Cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá và đô thị hoá, nhiều loại chất thải khác nhau sinh từ các hoạt động của con người có xu hướng tăng lên về số lượng, từ nước cống, rác sinh hoạt
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá tại các thành phố và các khu đô thị Việt Nam đã gia tăng mạnh mẽ và ngày càng phát triển trong các tỉnh thành cả nước Cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá và đô thị hoá, nhiều loại chất thải khác nhau sinh từ các hoạt động của con người có xu hướng tăng lên về số lượng, từ nước cống, rác sinh hoạt, phân, chất thải công nghiệp đến các chất thải độc hại, như rác y tế Nếu ta không có phương pháp đúng đắn để phân huỷ lượng chất thải này thì sẽ gây ô nhiễm môi trường do vượt quá khả năng phân huỷ của tự nhiên
Chất thải rắn hiện nay trở thành vấn đề bức xúc trong cuộc sống đô thị và ảnh hưởng xấu của nó đến xã hội Bên cạnh các vấn đề quan tâm, ta cũng cần quan tâm đến lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh
Chất thải rắn y tế (CTRYT) là loại chất thải nguy hại Trong thành phần CTRYT có các loại chất thải nguy hại như: chất thải lâm sàng nhóm A,B,C,D,E Các loại chất thải này đặc biệt là chất thải nhiễm khuẩn nhóm A, chất thải phẫu thuật nhóm E có chứa nhiều mầm bệnh, vi khuẩn gây bệnh có thể thâm nhập vào cơ thể con người bằng nhiều con đường và nhiều cách khác nhau Các vật sắc nhọn như kim tiêm… dễ làm trày xước da, gây nhiễm khuẩn Đồng thời, trong thành phần chất thải y tế còn có các loại hoá chất và dược phẩm có tính độc hại như: độc tính di truyền, tính ăn mòn da, gây phản ứng, gây nổ Nguy hiểm hơn các loại trên
là chất thải phóng xạ phát sinh từ việc chuẩn bệnh bằng hình ảnh như: chiếu chụp X-quang, trị liệu… Lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh chiếm tỉ lệ rất nhỏ (0,14%) so với tổng lượng chất thải rắn phát sinh trên địa bàn toàn quốc Tuy nhiên, nếu chúng không được quản lí tốt sẽ gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng
Cho đến nay, chôn lấp vẫn là biện pháp xử lý chất thải rắn phổ biến nhất đối
Trang 2như ô nhiễm nước, mùi hôi, ruồi nhặng, côn trùng…Hơn nữa, công nghệ chôn lấp không thể áp dụng để xử lý triệt để các loại chất thải y tế, độc hại Ngoài ra trong quá trình đô thị hoá như hiên nay, quỹ đất ngày càng thu hẹp, dẫn đến khó khăn trong việc lựa chọn vị trí làm bãi chôn lấp rác
Vì vậy, áp dụng một số biện pháp xử lý rác khác song song với chôn lấp là một nhu cầu rất thiết thực Công nghệ đốt chất thải rắn, một trong những công nghệ thay thế, ngày càng trở nên phổ biến và được ứng dụng rộng rãi đặc biệt với loại hình chất thải rắn y tế và độc hại Công nghệ đốt chất thải rắn sẽ ít tốn kém hơn nếu
đi kèm với biện pháp khai thác tận dụng năng lượng phát sinh trong quá trình đốt
2/ Tổng quan về phương pháp thiêu đốt chất thải rắn y tế
3/ Hiện trạng thu gom, xử lý chất thải rắn y tế của tỉnh Quảng ngãi
4/ Dự báo khối lượng phát sinh chất thải rắn y tế cho bệnh viện đa khoa Quảng ngãi đến năm 2030
5/ Tính toán, thiết kế lò đốt rác y tế công suất 30 kg/h
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lý thuyết
- Sưu tầm số liệu, tư liệu tổng quan về chất thải rắn y tế
- Sưu tầm số liệu, tư liệu về các phương pháp xử lý chất thải rắn y tế
- Sưu tầm số liệu, tư liệu về hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn y
Trang 3- Trên cơ sở thiết kế lò đốt để xử lý chất thải rắn y tế cho tỉnh Quảng ngãi,
lò đốt được thiết kế hai cấp có thể xử lý triệt để chất thải rắn y tế và khí gas sinh ra trong quá trình đốt nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường do chất thải rắn gây ra
Ý nghĩa kinh tế - xã hội
- Công nghệ này có thể áp dụng để xử lý chất thải rắn y tế cho bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng ngãi và các bệnh viện khác
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ 1.1 Khái niệm chất thải rắn y tế
Chất thải y tế (CTYT) là chất thải từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, nghiên cứu…CTYT nguy hại là chất thải có các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận, cơ quan; bơm, kim tiêm, vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất, chất phóng xạ…thường ở dạng rắn, lỏng, khí CTYT được xếp là chất thải nguy hại, cần có phương thức lưu giữ, xử lý, thải bỏ đặc biệt, có quy định riêng; gây nguy hại sức khỏe, an toàn môi trường hay gây cảm giác thiếu thẩm
mỹ
Rác sinh hoạt y tế là chất thải không xếp vào chất thải nguy hại, không có khả năng gây độc, không cần lưu giữ, xử lý đặc biệt; là chất thải phát sinh từ các khu vực bệnh viện: giấy, plastic, thực phẩm, chai lọ…
Rác y tế (RYT) là phần chất thải y tế ở dạng rắn, không tính chất thải dạng lỏng và khí, được thu gom và xử lý riêng
1.2 Phân Loại
1.2.1 Chất thải lâm sàng: Chất thải rắn y tế gồm 5 nhóm
Nhóm A: chất thải nhiễm khuẩn, chứa mầm bệnh với số lượng, mật độ đủ
gây bệnh, bị nhiễm khuẩn bởi vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm…bao gồm các vật liệu bị thấm máu, thấm dịch, chất bài tiết của người bệnh như gạc, bông, găng tay, bột bó gãy xương, dây truyền máu…
Nhóm B: là các vật sắc nhọn: bơm tiêm, lưỡi, cán dao mổ, mảnh thủy tinh vỡ
và mọi vật liệu có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, dù chúng có được
sử dụng hay không sử dụng
Nhóm C: chất thải nguy cơ lây nhiễm phát sinh từ phòng xét nghiệm: găng
tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi xét nghiệm, túi đựng máu…
Nhóm D: chất thải dược phẩm, dược phẩm quá hạn, bị nhiễm khuẩn, dược
phẩm bị đổ, không còn nhu cầu sử dụng và thuốc gây độc tế bào
Trang 5 Nhóm E: là các mô cơ quan người – động vật, cơ quan người bệnh, động vật,
mô cơ thể (nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn), chân tay, nhau thai, bào thai…
1.2.2 Chất thải gây độc tế bào
Vật liệu bị ô nhiễm như bơm tiêm, gạc, lọ thuốc…thuốc quá hạn, nước tiểu, phân…chiếm 1% chất thải bệnh viện
1.2.3 Chất thải phóng xạ
Chất thải có hoạt độ riêng như chất phóng xạ Chất thải phóng xạ phát sinh
từ hoạt động chuẩn đoán, hoá trị liệu và nghiên cứu Chất thải phóng xạ gồm chất thải rắn, lỏng, khí
Chất thải phóng xạ rắn: vật liệu sử dụng trong xét nghiệm, chuẩn đoán như
ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm…
Chất thải phóng xạ lỏng: dung dịch chứa nhân tố phóng xạ, tham gia điều
1.2.6 Chất thải sinh hoạt
Chất thải không bị coi là chất thải nguy hại, phát sinh từ bệnh viện, phòng làm việc…giấy báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng, túi nilon, thức ăn dư thừa…
Khả năng gây ô nhiễm của các loại chất thải rắn
Trang 6- Các loại bệnh phẩm ngoài các khả năng gây bệnh cho con người còn dễ
bị thối rửa, hôi thối làm ô nhiễm môi trường không khí và làm mất mỹ quan xung quanh
- Các vật sắc nhọn như kim tiêm, ống chích nếu đưa thẳng ra bãi chôn lấp
sẽ gây nguy hiểm cho công nhân thu dọn vệ sinh hoặc những người nhặt rác về các bệnh lây truyền qua đường máu khi giẫm phải
Vì vậy: để đảm bảo an toàn trong lúc vận chuyển hoặc thu gom đem đi xử lý thích hợp Một số bệnh viện chưa trang bị lò đốt rác y tế đã kí hợp đồng xử lý rác y
tế với Công ty Môi trường Đô thị và Công ty Môi trường Đô thị đã có những quy trình bắt buộc thực hiện đối với loại rác thải nguy hại này
Quy trình quản lý, xử lý chất thải y tế bao gồm :
- Quy trình lập chỉ tiêu kế hoạch thu gom, vận chuyển, xử lý rác y tế
- Quy trình thu gom, vận chuyển rác y tế
Sự khác nhau giữa chất thải y tế và chất thải đô thị được thể hiện ở bảng 1.1:
Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa các loại chất thải
Thành phần CT lây nhiễm (%
trọng lượng)
CT thông thường (% trọng lượng)
CT đô thị (% trọng lượng)
Trang 8Bảng 1.5: Thành phần hóa lý của rác y tế
Thành phần Hàm lượng
(%)
Khối lượng (kg)
Phân tử lượng (g)
Lượng mol (kmol)
1.3.1.3 Tỷ trọng
Xác định bằng tỷ số giữa trọng lượng của mẫu rác và thể tích chiếm chỗ Tỷ trọng thay đổi theo thành phần, độ ẩm, độ nén chặt của rác Tỷ trọng là thông số quan trọng phục vụ cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý vì liên quan tới khối lượng rác thu gom và thiết kế qui mô lò đốt RYT có thành phần hữu cơ cao nên tỷ trọng chất thải thấp 208 – 345kg/m3
Trang 91.3.2 Tính chất hoá học và giá trị nhiệt lượng
Tính chất hóa học và nhiệt lượng được xem là nhân tố khi lựa chọn phương
án xử lý chất thải, tham gia thu gom, vận chuyển Rác thải có giá trị nhiệt lượng cao nên xử lý bằng phương pháp thiêu đốt, rác có thành phần hữu cơ cao, dễ phân hủy phải thu gom trong ngày và ưu tiên xử lý bằng phương pháp sinh học
1.3.2.1 Tính chất hoá học
Thành phần hữu cơ: được xác định là phần vật chất có thể bay hơi sau khi nung ở 950o
C
Thành phần vô cơ (tro): là phần tro còn lại sau khi nung ở 950 0C
Thành phần phần trăm (%): phần trăm của các nguyên tố C, H, O, N, S và tro Thành phần % được xác định để tính giá trị nhiệt lượng của rác
1.3.2.2 Giá trị nhiệt lượng
Nhiệt thoát ra từ việc đốt CTYT là một thông số quan trọng, có đơn vị kJ/kg Các lò đốt đều có bộ phận cấp khí bên trong trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng cháy
Vì vậy, khối lượng chất thải có thể đốt mỗi giờ phụ thuộc vào giá trị nhiệt lượng mỗi kg chất thải
Nhiệt lượng (Q) rác thải tính theo công thức
Q = 339C + 1256H – 108,8(O – S) – 25,1(W + 9H) (kJ/kg)
Trong đó: C: phần trăm (%) trọng lượng Cacbon trong rác
H: phần trăm (%) trọng lượng Hidro trong rác
O: phần trăm (%) trọng lượng Cxy trong rác
N: phần trăm (%) trọng lượng Nitơ trong rác
S: phần trăm (%) trọng lượng lưu huỳnh trong rác
W: phần trăm (%) trọng lượng tro trong rác
Trang 10Chương 2 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ 2.1 Phương pháp khử trùng
Đây là công đoạn đầu tiên khi xử lý RYT nhằm hạn chế tai nạn cho nhân viên thu gom, vận chuyển và xử lý rác Chất thải lâm sàng có nguy cơ nhiễm khuẩn cao, phải được xử lý an toàn bằng phương pháp khử trùng ở gần nơi chất thải phát sinh sau đó cho vào túi nilon màu vàng rồi vận chuyển tiêu hủy
Khử trùng bằng hóa chất: clor, hypoclorite…là phương pháp rẻ tiền, đơn giản nhưng có nhược điểm là thời gian tiếp xúc ít không tiêu diệt hết vi khuẩn trong rác Vi khuẩn có khả năng bền vững với hóa chất, nên xử lý không hiệu quả Hoá chất bản thân đã nguy hiểm, cần nghiền nhỏ chất thải để giảm thể tích
Khử trùng bằng nhiệt ở áp suất cao: là phương pháp đắt tiền, đòi hỏi chế độ vận hành, bảo dưỡng cao; xử lý kim tiêm sau khi nghiền nhỏ, làm biến dạng Nhược điểm tạo mùi hôi nên với bệnh viện có lò đốt thì kim tiêm đốt trực tiếp
Khử trùng bằng siêu cao tầng: khử trùng tốt, năng suất cao Tuy nhiên, đòi hỏi kỹ thuật cao, thiết bị đắt tiền và yêu cầu có chuyên môn, là phương pháp chưa phổ biến
2.2 Phương pháp trơ hoá (cố định và đóng rắn)
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi để xử lý chất thải nguy hại trong
đó có cả rác y tế Đó là qúa trình xử lý trong đó xử lý chất thải nguy hại được trộn với phụ gia hoặc bê tông để đóng rắn chất thải nhằm không cho các thành phần ô nhiễm lan truyền ra ngoài
Công nghệ này đang được áp dụng để:
Cải tạo khu vực chứa chất thải nguy hại
Xử lý các sản phẩm nguy hại của các quá trình xử lý khác
Xử lý và tồn trữ các chất nguy hại an toàn hơn, giảm thiểu khả năng phát tán ra môi trường xung quanh
Trang 11Các chất dính vô cơ thường dùng là: vôi, xi măng porand, bentonic, pizzolan, thạch cao, silicat Chất kết dính hữu cơ thường dùng là: epoxy, polyester, nhựa asphalt, polyolefin, ure formaldehyt
2.3 Phương pháp chôn lấp
Phương pháp chôn lấp là phương pháp lưu giữ chất thải trong một bãi và có phủ đất lên trên Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh là phương pháp kiểm soát sự phân huỷ của chất thải khi chúng được chôn nén và phủ lấp bề mặt Chất thải sẽ bị tan rữa nhờ quá trình phân huỷ sinh học để tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như acids hữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và một số khí: CO2,
Cho đến nay, ở Việt Nam chưa có Bãi Chôn Lấp nào thoả mãn các yêu cầu
Trang 122.4 Phương pháp đốt
Phương pháp đốt là phương pháp oxy hoá nhiệt độ cao với sự có mặt của oxy trong không khí, trong đó rác sẽ được chuyển hoá thành khí và các chất trơ không cháy Đây là phương pháp phổ biến, nhiều nơi áp dụng; là quá trình ôxi hóa rác ở nhiệt độ cao, tạo CO2, H2O…Phương trình tổng quát:
CxHyOz + (x+y/4+z/2) O2 = xCO2 + yH2O
Ưu điểm: xử lý triệt để rác, tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh và các chất ô nhiễm
khác, diện tích xây dựng nhỏ, vận hành đơn giản và có thể xử lý rác có chu kỳ phân hủy dài
Nhược điểm: chi phí đầu tư vận hành cao, thiêu đốt một số chất thải chứa clor,
kim loại nặng phát sinh ra bụi, chất ô nhiễm độc hại như dioxin…
2.5 Tình hình áp dụng công nghệ đốt chất thải nguy hại và chất thải rắn y tế
2.5.1 Tình hình áp dụng công nghệ đốt chất thải nguy hại và chất thải y rắn tế trên thế giới
Nhờ tính ưu việt của công nghệ đốt mà ở hầu hết các nước trên Thế giới ưu tiên áp dụng phương pháp đốt để phân hủy rác thải Ở các nước Tây âu có khoảng 23% tổng lượng chất thải rắn được đốt có tới 80% là đốt có thu hồi năng lượng, ở
Mỹ 28 bang có lò đốt thu hồi năng lượng, ở Đức lượng rác đem đốt chiếm 36%;Canada 80%; Pháp và Bỉ 54%; Đan Mạch 48%; Anh 90%; Ý 75%; Nhật 75% Để xử lý hơn 400 triệu tấn rác thải nguy hại hàng năm, ở Nhật Bản đã có khoảng 3.000 lò đốt rác
Trang 13Ở Ba Lan, tại cảng Gdansk đả lắp đặt 1 lò quay đốt chất thải có công suất đốt 2,5 tấn/giờ, chất thải được đốt từ các ngành công nghiệp dầu khí, thực phẩm, dược phẩm, hóa chất Lò đốt hoạt động 290 ngày/năm, đốt liên tuc, 75 ngày bảo trì và sửa chữa lò Lò đốt tối đa là 20.000 tấn chất thải/năm Nhiệt độ sau buồng đốt thứ cấp tối thiểu phải đạt từ 850 – 900 0C Để giảm NOx trong khí thải, ở đây người ta dùng dung dịch Urê 40% trong nước để xử lý Khí thải được xử lý đạt tiêu chuẩn quy định của Ba Lan trước khi thải ra môi trường
Ở Mỹ, Anh, Hà Lan, Phần Lan, Thụy Điển, Canada đã triển khai nhiều lò đốt chất thải nguy hại trong đó thu hồi nhiệt để cấp cho nồi hơi phát điện Ở Mỹ, Canada chủ yếu đốt chất thải theo công nghệ lò quay (khoảng 70%), trong khi đó ở các nước Châu Âu lại chủ yếu là đốt trên lò nhiệt phân tĩnh
2.5.2 Tình hình áp dụng công nghệ đốt chất thải nguy hại và chất thải rắn y tế ở Việt Nam
Ở Việt Nam, rác thải nguy hại với độc tính đã và đang tác động tiêu cực một cách trầm trọng đến sức khỏe con người và môi trường sống Trước đây do chưa được quan tâm đúng mức, hầu hết các loại rác nguy hại trên được thugom và đưa đi
xử lý chung với rác sinh hoạt
Theo thống kê của Bộ Khoa Học, Công Nghệ và Môi Trường, mỗi ngày các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong cả nước thải ra môi trường khoảng 50.000 tấn chất thải rắn, trong đó gồm 26.877 tấn chất thải công nghiệp, 21.828 tấn chất thải sinh hoạt và 240 tấn chất thải y tế (toàn ngành y tế có 826 Bệnh viện), Trong số đó 12 – 25 % là chất thải y tế nguy hại cần xử lý đặc biệt bằng phương pháp thiêu đốt
Hà Nội có khoảng 40 Bệnh viện Trung ương và Địa phương cùng với hành trăm trung tâm y tế cấp huyện và xã, mỗi ngày mỗi cơ sở này thải ra khoảng 11 – 12 tấn chất thải y tế Theo thống kê của Công ty Môi trường đô thị Hà Nội
Trang 14Trước đây ở Hà Nội chỉ có 2 lò đốt rác y tế ở Bệnh viện Lao phổi và Bệnh viện Việt Đức, nhưng do công nghệ lạc hậu vẫn gây ô nhiễm môi trường Lò đốt rác
y tế DEL MONEGO-200 của Italy, đã đưa vào hoạt động một đạt tại Nhà máy chế biến phế thải Cầu Diển, huyện Từ Liêm Với công suất xử lý 200 kg/h (2 tấn/ngày), hiện nay đã đáp ứng phần lớn rác y tế của các Bệnh viện và Trung tâm y tế ở Hà Nội (trong 6 tháng đầu năm 2003, lò đốt đã xử lý được 210 tấn rác y tế, với giá thành thiêu hủy là 5.000 đ/kg Tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng nhu cầu xử lý rác y tế từ các phòng khám chữa bệnh tư nhân ở Hà Nội
Thành phố Hồ Chí Minh hiện với 800 nhà máy, xí nghiệp lớn và khoảng 30.000 cơ sở sản xuất qui mô nhỏ, mỗi ngày sinh ra 260 tấn chất thải (94.900 tấn/năm), trong đó có 35 tấn chất thải nguy hại (12.775 tấn/năm) cần xử lý bằng phương pháp đốt
Thành phố Hồ Chí minh có hớn 100 cơ sở y tế lớn nhỏ và hơn 4.000 phòng khám bệnh tư nhân Nhưng sở GTCC mới thu gom được rác thải của 56 cơ sở y tế khu vực nội thành với lượng rác khoảng 5,5 tấn /ngày và được đem đi đốt tập trung tại Nhà máy xử lý rác y tế Bình Hưng Hòa trên lò đốt rác y tế Hoval công suất 7 tấn/ngày của Bỉ
Nhằm đáp ứng nhu cầu xử lý ô nhiễm bảo vệ môi trường, một số lò đốt rác y
tế đã được nhập ngoại như dự án “Trang bị 25 lò đốt chất thải rắn y tế cho các cụm bệnh viện” từ nguồn vốn ODA của Chính phủ Áo, do hãng HOVALWERK AG cung cấp năm 2001, bao gồm 12 lò HOVAL MZ2 (ở các Tỉnh Hà Tây, Bắc Giang,
Hà Tỉnh, Quảng Nam, An Giang, Cà Mau ), 12 lò MZ4 (ở Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hải Dương, Nghệ An, Bình Định, Cần Thơ ) và 1 lò GG4 ở Biên Hòa, Đồng Nai Lò đốt rác y tế HOVAL có công suất 7 tấn/ngày do Công ty Môi trường Đô thị
TP Hồ Chí Minh nhập từ Bỉ, hiện lắp đặt tại Trung tâm hỏa táng Bình Hưng Hòa
để xử lý rác tập trung cho Thành phố Hồ Chi Minh Lò HOVAL A>G công suất 20 Kg/h nhập từ Thụy Sĩ cho Bệnh viện Lê Lợi – TP Vũng Tàu Lò BIC của Bỉ ở Bệnh viện Long Thành – Đồng Nai
Trang 15
2.6 Cơ sở lựa chọn công nghệ xử lý chất thải rắn y tế
2.6.1 Cơ sở lựa chọn
Dựa vào càc phương pháp xử lý rác y tế đã nêu, các phương pháp đều có ưu nhược điểm riêng Khử trùng bằng hoá chất không đảm bảo hiệu quả khử trùng, chất thải vẫn còn nguy cơ lây nhiễm cao; khử trùng bằng nối hấp, sóng viba đòi hỏi
kỹ thuật cao, chi phí tốn kém; phương pháp chôn lấp thường không qua xử lý nên ảnh hưởng đến môi trường
Qua các phân tích trên, phương pháp thiêu đốt RYT là thích hợp, phù hợp điều kiện nhiều vùng ở nước ta, có nhiều ưu điểm, giảm 90 – 95% trọng lượng chất thải hữu cơ trong rác, chất thải phát sinh từ quá trình đốt có thể được xử lý tại chỗ, tránh rủi ro khi vận chuyển, hiệu quả cao đối với chất thải nguy hiểm, chất thải lây nhiễm cao
2.6.2 Quá trình quản lý chất thải rắn y tế trước khi xử lý
2.6.2.1 Thu gom
Phải có lịch trình thu gom và vận chuyển rác hợp lý
RYT được gói trong bao nilon hoặc trong thùng chứa có nắp đậy
Quy định màu sơn của các thùng chứa rác khác nhau để phân biệt (thùng màu xanh chứa rác sinh hoạt, màu vàng chứa các loại rác y tế như bông băng, gạc, ống tiêm, bệnh phẩm…màu đen chứa chất thải phóng xạ, thuốc gây độc tế bào…)
Các loại bệnh phẩm phải được chuyển ngay đến nơi tập trung rác bằng các dụng cụ và phương tiện chuyên dùng để chuẩn bị cho việc thiêu đốt, không được để bệnh phẩm tồn đọng lâu trong các phòng, khoa của bệnh viện
Nhà phân loại rác phải thông thoáng tốt, thường xuyên phun xịt các loại thuốc chống ruồi, muỗi
Khu tập trung rác thải phải cao có mái và tường che để tránh nước mưa rơi vào, xung quanh phải có mương để thoát nước với hệ thống thoát nước bẩn để xử
Trang 162.6.2.2 Phân loại
Rác được chia làm 2 loại: rác sinh hoạt, rác y tế
Việc phân loại phải được thực hiện ngay tại thời điểm chất thải phát sinh, chất thải phải được đựng trong các túi và thùng theo quy định
Chất thải y tế nguy hại không được để lẫn trong chất thải sinh hoạt Nếu vô tình để lẫn chất thải y tế nguy hại thì hỗn hợp chất thải được xử lý và tiêu hủy như chất thải y tế nguy hại
2.6.3 Công nghệ thiêu đốt chất thải rắn y tế
Công nghệ thiêu đốt là đốt chất thải một cách có kiểm soát trong một vùng
kín, mang nhiều hiệu quả Quá trình đốt được thực hiện hoàn toàn, phá hủy hoàn toàn chất thải độc hại bằng cách phá vỡ các liên kết hóa học, giảm thiểu hay loại bỏ hoàn toàn độc tính Hạn chế tập trung chất thải cần loại bỏ vào môi trường bằng cách biến đổi chất rắn, lỏng thành tro So với CTYT chưa xử lý, tro thải vào môi trường an toàn hơn
Việc quản lý kim loại, tro và các sản phẩm của quá trình đốt là khâu quan trọng Tro là một dạng vật liệu rắn, trơ gồm C, muối, kim loại Trong quá trình đốt, tro tập trung ở buồng đốt (tro đáy), lớp tro này xem như chất thải nguy hại Các hạt tro có kích thước nhỏ có thể bị cuốn lên cao (tro bay) Tàn tro cần chôn lấp an toàn
vì thành phần nguy hại sẽ trực tiếp gây hại Lượng kim loại nặng được xác định qua việc kiểm tra khói thải và tro dư của lò đốt
Thành phần khí thải chủ yếu là CO2, hơi nước, NOx, hydrigen cloride và các khí khác Các khí vẫn tiềm ẩn khả năng gây hại cho con người và môi trường, vì vậy cần có hệ thống xử lý khói thải từ lò đốt
Lò đốt thường được chia làm 2 buồng
Buồng đốt chính: gồm 2 giai đoạn
+ Giai đoạn 1: chất thải được sấy khô
+ Giai đoạn 2: cháy và khí hóa
Buồng đốt sau: gồm 3 giai đoạn
+ Giai đoạn 3: phối trộn
+ Giai đoạn 4: cháy ở dạng khí
Trang 17+ Giai đoạn 5: ôxi hoá hoàn toàn
Các yếu tố quyết định sự hiệu quả của lò đốt: sự cân bằng năng lượng, hệ thống kiểm soát chế độ đốt, nhiệt độ nóng chảy trong buồng đốt, độ ẩm của chất thải
Phương pháp đốt là phương pháp hiệu quả và kinh tế nhất để xử lý triệt để chất thải y tế nguy hại
Rác y tế Tập trung – phân loại
Tàn tro Bãi chôn lấp
Rác sinh hoạt
Ống khói
Hệ thống xử lý nước thải
Trang 182.6.4 Các kiểu lò cơ bản
Có 2 kiểu lò cơ bản:
Lò quay (chuyển động quay): có cấu tạo hình trụ, nằm ngang Chuyển động quay quanh trục của lò làm chất thải được đảo trộn đều, nâng cao hiệu quả cháy Lò được chế tạo với công suất lớn, chi phí đầu tư và vận hành rất cao
Lò tĩnh (không chuyển động): có cấu tạo đơn giản, hiệu quả cao Công suất thiết kế của lò tĩnh thường là nhỏ hoặc trung bình Có các loại lò: lò đốt thiết kế đơn giản, lò đốt 1 khoang, lò đốt 2 khoang
So sánh một số đặc điểm các loại lò đốt:
Bảng 2.1: Đặc điểm một số lò đốt
Đặc điểm Lò 1 khoang Lò 2 khoang Lò quay
Công suất (kg/ngày) 100 – 200 200 – 1000 500 – 3000 Nhiệt độ (oC) 300 – 400 800 – 1000 1200 – 1600
Bộ phận làmsạch khí Khó lắp đặt Lắp với lò lớn Có sẵn
Nhân lực Cần đào tạo Có chuyên môn Trình độ cao
Chi phí Tương đối thấp Chi phí cao Khá đắt
Phương pháp thiêu đốt phụ thuộc hiệu quả sử dụng của từng loại lò:
Lò quay: xử lý được tất cả chất thải nhiễm khuẩn, hóa học và dược học, chi
phí đầu tư, vận hành, bảo trì cao
Lò đốt thủ công đơn giản: giảm đáng kể trọng lượng và thể tích chất thải, chi
phí đầu tư và vận hành rất thấp, không tiêu hủy được nhiều hóa chất, dược chất, thải khói đen, bụi tro và khí độc ra môi trường
Lò đốt 1 buồng: hiệu quả khử khuẩn cao, giảm đáng kể trọng lượng và thể
tích chất thải, cặn tro có thể chôn lấp, chi phí đầu tư, vận hành thấp, không cần nhân viên vận hành trình độ cao Nhược điểm: thải ra một lượng đáng kể khí
Trang 19gây ô nhiễm, phải lấy tro và bồ hóng định kỳ, không hiệu quả khi tiêu huỷ chất
thải hoá học và dược học
Lò đốt 2 buồng: hiệu quả khử khuẩn cao, xử lý được chất thải nhiễm khuẩn,
hầu hết chất thải hoá học và dược học nhưng không tiêu hủy hoàn toàn thuốc
gây độc tế bào
Lò đốt tầng sôi: lò đốt tĩnh chứa một lớp cát, thường có công suất nhỏ, vận
hành tốn nhiều năng lượng, thiết kế phức tạp và đắt tiền
Ví dụ minh họa:
Lò đốt rác bằng gas, được đặt tại trung tâm hỏa tánh Bình Hưng Hòa, công
suất 7 tấn/ngày (GG42 HOVAL) có hệ thống xử lý khí thải đạt tiêu chuẩn, do
công ty môi trường % đô thị quản lý Lò sử dụng nhiệt theo nguyên lý hiệu
ứng nhiệt phân Lò gồm 2 buồng: buồng đầu đốt để khí hóa, buồng thứ hai đốt
cháy khí sinh ra từ buồng đầu Đây là kiểu lò tĩnh, hoạt động liên tục, chia làm
3 giai đoạn: nạp rác (8h), đốt (8h), làm nguội (8h)
Hình 2.2: Sơ đồ vận hành lò đốt GG42 HOVAL
Nguyên lý vận hành: lò sử dụng nhiệt để thiêu hủy rác qua 2 buồng đốt,
Đem chôn
Chôn
Bộ phận giải nhiệt
Buồng phản ứng
Bộ phận lọc
Hệ thống bơm hoá chất
Hóa chất sau phản ứng
Trang 20Chương 3 HIỆN TRẠNG THU GOM XỬ LÝ RÁC Y TẾ
CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI 3.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên tỉnh Quảng ngãi
vùng duyên hải miền Trung,
tựa vào dãy Trường Sơn,
hướng ra biển Đông (với
chiều dài bờ biển 144 Km), phía Bắc giáp Quảng Nam (với chiều dài đường địa giới 98 Km), phía Nam giáp Bình Định (với chiều dài đường địa giới 83 Km), phía Tây Nam giáp Kon Tum (với chiều dài đường địa giới 79 Km)
Tổng diện tích 5.137,6 Km2
3.1.1.1 Địa hình
Địa hình tỉnh Quảng Ngãi nằm ở miền Trung Trung bộ, có nhiều núi đồi cao, gò, thung lũng có những cánh đồng lúa, mía và biển cả chia làm các miền riêng biệt:
Miền núi
Rộng gần bằng 2/3 diện tích toàn tỉnh Miền này thuộc loại đất núi có nhiều
đá, khả năng khai thác kém Núi cao hiểm trở, rừng rậm bao la nơi có lâm sản dồi dào, đặc biệt có quế Trà Bồng, một lâm sản quý Quảng Ngãi có nhiều núi cao như núi Cà Đam tục gọi "Hòn Ông, Hòn Bà" cao độ 1.600m ngăn cách Sơn Hà và Trà Bồng; về phía tây bắc có núi Đá Vách (Thạch Bích) cao độ 1.500m ngăn cách Sơn
Trang 21Hà và Minh Long, núi U Bò cao độ 1.200m Núi cao trung bình 700m như núi Cao Môn ở ngoài Trường Luỹ phía tây Huyện Đức Phổ
Miền đồng bằng
Đất đai phần lớn là phù sa do các sông bồi lên thành phần cát khá cao của đất với sự xói mòn huỷ phá do thời tiết mưa nắng đặc biệt ở Quảng Ngãi, người ta thấy rằng chất đất ở đây tương đối nghèo, sự thoát thuỷ lại khá nhanh, thêm vào đó sự khô hạn kéo dài chứng tỏ một sự thiếu nước trong nhiều tháng của năm, một mầu sắc nhạt ở bề mặt đất cho biết sự thiếu chất bùn Tuy nhiên, Quảng Ngãi còn có nhiều vùng ruộng rộng, thích hợp cho việc cày cấy, nhờ thế nước của các sông lớn phát nguồn từ dãy Trường Sơn chảy xuyên qua đồng bằng rồi ra biển
Lưu lượng của các dòng sông biến đổi theo mùa Về mùa nắng, lòng sông khô cạn, trái lại mùa mưa, những cơn mưa dầm nặng hạt trên dãy Trường Sơn làm cho nước đổ xuống các dòng sông khiến mực nước dâng cao, đột ngột lan tràn vào các vùng đất xung quanh
Hải đảo Lý Sơn:
Nằm về phía Đông Bắc Quảng Ngãi, cách đất liền 24 km, vĩ độ bắc 15'40 và kinh độ 19' có hải đảo Lý Sơn tục gọi là Cù Lao Ré vì trước kia có nhiều cây Ré dùng làm dây rất dai và bền
Thời tiết Quảng Ngãi được chia làm 2 mùa: mưa, nắng rõ rệt
- Mùa nắng: Từ hạ tuần tháng giêng âm lịch đến thượng tuần tháng 8 âm lịch
- Mùa mưa: Từ hạ tuần tháng giêng âm lịch đến thượng tuần tháng giêng âm lịch
- Gió mùa: Từ hạ tuần tháng giêng âm lịch đến tháng 8 âm lịch, gió thổi từ Đông
Trang 22Quảng Ngãi có mưa đặc biệt vũ lượng trung bình hằng năm 2.198 mm nhưng chỉ quy tụ vào 4 tháng cuối năm còn các tháng khác thì khô hạn
Trung bình hằng năm mưa 129 ngày, nhiều nhất vào các tháng 9, 10, 11, 12 Sự phân phối vũ lượng không đều cũng như sự kéo dài mùa khô hạn rất có hại cho cây cối, đất đai và gây khó khăn cho việc dẫn thoát thuỷ Đặc biệt ở Quảng Ngãi các trận bão chỉ thể xảy ra trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12 dương lịch nhất là hai tháng 10 và 11
Bảng 3.1 Số liệu về nhiệt độ tỉnh Quãng Ngãi
Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Ngãi
Bảng 3.2 Số liệu về số giờ nắng tỉnh Quãng Ngãi
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Cả năm 2.145 2.175 2.227 2.010 1.961 2.191
Trang 24Bảng 3.4 Số liệu về độ ẩm tỉnh Quãng Ngãi
Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Quãng Ngãi
3.2 Đặc điểm dân cư và các hoạt động kinh tế xã hội
3.2.1 Tình hình dân số
Theo niên giám thống kê 2010, dân số toàn tỉnh khoảng 1.295.608 người Dân
số vùng nông thôn khoảng 1.038.845 người, dân số vùng thành thị 177.928 người
Tỉ lệ gia tăng dân số trung bình 1,8% (vùng nội thành), và 2,3% (vùng nông thôn) Dân số trung bình 252 người/ km2
Bảng 3.5 dân số tỉnh Quảng Ngãi qua các thời kỳ
Năm 01/10/1979 01/4/1989 01/4/1999 01/4/2009 Tổng
số
Thành thị
Trang 25thôn
3.2.2 Điều kiện kinh tế và các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ
3.2.2.1 Công nghiệp
Nền công nghiệp tỉnh Quãng Ngãi đang
trên đà phát triển và góp phần rất lớn cho sự
phát triển chung của nền kinh tế của tỉnh
Toàn tỉnh có nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh
vừa và nhỏ nằm tập trung ở thành phố Quãng
Ngãi
Ngoài ra đáng chú hơn là sự phát triển của 3 khu
công nghiệp là:
- Khu công nghiệp Quảng Phú (Thành phố Quảng Ngãi)
- Khu công nghiệp Tịnh Phong (huyện Sơn Tịnh)
- Khu công nghiệp Phổ Phong (huyện Đức Phổ)
Và đặt biệt là sự phát triển của Khu kinh tế Dung Quất (tiền thân là khu công
nghiệp Dung Quất, huyện Bình Sơn) trong đó quan trọng nhất là Nhà máy lọc dầu Dung Quất
3.2.2.2 Nông nghiệp
Trồng trọt là ngành sản xuất chính trong cơ cấu tỉnh Quãng Ngãi Các xã ngoại thành Thành Phố Quãng Ngãi chủ yếu là các loại cây nông nghiệp ngắn ngày như lúa, ngô… và đặt biệt là cây mía đường
3.2.2.3 Nhà ở và hạ tầng cơ sở
Nhà ở
Trong những năm qua tốc độ phát triển nhà của thành phố tăng nhanh Diện tích nhà
Trang 26thức như xây xen, cấy, nâng tầng, xây dựng mới bằng hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm Tổng số nhà xây dựng tại các khu là 2714 nhà (hộ dân)
Giao thông vận tải
Ngoài 2 tuyến quan trọng là QL lộ 24 và đường Dung Quất - Trà Bồng - Trà My nối tỉnh Quảng Ngãi với các tỉnh Tây Nguyên, vùng hạ Lào và Đông Bắc Thái Lan, Quảng Ngãi còn có tiềm năng phát triển mạnh ngành vận tải biển kết hợp với du lịch sinh thái biển vì có trên 130 km bờ biển, có cảng nước sâu Dung Quất và huyện đảo Lý Sơn nằm trên đường hàng không do gần sân bay Chu Lai, có hệ thống đường sắt Bắc - Nam chạy dọc theo chiều dài của tỉnh, kết hợp với việc phát triển mạng lưới giao thông đường bộ của tỉnh sẽ rất thuận lợi cho việc kết nối các khu kinh tế, khu công nghiệp, đô thị với các tỉnh lân cận
Ngoài ra còn tuyến tránh Quốc lộ 1A đoạn qua thị trấn Đức Phổ, tuyến Quốc lộ 24, đường ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh (Giai đoạn 1) sẽ được hoàn thành trong năm
2010 đến năm 2012 sẽ góp phần hoàn thiện mạng lưới giao thông tỉnh Quảng Ngãi Đến nay, tỉnh Quảng Ngãi đã nhựa hóa và cứng hóa được 572 km đường tỉnh (đạt 84,4%), 683,6 km đường huyện (đạt 55,7%) và 783 km đường xã (đạt 39,6%)
Trong tương lai sẽ đầu tư xây dựng thêm các hồ chứa trên sông Trà Khúc để
bổ sung nước cho Thạch Nham và cấp nước cho Khu kinh tế Dung Quất; phấn đấu công suất cấp nước đạt 115.000 m3/ngày đêm Bảo đảm cấp nước sinh hoạt là 150 lít/người/ngày đêm, với tỷ lệ hộ được cấp nước sạch đạt 85% Cấp nước cho công nghiệp khoảng từ 50 - 60 m3/ha/ngày
Trang 27Thoát nước
Hệ thống thoát nước của thành phố Quảng Ngãi chưa hoàn thiện và đã củ kỹ, gây tình trạng ngập nước cho các hộ dân trong thành phố khi hệ thống thoát nước không kịp
Hiện nay tỉnh đang có kế hoạch xây dựng hệ thống thoát nước cho thành phố Quảng Ngãi
3.2.3 Giáo dục, văn hoá, y tế và vệ sinh môi trường
3.2.3.1 Giáo dục
Toàn tỉnh đã phổ cập giáo dục tiểu học cho 100% số xã, tỷ lệ người biết chữ chiếm 97% dân số Số học sinh phổ thông niên học 2009-2010 là 350.947 em, trong đó học sinh khu vực miền núi là 37.327 em; số giáo viên toàn tỉnh là 12.446 người
3.2.3.2 Y tế
Toàn tỉnh đã có trạm xa ở các xã và bệnh viện ở tuyến huyện và đặt biệt là bệnh viện đa khoa tỉnh Quãng Ngãi với quy mô 800 giường bệnh, 31 khoa phòng các loại với tổng số 569 CBNV phục vụ, trong đó có đội ngũ bác sỹ, dược sỹ đại học có khoảng 128 người ( 70 % có trình độ sau đại học), ngoài ra còn rất nhiều phòng khám tư nhân đáp ứng nhu cầu thăm khám tại tỉnh
3.3 Hiện trạng thu gom và xử lý rác y tế của tỉnh Quảng ngãi
Theo thống kê tính tới năm 2011, toàn tỉnh có 10 bệnh viện và 24 trung tâm
y tế, 12 phòng khám khu vực và 178 trạm y tế xã ở tất cả các xã phường Tổng số
Trang 28Cũng theo thống kê của Sở Y tế Quảng ngãi, hiện toàn tỉnh có 2.685 cán bộ phục vụ trong ngành y tế, trong đó tuyến tỉnh 834 người, tuyến huyện 1045 người, tuyến xã 806 người Riêng tuyến thôn bản có 970 người Số cán bộ có trình độ đại học và sau đại học hiện có 23 thạc sĩ, 11 bác sĩ CKII, 124 bác sĩ CKI, 234 bác sĩ, 35 Dược sĩ đại học (trong đó có 12 chuyên khoa cấp I), có 112 bác sĩ xã (tỷ lệ xã có bác sĩ là 51,67%)
Nhìn chung sự nghiệp y tế và bảo vệ sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ trong thập
kỷ qua Tuy nhiên tỷ lệ số cán bộ Y tế tính trên đầu người còn thấp và có xu hướng tập trung vào các bệnh viện lớn và các trung tâm thị trấn, thị xã nên ở các vùng sâu, vùng xa tỷ lệ cán bộ Y tế còn thấp
Tới năm 2015 phấn đấu toàn tỉnh đạt 2.530 giường bệnh cho tất cả các tuyến và giữ hoạt động ổn định cho tới năm 2015
Theo như dự đoán thì tới năm 2015 toàn Quảng ngãi có khoảng 2.495
giường bệnh tại tất cả các bệnh viện, trung tâm y tế trong toàn tỉnh Tại các cơ sở y
tế này mỗi ngày thải ra khoảng 0,5 tấn rác thải y tế độc hại cần phải xử lý Việc trang bị rác thải y tế (ló đốt rác) hiện tại chỉ có bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ngãi, bệnh viện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Mộ Đức, Đặng Thùy Trâm ( Đức Phổ), Sơn Hà, Tư Nghĩa, có lò đốt với công suất nhỏ 20kg/giờ Các bệnh viện còn lại chưa trang bị lò đốt chủ yếu xử lý bằng phương pháp chôn lấp làm ảnh hưởng xấu đến môi trường đất và nước
Ngoài ra trên địa bàn tỉnh các phòng khám đa khoa, trạm y tế và phòng khám tư nhân rác thải y tế cũng chưa được xử lý triệt để, các hình thức xử lý rác ở đây là chôn lấp và đốt thủ công
Chất thải y tế là những vật phẩm, bệnh phẩm, các loại hoá chất vv sinh ra trong quá trình hoạt độngcủa bệnh viện, trung tâm y tế Đặc trưng của loại chất thải rắn y tế là chúng có tính độc hại rất cao, với các thành phần bao gồm hầu hết tất cả những loại dụng cụ, thiết bị và thuốc men dùng trong y tế như : bông, gạc, ống tiêm, chất thải từ các bệnh nhân có thể lây nhiễm Thậm chí đôi khi trong chất thải y tế còn có những bộ phận của con người sinh ra từ các quá trình phẫu thuật cho bệnh nhân, nhau thai vv
Trang 29Theo kết quả báo cáo tại Hội Thảo Quản Lý Chất Thải Bệnh Viện do Bộ KHCN&MT tổ chức tại Hà Nội 06 – 1998 cho thấy được tỷ lệ thành phần vật lý của chất thải rắn y tế tại Việt Nam như bảng dưới đây:
Bảng 3.6 : Thành phần nguy hại trong chất thải y tế
2 Vô cơ phi kim loại 21 – 23
3 Kim loại, vỏ hộp 2,3 – 2,9
4 Chất thải nguy hại (bệnh
phẩm, bông băng, hoá chất) 20 – 25
5 Giấy bìa các loại 0,7 – 3,7
(Nguồn: Trung Tâm Công Nghệ Môi Trường CEFINEA – Viện Môi Trường Và Tài Nguyên tháng 05 – 2001 )
Do tính độc hại và đặc biệt nguy hiểm như vậy nên với chất thải y tế cần phải
có sự quan tâm xử lý triệt để, nếu không đây sẽ là nguồn lây lan ra cộng đồng Đây chính là mối nguy hại cho cộng đồng dân cư gần nơi chôn lấp, nếu mạch nước ngầm bị nhiễm bẩn
Trang 30Chương 4
DỰ BÁO KHỐI LƯỢNG PHÁT SINH CHẤT THẢI RẮN Y TẾ CHO BỆNH
VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NGÃI ĐẾN 2020 4.1 Dự báo về phát triển dân số
Mục tiêu phát triển dân số của tỉnh Quảng ngãi là trong thập kỷ tới sẽ phấn đấu giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên từ 1,8 đến 2,3% năm 2010 tại các vùng xuống còn 1,5% trung bình trong 10 năm từ 2011 – 2020 Và giai đoạn 2020 -2030 giảm tỷ
lệ tăng tự nhiên xuống còn 1,3% năm, Xóa tình trạng mất cân bằng giới tính hiện nay
Dự kiến đến năm 2030, dân số toàn thành phố là 357.100 người, trong đó dân số đô thị là 299.400 người
4.2 Dự báo về khối lượng chất thải rắn
Tỉnh Quảng ngãi đang trên đà phát triển, do vậy tuỳ theo từng ngành công nghiệp mà có các hệ số phát sinh chất thải rắn khác nhau
Từ năm 1997 đến nay, Nhà nước đã ban hành các Thông tư, Chỉ thị về những biện pháp cấp bách trong công tác quản lý CTR ở các đô thị và khu công nghiệp, nhưng vấn đề quản lý CTR ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn Lượng CTR đô thị và khu công nghiệp bình quân đầu người trong cả nước năm
2010 là 0,52-0,8 kg/người- ngày tuỳ thuộc vào loại hình đô thị, năm 2012 đạt đến 0,8-1,3 kg/người, tiếp tục xu thế tăng dần nhưng tỷ lệ được thu gom, xử lý ở nước ta còn quá thấp, đó là điều đáng quan tâm Các đô thị và khu công nghiệp
ở Quảng Ngãi cũng trong tình trạng đó
Theo báo cáo đề tài “ Xây dựng kế hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”, kết quả phân tích thành phần chất thải rắn trên địa bàn Tỉnh cho thấy, rác thải sinh hoạt có hàm lượng chất hữu cơ chiếm tỉ lệ khá cao, độ ẩm lớn, và các thành phần tái sinh, tái chế là khá lớn Các thành phần nguy hại trong rác thải sinh hoạt như: pin, acqui, bao
bì chứa hoá chất bảo vệ thực vật , không đáng kể
Trang 31Bảng 4.1 Thành phần rác thải sinh hoạt tỉnh Quảng Ngãi
Phân loại
Dễ phân hủy sinh học Thực phẩm thừa, rau, 68 –
70
Khó phân hủy sinh học Cao su, vải vụn, gỗ 8 –
10
Nguồn:“Xây dựng kế hoạch quản lý CTR Quảng Ngãi đến năm 2010 và đến năm 2020”
4.3 Dự báo về phát sinh chất thải rắn y tế
Để có thể dự báo được lượng chất thải rắn y tế sinh ra, ta có thể tính toán dựa trên các hệ số có thể phát sinh chất thải rắn nguy hại và hệ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt trên mỗi giường bệnh
Trong quá trình chữa bệnh thì ngoài các chất thải y tế là bông băng, bệnh phẩm ra còn sinh ra một lượng rác sinh hoạt của chính bệnh nhân và người thăm nuôi Căn cứ theo kinh nghiệm đã từng khảo sát tại bệnh viện và trung tâm y tế tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh khác nhau, cho thấy với mỗi giường bệnh hằng ngày thải ra một lượng chất thải rắn:
Chất thải rắn y tế nguy hại: 0,25 kg/giường bệnh
Chất thải sinh hoạt: 0,3 kg/giường bệnh
Căn cứ vào số liệu rác thải y tế của tỉnh Quảng ngãi vào năm 2010 toàn tỉnh Quảng ngãi có 224 cơ sở y tế và 2.470 giường bệnh Với phương hướng phát triển
là tới năm 2015 toàn tỉnh Quảng ngãi sẽ phát triển và giữ ở mức 2.530 giường bệnh Như vậy trong khoảng 5 năm thì giường bệnh tăng lên là 60 vì vậy trung bình mỗi năm tăng 12 gưởng bệnh
Như vậy có thể tính toán được số lượng chất thải rắn sinh ra theo bảng dưới đây:
Trang 32Bảng 4.2 : Tính toán dự báo tốc độ thải bỏ rác tới năm 2030
Năm tính
toán
Số giường bệnh
Hệ số rác
NH (kg/giường
ngày)
Hệ số rác
SH (kg/giường
ngày)
Rác y tế nguy hại (kg/năm)
Lượng rác sinh hoạt (kg/năm)
Trang 33Hệ số rác SH = Hệ số rác sinh hoạt sinh ra hằng ngày/giường bệnh Căn cứ vào tính toán dự báo sự biến đổi về khối lượng chất thải rắn y tế sinh
ra trên toàn tỉnh ta nhận thấy: Tại thời điểm năm 2010 lượng chất thải rắn y tế nguy hại (bông băng, bệnh phẩm, kim tiêm vv ) sinh ra là 225.387 kg/năm hay tương đương với 225,39 tấn /năm = 0,617 tấn/ngày
Đây là lượng chất thải rắn có tính nguy hại rất cao, nếu không được xử lý thật tốt nó sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới con người và môi trường, còn đối với lượng chất thải rắn sinh hoạt sinh ra thì được thu gom riêng và xử lý chung cùng với các loại rác thải sinh hoạt khác
Trang 34Chương 5 TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ LÒ ĐỐT RÁC Y TẾ CÔNG SUẤT 30KG/H
CHO BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH QUẢNG NGÃI
5.1 Tính toán sự cháy dầu DO
Theo Tính Tóan Kỹ Thuật Nhiệt Lò Công Nghiệp Tập I, thành phần sử dụng
của dầu DO:
40048 KJ Kg
5.1.1 Hệ số tiêu hao không khí và lượng không khí cần thiết
5.1.1.1 Hệ số tiêu hao không khí ( )
Hệ số tiêu hao không khí ( ) là tỷ số giữa lượng không khí thực tế (L) và lượng không khí lý thuyết (L 0) khi đốt cùng một lượng nhiên liệu:
Bảng 5.1: Hệ số tiêu hao không khí
Dạng nhiên liệu và kiểu thiết bị đốt ()
Đốt củi trong buồng đốt cứng
Đốt than đá, than nâu trong buồng đốt thủ công
Đốt than đá, than nâu trong buồng đốt cơ khí
Đốt than bụi
Đốt dầu DO
Đốt khí bằng mỏ đốt không có phần hỗn hợp
1,25 – 1,35 1,50 – 1,80 1,20 – 1,40 1,20 – 1,30 1,10 – 1,20 1,10 – 1,15
Trang 35Đốt khí bằng mỏ đốt có phần hỗn hợp 1,05
(Nguồn: Hoàng Kim Cơ Nguyễn Công Cần Đỗ Ngân Thanh – Tính Toán Kỹ
Thuật Lò Nhiệt Lò Công Nghiệp T1)
Chọn = 1,2
5.1.1.2 Tính lượng không khí cần thiết để đốt 100 kg dầu DO
Giả thiết: không khí chỉ có O2 và N2, các thành phần khác không đáng kể
Khi tính sự cháy của nhiên liệu quy ước:
Khối lượng nguyên tử của các khí lấy theo số nguyên gần đúng
Mỗi Kmol phân tử khí bất kỳ đều có thể tích 22,4 m3
Không tính sự phân hóa nhiệt của tro
Thể tích của không khí và sản phẩm cháy qui về ĐK chuẩn: 0o
C, 760 mmHg
Bảng 5.2: Thành phần nhiên liệu dầu DO theo lượng mol
Thành phần nhiên liệu Hàm lượng
(Kg/100 Kg nhiên liệu)
Phân tử lượng (g)
Lượng mol (Kmol)
Trang 36Bảng 5.3: Lượng không khí cần thiết để đốt 100 kg dầu DO
Phân
tử lượng
Lượng mol (Kmol)
O2 (Kmol)
N2 (Kmol)
5.1.2 Xác định lượng và thành phần của sản phẩm cháy
5.1.2.1 Thành phần và lượng sản phẩm cháy
Thành phần và lượng sản phẩm cháy khi đốt 100 kg dầu DO cho ở bảng sau:
Bảng 5.4: Thành phần và lượng sản phẩm cháy khi đốt 100 kg dầu DO Thành
phần
Từ không khí
Sảnphẩm cháy
Trang 375.1.2.2 Xác định khối lượng riêng của sản phẩm cháy
Khối lượng riêng của sản phẩm cháy được xác định ở điều kiện chuẩn:
)/(303,174
,1317
41,442896,1320156,06425,518192,744
)35(/,74
,1317
2832
6418
44
3
3 2
2 '
2 2
2 0
m Kg
m Kg N
O SO
O H CO
= 22323,8 (KJ/Kg)
5.2.2 Hệ số tiêu hao không khí (R ) và lượng không khí cần thiết
5.2.2.1 Chọn hệ số tiêu hao không khí
Hệ số tiêu hao không khí là tỉ số giữa lượng không khí thực tế L và lượng không khí lý thuyết L0 khi đốt cùng một lượng nhiên liệu
Theo kinh nghiệm thực tế đối với trường hợp đốt rác thải y tế thì nên chọn hệ
số tiêu hao không khí R=1,20
5.2.2.2 Xác định lượng không khí cần thiết khi đốt cháy 100 kg rác y tế
Giả thiết thành phần không khí chỉ có oxi và nitơ, các thành phần khác không đáng kể
Khi tính sự cháy của rác quy ước:
Khối lượng nguyên tử của các khí lấy theo số nguyên gần đúng
Trang 38Bảng 5.5 : Thành phần rác y tế chuyển thành lượng mol
Thành
phần % khối lượng
Khối lượng (kg)
Khối lượng phân
tử (g)
Lượng mol (kmol)
50,85 6,71 19,15 2,75 0,1 0,08 2,71 15,1 1,05 1,5
- 0,0833
Theo các phản ứng, tính được lượng không khí cần để đốt 100 kg rác trong bảng 5.6
Bảng 5.6 : lượng không khí cần thiết để đốt 100 kg rác
Phân tử lượng (g)
Lượng mol (Kmol)
Trang 39Sản phẩm cháy (Kmol)
5.2.3.2 Xác định khối lượng riêng của sản phẩm cháy
Khối lượng riêng của sản phẩm cháy được xác định ở điều kiện tiêu chuẩn:
)/(309,152
,745
0604,13200265,011000025,056
52,745
0335,24284252,05,360846,064438,3182375,444
3 0
m Kg
Trang 40 = 1,2; hàm nhiệt tổng được xác định theo công thức:
V
Q
i t d
Trong đó: Qtd: nhiệt trị thấp của dầu DO, Qtd = 40048,33 kJ/kg
V : thể tích sản phẩm cháy khi đốt 1 kg dầu DO, V = 13,1774 nm3
)
/(168,30391774
,13
33,
nm kJ
Theo phụ lục II Tính Toán Kỹ Thuật Nhiệt Lò Công Nghiệp T1 và bảng 4.3
( thành phần sản phẩm cháy của dầu DO) Xác định được i1, i2 ứng với giá trị t1, t2 :
Giả thiết nhiệt độ cháy lý thuyết của lò: t1 = 1800oC < tlt < t2 = 1900oC
Ứng với t1 = 1800oC:
) / ( 618 , 2931
053 , 1 9 , 4049 00026
, 0 9 , 4049
077 , 1998 74
, 2646 75492
, 0 74 , 2646
312 , 93 48 , 2800 03332
, 0 48 , 2800
084 , 306 9 , 3429 08924
, 0 9 , 3429
092 , 533 67 , 4360 12225
, 0 67 , 4360
3 1800
2 2 2 2 2
2 2 2 2 2
m kJ i
SO i
N i
O i
O H i
CO i
SO N O
O H CO
053 , 1 9 , 4049 00026
, 0 9 , 4049
98 , 2119 22
, 2808 75492
, 0 22 , 2808
99 3 , 2971 03332
, 0 3 , 2971
41 , 326 65 , 3657 08924
, 0 65 , 3657
6 , 566 76 , 4634 12225
, 0 76 , 4634
3 1900
2 2 2 2 2
2 2 2 2 2
m kJ i
SO i
N i
O i
O H i
CO i
SO N O
O H CO
C
i i
i i t t
o lt
3 , 1859 100
618 , 2931 043
, 3113
618 , 2931 168
, 3039 1800
100
1800 1900
1800 1