng cụ có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Đề xuấtcho công ty những thông tin đặc biệt cần lưu ý và các sản phẩm nên sản xuất

Tổ chức quản lý mạng lưới đại lý theo các hợp đồng và quy định củacông ty Cùng với phòng tài vụ đến thu tiền ở các đại lý trực tiếp tổ chức các hộinghị khách hàng thông tin quảng cáo và hội chợ triển lãm chịu trách nhiệm đônđốc và thu hồi công nợ, chịu trách nhiệm ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm

* Phòng kế hoạch cung tiêu: Biên chế 11 người

Bộ phận này có chức năng tham mưu cho giám đốc về kế hoạch sản xuấtkinh doanh và đảm bảo vật tư cho sản xuất

Nhiệm vụ cụ thể:

Tham gia xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh

Ngày đăng: 26/04/2014, 08:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình" Thương mại doanh nghiệp" PGS-PTS Đặng Đình Đào Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại doanh nghiệp
2. Giáo trình" Kinh tế Thương mại"PGS- PTS Nguyễn Duy Bột PGS- PTS Đặng Đình Đào Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Thương mại
3. Giáo trình"Kinh tế Thương mại- Dịch vụ"PGS- PTS Đặng Đình Đào Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Thương mại- Dịch vụ
4. Giáo trình" Quản trị doanh nghiệp Thương mại"PGS- PTS Hoàng Minh Đường PTS. Nguyễn Thừa Lộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị doanh nghiệp Thương mại
5. Giáo trình" Kinh doanh kho và bao bì hàng hoá"PGS- PTS Hoàng Minh Đường 6. Các tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh doanh kho và bao bì hàng hoá
7. Các bảng tổng kết kế hoạch, định mức kinh tế kỹ thuật về hoạt động sản xuất kinh doanh công ty khoá Minh Khai Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Biểu số 06: Bảng tổng hợp nhu cầu  vật tư chính qua các năm ST - một số vấn đề về hoạt động đảm bảo vật tư cho sản xuất của công ty khoá minh khai
i ểu số 06: Bảng tổng hợp nhu cầu vật tư chính qua các năm ST (Trang 46)
Bảng số 10: Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch hậu cần vật tư  về mặt  đồng bộ - một số vấn đề về hoạt động đảm bảo vật tư cho sản xuất của công ty khoá minh khai
Bảng s ố 10: Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch hậu cần vật tư về mặt đồng bộ (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w