1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

các giải pháp duy trì nâng cao sức cạnh tranh và chống độc quyền

34 458 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Giải Pháp Duy Trì Nâng Cao Sức Cạnh Tranh Và Chống Độc Quyền
Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Hoa
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 116 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cạnh tranh là một trong những đặc trng cơ bản của kinh tế thị trờng.Cạnh tranh là các quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt đợc mục tiêu kinh

Trang 1

B NộI DUNG

I MộT Số VấN Đề Lý LUậN Về CạNH TRANH Và Độc quyền

1 Khái niệm thị trờng, cạnh tranh và độc quyền.

1.1 Thị trờng

Thị trờng là nơi trao đổi hàng hoá đợc sản xuất ra và hình thành trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá cùng với mọi quan hệ kinh tế giữa ngời với ngời, liên kết với nhau thông qua trao đổi hàng hoá

Thị trờng là một phạm trù của nền sản xuất và lu thông hàng hoá, phản ánh toàn bộ quan hệ trao đổi giữa ngời mua và ngời bán.Thị trờng chứa đựng tổng cung, tổng cầu, mối quan hệ cung – cầu , mức giá và các yếu tố không gian, thời gian, xã hội đối với một loại sản phẩm nhất định của nền sản xuất hàng hoá

Các loại thị trờng lớn là:

Thị trờng hàng hoá và dịch vụ : là bộ phận cơ bản của thị trờng, đầu ra của nền kinh tế, bao gồm toàn bộ các quan hệ trao đổi mua bán hàng hoá và dịch vụ giữa các chủ thể tham gia thị trờng đã đợc thể chế hoá

Thị trờng tài chính : là các định chế qua đó ngời muốn tiết kiệm có thể cấp vốn trực tiếp cho ngời vay Hai thị trờng tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế là thị trờng trái phiếu và thị trờng cổ phiếu

Thị trờng lao động : thừa nhận sức lao động là hàng hoá ; tiền lơng, tiền

công la giá cả của hàng hoá sức lao động

Thị trờng bất động sản: trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ

nghĩa là thị trờng chuyển nhợng mua bán quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng

đất

Thị trờng khoa học công nghệ : trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã

hội chủ nghĩa chủ yếu là thị trờng chuyển giao và mua bán công nghệ Quá trình chuyển giao công nghệ đợc thực hiện chủ yếu thông qua các hoạt động

Trang 2

phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nớc chủ yếu tạo điều kiện hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp cải tiến công nghệ.

1.2.Cạnh tranh

Cạnh tranh là một trong những đặc trng cơ bản của kinh tế thị trờng.Cạnh tranh là các quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt đợc mục tiêu kinh tế của mình, thông thờng là chiếm lĩnh thị trờng, giành lấy khách hàng cũng nh các điều kiện sản xuất, thị trờng có lợi nhất.Mục đích cuối cùng của các chủ thể trong quá trình cạnh tranh là lợi ích tiêu dùng và lợi nhuận

Tuỳ theo tính chất và dới các góc độ khác nhau mà cạnh tranh đợc phân chia thành nhiều loại:

Khi nói đến tính chất cạnh tranh thì có hai loại: Cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cạnh tranh không hợp pháp hoặc không phù hợp với đạo lý, truyền thống của dân tộc Cạnh tranh lành mạnh đối lập với cạnh tranh không lành mạnh

Dới góc độ các chủ thể kinh tế tham gia thị trờng, có cạnh tranh giữa những ngời sản xuất( ngời bán) với nhau, giữa những ngời mua và ngời bán, ngời sản xuất và ngời tiêu dùng, và giữa những ngời mua với nhau.ở đây cạnh tranh xoay quanh vấn đề chất lợng hàng hoá, giá cả và điều kiện dịch vụ

Dới góc độ thị trờng, góc độ thực chứng thì có hai loại cạnh tranh là cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo Cạnh tranh hoàn hảo hay thuần tuý là tình trạng cạnh tranh trong đó giá cả của một loại hàng hoá là không thay

đổi trong toàn bộ địa danh của thị trờng, bởi vì ngời mua, ngời bán đều biết ờng tận về các điều kiện của thị trờng.Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà ở đó các cá nhân bán hàng hoặc các nhà sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực có thể chi phối đợc giá ca sản phẩn của mình trên thị trờng Dới góc độ các công đoạn của sản xuất- kinh doanh, gồm có các hình thức: Cạnh tranh trớc khi bán hàng, trong quá trình bán hàng và sau khi bán hàng Cuộc cạnh tranh này đợc thực hiện bằng phơng thức thanh toán và dịch vụ

Trang 3

Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể trong cạnh tranh, có cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các nghành

Xét theo phạm vi lãnh thổ ngời ta nói tới cạnh tranh trong nớc và cạnh tranh quốc tế

1.3 Độc quyền

Độc quyền trong nền kinh tế thị trờng là việc các chủ thể kinh tế với những

điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nhất định khống chế thị trờng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ

Độc quyền có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân, chủ yếu là do kết quả của quá trình cạnh tranh Quá trình cạnh tranh sẽ làm cho những doanh nghiệp nào kém hiệu quả, có những quyết định kinh doanh sai lầm sẽ bị những doanh nghiệp khác làm ăn hiệu quả thôn tính, chiếm lĩnh thị phần và rốt cuộc sẽ bị

đào thải ra khỏi cuộc chơi Trong trờng hợp cực đoan nhất, nếu tất cả các doanh nghiệp khác đều bị một doanh nghiệp duy nhất đánh bại thì rốt cuộc, cạnh tranh tự do đã để lại một doanh nghiệp duy nhất trên thị trờng và doanh nghiệp

bỏ những ngời yếu kém nhằm gây áp lực và tạo động lực cho các doanh nghiệp,

đẩy mạnh việc điều chỉnh kịp thời sản xuất và nhu cầu bằng cách lợi dụng sự nhạy cảm của thị trờng đối với các tín hiệu kinh tế khác nhau

Vì kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa cũng là kinh tế thị trờng nên nó phải

đợc gắn với cạnh tranh.Cạnh tranh sẽ loại bỏ các doanh nghiệp kém hiệu quả

Trang 4

cũng nh các sản phẩm kém chất lợng nhằm tăng cờng phân bố hợp lí nguồn lực xã hội Thông qua cơ chế giá, doanh nghiệp phải tự quyết định kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình nhằm cải thiện mối quan hệ giữa cung và cầu nhằm

đáp ứng các nhu cầu của thị trờng.Cạnh tranh nh một động cơ mạnh mẽ khuyến khích các doanh nghiệp cải tiến công nghệ và sản phẩm, cải tiến phơng thức quản lí, giảm chi phí và giá thành sản phẩm nhằm đạt đợc sản lợng tối đa với chi phí đầu vào tối thiểu.Cạnh tranh cũng đóng vai trò quyết định trong việc tiếp thêm sinh lực cho các doanh nghiệp bởi vì sức sống của các doanh nghiệp nằm ở khả năng tiếp tục tiến hành điều chỉnh lại tổ chức và khả năng hiện đại hoá công nghệ và sản phẩm của mình phù hợp với nhu cầu của thị trờng Nếu không có áp lực cạnh tranh trên thị trờng, các doanh nghiệp không có động cơ

để tự tiếp tục điều chỉnh lại và phát triển, để tham gia các hoạt động sáng tạo hoặc để cải tiến hệ thống quản lí của họ.Do đó,nếu không có cạnh tranh thì các doanh nghiệp không thể phát triển trong nền kinh tế thị trờng

2.2.Độc quyền trong kinh doanh Hậu quả của nó

Độc quyền kinh doanh là việc một doanh nghiệp hay một tập đoàn kinh tế với những điều kiện kinh tế, chính trị xã hội nhất định khống chế thị trờng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá dịch vụ

Độc quyền hoặc khống chế thị trờng là mơ ớc của hầu hết các doanh nghiệp Tất cả các nhà doanh nghiệp đều ớc muốn tồn tại và phát triển mà không phải đơng đầu với cạnh tranh Vì vậy lịch sử của các chiến lợc hạn chế cạnh tranh có một bề dày gần tơng đơng với bề dày của nền kinh tế thị trờng Độc quyền trong kinh doanh dù hình thành và tồn tại bằng cách nào cũng thờng gây ra những hậu quả tiêu cực đối với nền kinh tế quốc dân.Độc quyền trong kinh doanh là nhân tố kìm hãm động lực phát triển của nền kinh tế Bởi lẽ với thế độc quyền, ngời sản xuất không cần quan tâm đến cải tiến kỹ thuật, công nghệ sản xuất và phơng thức quản lý mà vẫn thu đợc lợi nhuận đặc biệt cao Độc quyền trong kinh doanh sẽ dẫn đến hình thành giá cả độc quyền, giá cả lũng đoạn cao, làm ảnh hởng đến lợi ích của ngời tiêu dùng.Độc quyền trong kinh doanh là yếu tố hạn chế tự do kinh doanh và văn minh thơng mại

Trang 5

Vì những hậu quả trên của độc quyền trong kinh doanh nhiều quốc gia trên thế giới đã coi chống độc quyền là nhiệm vụ đặc biệt quan trọngcủa nhà nớc Nhà nớc kiểm soát và ngăn chặn quá trình tích tụ, tập trung để hình thành những tập đoàn kinh tế đủ sức khống chế thị trờng bằng luật chống độc quyền Mặt khác, nhà nớc ngày càng giảm bớt sự can thiệp bằng những mệnh lệnh hành chính để tạo thế độc quyền cho một số doanh nghiệp đặc biệt.

3 Cạnh tranh và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trờng

3.1 Cạnh tranh điều chỉnh giữa cung và cầu

Cạnh tranh có thể đa đến lợi ích cho ngời này và thiệt hại cho ngời khác, song xét dới góc độ toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực

Cạnh tranh điều chỉnh cung cầu hàng hoá trên thị trờng, Khi cung một hàng hoá nào đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa những ngời bán làm cho giá cả thị tr-ờng giảm xuống Chỉ những cơ sở kinh doanh nào đủ khả năng cải tiến công nghệ, trang bị kỹ thuật, phơng thức quản lý và hạ đợc giá bán sản phẩm mới có thể tồn tại Với ý nghĩa đó, cạnh tranh là nhân tố quan trọng kích thích việc ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất

Khi cung một hàng hoá nào đó thấp hơn cầu, hàng hoá đó trở nên khan hiếm trên thị trờng, giá cả tăng lên tạo ra lợi nhuận cao hơn mức bình quân Khi

đó ngời kinh doanh sẽ đầu t vốn xây dựng thêm cơ sở sản xuất mới hoặc nâng cao năng lực sản xuất cảu những cơ sở sản xuất sẵn có Đó là động lực quan trọng nhất làm tăng thêm lợng vốn đầu t cho sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực sản xuất trong toàn xã hội Điều quan trọng là động lực đó hoàn toàn

tự nhiên,không theo và không cần bất kỳ một mệnh lệnh hành chính nào của cơ quan quản lý nhà nớc

Cạnh tranh buộc các chủ thể kinh doanh luôn luôn quan tâm đến việc cải tiến công nghệ, trang bị sản xuất và phơng thức quản lý nhằm nâng cao chất l-ợng sản phẩm, hạ giá thành và trên cơ sở đó hạ giá bán của hàng hoá

Cạnh tranh tác động một cách tích cực đến phân phối thu nhập Cạnh tranh

sẽ hạn chế hành vi bóc lột trên cơ sở quyền lực thị trờng và việc hình thành thu nhập không tơng ứng với năng suất

Trang 6

Trong cạnh tranh tất yếu sẽ có doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh nhờ làm

ăn hiệu quả, đồng thời có doanh nghiệp bị phá sản Đối với xã hội, phá sản doanh nghiệp không hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực vì các nguồn lực của xã hội đợc chuyển sang cho nhà kinh doanh khác tiếp tục sử dụng một cách hiệu quả hơn Vì vậy, phá sane không phải là sự huỷ diệt hoàn toàn mà là sự huỷ diệt sáng tạo

4 Những điều kiện nhằm đảm bảo cạnh tranh và chống độc quyền trong kinh doanh.

Xuất phát t cơ chế hình thành, tồn tại của độc quyền, từ mối liên hệ hữu cơ giữa độc quyền và cạnh tranh trong kinh doanh để có sự cạnh tranh lành mạnh và chống độc quyền, cần có những điều kiện nhất định Những điều kiện quan trọng nhất cần có là:

4.1 Điều kiện về các yếu tố pháp lý – thể chế đối với hoạt động kinh doanh Các yếu tố về pháp lý – thể chế do nhà nớc ban hành là nhân tố quan trọng nhất hình thành môi trờng kinh doanh trong mỗi quốc gia Với xu thế hội nhập ngày càng cao về kinh tế trên thế giới hiện nay, những quy dịnh về pháp lý- thể chế điều chỉnh các hành vi kinh doanh đã và đang không bị giới hạn trong phạm vi quốc gia mà đợc hình thành và có hiệu lực trong phạm vi khu vực hoặc toàn cầu Song dù hình thành và có hiệu lực trong phạm vi nào, để

đảm bảo cho cạnh tranh và chống độc quyền, các yếu tố pháp lý- thể chế phải

đáp ứng những yêu cầu nh: Đảm bảo sự đồng bộ trong toàn bộ hệ thống thuộc mọi lĩnh vực của hoạt động kinh doanh; các quy định pháp lý- thể chế do nhà nớc ban hành phải rõ ràng và sát với thực tiễn; hiệu lực pháp luật của các quy

định pháp lý- thể chế phải đảm bảo sự thống nhất trong việc điều chỉnh hành vi kinh doanh, …

4.2 Điều kiện trong chỉ đạo, điều hành nền kinh tế quốc dân

Các quy định pháp lý- thể chế của Nhà nớc là sản phẩm chủ quan trên cơ

sở nhận thức khách quan Để các quy định pháp luật đã ban hành có hiệu lực trong thực tiễn thì việc chỉ đạo và điều hành của bộ máy hành chính nhà nớc

đóng vai trò quyết định Vì vậy để thực hiện vai trò quản lý kinh tế của mình,

Trang 7

nhà nớc phải hình thành đợc bộ máy điều hành đủ năng lực chuyên môn, tận tuỵ, công tâm khi thi hành công vụ Mọi văn bản pháp quy đều không thể đa vào thực hiện đợc trong cuộc sống nếu bộ máy điều hành non kém về chuyên môn, quan liêu và lãng phí.

4.3 Điều kiện về trình độ văn hoá, đạo đức xã hội của nhân dân và các chủ thể kinh doanh

Nếu nh sự hình thành các văn bản pháp luật, công tác chỉ đạo, điều hành của bộ máy công quyền là những điều kiện cần thì trình độ văn hoá và đạo đức của các chủ thể kinh doanh lại là điều kiện đủ dể đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh và chống độc quyền trong kinh doanh Sự phân biệt cạnh tranh lành mạnh

và cạnh tranh không lành amnhj thờng thông qua những tiêu chí định tính, khó

có thể định lợng Vì vậy, chỉ có thể đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh khi nhân dân- với t cách là ngời tiêu dùng- có trình độ văn hoá cần thiết và đạo đức trong kinh doanh đợc tôn trọng

5 Kinh nghiệm quốc tế.

5.1 Nhật Bản

5.1.1 Khái niệm chính sách cạnh tranh ở Nhật Bản Nền tảng và bối cảnh

T tởng, luật pháp và chính sách cạnh tranh do ngời Mỹ đa vào Nhật Bản

đ-ợc đánh dấu bằng việc ban hành luật chống độc quyền năm 1947 Sau chiến tranh thế giới thứ hai, chính sách cạnh tranh đợc coi là một hình thức quản lý của Nhà nớc chứ không phải là một nguyên tắc tổ chức của nền kinh tế, tinh thần cạnh tranh vẫn cha thấm sâu vào văn hoá kinh doanh của ngời dân và tinh thần làm việc của quan chức chính phủ, vị trí lâu dài của cạnh tranh cha chăc chắn trong ngời Nhật Bản Sự phục hng của chính sách cạnh tranh mới diễn ra gần đây, nhng cha toàn diện và còn lâu mới phát huy đầy đủ sức mạnh của mình

ở Nhật bẩn cũng giống nh ở những nớc khác, quan điểm về tác động của cạnh tranh có thể khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau Thái độ hoài nghi đối với vai trò của cạnh tranh chịu ảnh hởng của các yếu tố xã hội và văn hoá ở Nhật Bản, cạnh tranh đợc quan niệm là một trạng thái trong đó các doanh

Trang 8

nghiệp có thể bán những hàng hoá hoặc dịch vụ giống nhau cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc nhận đợc những sản phẩm giống nhau từ một nhà cung ứng Thuật ngữ “cạnh tranh” thờng đi kèm với “tự do” và “lành mạnh”.

Sau chiến tranh mục tiêu kinh tế tập trung vào tăng trởng và phát triển Trên thực tế cạnh tranh tự do bị cho là không phù hợp với mục tiêu đặt ra, mặc

dù trong luật chống độc quyền đã nêu mục tiêu của cạnh tranh là: “Khuyến khích cạnh tranh tự do và lành mạnh, khuyến khích sức sáng tạo của các nghiệp chủ, khuyến khích các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tăng trởng kinh tế, tăng số lợng công ăn việc làm và thu nhập thực tế của ngời dân, và thông qua đó thúc đẩy sự phát triển lành mạnh và dân chủ của nền kinh tế đất nớc, cũng nh bảo đảm lợi ích của ngời tiêu dùng nói chung” Việc thực thi pháp luật cạnh tranh khá lỏng lẻo

Hiện nay, mục tiêu của Nhật Bản là chuyển trọng tâm từ tăng trởng sang vì lợi ích của ngời tiêu dùng Các cơ quan nhà nớc Nhật bản đã nhận thức đợc rằng không thể tiếp tục diễn ra thông qua việc hớng dẫn từ Trung ơng, mà phải xuất phát từ các doanh nghiệp cạnh tranh- những ngời dám chấp nhận rủi ro, phát huy sáng kiến của bản thân mình Năm 1998, Nhật Bản bắt đầu thực hiện chơng trình “ Tạo ra một hệ thống kinh tế- xã hội công bằng và tự do, mở cửa hoàn toàn với thế giới và dựa trên các nguyên tắc thị trờng” Chơng trình này nhằm mục đích tạo điều kiện cạnh tranh công bằng và hiệu quả, kết hợp chính sách cạnh tranh với cải cách pháp lý, cạnh tranh trên thị trờng và quản lý của nhà nớc, giảm sự chỉ đạo của chính phủ, phản đối những vụ sáp nhập quy mô lớn

Trong điều kiện hiện nay, khi toàn cầu hoá ngày càng có quy mô rộng lớn thì Nhật Bản không thể tiếp tục duy trì chính sách bảo hộ các doanh nghiệp và các ngành không có khả năng cạnh tranh Thay vào đó là chính sách cạnh tranh trao nhiều quyền tự chủ hơn cho các chủ thể kinh doanh

5.1.2.Nội dung của luật cạnh tranh

- Cấm các thoả thuận theo chiều ngang:

Trang 9

Luật cạnh tranh cơ bản của Nhật Bản là luật chống độc quyền ban hành năm 1947 Luật này ngăn chặn những hạn chế vô lý đối với thơng mại, ngăn chặn “ độc quyền t nhân” và “ tình trạng độc quyền”, những hành vi không lành mạnh và các vụ sáp nhập hạn chế cạnh tranh

Tơng tự nh luật cạnh tranh của nhiều nớc, Luật chống độc quyền của Nhật Bản cấm các thoả thuận giữa các đối thủ cạnh tranh cùng phối hợp hành động

để hạn chế cạnh tranh, bao gồm các loại hợp đồng, thoả thuận, các hành vi phối hợp hành động để chi phối giá cả, hạn chế sản lợng, công nghệ áp dụng, phát triển sản phẩm, phân chia thị trờng, khách hàng, thông đồng trong bỏ thầu hoặc tẩy chay đối tợng khác

Trong luật chống độc quyền của Nhật Bản có điều khoản quy định về hiệp hội Đây là quy định không phổ biến trong luật của các nớc khác Bên cạnh những tác động tích cực, các hiệp hội đồng thời tạo điều kiện cho các hoạt động không phù hợp với t tởng cạnh tranh trong nội bộ một ngành và giữa các ngành với nhau, ngăn chăn doanh nghiệp thành viên giảm giá hay khuyến mãi, ngăn cản cải tiến công nghệ, duy trì quan hệ khách hàng ổn định, thoả thuận độc quyên ngăn chặn doanh nghiệp mới tham gia kinh doanh, loại trừ đối thủ mới Quy định này cấm các hiệp hội thơng mại hạn chế cạnh tranh một cách nghiêm trọng nh hạn chế số hàng kinh doanh trong ngành, hạn chế “ một cách không công bằng” cách thức các doanh nghiệp thành viên tiến hành kinh doanh

- Lạm dụng vị trí chi phối:

Luật chống độc quyền cấm độc quyền t nhân, tức là một doanh nghiệp duy nhất hoặc một nhóm các doanh nghiệp công khai kiểm soát, khống chế, loại trừ

đối thủ cạnh tranh, ngăn chặn không cho ngời khác tham gia kinh doanh hoặc

sử dụng các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh để đạt đợc mục dích đó Vị trí chi phối thị phối thị trờng đợc xác định dựa trên thị phần của doanh nghiệp trên thị trờng toàn quốc : với thị phần trong cả nớc lớn hơn 50 % thì doanh nghiệp đợc coi là có khả năng chi phối thị trờng và lúc đó các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của họ sẽ bị coi là lạm dụng vị trí chi phối thị trờng

- Sáp nhập:

Trang 10

Luật chống độc quyền cấm những vụ sáp nhập gây hạn chế cạnh tranh trong một số lĩnh vực thơng mại cụ thể hoặc sử dụng các biện pháp không lành mạnh để buộc doanh nghiệp khác phải sáp nhập, bao gồm cả hình thức mua một phần hay toàn bộ doanh nghiệp và các hình thức liên kết, hợp nhất khác Trong luật quy định các doanh nghiệp có tài sản lớn hơn một mức nhất định phải báo cáo về sở hữu của các cổ đông, phải thông báo các giao dịch chuyển nhợng cổ phần, cầm nắm sở hữu của công ty khác Luật còn quy định các quy trình thông báo trớc khi sáp nhập, cho thuê, mợn nghiệp vụ, tài sản, và chế…

độ báo cáo đối với các hình thức sáp nhập công ty , mua cổ phần khác

Về thủ tục, các doanh nghiệp muốn sáp nhập phải xin ý kiến cơ quan cạnh tranh trớc khi nộp hồ sơ Nếu cơ quan cạnh tranh không đồng ý thì doanh nghiệp sẽ không tiếp tục nộp hồ sơ nữa

Yếu tố chủ yếu để cơ quan cạnh tranh xem xét cho phép sáp nhập là cơ cấu ngành, ngoài ra còn cân nhắc một số yếu tố khác nh tình trạng tài chính và hiệu quả của bản thân doanh nghiệp muốn sáp nhập nh gánh nặng nợ nần, khả năng phá sản,…

- Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh:

Một phần lớn trong luật pháp về cạnh tranh của Nhật Bản là các quy định

về hành vi thơng mại không lành mạnh Những quy định này đợc giới kinh doanh ủng hộ nhiều hơn cả ở Nhật cũng nh ở các nớc khác, cạnh tranh “tự do” gắn chặt với “ bình đẳng” và lành mạnh Tất cả các quy định về cạnh tranh lành mạnh đều nhằm bảo vệ các đối thủ cạnh tranh

Cơ quan cạnh tranh Nhật Bản đã cố gắng đa ra các hớng dẫn chung về cạnh tranh lành mạnh nhng trên thực tế vẫn áp dụng những quy định cụ thể Các hành vi thơng mại bị coi là không lành mạnh nh thu hút hoặc ép buộc khách hàng của đối thủ cạnh tranh phải cộng tác với mình ; đa ra những điều kiện gây trở ngại cho hoạt động kinh doanh của đối tác ; ấn định giá bán thấp, giá mua cao một cách bất hợp lý, lừa phỉnh để thu hút khách hàng,…

- Bảo vệ ngời tiêu dùng:

Trang 11

Pháp luật cơ bản về bảo vệ ngời tiêu dùng đợc ban hành vào năm 1968, thể hiện mối quan tâm về cách ứng xử bình đẳng giữa các doanh nghiệp và mong muốn một chế độ cạnh tranh vừa tự do , vừa lành mạnh Luật bảo vệ ngời tiêu dung còn quy định phải có chỉ dẫn về đặc tính, chất lợng sản phẩm và “ những chỉ dẫn gian dối và gây hiệu quả nghiêm trọng phải bị xử lý” Những quy định này rất gần gũi với các quy định cấm những hành vi không lành mạnh trong luật chống độc quyền, các sai phạm nh vậy đều làm tổn hại đến những ngời bán hàng trung thực cùng nhu ngời mua hàng bị thông tin sai.

5.1.3 Các vấn đề thơng mại quốc tế trong chính sách cạnh tranh

Sau chiến tranh thế giới thứ hai ,với những nỗ lực của Nhật Bản và sự trợ giúp của Mỹ, kinh tế Nhật Bản dần dần ổn định từ năm 1949, sau đó sức sản xuất phục hồi nhanh chóng nhờ nhu cầu đặc biệt từ chiến tranh Triều Tiên Tuy nhiên, dù kinh tế đã đợc ổn định và sức phát triển đã đợc phục hồi, kinh tế Nhật Bản vào giữa thập niên 1950 vẫn còn yếu kém so với các nớc Âu-Mỹ Trong bối cảnh kinh tế nói trên, Nhật Bản phải đối mặt với vấn đề nên gia nhập các tổ chức thơng mại, kinh tế thế giới nh thế nào.Nhật Bản là nớc nghèo thiên nhiên vào loại nhất thế giới nên ngoại thơng có vai trò vô cùng quan trọng cho kinh tế phát triển Thị trờng trong nớc tuy không nhỏ, nhng để đạt hiệu quả quy mô kinh tế phải cần đến thị trờng nớc ngoài Rõ ràng việc gia nhập các tổ chức kinh tế, thơng mại quốc tế sẽ mang lại cơ hội tiếp cận thị trờng thế giới rộng lớn.Song việc gia nhập vào các tổ chức kinh tế quốc tế lại đi kèm theo những nghĩa vụ phải mở cửa thị trờng nớc mình đối với hàng ngoại và hoạt động đầu t của các công ty nớc ngoài trong khi trình độ phát triển kinh tế của Nhật Bản còn non yếu so với các nớc Âu- Mỹ Chính phủ Nhật Bản thấy rằng không còn con đờng nào khác, chỉ có cách là chấp nhận hội nhập và đặt kế hoạch giảm bớt thách thức, đồng thời đa ra chiến lợc phát triển các ngành công nghiệp Nhật Bản có tiềm năng cạnh tranh trên thị trờng quốc tế Chiến lợc mở cửa, hội nhập, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Nhật Bản gồm ba bộ phân không thể tách rời là:

Trang 12

Thứ nhất, mở cửa nh thế nào để hàng nhập không cản trở sự phát triển của các ngành công nghiệp trong nớc.

Thứ hai, việc mở cửa phải kết hợp với chiến lợc, chính sách làm sao cho các ngành công nghiệp ngày càng có sức cạnh tranh trên thị trờng trong nớc và thế giới

Thứ ba, để hội nhập có hiệu quả, tranh thủ đợc nhiều cơ hội của thị trờng thế giới, có chiến lợc và tổ chức đẩy mạnh xuất khẩu

Sự phát triển kinh tế “ thần kỳ” và sự tăng cờng sức cạnh tranh quốc tế của một số ngành công nghiệp chủ yếu của Nhật Bản trong thời kỳ này chứng minh

sự thành công của chiến lợc mở cửa, hộ nhập nêu trên

5.2 Trung Quốc

5.2.1 Những yếu tố tạo nên sự cạnh tranh trong nền kinh tế

Điều 15 Hiến pháp sửa đổi 1993 đã nêu rõ: “Trung Quốc áp dụng hệ thống kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa” Hiện nay, Trung Quốc vẫn đang trong giai

đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trờng, cha thực sự hình thành một cơ chế thị trờng đầy đủ và vẫn thiếu một môi trờng đảm bảo cho sự cạnh tranh mở và lành mạnh

- Xoá bỏ giá độc quyền nhà nớc:

Hiện nay khoảng 90% nhiên liệu sản xuất đợc điều tiết bởi cơ chế thị trờng chỉ trừ những hàng hoá mà cạnh tranh là không cần thiết nh hàng hoá có vai trò quan trọng đối với an ninh quốc gia và cuộc sống của ngời dân, tài nguyên quý hiếm hoặc đang bị cạn kiệt, hàng hoá độc quyền tự nhiên và các hàng hoá liên quan đến phúc lợi công cộng Trung bình có khoảng 80% hàng hoá đ… ợc đa ra thị trờng và do cơ chế thị trờng điều tiết dới sự quản lý vĩ mô của nhà nớc Do nới lỏng kiểm soát về giá cả đối với hầu hết các sản phẩm, nên phạm vi và số l-ợng kế hoạch sản xuất do nhà nớc áp đặt đã giảm mạnh Do đó các doanh nghiệp đã dần hình thành quan niệm về cạnh tranh và sự mạo hiểm, và họ đã bỏ

t tởng lỗi thời rằng “tất cả mọi ngời có thể cùng chia sẻ một chiếc bánh lớn”

Đây là điều kiện quan trọng nhất cho sự tồn tại cạnh tranh giữa các doanh nghiệp

Trang 13

- Hình thành nhiều hình thức sở hữu:

Cơ cấu sở hữu của các doanh nghiệp Trung Quốc đã phát triển, từ chỗ chỉ có hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, đến nay hình thức sở hữu nhà nớc, tập thể, t nhân và các hình thức sở hữu khac đã cùng tồn tại và tỷ lệ phần trăm của kinh tế nhà nớc trong nền kinh tế quốc dân đang suy giảm ( còn 28,8% năm 1998), trong khi đó kinh tế tập thể và kinh tế t nhân tăng

Với mục tiêu hình thành một hệ thống kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa thì việc giảm bớt dần tỷ lệ khu vực kinh tế nhà nớc trong nền kinh tế quốc dân

là một dấu hiệu tốt Kinh nghiệm quá khứ cho thấy, nếu tỷ lệ của kinh tế nhà

n-ớc trong nền kinh tế quốc dân lớn sẽ không có lợi cho việc phát triển một nền kinh tế có tính cạnh tranh và về lâu dài sẽ dẫn đến sự cứng nhắc và suy thoái của nền kinh tế quốc dân Mặt khác mô hình sở hữu đa dạng, trong đó các thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh trên thị trờng và phát huy đầy đủ vai trò của thị trờng trong việc tối u hoá phân bổ nguồn lực

- Tăng cờng quyền tự chủ trong việc ra quyết định về quản lý của doanh nghiệp nhà nớc:

Hiện nay Trung Quốc có khoảng hơn 300.000 doanh nghiệp nhà nớc, trong

đó chỉ có khoảng 100.000 doanh nghiệp vẫn hoạt động theo kế hoạch sản xuất của nhà nớc Điều này có ý nghĩa là đa số các doanh nghiệp nhà nớc đã thị tr-ờng hoá hoạt động kinh doanh của họ Cần phải thừa nhận rằng các doanh nghiệp nhà nớc đã có những đóng góp quan trọng vào quá trình xây dựng kinh

tế ở Trung Quốc và giữ vai trò chi phối trong nền kinh tế quốc dân

Từ năm 1995, định hớng, cải cách doanh nghiệp nhà nóc ở Trung Quốc là

“ tạo dựng một hệ thống quản lý doanh nghiệp hiện đại”, với mục đích làm rõ quyền sở hữu, xác định rõ các quyền và nghĩa vụ, phân biệt chức nắng quản lý của nhà nớc với chức năng kinh doanh của doanh nghiệp, xây dựng hệ thống quản lý khoa học, hoàn thiện cơ chế ra quyết định, cơ chế thực hiện và cơ chế giám sát, trên cơ cở đó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực sự trở thành

Trang 14

các pháp nhân và làm chủ thị trờng, có thể tiến hành hoạt động kinh doanh một cách độc lập và tự chịu trách nhiệm về các khoản lợi nhuận cũng nh trách nhiệm của họ Điều đó cho thấy ngoài một số rất ít các ngành phải do nhà nớc

độc quyền nắm giữ, tất cả các doanh nghiệp nhà nớc hoạt động trong các lĩnh vực cạnh tranh cần phải tiến hành sắp xếp lại tài sản và điều chỉnh lại cơ cấu theo phơng thức khác nhau Đây là mục tiêu của cải cách kinh tế o Trung Quốc

và đó cũng là tiền đề để củng cố doanh nghiệp nhà nớc và đa cơ chế cạnh tranh vào đời sống kinh tế Trung Quốc

- Hình thành cơ chế mở cửa với thế giới bên ngoài:

Trung Quốc đã thực hiện cơ chế mở cửa ra thế giới bên ngoài theo nhiều ớng và nhiều kênh khác nhau Kể từ khi luật liên doanh giữa Trung Quốc với n-

h-ớc ngoài đợc ban hành năm 1979, Trung Quốc đã thực hiện chính sách thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài hơn hai mơi năm Cho tới cuối năm 1999, Trung Quốc đã thu hút đợc hơn 280 tỷ USD vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài và hơn 320.000 doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đợc thành lập Từ 1993-1999, Trung Quốc là một nớc đang phát triển, thu hút lợng vốn đầu t nớc ngoài lớn nhất, xét trên phạm vi toàn cầu chỉ đứng thứ 2 sau Mỹ Những doanh nghiệp n-

ớc ngoài không chỉ đem đến Trung Quốc vốn, công nghệ và cơ hội việc làm mà còn đem đến các phơng thức quản lý mới; làm cho thị trờng Trung Quốc thích ứng với thị trờng quốc tế và nền kinh tế Trung Quốc nhìn một cách tổng thể ,

đã hoà nhập đợc với nền kinh tế thế giới Điều đó cũng có nghĩa là nền kinh tế Trung Quốc đã có khả năng cạnh tranh

5.2.2 Chính sách cạnh tranh ở Trung Quốc

Cácđiều khoản tạm thời về việc thực hiện và bảo hộ cạnh tranh xã hội chủ nghĩa đã đợc quốc vụ viện ban hành tháng 10-1980, trong đó quy định rằng: trong quá trình tiến hành cạnh tranh cần phải có nỗ lực để phá vỡ tình trạng cát

cứ ở từng vùng và phân chia thị trờng theo khu vực hành chính Không có địa phơng hoặc khu vực nào đợc phép phong toả thị trờng hoặc cấm bán hàng hoá

có xuất xứ từ các vùng hay các khu vực khác Những quy định này cũng yêu cầu các khu vực có hoạt động công nghiệp, vân tải, tài chính và thơng mại phải

Trang 15

xem lại các luật lệ và quy đinh hiệ hành, xoá bỏ các quy định gây cản trở cạnh tranh Cho phép các vùng và khu vực liên quan thực hiện các biện pháp phù hợp với tinh thần cuả các điều khoản tạm thời để bảo đảm tính cạnh tranh Tiếp đó, chính phủ Trung Quốc ban hành một loạt các chính sách, luật, quy đinh về cạnh tranh Đến năm 1993, uỷ ban thờng vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc lần thứ VIII mới thông qua luật chống cạnh tranh không lành mạnh, trong

đó có những điều khoản nh điều 15 quy đinh về việc cấm thoả thuân gây hạn chế nghiêm trọng tới cạnh tranh: “Ngời trả giá không đợc có hành vi cấu kết vơi ngời khac để ép buộc tăng hoặc giảm mức giá Ngời đặt giá và ngời mời thầu không đợc câu kết với để nhau loại bỏ đối thủ cạnh tranh

Tháng 12-1993, uỷ ban nhà nớc về công nghiệp và thơng mại đã ban hành các điều khoản về cấm hành vi hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp trong các ngành phục vụ công cộng, trong đó liệt kê hàng loạt các hình thức hạn chế cạnh tranh, bao gồm ép buộc ngời tiêu dùng phải mua các sản phẩm đợc chỉ

định, bán hàng ràng buộc, từ chối cung cấp sản phẩm cho những ngời không chấp nhận những điều kiện vô lý đó, tuỳ tiện áp đặt các laọi chi phí, trong…luật chống cạnh tranh không lành mạnh , Quốc vụ viện cũng đã ban hành các

điều khoản về cấm các hành vi lạm dụng quyền lực hành chính cản trở cạnh tranh Trong đó điều 7 quy định chính quyền và các cơ quan trực thuộc không

đợc lạm dụng quyền lực hành chính dể ép buộc ngời dân mua hàng của các cơ

sở kinh daonh do họ chỉ định và áp đặt những han chế đối với các hoạt động hợp pháp của các nhà kinh doanh khác Điều 30 cũng quy định các cơ quan nhà nớc có hành vi lạm dụng quyền lực hành chính sẽ do các cơ quan nhà nớc cấp trên xử lý; trong trơng hợp nghiêm trọng các cơ quan có liên quan cùng cấp hoặc cấp trên sẽ áp dung xử phạt hành chính đối vơi những ngời có trách nhiệm trực tiếp

5.2.3 Pháp luật chông độc quyền ở Trung Quốc

Văn bản pháp lý đầu tiên đa ra nhiệm vụ chống độc quuyền là các điều khoản tạm thời về việc thực hiện và bảo hộ cạnh tranh xã hội chủ nghĩa ban hành tháng 10-1980, trong đó quy định rằng: trong đời sống kinh tế chỉ trừ

Trang 16

Xem xét các điều khoản đợc đề cập ở trên cho thấy một số vấn đề chủ yếu nổi lên trong pháp luật chống độc quyền hiện nay ở Trung Quốc là:

Trung Quốc cha có một hệ thống hoàn chỉnh và chuyên biệt về luật chống

độc quyền, các điều khoản chống độc quyền nằm rải rác trong rất nhiều các quy định, thông t, các điều khoản tạm thời tuy nhiên chúng không nằm…trong một hệ thống hoàn chỉnh và chuyên biệt về luật chống độc quyền

Tính phi hiệu quả của các chế tài áp dụng với rào cản hành chính đối với cạnh tranh, phi hiệu quả của các cơ quan chống độc quyền Luật chống độc quyền khác so với các luật khác, nhiệm vụ của nó không chỉ nhàm loại bỏ những hành vi lạm dụng quyền lực hành chính cản trở cạnh tranh Nhiệm vụ này đòi hỏi các cơ quan chống độc quyền phải có đủ quyền lực và tính độc lập Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, các cơ quan có nhiệm vụ chống độc quyền

là các phòng quản lý công nghiệp và thơng mại Hệ thống này có rất nhiều vấn

đề phải bàn, đặc biệt là do các rào cản hành chính đối với cạnh tranh thờng rất phức tạp và khó điều tra Nếu các cơ quan chống độc quyền không có đủ quyền lực và tính độc lập thì việc xử lý các trờng hợp này chắc chăn sẽ bị can thiệp và tác động bởi các cơ quan hành chính và do đó sẽ ngăn cản các cơ quan chống

độc quyền đa ra các quyết định phù hợp với luật pháp

5.2.4 Bài học từ quá trình sây dựng và thực thi chính sách cạnh tranh ở Trung Quốc và những kiến nghị cho chính sách Việt Nam

Việt Nam và Trung Quốc đang trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa, gắn với cạnh tranh Thúc đẩy cạnh tranh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cải cách kinh

tế cả ở Việt Nam và Trung Quốc Do đó cần phải thiết lập một hệ thống thị

Trang 17

tr-ờng thống nhất trên toàn quốc và ở đó cơ chế cạnh tranh là cơ chế thị trtr-ờng và vai trò của cạnh tranh là vai trò của thị trờng.

Cạnh tranh là phơng tiện không thể thiếu đợc trong việc khuyến khích các doanh nghiệp phát triển Bởi vậy, trong quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa cần phải xây dựng một chính sách cạnh tranh nói chung và luật khuyến khích cạnh tranh và kiểm soát độc quyền nói riêng Cả Trung Quốc và Việt Nam đều cần phải có sự thay đổi về cách nhìn và quan điểm trong việc xây dựng chính sách cạnh tranh ở hai nớc, cụ thể là:

- Thống nhất nhận thức và quan điểm , phải coi cạnh tranh theo pháp luật

là động lực của sự phát triển Cạnh tranh là động lực quan trọng trong nền kinh

tế thị trờng, song tự do cạnh tranh theo kiểu “ cá lớn nuốt cá bé” chắc chắn sẽ dẫn đến độc quyền và lại là nhân tố cản trở sự phát triển Chính vì thế nhà nớc cần phải có luật cạnh tranh với mục đích đảm bảo và duy trì cạnh tranh, trong

đó chú ý đến những đặc thù quốc gia

- Xoá bỏ tình trạng phân biệt đối xử trong quản lý kinh doanh, đảm bảo tự

do hành nghề theo pháp luật , tự do quyết định của mọi cá nhân, tổ chức, bảo

đảm sự bình đẳng về cơ hội kinh doanh cho mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tạp trung, ngời tiêu dùng chỉ đợc sử dụng những sản phẩm mà họ đợc cung cấp Ngợc lại trong nền kinh tế thị trờng thì nhà sản xuất phải cung ứng những gì mà ngời tiêu dùng cần Chính vì thế, sự lựa chọn của ngời tiêu dùng sẽ là tiền đề cho việc xây dựng những chiến lợc cạnh tranh của các doanh nghiệp Vì thế chỉ khi quyền tự do lựa chọn của ngời tiêu dùng đợc bảo đảm thì cơ chế cạnh tranh mới phát huy đợc tác dụng tích cực của nó

- Để chấm dứt các hiện tợng hạn chế cạnh tranh bằng những mệnh lệnh hành chính, phải đặt các cơ quan nhà nớc cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của luật cạnh tranh Kinh nghiệm của Trung Quốc về chống lạm dụng u thế trên thị trờng đối với các doanh nghiệp độc quyền nhà nớc về các dịch vụ công ích là rất bổ ích đối với Việt Nam Hiện nay ở Việt Nam tình trạng các tổng công ty quốc doanh độc quyền, không đợc kiểm toán và giám sát có hiệu quả đang là

Ngày đăng: 26/04/2014, 08:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w