Khảo sát đánh giá ảnh hưởng của dự án đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giấy lên môi trường nước.
Trang 1Các anh, chị đang công tác tại được trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm TP
Hồ Chí Minh (CASE) đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em rất nhiều trong quá trình đi quan trắc thực tế tại dự án
Quý thầy cô trường Đại học Kỹ Thuật Công Nghệ TP.HCM đã giảng dạy trong suốt 1.5 năm học, thầy cô đã giúp cho em có được những kiến thức quý báu và những kinh nghiệm trong cuộc sống trong suốt 1.5 năm học tập tại trường
Gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để con học tập trong suốt những năm đi học
Cảm ơn các tất cả những người bạn luôn ở bên cạnh đã giúp đỡ tôi, chia sẽ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập
Tp Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2012
Nguyễn Thanh Thản
Trang 2MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nên nhu cầu giao thông của cả nước đang ngày một tăng Việc mở rộng và xây dựng mới các tuyến cao tốc phục vụ nhu cầu giao thông trong tương lai trên địa bàn vùng kinh tế trọng điểm là hết sức cần thiết Dự án đường cao tốc Thành Phố Hồ Chí Minh- Long Thành –Dầu Giây là 1 bộ phận của hệ thống đường cao tốc Bắc Nam tốc được khởi công xây dựng vào ngày 3/10/2009, chiều dài của toàn tuyến 55,7km, đi qua các địa phương như quận 2, quận
9 của thành phố Hồ Chí Minh và các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Thống Nhất và kết thúc ở Dầu Giây của tỉnh Đồng Nai
Đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây đã được Chính phủ phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi tháng 6 năm 2002, được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận các nội dung của dự án bằng văn bản số 56/TTg-CN ngày 10/01/2007 và đã được Bộ GTVT ra Quyết định số 334/QĐ - BGTVT ngày 13/02/2007 về việc phê duyệt đầu tư dự án Với sự hỗ trợ của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) Tuyến cao tốc này sẽ khắc phục thế độc đạo và chia sẻ lưu lượng vận tải của QL1A và QL51
Tuyến đường có ý nghĩa quan trọng trong việc ổn định và là tiền đề để khai thác tối đa thế mạnh của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đặc biệt là thúc đẩy sự phát triển vùng tam giác kinh tế Tp Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bà Rịa Vũng Tàu Bên cạnh những lợi ích về kinh tế xã hội mà dự án mang lại thì nó còn gây ra những ảnh hưởng lớn đến môi trường và hệ sinh thái xung quanh khu vực xây dựng Đây là
dự án đường cao tốc lớn phải đi qua nhiều khu vực phần lớn là nơi có mật độ dân cư thưa thớt và số ít khu dân cư đông đúc tập trung tại các thị xã, thị trấn, không có công trình hạ tầng nào quan trọng Địa chất phần lớn tuyến chạy trên vùng đất yếu Địa hình bằng phẳng bị chia cắt bởi nhiều sông, kênh rạch
Vì thế ảnh hưởng của dự án đến môi trường là không hề nhỏ Việc kiểm soát
và đánh giá tác động của nó tới môi trường là một việc làm cần thiết và thiết thực, nhằm đánh giá ảnh hưởng của nó tới môi trường đất, nước, không khí trên toàn tuyến
Trang 3Nên đề tài của em chọn là: “Khảo sát, đánh giá ảnh hưởng của dự án Đường cao
tốc Thành Phố Hồ Chí Minh- Long Thành- Dầu Giây lên môi trường nước”
4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: công trình xây dựng đường cao tốc TP.HCM – LONG THÀNH – DẦU GIÂY, đoạn từ Quận 2 (TP.HCM) đến thị trấn Long Thành (Đồng Nai)
Đề tài nghiên cứu thực hiện ở: Gói Thầu 1A, 1B, 2 và 3 của dự án đường cao tốc Thành Phố Hồ Chí Minh- Long Thành – Dầu Giây
Trong giới hạn báo cáo đề tài của mình, em chỉ thực hiện một phần nhỏ trong
dự án: đó là công tác khảo sát, lấy mẫu và phân tích chỉ tiêu sinh – hóa – lý để phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng lên môi trường nước Bao gồm: nước mặt, nước ngầm và nước thải tại 4 gói thầu đang thi công của dự án là gói 1A, 1B, 2 và 3
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thực địa khảo sát và lấy mẫu nước tại hiện trường Mẫu được trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm TP Hồ Chí Minh (CASE) phân tích và trả kết quả về Trung tâm Khoa học Công nghệ Bảo vệ Môi trường Giao thông Vận tải (CEPT) Dựa vào số liệu phân tích chất lượng nước (nước mặt, nước thải, nước ngầm) để nhận xét và đánh giá ảnh hưởng của dự án đường cao tốc Long Thành – Dầu Giây lên môi trường nước của tuyến đường làm dự án Căn cứ vào QCVN và kết quả các kỳ quan trắc trước để so sánh kết quả và tiến hành viết báo cáo
Trang 45.1 PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU
Vị trí lấy mẫu: được ghi rõ trong báo cáo và được xác định bằng máy GPS cùng với vị trí của các đợt khảo sát trước
Bảng 1 Vị trí các điểm lấy mẫu nước và kí hiệu mẫu
TT Công việc
Gói
Gói thầu 1a (Đoạn từ đường dẫn cua đường cao tốc (Q2) đến cầu Ông Nhiêu (Q9))
nước mặt
Sông Ông Nhiêu (Cầu Ông Nhiêu) Nút giao đường
Trang 5Cầu Sông Tắc 1b 10+400(thượng
Trang 6Hình 1: Các điểm lấy mẫu GÓI 1A
Hình 2: Các điểm lấy mẫu GÓI 1B
Hình 3: Các điểm lấy mẫu GÓI 2
Trang 7Hình 4: Các điểm lấy mẫu GÓI 3
Dụng cụ lấy mẫu: Bình nhựa 5 lít, bình vi sinh bằng thủy tinh được khử trùng 1750C trong 1 giờ, dụng cụ để lấy mẫu nước Wildco của hãng Wildlife Supply Company
Lưu ý: Trước khi cho mẫu nước vào bình, dùng chính nước đó tráng qua bình đựng mẫu
Nhận dạng mẫu: Các bình chứa mẫu cần đánh dấu rõ để tránh sự nhầm lẫn trong phòng thí nghiệm Ngoài ra khi lấy mẫu cần ghi chú ngay những chi tiết giúp ích cho việc giải trình kết quả thu được (kí hiệu mẫu, ngày, giờ, vị trí lấy mẫu, tên dự án, ) Chất bảo quản mẫu được ghi rõ tên và liều lượng nếu có
Thể tích mẫu: đủ để phân tích các chỉ tiêu hoá lý Không nên dùng cùng một mẫu xét nghiệm chung các đặc tính hoá sinh vì phương pháp lấy, xử lý đều khác nhau
5.2 PHƯƠNG PHÁP BẢO QUẢN MẪU
Bình chứa cần nạp gần đầy nhưng không hoàn toàn đầy Mẫu cần giữ ở nhiệt độ thấp hơn khi lấy Làm lạnh đơn giản (bằng nước đá hoặc tủ lạnh, ở 20C - 50C và đa số
để mẫu ở nơi tối (tùy trường hợp) để bảo quản mẫu trong khi vận chuyển đến phòng thí nghiệm và trong thời gian ngắn trước khi phân tích Làm lạnh không thể xem là biện pháp bảo quản lâu dài, nhất là với các mẫu nước thải
Các loại nước, đặc biệt là nước mặt và nước thải, thường bị biến đổi ở những mức độ khác nhau do các tác động lý, hoá và sinh vật học xảy ra trong thời gian lấy mẫu đến khi phân tích Bản chất và tốc độ của những tác động này thường có thể làm
Trang 8cho nồng độ các chất cần xác định sai khác với lúc mới lấy mẫu nếu như không có các chú trọng cần thiết khi vận chuyển mẫu và lưu giữ mẫu ở phòng thí nghiệm trước khi phân tích
5.3 VẬN CHUYỂN MẪU
Các bình chứa mẫu cần được bảo vệ và làm kín để chúng không bị hỏng hoặc gây mất mát một phần mẫu trong khi vận chuyển Cần đóng gói để bảo vệ các bình chứa khỏi bị nhiễm bẩn từ bên ngoài và bị vỡ, vật liệu đóng gói không được là nguồn nhiễm bẩn Trong khi vận chuyển, các mẫu cần được giữ lạnh và tránh ánh sáng Trong khi vận chuyển, các mẫu cần được giữ lạnh và tránh ánh sáng, nếu có thể, đặt mỗi mẫu trong một vỏ riêng không thấm nước
Nếu thời gian vận chuyển vượt quá thời gian bảo quản cho phép thì vẫn phân tích mẫu và cần báo cáo rõ thời gian từ khi lấy mẫu đến khi phân tích sau khi đã tham khảo ý kiến người giải trình kết quả
5.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CÁC CHỈ TIÊU
Việc lấy mẫu và phân tích được tiến hành cơ bản dựa trên phương pháp chuẩn trong lấy mẫu và thí nghiệm theo yêu cầu của Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE) với việc hiệu chỉnh các thiết bị
Vị trí lấy mẫu được đánh dấu bằng cách sử dụng GPS
Tất cả các thông số như: pH, nhiệt độ, độ dẫn, DO được đo ngay tại hiện trường bằng thiết bị đo nước YSI, Mỹ
Hình 5: Máy đo tại hiện trường một số chỉ tiêu
Trang 9 Các thông số khác như: SS, BOD5, Coliform, dầu mỡ, … sẽ được lấy mẫu, bảo quản và đem phân tích trong phòng thí nghiệm Các thiết bị đo nước cũng phải được hiệu chuẩn trước khi đo
Chất lượng nước mặt:
- Tiêu chuẩn tham chiếu: QCVN 08:2008/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt)
- Thông số quan trắc: Độ pH, nhiệt độ, độ vẩn đục, độ dẫn điện, DO, BOD,
COD, SS, T-N, T-P, dầu và dầu nhờn, NO3-, vi khuẩn trực ruột (coliform)
- Tần suất: Quan trắc trong một ngày, mỗi ngày lấy 2 mẫu (sáng và chiều) cho
và chuyển động của dòng chảy
- Tần suất: Quan trắc trong một ngày, mỗi ngày lấy 3 mẫu cho mỗi vị trí
Chất lượng nước thải:
- Tiêu chuẩn tham chiếu: cột B của QCVN 40:2011/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp)
- Thông số quan trắc: Nhiệt độ, độ pH, BOD5, COD, DO, SS, NH4+, TN, TP, dầu và dầu nhờn, Coliform
- Tần suất: Quan trắc trong một ngày, lấy 3 mẫu cho mỗi vị trí vào buổi sáng khi công trình đang thi công
6 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI
Qua quá trình quan trắc và phân tích ta dựa vào kết quả phân tích để đưa ra được đánh giá về hiện trạng môi trường chất lượng nước trong khu vực của dự án trong quá trình thi công Từ những đánh giá đó giúp cho cơ quan chức năng có thẩm quyền đưa ra các biện pháp hạn chế đến mức thấp nhất sự ảnh hưởng của dự án tới môi trường
Trang 10Công tác này được thực hiện nhằm đánh giá điều kiện chất lượng môi trường khi dự án đi vào giai đoạn xây dựng và từ đó xác định các hoạt động xây dựng có ảnh hưởng hay không tới môi trường khu vực
7 KẾT CẤU CỦA ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ NGHIÊN CỨU CHẤT
Nhiệt độ: nhiệt độ của nước phụ thuộc vào điều kiện môi trường và khí hậu, là yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều quá trình xử lý và các nhu cầu tiêu thụ nước
Độ đục: được dùng cho nước có chứa các chất rắn lơ lửng gây ảnh hưởng đến sự đi qua của ánh sáng hoặc làm cho chiều sâu có thể nhìn thấy bị giảm đi Độ đục được tạo nên bởi các chất lơ lửng kích thước đa dạng, từ phân tán keo cho đến phân tán thô
Đơn vị độ đục là J.T.U (1 J.T.U = 1 N.T.U = 1 mgSiO2/lit = 1 đơn vị độ đục)
Màu sắc: cần phân biệt độ màu thực là màu gây nên bởi thực vật và các sản phẩm phân huỷ của các chất hữu cơ dưới dạng keo và độ màu biểu kiến là màu gây nên bởi những phần tử lơ lửng Độ màu gây ảnh hưởng về mặt cảm quan
và tâm lý đối với người dùng nước
Đơn vị đo độ màu là Pt-Co Giới hạn độ màu cho phép đối với nước cấp sinh hoạt là , 10 Pt-Co
Mùi vị: Một số chất khí và một số chất hoà tan làm cho nước có mùi Nước thiên nhiên có thể có mùi đất, mùi tanh, mùi thối, các mùi hoá học đặc trưng như mùi clo, mùi amoniac, mùi clophenol Nước có thể có vị mặn, ngọt, chua, chát tuỳ theo thành phần và hàm lượng các muối khoáng hoà tan
Độ dẫn điện (EC):
Trang 12Độ dẫn điện (Electric condutivity hay EC) là cách biểu thị khả năng dẫn điện của nước Con số này phụ thuộc vào tổng các chất ion hoá được hoà tan trong nước và nhiệt độ tại thời điểm đó
Chất rắn:
Nước hoà tan và lôi cuốn vô số các hợp chất vô cơ, hữu cơ và các ion Ngoài những vật thể có kích thước trong phạm vi thấy được bằng mắt, các vật chất còn lại sau khi làm mẫu nước bốc hơi, lớp cặn khô dưới đáy là chất rắn tổng cộng chứa trong mẫu
Chất rắn tổng cộng bao gồm chất rắm qua lọc (hay chất rắn hoà tan) và chất rắn
Trang 13 DO: Độ hoàn tan của oxy trong nước phụ thuộc vào các yếu tố:nhiệt độ, áp suất, đặc tính của nguồn nước (thành phần hoá học, vi sinh, thuỷ sinh) Xác định lượng oxy hoà tan là phương tiện để kiểm soát ô nhiễm và kiểm tra hiệu quả xử lý
BOD (Biochemical Oxygen Demand): nhu cầu oxy sinh học Là lượng oxy cần thiết để oxy hoá các chất hữu cơ với sự tham gia của vi sinh vật trong điều kiện hiếu khí (có mặt oxy) Xác định chất hữu cơ nhiều hay ít và đánh giá khả năng tự làm sạch của nguổn nước, BOD càng cao chứng tỏ mức ô nhiễm càng nặng Đơn vị đo của BOD là mg O2/L (mg/L)
COD (Chemical Oxygen Demand): nhu cầu oxy hoá học Là đại lượng dùng để đánh giá mức độ nhiễm bẩn của nguồn nước Đó là lượng oxy cần thiết để để oxy hoá hết các hợp chất hữu cơ có trong nước Nước càng nhiễm bẩn thì hàm lượng chất hữu
cơ càng cao
Tổng photpho: Trong môi trường tự nhiên, photpho tồn tại dưới dạng hợp chất
là photphat (PO43-): gồm có photphat hữu cơ và photphat vô cơ Photphat hữu cơ hầu hết mang độc tính mạnh dưới dạng thuốc diệt côn trùng, các vũ khí hoá học, Photphat gây nhiều tác động trong việc bảo vệ môi trường
Nhóm dầu mỡ: dầu nhờn và chất béo:
Với đặc tính dễ phân tán và khuyếch tán, chất béo cũng như dầu mỡ có thể lan rộng
và chiếm trọn diện tích một bề mặt rộng lớn, ngoài ra chất béo còn bám chặt vào thành các ống dẫn, những vật tiếp xúc dọc theo dòng chảy Đây chính là điểm tác hại của chất béo, nhưng cũng dựa vào đó mà các nhà chuyên môn đã áp dụng để loại bỏ nó trong công nghệ xử lý chất béo
Amonium (N-NH4), Nitrate (N-NO3) và Nitrite (N-NO2)
Sự phân huỷ của rác thải, các chất hữu cơ có trong nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp tạo thành các sản phẩm ammoniac, nitrite, nitrate Sự hiện diện của các hợp chất này là chỉ thị để nhận biết trạng thái nhiễm bẩn của nguồn nước
Nhóm vi sinh:
Coliform và feacal coliform (coliform phân) là nhóm các vi sinh vật dùng để chỉ thị khả năng có sự hiện diện của các vi sinh vật gây bệnh trong thực phẩm Nhóm Coliform gồm những vi sinh vật hiếu khí và kỵ khí tuỳ ý, Gram âm, không sinh bào tử,
Trang 14hình que, lên men đường lactose và sinh hơi trong môi trường nuôi cấy lỏng Dựa vào nhiệt độ tăng trưởng, nhóm này lại được chia thành hai nhóm nhỏ là Coliform và Coliform phân có nguồn gốc từ phân các loài động vật Khi coliform phân hiện diện ở
số lượng lớn trong mẫu thì mẫu có khả năng bị nhiễm nước nhiễm phân và có khả năng chứa các vi sinh vật gây bệnh hiện diện trong phân
Bảng 2 Phương pháp phân tích chất lượng nước mặt, nước ngầm
Trang 151.2 CHẤT LƯỢNG NƯỚC TẠI KHU VỰC TRƯỚC DỰ ÁN (QUẬN 2, QUẬN 9 VÀ LONG THÀNH)
1.2.1 Chất lượng nước mặt
Kết quả quan trắc môi trường cho thấy các thông số như BOD, COD, DO và SS đều vượt quá GHCP theo TCVN 5942:1995 (Mục đích sử dụng nước cho sinh hoạt) Nguyên nhân chủ yếu là do trong mùa mưa lượng chất rắn lơ lửng tăng cao và nước thải sinh hoạt của các hộ dân thải trực tiếp ra sông Các thông số khác như kim loại nặng, hàm lượng nito, phốtpho, đều nằm trong GHCP
- Tại vị trí cầu Ông Nhiêu (thuộc gói thầu 1a), theo báo cáo ĐTM do CEPT thực hiện, các thông số lấy mẫu nước được phân tích tháng 7/2007 đều nằm trong GHCP theo TCVN5942:1995
1.2.2 Chất lượng nước ngầm
Kết quả quan trắc môi trường chỉ ra rằng chất lượng nước ngầm tại khu vực dự
án là tương đối tốt, ngoại trừ lượng coliform tương đối cao Nguyên nhân chủ yếu là
do nước thải sinh hoạt của các hộ dân thải ra (chiếm tới 95% các hộ gia đình thải nước trực tiếp ra hệ thống thoát nước xung quanh) Các hộ dân chủ yếu sử dụng nước giếng khoan được bơm lên trực tiếp không qua xử lý
Chất lượng nước ngầm: tại khu vực phường Phú Hữu, quận 9, theo báo cáo ĐTM do CEPT thực hiện: Các thông số đều nằm trong GHCP, trừ hàm lượng coliform
là vượt TCVN5944:1995 khoảng 0,5 lần
Trang 16CHƯƠNG 2: NHỮNG NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Các nguồn gây ô nhiễm từ hoạt động xây dựng
Hoạt động khoan cọc nhồi… Tạo ra nhiều lượng đất, cát, bùn thải ra sông Làm cho nước sông trở nên đục hơn Lượng dầu mỡ từ các phương tiện này thải ra cũng làm ảnh hưởng đến môi trường nước Vì dầu mỡ là chất khó tan trong nước Dầu mỡ có thành phầm hóa học rất phức tạp Độc tính và tác động sinh thái của dầu mỡ phụ thuộc vào từng loại dầu
Hình 6 : khoan cọc nhồi
Các phương tiện giao thông chở vật liệu qua lại dự án nhiều, cuốn theo lớp bụi
từ bề mặt đường Gây ô nhiễm cho bầu không khí, các hạt bụi này một phần khuyếch tán vào nước sông, một phần bám vào cây, cỏ bên đường, khi mùa mưa xuống chúng
sẽ theo dòng nước mưa hòa tan vào nước sông
Hình 7: Xe ben chở đất, cát phục vụ công trình
Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm tăng lượng chất lơ lửng ,tức làm tăng độ đục của nước Các chất này có thể được vi khuẩn ăn Sự phát triển của vi
Trang 17khuẩn và các vi sinh vật khác lại càng làm tăng độ đục của nước và làm giảm độ xuyên thấu của ánh sáng
Hình 8: Công nhân đang làm cầu vượt sông Ông Nhiêu tại gói thầu 1A
Ngoài ra hoạt động sang lấp mặt bằng còn làm cho dòng sông bị bó hẹp, dòng chảy thay đổi Sự thay đổi dòng chảy là nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng sạt lở
bờ sông
Hình 9: Sạt lở bờ sông
2.2 Các nguồn gây ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt
Nguồn ô nhiễm từ hoạt động sinh sống của người trên công trường, bao gồm: lượng chất hữu cơ thải ra từ hoạt động ăn uống, phân (E.Coli và các vi trùng khác), chất tẩy rửa từ hoạt động tắm giặt,… gây ô nhiễm mùi và ô nhiễm môi trường nước mặt
Trang 18Như vậy hoạt động sinh hoạt của con người chủ yếu thải ra các chất hữu cơ không bền và dễ phân hủy sinh học, các chất dinh dưỡng (phosphor, nitơ), vi trùng và mùi
Ước lượng khối lượng tác nhân ô nhiễm trong nước thải của con người : 9g nitơ tổng/người.ngày đêm và 2,5g phốt pho tổng/người.ngày đêm, vậy 1000 người sinh hoạt và sống ở khu vực công trường thì 1 ngày đêm họ đưa vào sông khoảng 9000
độ xâm nhập mặn phụ thuộc vào độ dốc, địa hình mặt cắt, lớp phủ thực vật và lưu lượng của sông
Hình 10: Nước mặn xâm nhập trên sông Đồng Nai
Trang 19CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC
3.1 Gói 1A : Giai đoạn xây dựng đường dẫn vào đường cao tốc (Quận 2) đến cầu vượt sông Ông Nhiêu (Quận 9)
Thời gian quan trắc: 14/12/2010 (đợt 5) và 15/03/2011 (đợt 6)
Công tác đất: nhà thầu đắp trả và trải vải địa kỹ thuật
San lấp mặt bằng để làm đường dẫn vào đường cao tốc: hoạt động này cần đến nhiều xe ủi, xe ben để cung cấp đất, cát phục vụ cho công trình Hoạt động này phát sinh ra nhiều bụi, bẩn
Khoan cọc nhồiđể làm móng cầu, trụ cầu Sử dụng xe cẩu để khoan làm cho bùn, cát trào lên phát sinh nước chảy tràn mặt đất Các loại xe tải vận chuyển bùn đất sau khi khoan khi di chuyển làm rơi vãi đất, cát gây ảnh hưởng đến môi trường Qua
đó cần phải khảo sát và lấy mẫu để phân tích, đánh giá tác động đến môi trường
Hình 12: Khoan cọc nhồi ở gói thầu 1a
Trang 203.1.2 Chất lượng nước mặt : tại khu vực xây dựng cầu Ông Nhiêu cách cầu 500m về phí thượng nguồn và hạ nguồn
- Vị trí quan trắc: Sông Ông Nhiêu ( Cầu Ông Nhiêu ) - Nút giao thông
Nguyễn Duy Trinh với đường cao tốc
- Mẫu được lấy vào buổi sáng và chiều, mỗi lần 2 mẫu Kết quả phân tích mẫu nước
tại vị trí thượng lưu sông Ông Nhiêu (SW1-1, SW1-2) và hạ lưu (SW1-3, SW1-4) của
đợt 5, 6 (xem chi tiết tại Phụ lục) Cả 2 đợt lấy mẫu này công trình đang trong giai đoạn thi công xây dựng
Bảng 3: Kết quả quan trắc một số chỉ tiêu chất lượng nước mặt của gói 1a , đợt 5 (tháng 12/2010) và đợt 6 (tháng 03/2011) (Nguồn: Trung tâm khoa học công nghệ
và bảo vệ môi trường giao thông vận tải)
TT Chỉ tiêu Đơn vị
08:2008/ BTNMT
Cột B1
Trang 21 Nhóm chất hữu cơ: (DO, BOD, COD)
- Có sự chênh lệch không đáng kể về nồng độ oxy hoà tan DO giữa các điểm quan trắc trong mỗi đợt, nhưng giá trị DO trung bình của 2 đợt quan trắc lại có sự chênh lệch từ 2,9 – 4,6 (mg/l)
- Tương tự như vậy với nồng độ BOD, giá trị trung bình quan trắc của đợt
Trang 22Hình 13: Diễn biến giá trị nhóm hữu cơ trong nước mặt
Nhóm chất dinh dưỡng (T-N, T-P, NO3-, NH4+)
- Nồng độ nitrat NO3- trong hai đợt quan trắc tại các vị trí đều thấp và nằm trong GHCP theo QCVN08:2008/BTNMT
- Nồng độ amôniac NH4+ ở mức độ thấp so với giới hạn cho phép
- Các thông số của tổng Nitơ và phốtpho mặc dù chưa có tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nước mặt về ô nhiễm nhưng các kết quả phân tích cho thấy là rất thấp để gây ô nhiễm Sự chênh lệch nồng độ trung bình của hai đợt quan trắc là không đáng kể
Hình 14: Biểu đồ nhóm chất dinh dưỡng trong nước mặt của gói thầu 1a
Trang 23 Giá trị pH trong 2 đợt quan trắc ở các vị trí dao động từ 6,7 – 6,99 Tất cả đều nằm trong GHCP theo QCVN08:2008/BTNMT của cột B1 là 5,5 – 9
Chất rắn lơ lửng ở các điểm quan trắc trong đợt 5 (12/2010) có nồng độ chênh lệch rất lớn, dao động từ 15,2 – 60,6 (mg/l) Trong đợt 6 (03/2011) chênh lệch không đáng kể 18,4 – 29,4 (mg/l) Nồng độ trung bình của SS trong 2 đợt quan trắc có sự thay đổi từ 36,15 (mg/l) xuống còn 24,05 (mg/l) Hầu hết đều nằm trong GHCP theo QCVN08:2008/BTNMT của cột B1 là (50 mg/l) Chỉ có vị trí SW1-4 của đợt 5 có giá
trị 60,6 mg/l, vượt quá GHCP
Nhìn chung, sự thay đổi nồng độ chất rắn lơ lửng cũng có thể nhận biết bằng cảm quan qua sự biến động của độ đục Ta thấy nồng độ chất rắn lơ lửng tại các điểm quan trắc tăng có thể là do thời gian lấy mẫu; như trong đợt 5: buổi sáng ở thượng lưu
và hạ lưu SW1-1= 15,2 (mg/l), SW1-3= 21,2 (mg/l) và buổi chiều ở tại hai vị trí đó thì SW1-2= 47,6 (mg/l), SW1-4= 60,6 (mg/l) Nguyên nhân nồng độ chất rắn lơ lửng tăng vào hai thời điểm khác nhau là do tác động của dòng chảy ở đầu nguồn lẫn thượng nguồn đã gây hiện tượng xói mòn, kéo theo đất, cát và làm tăng nồng độ chất rắn lơ lửng của nước
Hình 15: Biểu đồ nhóm chất dinh dưỡng trong nước mặt của gói thầu 1a
Hàm lượng vi sinh (Coliform): thông số quan trắc đợt 6 cao hơn quan trắc đợt 5 cho ta thấy được hàm lượng vi sinh tăng nhưng không đáng kể
Trang 24 Còn lại nhóm kim loại nặng và dầu mỡ có các thông số rất nhỏ, hầu như là không phát hiện trong GHCP theo QCVN 08:2008/BTNMT
3.1.3 Chất lượng nước ngầm: đoạn xây dựng đường dẫn cao tốc đến cầu Ông Nhiêu
- Vị trí quan trắc: Số nhà 51B ; 52/1 ; 75 đường Bưng Ông Thoàn - Ấp Tân
Điền - phường Phú Hữu - Quận 9
- Tọa độ :
GW1-1 (51B): N 10O47’46,8” ; E 106O47’47,3”
GW1-2 (52/1): N 10O47’47,9” ; E 106O47’56,8”
GW1-3 (75) : N 10O47’50,0” ; E 106O47’53,2”
Hình 16: Lấy mẫu nước ngầm gói thầu 1A
- Kết quả phân tích mẫu nước ngầm (xem chi tiết tại Phụ lục)
Bảng 4: Kết quả quan trắc một số chỉ tiêu chất lượng nước ngầm của gói 1a , đợt
5 (tháng 12/2010) và đợt 6 (tháng 03/2011) ) (Nguồn: Trung tâm khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường giao thông vận tải)
TT Chỉ tiêu Đơn vị
Kết quả các vị trí
QCVN 09:2008/ BTNMT
C
27.9
28.9
29.2
29.6
29.7
2
Trang 2516.0
12.0
19.8
25.7
106.5
125.3
96
1
104.4 250
.6
64.6
37.3
58.5
Kết quả phân tích 3 mẫu nước ngầm của hai đợt tại gói thầu 1a cho thấy:
pH tại 3 vị trí lấy mẫu nước ngầm của 2 đợt đều mang tính aciad và có giá trị đo được từ 4.76 – 5,25 đều không nằm trong GHCP theo QCVN09:2008/BTNMT là 5,5- 8,5
Trang 26Hình 17: Biểu đồ biểu thị giá trị pH về chất lượng nước ngầm của gói thầu 1a
- Vị trí GW1-1 của đợt: bị nhiễm khuẩn Coliform (5.4x102 MPN/100ml) cao hơn GHCP nhiều lần, điều này chứng tỏ nguồn gây ô nhiễm sinh học (phân rác, nước thải sinh hoạt, xác chết sinh vật ) của những hộ dân tại đây Không phải do dự án làm ảnh hưởng đến nguồn nước tại đây Vì mẫu được lấy tại nhà dân cách công trình khoảng 500 m
Hình 18: Biểu đồ thể hiện mật độ Coliform trong mẫu nước ngầm - gói thầu 1a
Trang 27- Có dấu hiệu nguồn nước ngầm bị nhiễm Fecal Coliform tại cả 3 mẫu được phân tích Nếu sử dụng trực tiếp nguồn nước này cho ăn uống và sinh hoạt
sẽ gây bất lợi cho sức khỏe con người
- Các giá trị còn lại nằm trong GHCP theo QCVN09:2008/BTNMT
3.1.4 Chất lượng nước thải: cạnh công trình xây dựng từ đường dẫn cao tốc đến cầu Ông Nhiêu, lấy 3 mẫu ở 3 vị trí khác nhau
Bảng 5: Kết quả quan trắc một số chỉ tiêu chất lượng nước thải của gói 1a , đợt 5 (tháng 12/2010) và đợt 6 (tháng 03/2011) ) (Nguồn: Trung tâm khoa học công nghệ
và bảo vệ môi trường giao thông vận tải)
= 0.01
0.17
KPH, MLOD
= 0.01
0.06
KPH, MLOD
= 0.01
0.07 10
8 TN mg/l 0.77 1.44 0.77 1.61 0.93 1.15 40
9 TP mg/l 0.42 0.06 0.55 0.08 0.32 0.05 6
Trang 28= 0.04
KPH, MLOD
= 0.04
KPH, MLOD
= 0.04
KPH, MLOD
= 0.04
KPH, MLOD
= 0.04
KPH, MLOD
= 0.04
10 1
1 Coliform
MPN/
100ml
2.4 x102
4.9 x102
9.3 x101
3.3 x102
2.4 x104
4.0 x102 5.000
Nhận xét kết quả phân tích:
Giá trị phân tích mẫu nước thải sẽ được so sánh theo cột B của QCVN 40:2011/BTNMT (Giá trị tối đa cho phép trong nước thải công nghiệp khi thải vào các nguồn nước không dùng cho mục đích nước cấp sinh hoạt)
Giá trị pH và nhiệt độ của hai đợt tại các vị trí là tương đối ổn định, không thay đổi nhiều pH: 6,59 - 6,94 và nhiệt đột: 27,9 – 30,1 (0
C)
Nồng độ trung bình của chất rắn hoà tan trong quan trắc đợt 5 gấp 6 lần so với đợt 6, có sự chênh lệch rất lớn từ 47, 6 (mg/l) giảm xuống còn 7,8 (mg/l)
Hình 19: Chất rắn hoà tan trong nước thải của gói thầu 1a
Các nhóm chất dinh dưỡng và nhóm hữu cơ của cả 2 đợt quan trắc ở các vị trí cũng không có sự thay đổi nhiều
Các thông số phân tích đều nằm trong GHCP của QCVN 40:2011/BTNMT
Trang 293.2 Gói 1B: Giai đoạn xây dựng cầu cạn đoạn từ cầu Ông Nhiêu (Quận 2) đến cầu Sông Tắc (Quận 9)
Thời gian quan trắc: 15/12/2010 (đợt 5) và 16/03/2011 (đợt 6)
3.2.1.Các hoạt động chính của gói thầu 1B
Thử tải cho bãi đúc dầm tại sông tắc, gia công và lao lắp dầm super T, thi công cọc, bệ trụ Các hoạt động này thường gây tiếng ồn, rung động
Công tác đất: bơm cát gia tải cho lớp thứ hai và tiến hành đầm nén
Trong quá trình bơm cát sang lấp mặt bằng, nước từ cát sang lấp có thể chảy
tràn ra ngoài Lượng nước này kèm theo bùn hòa lẩn vào nguồn nước sông
3.2.2 Chất lượng nước mặt: tại thượng lưu và hạ lưu của công trình xây dựng cầu Sông Tắc, cách cầu 500m
- Vị trí quan trắc: Cầu sông Tắc
- Mẫu được lấy vào 2 buổi sáng và chiều, mỗi lần 2 mẫu Kết quả phân tích mẫu
nước tại vị trí thượng lưu (SW2-1, SW2-2) và hạ lưu (SW2-3, SW2-4) (xem chi tiết
A2
Cột B1
Trang 301.3 x102
4.8 x101
1.1 x103
9.3 x101
2.3 x102
9.3 x103
2.3 x102 5000 7500
Nhận xét kết quả phân tích:
Áp dụng cột B1 của QCVN08:2008/BTNMT: sử dụng cho mục đích tưới tiêu thuỷ lợi hoặc các mục đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương tự Căn cứ vào kết quả phân tích các thông số chất lượng nước mặt của dự án trong hai đợt quan trắc, có thể thấy được một số nét chính về hiện trạng và diễn biến chất lượng nước tại khu vực dự án như sau:
Nhóm chất hữu cơ: (DO, BOD, COD)
- Nồng độ oxy hoà tan DO trung bình giữa các điểm quan trắc trong mỗi đợt chênh lệch rất ít từ 5,72 – 4,7 (mg/l) Trong đó chỉ có vị trí SW1-2 của đợt 5
= 3,34 mg/l thấp hơn so với GHCP (≥ 4 mg/l), nhưng chỉ số chênh lệch thấp nên không đáng kể so với chỉ số trung bình của cả đợt 5
- Tương tự như vậy với nồng độ BOD, giá trị trung bình quan trắc của đợt
Trang 31Hình 20: Diễn biến giá trị nhóm hữu cơ trong nước mặt
Nhóm chất dinh dưỡng (T-N, T-P, NO3
-, NH4+)
- Nồng độ nitrat NO3- trong hai đợt quan trắc tại các vị trí đều thấp và nằm trong GHCP theo QCVN08:2008/BTNMT Nồng độ của đợt 5 cao hơn đợt 6
khoảng 2,3 lần
- Nồng độ NH4+ ở mức độ thấp so với giới hạn cho phép
- Các thông số của tổng Nitơ và phốtpho mặc dù chưa có tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nước mặt về ô nhiễm nhưng các kết quả phân tích cho thấy là rất thấp để gây ổ nhiễm Sự chênh lệch nồng độ trung bình của hai đợt quan trắc là
không đáng kể
Hình 21: Nhóm chất dinh dưỡng trong nước mặt của gói thầu 1b
Trang 32 Giá trị pH trong 2 đợt quan trắc ở các vị trí dao động từ 6,89 – 7,07 Tất cả đều
nằm trong GHCP theo QCVN08:2008/BTNMT của cột B1 là 5,5 – 9
Chất rắn lơ lửng ở các điểm quan trắc trong đợt 6 (03/2011) có nồng độ chênh lệch rất lớn, dao động từ 13 – 42,4 (mg/l) Trong đợt 5 (12/2010) chênh lệch 17,6 – 31,4 (mg/l) Nồng độ trung bình của SS trong 2 đợt quan trắc có sự thay đổi rất ít từ 27 (mg/l) lên 28,8 (mg/l) Hầu hết đều nằm trong GHCP theo QCVN08:2008/BTNMT
của cột B1 là (50 mg/l)
Nhìn chung, sự thay đổi nồng độ chất rắn lơ lửng cũng có thể nhận biết bằng cảm quan qua sự biến động của độ đục
Hình 22: Chất rắn lơ lửng trong nước mặt của gói thầu 1b
Hàm lượng vi sinh (Coliform): thông số quan trắc đợt 6 cao hơn quan trắc đợt 5 cho ta thấy được hàm lượng vi sinh tăng nhưng không đáng kể Riêng tại vị trí SW1-4
có giá trị 9,3x103 MPN/100ml cao hơn GHCP (7500 MPN/100ml), chứng tỏ ở khu vực đó đang có hiện tượng nhiễm khuẩn Coliform
Còn lại nhóm kim loại nặng và dầu mỡ có các thông số rất nhỏ, hầu như là không phát hiện trong GHCP theo QCVN08:2008/BTNMT
Trang 333.2.3 Chất lượng nước ngầm: Đoạn từ cầu Ông Nhiêu đến cầu Sông Tắc
- Vị trí quan trắc: Khu dân cư thuộc phường Long Phước
Bảng 7: Kết quả quan trắc một số chỉ tiêu chất lượng nước ngầm của gói 1b, đợt
5 (tháng 12/2010) và đợt 6 (tháng 03/201) ) (Nguồn: Trung tâm khoa học công nghệ
và bảo vệ môi trường giao thông vận tải)
TT Chỉ tiêu Đơn
vị
Kết quả các vị trí QCVN
09:2008/ BTNMT
Trang 34Nhận xét kết quả phân tích:
Hàm lượng Cl- tại 3 vị trí lấy mẫu nước ngầm tại gói thầu 1b của cả 2 đợt đều cao hơn GHCP của QCVN09:2008/BTNMT (250 mg/l) Quan trắc đợt 5 cao hơn GHCP từ 2,6 – 3,8 lần, đợt 6 từ 2,7 – 4.0 lần Hàm lượng Cl- trong nước cao có thể là
do tác động của tự nhiên (độ dẫn điện trong nước cao, xâm nhập mặn)
Qua kết quả phân tích mẫu nước ngầm tại gói thầu 1b nhiều đợt, hàm lượng Cl- cao hơn GHCP, như vậy nguyên nhân có thể là do nguồn gốc tự nhiên của nước ngầm tại khu vực
Tại 3 vị trí nước ngầm đều nhiễm Fecal Coliform Riêng mẫu nước ngầm
GW2-1 của đợt 6 có hàm lượng Coliform rất lớn (2.4xGW2-105MPN/100ml)
Tuy nhiên, nguồn nước trên không được các hộ dân sử dụng cho mục đích ăn uống, chủ yếu để tưới cây, cọ rửa xe,…
3.2.4 Chất lượng nước thải: khu vực xây dựng từ cầu Ông Nhiêu đến cầu sông Tắc
Trang 35= 0.01
0.06
KPH, MLOD
= 0.01
0.06
KPH, MLOD
= 0.04
KPH, MLOD
= 0.04
KPH, MLOD
= 0.04
KPH, MLOD
= 0.04
KPH, MLOD
= 0.04
KPH, MLOD
4.8 x103
2.4 x104
4.8 x102
3.3 x102 5.000
Nhận xét kết quả phân tích:
Giá trị phân tích mẫu nước thải sẽ được so sánh theo cột B của QCVN 40:2011 (Giá trị tối đa cho phép trong nước thải công nghiệp khi thải vào các nguồn nước không dùng cho mục đích nước cấp sinh hoạt)
Nồng độ BOD trung bình của đợt 5 và đợt 6 dao động từ 8 – 5,63 (mg/l), nồng
độ của đợt 5 tại 3 vị trí đều cao hơn đợt 6
Hình 23: Nhóm chất hữu cơ trong nước thải của gói thầu 1b