MỤC LỤC I. Mở đầu 01 II. Nội dung nghiên cứu 02 1. Một số điểm mới nổi bật trong Bộ luật Bảo vệ Môi trường 2020 có hiệu lực vào 112021 cũng như được sửa đổi bổ sung vào năm 2021 02 a)Thứ nhất là về việc đưa thêm cộng đồng dân cư vào Điều luật trong Bộ luật mới Bảo vệ Môi trường mới 02 b) Thứ hai là việc thêm một mục về nội dung bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên 03 c) Thứ ba là vấn đề cụ thể hóa các quy định về ứng phó biến đổi khí hậu 04 d) Cuối cùng, về quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm khác 05 2.Những công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia có liên quan đến Luật Bảo vệ Môi trường 2020 06 2.1. Khái niệm công ước 06 2.2. Ý nghĩa của công ước 06 2.3. Những công ước quốc tế mà Việt Nam đã và đang tham gia có liên quan đến Luật Bảo vệ Môi trường 07 a) Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên thế giới 07 b) Các Công ước về biến đổi khí hậu 10 c) Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn, 1987 11 III. Kết luận 14 Tài liệu tham khảo 16 I.Mở đầu Môi trường chính là không gian sống của con người và sinh vật. Môi trường còn là nơi cung cấp những tài nguyên thiên nhiên như rừng, khoáng sản, động thực vật quý hiếm,… phục vụ cho cuộc sống của con người. Chính vì vậy môi trường có vai trò cực kì quan trọng và mang tính sống còn với con người. Nhưng thật đáng buồn, khi chính môi trường lại là nơi chứa những chất thải mà con người tạo ra. Mỗi chúng ta ai cũng đều biết rằng môi trường hiện nay đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Đặc biệt là ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, đất,… điều đó đã và đang đe dọa tới cuộc sống của con người. Ở các nước đang phát triển cụ thể như Việt Nam, việc khai thác bừa bãi các nguồn lợi từ thiên nhiên đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên. Và ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường. Điều đó cho thấy rằng môi trường đã, đang và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của chúng ta. Vì vậy môi trường bị ô nhiễm thì cũng đồng nghĩa với việc cuộc sống của con người sẽ thêm khó khăn hơn. Chính vì thế, bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của nhân loại. Tất cả sự sống trên Trái Đất đều là nhân tố tạo nên môi trường sống. Theo đó, bảo vệ môi trường là bảo vệ cuộc sống của chính mỗi người nói riêng và cho cả nhân loại nói chung. Việc bảo vệ môi trường hiện nay đang là một trong những nhiệm vụ cấp bách của Đảng và Nhà nước ta, nhất là khi mà nạn ô nhiễm, suy thoái môi trường diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Thực trạng môi trường không chỉ là môi quan tâm lo lắng của mỗi quốc gia mà còn là môi quan tâm chung của cả cộng đồng quốc tế. Bằng nhiều chính sách và biện pháp khác nhau, đặc biệt là thông qua các quy định của pháp luật, thông qua việc ký kết và tham gia một sô lượng đáng kê các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường, Nhà nước ta đã và đang có những tác động tích cực nhằm ngăn chặn sự ô nhiễm và suy thoái môi trường bằng nhiều chính sách và biện pháp khác nhau, như với những sự thay đổi trong Bộ luật Bảo vệ Môi trường. Như đã biết, ở Việt Nam đã từng có các Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993, 2005, 2014; trong đó có thể thấy Luật Bảo vệ Môi trường 2014 đã góp phần quan trọng vào những thành công trong công tác bảo vệ môi trường tính đến nay. Tuy nhiên sau thời gian áp dụng Luật Bảo vệ Môi trường đã lộ ra một só hạn chế, bất cập. Chính vì vậy Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Bộ Luật Bảo vệ Môi trường 2020 để làm chặt chẽ hơn một số vấn đề. Đặc biệt hơn là thông qua các quy định của pháp luật, thông qua việc ký kết và tham gia một sô lượng đáng kê các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường, ta càng có thể thấy rõ hơn những tác động tích cực của Nhà nước ta đối với việc bảo vệ môi trường. Cho tới thòi điểm hiện tại, Việt Nam đã ký kết hoặc phê chuẩn một số điều ước quốc tế quan trọng liên quan đến bảo vệ môi trường. Page 1 II. Nội dung nghiên cứu. 1.Một số điểm mới nổi bật trong Bộ luật Bảo vệ Môi trường 2020 có hiệu lực vào 112021 cũng như được sửa đổi bổ sung vào năm 2021. Như đã nói ở trên, Luật Bảo vệ Môi trường 2014 thực sự đã góp phần quan trọng vào những thành công trong công tác bảo vệ môi trường tính đến nay. Tuy nhiên sau khoảng thời gian áp dụng Bộ luật 2014 có thể thấy được một số hạn chế. Chính vì vậy, việc Bộ luật 2020 được thông qua đã gúp bổ sung thêm, góp phần khắc phục những hạn chế mà Bộ luật 2014 đã mắc phải. Cụ thể: a)Thứ nhất là về việc đưa thêm cộng đồng dân cư vào Điều luật trong Bộ luật mới Bảo vệ Môi trường mới. Điều đó thể hiện cụ thể qua Điều 1 quy định về phạm vi điều chỉnh và Điều 2 quy định về đối tượng áp dụng như sau: Trong Bộ luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 quy định, Điều 1. “Phạm vi điều chỉnh Luật này quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong bảo vệ môi trường”. Điều 2. “Đối tượng áp dụng Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”. Và trong Bộ luật Bảo vệ Môi trường 2020 cũng quy định: Điều 1. “Phạm vi điều chỉnh Luật này quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân trong hoạt động bảo vệ môi trường”. Điều 2. “Đối tượng áp dụng Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội Page 2 chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển, lòng đất và vùng trời”. Đây là lần đầu tiên cụm từ cộng đồng dân cư xuất hiện trong bộ luật Bảo vệ Môi trường mới và cũng là lần đầu tiên quy định cộng đồng dân cư là một chủ thể trong công tác BVMT. Cộng đồng dân cư là toàn thể những người cùng sinh sống trong một khu vực, giữa họ có sự liên kết, hợp tác cùng thực hiện lợi ích của mình và lợi ích chung. Trên thực tế, cộng đồng dân cư đã tham gia rất nhiều vào các hoạt động môi trường, và các văn bản luật khác cũng điều chỉnh đến cộng đồng dân cư như: Bộ Luật Dân sự, quy định về xử phạt hành chính trên một số lĩnh vực như: đất đai, xây dựng… Cũng theo đó, Luật cũng quy định tăng cường công khai thông tin, tham vấn, phát huy vai trò giám sát, phản biện, đồng thời bảo đảm được quyền và lợi ích của cộng đồng dân cư khi tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường. b)Thứ hai là việc thêm một mục về nội dung bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên. Trong bộ luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 cum từ “di sản thiên nhiên” chỉ xuất hiện trong khoản 12 Điều 7 về quy định những hành vi bị cấm cụ thể: “Phá hoại, xâm chiếm trái phép di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên”. Điều đó cho thấy lĩnh vực về di sản thiên nhiên vẫn còn chưa được chú trọng cũng như chưa được đánh giá nhiều. Chính vì vậy trong Bộ luật Bảo vệ Môi trường 2020, Luật đã dành một Mục riêng là Mục 4 quy định về “Bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên” thuộc chương II gồm hai Điều luật ( Điều 20, Điều 21), trong đó có các quy định về di sản thiên nhiên; việc xác lập, công nhận di sản thiên nhiên; các nội dung về bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên (điều tra, đanh giá, quản lý, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân trong bảo vệ di sản thiên nhiên). Page 3 Qua đó, có thể thấy đươc rằng, di sản thiên nhiên đã dần dần được Chính phủ không chỉ riêng nước ta mà còn là các nước quốc tế quan tâm mạnh mẽ đến. Qua mục 4 có thể hiểu rõ hơn về khái niệm đặc điểm của di sản thiên nhiên, nó cũng giúp cho việc công nhận di sản thiên nhiên rõ ràng hơn, giúp ngăn tình trạng trái phép di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên được nêu tại Khoản 12Điều 7 thuộc Bộ luật Bảo vệ Môi trường 2014. Đồng thời cũng nắm rõ được việc bảo vệ di sản thiên nhiên sẽ phải làm những gì. Tuy là vậy, nhưng vẫn còn tồn tại tình trạng phá hoại những di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên như nghịch cảnh xả rác bừa bãi, vô tư xâm hại cỏ cây, cảnh quan môi trường diễn ra phổ biến dẫn đến tác động tiêu cực đến việc bảo tồn di sản và sự phát triển du lịch bền vững. Vì vậy, cần phải thêm những hình phạt khi vi phạm vào Bộ Luật Bảo vệ Môi trường. c) Thứ ba là vấn đề cụ thể hóa các quy định về ứng phó biến đổi khí hậu. Luật Bảo vệ Môi trường 2020 đã bổ sung các quy định cụ thể như sau: Thứ nhất là về việc thích ứng với biến đổi khí hậu, đã không còn là bốn điểm quy định chung về thích ứng với biến đổi khí hậu như trong Luật Bảo vệ Môi trường 2014. Để nắm rõ hơn về việc thích ứng này, Luật đã làm thật chi tiết, chặt chẽ về khái niệm cũng như nội dung tại Điều 90 thuộc Bộ Luật Bảo vệ Môi trường 2020. Thứ hai là việc giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, Luật chỉ rõ các nhà kính chính cũng như các khí đặc biệt cần lưu ý; đồng thời về nội dung việc giảm nhẹ cũng được nêu rõ ràng trong Điều 91 của Bộ Luật này. Thứ ba, bảo vệ tầng ôzôn cũng là việc đặc biệt được lưu ý hơn. Khi Luật đã nêu rõ về khái niệm bảo vệ ôzôn ( Khoản 1 Điều 92 ); phần nội dung của việc bảo vệ cũng được nêu chi tiết hơn. Tuy nhiên nên thêm Mục 2: “Cấm sản xuất, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất và tiêu thụ các chất làm suy giảm tầng ôdôn theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” thuộc Điều 42 Quản lý các chất làm suy giảm tầng ôdôn của Bộ luật Bảo Page 4 vệ Môi trường 2014 vào phần nội dung thuộc Khoản 2 Điều 32 Bộ luật Bảo vệ Môi trường 2020. Thứ ba, đồng thời cũng bổ sung quy định về lồng ghép nội dung ứng phó với BĐKH vào hệ thống chiến lược, quy hoạch. Giải thích rõ việc lồng ghép cũng như kết quả việc lồng ghép, theo Điểm c Khoản 1 Điều 93 “Kết quả phân tích, đánh giá giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu được sử dụng trong việc xác định chỉ tiêu kinh tế xã hội của chiến lược, quy hoạch”. Cuối cùng là việc thực hiện cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu cũng được Bộ Tài nguyên và Môi trường bổ sung, cam kết rõ thông qua Khoản 1 Điều 96 của Luật Bảo vệ Môi trường 2020, như bổ sung thêm việc “tổ chức xây dựng, cập nhật, triển khai thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định, Báo cáo minh bạch 02 năm một lần và các báo cáo quốc gia khác về biến đổi khí hậu và bảo vệ tầng ôdôn theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” ( Điểm b Khoản 1 Điều 96 Luật Bảo vệ Môi trường 2020). Tóm lại theo Chương VII Ứng phó với biến đổi khí hậu, gồm bảy Điều luật ( từ Điều 90 đến Điều 96 ), có thể thấy rõ sự thay đổi lớn nhất được thể hiện qua việc trách nhiệm Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng như Bộ Tài nguyên và Môi trường được nêu rõ ràng qua điểm cuối của mỗi Điều Luật. Đó cũng phần nào giải đáp được thắc mắc cũng như giải quyết được những vấn của người dân trong quốc gia nhanh, gọn hơn. d) Cuối cùng, về quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm khác. Các nội dung về quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm khác được quy định từ Điều 72 đến Điều 88, trong đó Mục 2 về vấn đề về quản lý chất thải rắn sinh hoạt là mục cần được lưu ý trong Bộ luật này. Đây là một mục mới và nó cũng quy định cụ thể, rõ ràng hơn: quy định về việc phân loại, lưu giữ, chuyển giao; chi phí thu gom vận chuyển; xử lý ô nhiễm, cải tạo môi trường bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt… Page 5 Đặc biệt các quy định hướng tới việc thúc đẩy người dân phân loại, giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại nguồn, bởi nếu không thực hiện việc này thì chi phí xử lý chất thải rắn sinh hoạt phải nộp sẽ cao. Phí cũng là điều cần phải nói rõ trong các điều Luật thuộc bộ Luật này. Theo đó, giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt từ hộ gia đình, cá nhân được tính toán theo căn cứ sau đây: thứ nhất, phù hợp với quy định của pháp luật về giá; thứ hai, dựa trên khối lượng hoặc thể tích chất thải đã được phân loại; thứ ba, chất thải rắn có khả năng tái sử dụng, tái chế, chất thải nguy hại phát sinh từ hộ gia đình, cá nhân đã được phân loại riêng thì không phải chi trả giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý. Bên cạnh đó nó cũng định hướng cách thức quản lý, ứng xử với chất thải…Ngoài ra, Luật cũng quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt. qua khoản cuối của mỗi điều để các hộ gia đình, cá nhân có thể nắm rõ hơn. 2.Những công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia có liên quan đến Luật Bảo vệ Môi trường 2020. 2.1. Khái niệm công ước. Công ước quốc tế là văn bản ghi rõ những việc cần tuân theo và những điều bị cấm thi hành, liên quan đến một lĩnh vực nào đó, do một nhóm nước thoả thuận và cùng cam kết thực hiện, nhằm tạo ra tiếng nói chung, sự thống nhất về hành động và sự hợp tác trong các nước thành viên. Công ước quốc tế có hiệu lực trọn vẹn với các nước thành viên, nhưng cũng có tác động rất lớn đối với các nước trong khu vực chưa tham gia công ước. Hiện nay, có khoảng 300 công ước quốc tế về bảo vệ môi trường. 2.2. Ý nghĩa của công ước. Page 6 Tham gia vào các công ước là các nước đã thể hiện được sự quan tâm, trách nhiệm của quốc gia mình đối với vấn đề chung của thế giới đồng thời qua đó thể hiện được vị trí, tiếng nói cũng như đưa hình ảnh của mình trên trường quốc tế. Tham gia công ước các nước thành viên sẽ có được phương hướng hành động ứng phó với những vấn đề đặt ra, đồng thời có cơ hội nhận được sựbảo vệ,hỗ trở về khoa học, công nghệ, vốn của cộng động quốc tế. 2.3. Những công ước quốc tế mà Việt Nam đã và đang tham gia có liên quan đến Luật Bảo vệ Môi trường. Vì lợi ích của mỗi quốc gia, việc thiết lập các quan hệ quốc tế, nhất là pháp luật quốc tế về kiểm soát ô nhiễm quốc tế là nhu cầu tất yếu, khách quan của tất cả các quốc gia không phân biệt chế độ chính trị, tôn giáo, trình độ phát triển kinh tế, khoa họckĩ thuật. Để giải quyết vấn đề toàn càu, các quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế phải có những hành động thiết thực nhằm loại bỏ những nguyên nhân làm cho môi trường toàn cầu trở thành xấu đi và đồng thòi cải thiện tình hình môi trường toàn cầu. Để đạt được mục tiêu này, các quốc gia phải hợp tác chặt chẽ và hành động theo một hướng chung: cải thiện môi trường toàn cầu. Một trong những biểu hiện cụ thể là các quốc gia tổ chức các hội nghị quốc tế về bảo vệ môi trường. Các hội nghị này có thể diễn ra ở quy mô toàn cầu, với sự tham gia của hầu hết các quốc gia trên thế giới, bàn về những vấn đề chung nhất của môi trường và bảo vệ môi trường toàn cầu như: a) Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên thế giới. Giới thiệu: Công ước đã được thông qua tại kỳ họp thứ 17 của Đại hội đồng UNESCO tại Paris ngày 16111972. Công ước đã được 186 nước tham gia kí kết. Hiện đã có 911 Di sản thế giới nằm tại 151 quốc gia thành viên. Trong số này, 704 là văn hóa, 180 tự nhiên và 27 là di sản hỗn hợp. Việt Nam tham gia kí kết vào ngày 19101987. Thực trạng: Page 7 Di sản tự nhiên ngày càng có nguy cơ bị phá hoại không chỉ bởi nguyên nhân xuống cấp vì “ lão hóa” theo thời gian mà còn bởi sự tiến triển của đời sống xã hội và kinh tế làm quá trình xuống cấp của các di sản nhanh và nghiêm trọng hơn. Dễ thấy rằng việc bảo vệ di sản ở các cấp quốc gia thường không được hoàn chỉnh vì việc bảo vệ đó đòi hỏi rất nhiều phương tiện như nguồn lực kinh tế, khoa học và ký thuật, sự giám sát, quản lý. Nhận thức được điều đó, tổ chức quốc tế UNESCO đã đưa ra công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới. Các điều khoản thỏa thuận chính: Thứ nhất, mỗi một quốc gia tham gia Công ước này công nhận rằng trách nhiệm bảo đảm của việc xác định, bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo và truyền lại cho các thế hệ tương lai di sản văn hoá và tự nhiên nêu trên là trách nhiệm trước tiên của mình. Quốc gia này phải nỗ lực hành động tối đa cho mục đích trên bằng những nguồn lực mà mình sẵn có và nếu có, thì bằng cả sự viện trợ và hợp tác quốc tế mà nó có thể có được hưởng nhất là về mặt tài chính, nghệ thuật, khoa học và kỹ thuật. Thứ hai, để bảo đảm việc bảo vệ và bảo tồn càng hiệu quả càng tốt và tôn tạo càng tích cực càng tốt di sản văn hoá và tự nhiên nằm trên lãnh thổ của mỗi nước và theo những điều kiện thích hợp của mỗi nước, các nước tham gia vào Công ước này sẽ cố gắng hết sức mình để thực hiện các công tác sau đây: Thứ nhất là đề ra một chính sách chung để trao cho di sản văn hoá và tự nhiên một chức năng nhất định trong đời sống tập thể và đưa việc bảo vệ di sản đó vào các chương trình của việc kế hoạch hoá chung; Thứ hai thành lập trên lãnh thổ của mình (trong trường hợp chưa có) một hoặc một vài cơ quan bảo vệ, bảo tồn và tôn tạo di sản văn hoá và tự nhiên, có số nhân viên thích hợp và có đủ phương tiện thực hiện các nhiệm vụ được giao; Thứ ba, phát triển các công trình nghiên cứu và tìm tòi khoa học kỹ thuật và cải tiến các phương pháp can thiệp cho phép một quốc gia ứng phó với những tai hoạ đang đe doạ di sản văn hoá hay tự nhiên của nó.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BỘ MÔN: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
TÌM HIỂU ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT MÔI TRƯỜNG
VIỆT NAM NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
I Mở đầu 01
II Nội dung nghiên cứu 02
1 Một số điểm mới nổi bật trong Bộ luật Bảo vệ Môi trường 2020 có hiệu lực vào 1/1/2021 cũng như được sửa đổi bổ sung vào năm 2021 02
a) Thứ nhất là về việc đưa thêm cộng đồng dân cư vào Điều luật trong Bộ luật mới Bảo vệ Môi trường mới 02
b) Thứ hai là việc thêm một mục về nội dung bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên 03
c) Thứ ba là vấn đề cụ thể hóa các quy định về ứng phó biến đổi khí hậu 04
d) Cuối cùng, về quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm khác 05
2 Những công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia có liên quan đến Luật Bảo vệ Môi trường 2020 06
2.1 Khái niệm công ước 06
2.2 Ý nghĩa của công ước 06
2.3 Những công ước quốc tế mà Việt Nam đã và đang tham gia có liên quan đến Luật Bảo vệ Môi trường 07
a) Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên thế giới 07
b) Các Công ước về biến đổi khí hậu 10
c) Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn, 1987 11
III Kết luận 14
Tài liệu tham khảo 16
Trang 3I Mở đầu
Môi trường chính là không gian sống của con người và sinh vật Môi trường còn là nơi cung cấp những tài nguyên thiên nhiên như rừng, khoáng sản, động thực vật quý hiếm,… phục vụ cho cuộc sống của con người Chính vì vậy môi trường có vai trò cực kì quan trọng và mang tính sống còn với con người Nhưng thật đáng buồn, khi chính môi trường lại là nơi chứa những chất thải mà con người tạo ra Mỗi chúng ta ai cũng đều biết rằng môi trường hiện nay đang bị ô nhiễm nghiêm trọng Đặc biệt là ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, đất,
… điều đó đã và đang đe dọa tới cuộc sống của con người Ở các nước đang phát triển cụ thể như Việt Nam, việc khai thác bừa bãi các nguồn lợi từ thiên nhiên đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên Và ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường Điều đó cho thấy rằng môi trường đã, đang và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của chúng ta Vì vậy môi trường bị ô nhiễm thì cũng đồng nghĩa với việc cuộc sống của con người sẽ thêm khó khăn hơn Chính vì thế, bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của nhân loại Tất cả sự sống trên Trái Đất đều là nhân tố tạo nên môi trường sống Theo đó, bảo vệ môi trường là bảo vệ cuộc sống của chính mỗi người nói riêng và cho cả nhân loại nói chung
Việc bảo vệ môi trường hiện nay đang là một trong những nhiệm vụ cấp bách của Đảng và Nhà nước ta, nhất là khi mà nạn ô nhiễm, suy thoái môi trường diễn
ra ngày càng nghiêm trọng Thực trạng môi trường không chỉ là môi quan tâm lo lắng của mỗi quốc gia mà còn là môi quan tâm chung của cả cộng đồng quốc tế Bằng nhiều chính sách và biện pháp khác nhau, đặc biệt là thông qua các quy định của pháp luật, thông qua việc ký kết và tham gia một sô lượng đáng kê các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường, Nhà nước ta đã và đang có những tác động tích cực nhằm ngăn chặn sự ô nhiễm và suy thoái môi trường bằng nhiều chính sách và biện pháp khác nhau, như với những sự thay đổi trong Bộ luật Bảo
vệ Môi trường Như đã biết, ở Việt Nam đã từng có các Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993, 2005, 2014; trong đó có thể thấy Luật Bảo vệ Môi trường 2014 đã góp phần quan trọng vào những thành công trong công tác bảo vệ môi trường tính đến nay Tuy nhiên sau thời gian áp dụng Luật Bảo vệ Môi trường đã lộ ra một só hạn chế, bất cập Chính vì vậy Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Bộ Luật Bảo vệ Môi trường
2020 để làm chặt chẽ hơn một số vấn đề Đặc biệt hơn là thông qua các quy định của pháp luật, thông qua việc ký kết và tham gia một sô lượng đáng kê các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường, ta càng có thể thấy rõ hơn những tác động tích cực của Nhà nước ta đối với việc bảo vệ môi trường Cho tới thòi điểm hiện tại, Việt Nam đã ký kết hoặc phê chuẩn một số" điều ước quốc tế quan trọng liên quan đến bảo vệ môi trường
Trang 4II Nội dung nghiên cứu.
1 Một số điểm mới nổi bật trong Bộ luật Bảo vệ Môi trường 2020 có hiệu lực vào 1/1/2021 cũng như được sửa đổi bổ sung vào năm 2021.
Như đã nói ở trên, Luật Bảo vệ Môi trường 2014 thực sự đã góp phần quan trọng vào những thành công trong công tác bảo vệ môi trường tính đến nay Tuy nhiên sau khoảng thời gian áp dụng Bộ luật 2014 có thể thấy được một số hạn chế Chính vì vậy, việc Bộ luật 2020 được thông qua đã gúp bổ sung thêm, góp phần khắc phục những hạn chế mà Bộ luật 2014 đã mắc phải Cụ thể:
a) Thứ nhất là về việc đưa thêm cộng đồng dân cư vào Điều luật trong Bộ luật mới Bảo vệ Môi trường mới.
Điều đó thể hiện cụ thể qua Điều 1 quy định về phạm vi điều chỉnh và Điều 2 quy định về đối tượng áp dụng như sau:
Trong Bộ luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 quy định,
Điều 1 “Phạm vi điều chỉnh Luật này quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền, nghĩa
vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong bảo vệ môi trường”.
Điều 2 “Đối tượng áp dụng Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”.
Và trong Bộ luật Bảo vệ Môi trường 2020 cũng quy định:
Điều 1 “Phạm vi điều chỉnh Luật này quy định về hoạt động bảo vệ môi
trường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân
cư, hộ gia đình và cá nhân trong hoạt động bảo vệ môi trường”.
Điều 2 “Đối tượng áp dụng Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức,
cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội
Trang 5chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển, lòng đất và vùng trời”.
Đây là lần đầu tiên cụm từ cộng đồng dân cư xuất hiện trong bộ luật Bảo vệ
Môi trường mới và cũng là lần đầu tiên quy định cộng đồng dân cư là một chủ thể trong công tác BVMT Cộng đồng dân cư là toàn thể những người cùng
sinh sống trong một khu vực, giữa họ có sự liên kết, hợp tác cùng thực hiện lợi ích của mình và lợi ích chung Trên thực tế, cộng đồng dân cư đã tham gia rất nhiều vào các hoạt động môi trường, và các văn bản luật khác cũng điều chỉnh đến cộng đồng dân cư như: Bộ Luật Dân sự, quy định về xử phạt hành chính trên một số lĩnh vực như: đất đai, xây dựng… Cũng theo đó, Luật cũng quy định tăng cường công khai thông tin, tham vấn, phát huy vai trò giám sát, phản biện, đồng thời bảo đảm được quyền và lợi ích của cộng đồng dân cư khi tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường
b) Thứ hai là việc thêm một mục về nội dung bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên.
Trong bộ luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 cum từ “di sản thiên nhiên” chỉ xuất hiện trong khoản 12 Điều 7 về quy định những hành vi bị cấm cụ thể: “Phá hoại, xâm chiếm trái phép di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên” Điều đó cho thấy lĩnh vực về di sản thiên nhiên vẫn còn chưa được chú trọng cũng như chưa được đánh giá nhiều
Chính vì vậy trong Bộ luật Bảo vệ Môi trường 2020, Luật đã dành một Mục riêng là Mục 4 quy định về “Bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên” thuộc chương II gồm hai Điều luật ( Điều 20, Điều 21), trong đó có các quy định về di sản thiên nhiên; việc xác lập, công nhận di sản thiên nhiên; các nội dung về bảo
vệ môi trường di sản thiên nhiên (điều tra, đanh giá, quản lý, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân trong bảo vệ di sản thiên nhiên)
Trang 6Qua đó, có thể thấy đươc rằng, di sản thiên nhiên đã dần dần được Chính phủ không chỉ riêng nước ta mà còn là các nước quốc tế quan tâm mạnh mẽ đến Qua mục 4 có thể hiểu rõ hơn về khái niệm đặc điểm của di sản thiên nhiên, nó cũng giúp cho việc công nhận di sản thiên nhiên rõ ràng hơn, giúp ngăn tình trạng trái phép di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên được nêu tại Khoản
12 Điều 7 thuộc Bộ luật Bảo vệ Môi trường 2014 Đồng thời cũng nắm rõ được việc bảo vệ di sản thiên nhiên sẽ phải làm những gì Tuy là vậy, nhưng vẫn còn tồn tại tình trạng phá hoại những di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên như nghịch cảnh xả rác bừa bãi, vô tư xâm hại cỏ cây, cảnh quan môi trường diễn ra phổ biến dẫn đến tác động tiêu cực đến việc bảo tồn di sản và sự phát triển du lịch bền vững Vì vậy, cần phải thêm những hình phạt khi vi phạm vào Bộ Luật Bảo vệ Môi trường
c) Thứ ba là vấn đề cụ thể hóa các quy định về ứng phó biến đổi khí hậu.
Luật Bảo vệ Môi trường 2020 đã bổ sung các quy định cụ thể như sau:
Thứ nhất là về việc thích ứng với biến đổi khí hậu, đã không còn là bốn điểm quy định chung về thích ứng với biến đổi khí hậu như trong Luật Bảo vệ Môi trường 2014 Để nắm rõ hơn về việc thích ứng này, Luật đã làm thật chi tiết, chặt chẽ về khái niệm cũng như nội dung tại Điều 90 thuộc Bộ Luật Bảo vệ Môi trường 2020
Thứ hai là việc giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, Luật chỉ rõ các nhà kính chính cũng như các khí đặc biệt cần lưu ý; đồng thời về nội dung việc giảm nhẹ cũng được nêu rõ ràng trong Điều 91 của Bộ Luật này
Thứ ba, bảo vệ tầng ô-zôn cũng là việc đặc biệt được lưu ý hơn Khi Luật đã nêu rõ về khái niệm bảo vệ ô-zôn ( Khoản 1 Điều 92 ); phần nội dung của việc bảo vệ cũng được nêu chi tiết hơn Tuy nhiên nên thêm Mục 2: “Cấm sản xuất, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất và tiêu thụ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” thuộc Điều 42 Quản lý các chất làm suy giảm tầng ô-dôn của Bộ luật Bảo
Trang 7vệ Môi trường 2014 vào phần nội dung thuộc Khoản 2 Điều 32 Bộ luật Bảo vệ Môi trường 2020
Thứ ba, đồng thời cũng bổ sung quy định về lồng ghép nội dung ứng phó với BĐKH vào hệ thống chiến lược, quy hoạch Giải thích rõ việc lồng ghép cũng như kết quả việc lồng ghép, theo Điểm c Khoản 1 Điều 93 “Kết quả phân tích, đánh giá giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu được sử dụng trong việc xác định chỉ tiêu kinh tế - xã hội của chiến lược, quy hoạch”
Cuối cùng là việc thực hiện cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu cũng được Bộ Tài nguyên và Môi trường bổ sung, cam kết rõ thông qua Khoản 1 Điều 96 của Luật Bảo vệ Môi trường 2020, như bổ sung thêm việc “tổ chức xây dựng, cập nhật, triển khai thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định, Báo cáo minh bạch 02 năm một lần và các báo cáo quốc gia khác về biến đổi khí hậu và bảo vệ tầng ô-dôn theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” ( Điểm b Khoản 1 Điều 96 Luật Bảo vệ Môi trường 2020)
Tóm lại theo Chương VII Ứng phó với biến đổi khí hậu, gồm bảy Điều luật ( từ Điều 90 đến Điều 96 ), có thể thấy rõ sự thay đổi lớn nhất được thể hiện qua việc trách nhiệm Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng như Bộ Tài nguyên và Môi trường được nêu rõ ràng qua điểm cuối của mỗi Điều Luật
Đó cũng phần nào giải đáp được thắc mắc cũng như giải quyết được những vấn của người dân trong quốc gia nhanh, gọn hơn
d) Cuối cùng, về quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm khác.
Các nội dung về quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm khác được quy định từ Điều 72 đến Điều 88, trong đó Mục 2 về vấn đề về quản lý chất thải rắn sinh hoạt là mục cần được lưu ý trong Bộ luật này Đây là một mục mới và
nó cũng quy định cụ thể, rõ ràng hơn: quy định về việc phân loại, lưu giữ, chuyển giao; chi phí thu gom vận chuyển; xử lý ô nhiễm, cải tạo môi trường bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt…
Trang 8Đặc biệt các quy định hướng tới việc thúc đẩy người dân phân loại, giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại nguồn, bởi nếu không thực hiện việc này thì chi phí xử lý chất thải rắn sinh hoạt phải nộp sẽ cao Phí cũng là điều cần phải nói rõ trong các điều Luật thuộc bộ Luật này Theo đó, giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt từ hộ gia đình, cá nhân được tính toán theo căn cứ sau đây: thứ nhất, phù hợp với quy định của pháp luật về giá; thứ hai, dựa trên khối lượng hoặc thể tích chất thải đã được phân loại; thứ ba, chất thải rắn có khả năng tái sử dụng, tái chế, chất thải nguy hại phát sinh từ hộ gia đình, cá nhân đã được phân loại riêng thì không phải chi trả giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý
Bên cạnh đó nó cũng định hướng cách thức quản lý, ứng xử với chất thải…
Ngoài ra, Luật cũng quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt qua khoản cuối của mỗi điều để các hộ gia đình, cá nhân có thể nắm rõ hơn
2 Những công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia có liên quan đến Luật Bảo vệ Môi trường 2020.
2.1 Khái niệm công ước.
Công ước quốc tế là văn bản ghi rõ những việc cần tuân theo và những điều bị cấm thi hành, liên quan đến một lĩnh vực nào đó, do một nhóm nước thoả thuận
và cùng cam kết thực hiện, nhằm tạo ra tiếng nói chung, sự thống nhất về hành động và sự hợp tác trong các nước thành viên
Công ước quốc tế có hiệu lực trọn vẹn với các nước thành viên, nhưng cũng
có tác động rất lớn đối với các nước trong khu vực chưa tham gia công ước Hiện nay, có khoảng 300 công ước quốc tế về bảo vệ môi trường
2.2 Ý nghĩa của công ước.
Page 6
Trang 9Tham gia vào các công ước là các nước đã thể hiện được sự quan tâm, trách nhiệm của quốc gia mình đối với vấn đề chung của thế giới đồng thời qua đó thể hiện được vị trí, tiếng nói cũng như đưa hình ảnh của mình trên trường quốc tế Tham gia công ước các nước thành viên sẽ có được phương hướng hành động ứng phó với những vấn đề đặt ra, đồng thời có cơ hội nhận được sựbảo vệ,hỗ trở
về khoa học, công nghệ, vốn của cộng động quốc tế
2.3 Những công ước quốc tế mà Việt Nam đã và đang tham gia có liên quan đến Luật Bảo vệ Môi trường.
Vì lợi ích của mỗi quốc gia, việc thiết lập các quan hệ quốc tế, nhất là pháp luật quốc tế về kiểm soát ô nhiễm quốc tế là nhu cầu tất yếu, khách quan của tất
cả các quốc gia không phân biệt chế độ chính trị, tôn giáo, trình độ phát triển kinh tế, khoa học-kĩ thuật Để giải quyết vấn đề toàn càu, các quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế phải có những hành động thiết thực nhằm loại bỏ những nguyên nhân làm cho môi trường toàn cầu trở thành xấu đi và đồng thòi cải thiện tình hình môi trường toàn cầu Để đạt được mục tiêu này, các quốc gia phải hợp tác chặt chẽ và hành động theo một hướng chung: cải thiện môi trường toàn cầu Một trong những biểu hiện cụ thể là các quốc gia tổ chức các hội nghị quốc tế về bảo vệ môi trường Các hội nghị này có thể diễn ra ở quy mô toàn cầu, với sự tham gia của hầu hết các quốc gia trên thế giới, bàn về những vấn đề chung nhất của môi trường và bảo vệ môi trường toàn cầu như:
a) Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên thế giới.
Giới thiệu:
Công ước đã được thông qua tại kỳ họp thứ 17 của Đại hội đồng UNESCO tại Paris ngày 16-11-1972 Công ước đã được 186 nước tham gia kí kết Hiện đã có
911 Di sản thế giới nằm tại 151 quốc gia thành viên Trong số này, 704 là văn hóa, 180 tự nhiên và 27 là di sản hỗn hợp Việt Nam tham gia kí kết vào ngày 19/10/1987
Thực trạng:
Trang 10Di sản tự nhiên ngày càng có nguy cơ bị phá hoại không chỉ bởi nguyên nhân xuống cấp vì “ lão hóa” theo thời gian mà còn bởi sự tiến triển của đời sống xã hội và kinh tế làm quá trình xuống cấp của các di sản nhanh và nghiêm trọng hơn Dễ thấy rằng việc bảo vệ di sản ở các cấp quốc gia thường không được hoàn chỉnh vì việc bảo vệ đó đòi hỏi rất nhiều phương tiện như nguồn lực kinh
tế, khoa học và ký thuật, sự giám sát, quản lý Nhận thức được điều đó, tổ chức quốc tế UNESCO đã đưa ra công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới
Các điều khoản thỏa thuận chính:
Thứ nhất, mỗi một quốc gia tham gia Công ước này công nhận rằng trách nhiệm bảo đảm của việc xác định, bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo và truyền lại cho các thế hệ tương lai di sản văn hoá và tự nhiên nêu trên là trách nhiệm trước tiên của mình Quốc gia này phải nỗ lực hành động tối đa cho mục đích trên bằng những nguồn lực mà mình sẵn có và nếu có, thì bằng cả sự viện trợ và hợp tác quốc tế
mà nó có thể có được hưởng nhất là về mặt tài chính, nghệ thuật, khoa học và kỹ thuật
Thứ hai, để bảo đảm việc bảo vệ và bảo tồn càng hiệu quả càng tốt và tôn tạo càng tích cực càng tốt di sản văn hoá và tự nhiên nằm trên lãnh thổ của mỗi nước và theo những điều kiện thích hợp của mỗi nước, các nước tham gia vào Công ước này sẽ cố gắng hết sức mình để thực hiện các công tác sau đây:
Thứ nhất là đề ra một chính sách chung để trao cho di sản văn hoá và tự nhiên một chức năng nhất định trong đời sống tập thể và đưa việc bảo vệ di sản
đó vào các chương trình của việc kế hoạch hoá chung;
Thứ hai thành lập trên lãnh thổ của mình (trong trường hợp chưa có) một hoặc một vài cơ quan bảo vệ, bảo tồn và tôn tạo di sản văn hoá và tự nhiên, có
số nhân viên thích hợp và có đủ phương tiện thực hiện các nhiệm vụ được giao; Thứ ba, phát triển các công trình nghiên cứu và tìm tòi khoa học - kỹ thuật
và cải tiến các phương pháp can thiệp cho phép một quốc gia ứng phó với những tai hoạ đang đe doạ di sản văn hoá hay tự nhiên của nó