1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chuyên đề thực tập nông nghiệp việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay

13 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề thực tập nông nghiệp việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại Chuyên đề
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 145,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 I Ngành nông nghiệp Việt Nam trong nền kinh tế quốc dân và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay 2 1 Vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân 2 2 Nông nghiệ[.]

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

I Ngành nông nghiệp Việt Nam trong nền kinh tế quốc dân và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay 2

1 Vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân 2

2 Nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay 4

II Chăn nuôi Vịt tại Việt Nam trong nền kinh tế quốc dân và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tê hiện nay 8

1 Thị trường tiềm năng 8

2 Chuyển đổi phương thức chăn nuôi, đáp ứng tiêu chuẩn thị trường 9

KẾT LUẬN 12

Trang 2

MỞ ĐẦU

Nông nghiệp Việt Nam có lịch sử phát triển lâu đời, song xuất phát nhỏ bé, manh mún Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực Trên cơ sở chỉ ra một số hạn chế, tồn tại chủ yếu của nền nông nghiệp Việt Nam, bài báo phân tích những cơ hội và thách thức cần được nhận diện; từ

đó, đề xuất các giải pháp phù hợp cần thực hiện để hướng đến một nền nông nghiệp bền vững

Và vai trò của nền nông nghiệp cũng như ngành chăn nuôi vịt đối với nền kinh tế của nước ta, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay là vô cùng quan trọng và cấp thiết

Trang 3

I Ngành nông nghiệp Việt Nam trong nền kinh tế quốc dân và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

1 Vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.

Vai trò ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân vô cùng quan trọng Ngành nông nghiệp là một trong những ngành quan trọng và phức tạp Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần và còn là hệ thống sinh học – kỹ thuật Bởi vì cơ sở để phát triển nông nghiệp là sử dụng tiền năng sinh học – cây trồng, vật nuôi

Ngành nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi, ngành dịch vụ Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng thì còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản

a Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển Ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông Tuy nhiên ở những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống cho con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm Lương thực thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước

Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại Điều đó do tác động của các nhân tố: sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con người

Thực tiễn lịch sử các nước trên thế giới đã chứng minh, chỉ có thể phát triển kinh

tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã có an ninh lương thực Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển, từ đó sẽ làm cho các nhà kinh doanh không yên tâm

bỏ vốn vào đầu tư dài hạn

b Cung cấp yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và khu vực đô thị

Nông nghiệp của các nước đang phát triển là khu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị

Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường…

Trang 4

Khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, bởi vì đây là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản… trong

đó thuế có vị trí rất quan trọng

c Làm thị trường tiêu thụ của công nghiệp và dịch vụ

Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp

Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm của nông nghiệp và có thể cạnh tranh với thị trường thế giới

d Nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu

Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn Các loại nông, lâm thủy sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hóa công nghiệp Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm, thủy sản

Tuy nhiên xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản thường bất lợi do giá cả trên thị trường thế giới có xu hướng giảm xuống, trong lúc đó giá cả sản phẩm công nghiệp tăng lên,

tỷ giá kéo khoảng cách giữa hàng nông nghiệp và hàng công nghệ ngày càng mở rộng làm cho nông nghiệp, nông thôn bị thua thiệt so với công nghiệp và đô thị

Gần đây một số nước đa dạng hoá sản xuất và xuất khẩu nhiều loại nông lâm thuỷ sản, nhằm đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước

e Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường

Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môi trường tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, thủy văn Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất như phân bón hoá học, thuốc trừ sâu bệnh … làm ô nhiễm đất và nguồn nước Quá trình canh tác, sản xuất nông nghiệp dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng Vì thế cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì

và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường

Trang 5

2 Nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay.

a Cơ hội và khó khăn của nông nghiệp Việt Nam.

 Về cơ hội

- Thứ nhất, các cam kết trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định

Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA)… cùng với những cơ chế

đã và đang tiếp tục được ký kết sẽ giúp đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu ngành Nông nghiệp Tuy nhiên, ngành Nông nghiệp hiện nay còn rất nhiều tồn tại cần khắc phục như: Quy mô sản xuất của hộ nông dân nhỏ; kết cấu hạ tầng yếu kém, trình độ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật thấp; chuỗi liên kết, chuỗi cung ứng nông nghiệp chưa hình thành; chất lượng nguồn nhân lực thấp và dưới áp lực do hội nhập tạo ra tất cả những vấn

đề trên bắt buộc quá trình tái cơ cấu ngành Nông nghiệp sẽ phải diễn ra nhanh và quyết liệt hơn

- Thứ hai, vị thế của ngành Nông nghiệp gia tăng thông qua cơ hội tham gia vào

chuỗi cung ứng nông sản thế giới Các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam sang các đối tác trong AEC, TPP, EVFTA, các cơ chế khác, rộng hơn là WTO nên tác động của những cơ chế liên kết này lên kim ngạch xuất khẩu sẽ là không nhiều Tuy nhiên, với việc mở rộng thị trường nội địa gấp nhiều lần, nông sản Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận với nhiều phân khúc thị trường hơn, sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc của nhiều mặt hàng nông sản vì vậy cũng sẽ giảm thiểu Quan trọng hơn, thông qua các thị trường trung gian, nông sản Việt Nam sẽ có cơ hội mở rộng thị trường, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng nông sản toàn cầu

- Thứ ba, thu hút đầu tư vào ngành Nông nghiệp Trong bối cảnh nhà đầu tư thời

ơ với ngành Nông nghiệp, những cơ hội mới từ hội nhập, nông nghiệp sẽ đón những dòng đầu tư mới, nhất là đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ ngành Nông nghiệp - những lĩnh vực hiện nay còn bỏ ngỏ do thiếu nguồn lực Các tác động lan tỏa từ gia tăng đầu tư vào nông nghiệp sẽ thực sự quan trọng đối với nền kinh

tế Việt Nam, khi gánh nặng của ngành Nông nghiệp nội địa được san sẻ

- Thứ tư, thúc đẩy cải cách thể chế, môi trường kinh doanh trong nước Đây là tác

động mà các doanh nghiệp, người sản xuất thực sự mong đợi trên cơ sở hệ thống chính sách sẽ được điều chỉnh phù hợp với thông lệ quốc tế Những đổi mới này một mặt tạo

ra môi trường kinh doanh bình đẳng, mặt khác đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải tự đổi mới nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho phù hợp với bối cảnh

 Những khó khăn

Bên cạnh những kết quả đạt được, phát triển nông nghiệp ở Việt Nam cũng đối diện với không ít thách thức trong bối cảnh hội nhập, cụ thể:

Trang 6

- Một là, gia tăng áp lực cạnh tranh trên thị trường nội địa Năng lực sản xuất của

ngành Nông nghiệp Việt Nam là vô cùng lớn nhưng giá thành của nhiều sản phẩm còn cao, do công nghiệp hỗ trợ ngành Nông nghiệp yếu, năng suất lao động thấp, trong khi thị trường nông sản nội địa đang có sự cạnh tranh quyết liệt ở tất cả các phân khúc Các sản phẩm nông nghiệp sẽ gặp khó khăn thực sự nếu năng lực cạnh tranh không được cải thiện

- Hai là, tăng trưởng nông nghiệp của Việt Nam thời gian qua chủ yếu dựa trên

thâm dụng tài nguyên thiên nhiên Điều này gây tác động xấu đến môi trường, làm tăng mức độ ô nhiễm và suy yếu nguồn tài nguyên thiên nhiên (rừng đước ven biển, tài nguyên nước ngầm ở Tây Nguyên, nguồn lợi hải sản ven bờ, đa dạng sinh học ) Môi trường ở nông thôn cũng chưa được quản lý tốt Ô nhiễm nước thải, khí thải ở các khu công nghiệp, làng nghề đang trực tiếp làm suy thoái môi trường, gây nguy hiểm cho sinh kế bền vững của người dân và làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản Khi lợi thế thiên nhiên mất dần, sản lượng và chất lượng nông sản của Việt Nam sẽ giảm, năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế theo đó cũng suy yếu

- Ba là, biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra, ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp

nước ta Nếu mực nước biển dâng cao thêm 1m mà Việt Nam không có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu, thì khoảng 40% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích Đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích của các tỉnh khác thuộc vùng ven biển sẽ

bị ngập Lũ lụt sẽ khiến gần 50% diện tích đất nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập lụt không còn khả năng canh tác (Phạm Tất Thắng, 2017) Mặt khác, số lượng các cơn bão, sự tàn phá của từng trận bão, thời tiết lạnh và nóng đã xuất hiện một cách bất thường Dự báo, các tỉnh Tây Nguyên và miền Trung sẽ bị hạn nhiều hơn; số đợt không khí lạnh, rét đậm, rét hại sẽ xuất hiện nhiều hơn ở các tỉnh phía Bắc

và Bắc Trung Bộ

- Bốn là, khoa học công nghệ trong nông nghiệp vừa thiếu, vừa lạc hậu Mức độ

đầu tư toàn xã hội cho nông nghiệp thấp, mặc dù một số doanh nghiệp lớn đã bắt đầu chuyển sang đầu tư vào nông nghiệp nhưng nhìn chung vẫn còn rất ít, chỉ khoảng vài phần trăm; đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp không đáng kể Việc xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao chậm chuyển biến, chưa tạo đột phá để nâng cao giá trị gia tăng và tạo cơ sở vững chắc cho chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng hiệu quả bền vững Thiết bị và công nghệ chế biến sau thu hoạch còn lạc hậu, kết cấu

hạ tầng phục vụ bảo quản chế biến còn chưa phát triển, quy mô nhỏ, tỷ lệ hao hụt, thất thoát cao Phần lớn vật tư, thiết bị nông nghiệp dựa vào nguồn nhập khẩu từ nước ngoài Trong đó, hơn 90% số máy kéo bốn bánh và máy công tác kèm theo, máy gặt đập liên hợp phải nhập khẩu

Trang 7

- Năm là, đội ngũ khoa học nông nghiệp tuy đông nhưng không mạnh Cán bộ có

đủ năng lực chủ trì đề tài nghiên cứu đưa lại kết quả cao chiếm tỷ lệ thấp, còn thiếu cán bộ đầu ngành giỏi; nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ như: Công nghệ sinh học thiếu nhân lực trình độ cao nên chậm được triển khai; điều kiện vật chất kỹ thuật của các cơ sở nghiên cứu, đào tạo còn lạc hậu, không đồng bộ, dẫn đến tình trạng đào tạo nhân lực cho khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông thôn chưa gắn lý thuyết với thực hành, thiếu các nghiên cứu chuyên sâu trên một đơn vị sản phẩm

b Giải pháp thúc đẩy phát triển nông nghiệp Việt Nam.

Để phát triển bền vững nền nông nghiệp trong bối cảnh hội nhập, cần thiết có những giải pháp đồng bộ từ Chính phủ và cơ quan hữu quan, trong đó cần chú trọng một số mục tiêu sau:

 Thứ nhất, đổi mới mô hình tăng trưởng, tiếp tục thực hiện tái cơ cấu nông

nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới Việc tái cơ cấu nền nông nghiệp cần tập trung mạnh vào tái cơ cấu đầu

tư công và dịch vụ công trong nông nghiệp, tạo ra môi trường thuận lợi cho hình thành

có hiệu quả và bền vững chuỗi giá trị nông sản dựa trên lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương; tiếp tục tập trung đầu tư vào kết cấu hạ tầng; nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sản xuất và chế biến nông sản, tập trung phát triển sản phẩm có lợi thế so sánh, có khả năng cạnh tranh và thị trường tiêu thụ; đa dạng hóa thị trường, cả trong nước lẫn xuất khẩu; đầu tư phát triển nhân lực trong nông nghiệp

 Thứ hai, thực hiện quy hoạch nông nghiệp theo hướng dựa vào thị trường mở,

không nên cố định diện tích lúa, nên bảo tồn diện tích đất nông nghiệp Cần thực hiện quy hoạch phát triển nông nghiệp cả trong mục tiêu trung hạn và dài hạn (50 hay 100 năm), để có chiến lược bảo tồn và sử dụng đất nông nghiệp trước khi thực hiện các quy hoạch phát triển công nghiệp và đô thị Đối với loại đất nông nghiệp, cần tạo điều kiện cho người sử dụng đất quyết định phương thức sử dụng từng loại đất phù hợp theo tín hiệu thị trường hơn là cố định phương thức sử dụng cho từng loại đất Nông dân có thể chuyển sang trồng hoa, cây cảnh, rau màu, các nông sản khác có giá trị hơn theo tín hiệu thị trường

 Thứ ba, cơ chế, chính sách đổi mới toàn diện hệ thống quản lý, dịch vụ công

cho nông nghiệp Hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước trong nông nghiệp từ Trung ương đến địa phương trên cơ sở phân công, phân cấp phù hợp và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm người đứng đầu Đảm bảo minh bạch hóa, kiểm soát chặt chẽ chất lượng và giá cả các vật tư nông nghiệp đầu vào, quản trị dịch hại và vệ sinh

an toàn thực phẩm Các cơ quan dịch vụ công cho nông nghiệp chỉ nên cung ứng dịch

Trang 8

vụ công ở những nơi và các phạm vi, lĩnh vực mà thị trường không đáp ứng được, những lĩnh vực mang tính chất chủ đạo Các phạm vi còn lại nên để tư nhân và tổ chức nghề nghiệp cung ứng Ngân sách dịch vụ công, cần thiết và có thể đấu thầu tự do, công khai

 Tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và tổ chức lại sản xuất nông nghiệp bằng các hình thức hợp tác, tổ chức liên kết, hình thành các hiệp hội, phát triển

tổ hợp tác, hợp tác xã, có sự tham gia sâu rộng của các doanh nghiệp Đây sẽ là động lực mới để nông nghiệp nước ta nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững trong giai đoạn tới

 Thứ tư, để chủ động ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, cần tập trung nâng

cao năng lực quản lý và ứng phó rủi ro liên quan đến thời tiết và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu cũng như các rủi ro về thị trường; Cải thiện hệ thống dự báo, cảnh báo sớm và gắn kết hệ thống này với dịch vụ tư vấn nông nghiệp; Thay đổi phương pháp canh tác và lựa chọn giống phù hợp với các vùng đất có những biến đổi khác nhau về khí hậu; Xây dựng năng lực nghiên cứu và phát triển để có thể giải quyết được những thách thức mới nảy sinh của quá trình biến đổi khí hậu và nước biển dâng; Thúc đẩy thị trường bảo hiểm nông nghiệp, tăng cường khả năng ứng phó của nông dân đối với rủi ro, bảo đảm nông nghiệp ít có sự tác động xấu của biến đổi khí hậu; Các địa phương, nhất là các tỉnh ở vùng thấp cần có kế hoạch ứng phó kịp thời, bố trí sản xuất nông nghiệp phù hợp

 Thứ năm, thực hiện các biện pháp như tăng cường đầu tư công vào các công

trình phòng, chống thiên tai, giảm tác động bất lợi về môi trường, tăng cường quản lý nước thải nông nghiệp, tăng cường áp dụng các biện pháp giảm khí thải nhà kính; Quán triệt tư duy nền kinh tế xanh trong phát triển nông nghiệp

Trang 9

II Chăn nuôi Vịt tại Việt Nam trong nền kinh tế quốc dân và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tê hiện nay.

Đứng vị trí thứ 2 trong cơ cấu chăn nuôi gia cầm, có những đặc tính phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn như hiện nay, ngành chăn nuôi vịt được xác định là một trong những vật nuôi không thể thiếu trong chương trình tái cơ cấu ngành…Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, chăn nuôi vịt vẫn đang dừng lại ở quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu phục vụ tiêu thụ nội địa, hầu hết tiềm năng của loại vật nuôi này chưa được phát huy đúng mức

1 Thị trường tiềm năng

Thời gian gần đây, chăn nuôi vịt trên thế giới có nhiều biến động do tác động trực tiếp của dịch cúm gia cầm Theo nghiên cứu của Trung tâm Chính sách và Chiến lược Nông nghiệp nông thôn miền Nam, Trung Quốc hiện là nước có số lượng đầu vịt chăn nuôi nhiều nhất thế giới với hơn 800 triệu con, chiếm gần 70% tổng đàn vịt thế giới Việt Nam cũng rất “đáng gờm” khi đứng ở vị trí thứ hai, tuy chỉ chiếm trên dưới 7% tỷ trọng đàn gia cầm với khoảng 72 - 75 triệu con vào năm 2016, trong đó ước tính 35% nuôi hướng trứng, 65% nuôi hướng thịt

Sản phẩm vịt của Việt Nam sản xuất ra chủ yếu để tiêu thụ nội địa, tỷ trọng xuất khẩu chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chỉ khoảng 10% trong tổng sản lượng đàn gia cầm Điều đáng chú ý là đang có xu hướng tăng bất chấp ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm Bên cạnh đó, trứng vịt cũng là mặt hàng xuất khẩu đầy tiềm năng, như mặt hàng trứng vịt muối đã xuất hơn 30 triệu trứng mỗi năm, đem về hàng triệu USD/năm, tạo đầu ra ổn định, giúp người nuôi có lãi

Thương mại quốc tế về thịt vịt có xu hướng phân khúc theo châu lục do khác biệt

về giống, khẩu vị và cách quản lý tiêu chuẩn chất lượng Châu Á là nơi nhập khẩu thịt vịt nhiều nhất thế giới, chiếm hơn 50% sản lượng nhập khẩu thịt vịt của thế giới; trong

đó Hồng Kông là nơi nhập khẩu nhiều thịt vịt nhất, chiếm khoảng 70% sản lượng nhập khẩu, kế đến là Nhật Bản với 7,1% sản lượng nhập khẩu của khu vực Như đã nêu, Trung Quốc là nước sản xuất thịt vịt lớn nhất, cũng là nước xuất khẩu thịt vịt lớn nhất thế giới với thị trường chính là các quốc gia trong khu vực châu Á (Hồng Kông, Ma Cao), các nước châu Âu như: Hungary, Đức, Hà Lan, Pháp Tuy có nhiều yếu tố về lâu dài sẽ cản trở sự phát triển của ngành này, như thiếu nguồn ngũ cốc, cần diện tích mặt nước lớn khi phải đảm bảo cung cấp lượng nước đáng kể cho sản xuất vịt có chất lượng cao, chưa kể Trung Quốc là cái nôi của hầu hết các chủng mới của bệnh cúm gia cầm, khả năng bùng phát thành đại dịch cao, nhưng có thể thấy, thị trường thịt vịt và trứng vịt có tiềm năng rất lớn, đặc biệt từ các thị trường Châu Á truyền thống như Hồng Kông (Trung Quốc), Nhật Bản và kể cả Trung Quốc Là quốc gia có lợi thế tự

Trang 10

nhiên, giống, nguồn thức ăn cám gạo và bột cá có sẵn, cả về vệ sinh phòng dịch, cách

ly sản xuất, Việt Nam cũng được đánh giá là có nhiều lợi thế về sản xuất và xuất khẩu vịt không kém nước láng giềng Trung Quốc Vấn đề là bằng cách nào và khi nào?

2 Chuyển đổi phương thức chăn nuôi, đáp ứng tiêu chuẩn thị trường

Do lợi thế về tự nhiên, tập quán chăn nuôi, nên chăn nuôi vịt ở nước ta phát triển chủ yếu tại hai vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng Đây là hai vùng có nhiều kênh rạch, sông ngòi, ao hồ, đồng trũng phù hợp với đặc tính sinh học của thủy cầm Tổng đàn thủy cầm của hai vùng này chiếm hơn 60% tổng đàn thủy cầm của cả nước

Theo ông Mai Thế Hào (Phó phòng Văn phòng đại diện Cục Chăn nuôi tại Tp.HCM), trước đây chăn nuôi vịt chủ yếu theo phương thức chăn thả tự nhiên Điều này tạo nên lợi thế về chi phí, giúp chăn nuôi vịt đạt tăng trưởng đều đặn và mức lợi nhuận ổn định, bất chấp những khó khăn về giá thức ăn gia cầm tăng cao trong thời gian gần đây Phương thức này một mặt giúp người chăn nuôi tiết kiệm chi phí thức ăn

và làm giảm các loài côn trùng gây hại trên ruộng lúa Mặt khác, việc chăn thả vịt cũng tận dụng được nguồn thức ăn (lúa) rơi vãi trên đồng ruộng sau thu hoạch Đây cũng là giải pháp nhằm chuyển đổi tỷ lệ hao hụt, thất thoát trong trồng lúa thành nguồn thức

ăn trong chăn nuôi vịt Bên cạnh đó, chăn thả tự nhiên cũng giúp tạo nên chất lượng trứng vịt vì lòng đỏ có màu tự nhiên, dẻo, thơm ngon đậm đà Sản phẩm trứng vịt muối của Việt Nam luôn đứng đầu trong sản phẩm cùng loại của một số nước lân cận, đang nổi lên là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu có nhiều ưu thế cạnh tranh mặc dù mặt hàng này mới chỉ chiếm một phân khúc rất nhỏ, khoảng 30% giá trị con vịt Hạn chế chính của phương thức chăn thả là khó quản lý dịch bệnh và đảm bảo

an ninh sinh học, năng suất thấp Chăn nuôi vịt chăn thả là một trong những nguyên nhân chính khiến phát sinh và lây lan cúm gia cầm tại Việt Nam Dịch bệnh diễn ra liên tục (tuy ở mức độ nhỏ lẻ), đã làm cho các phía đối tác dựng thêm các “hàng rào kỹ thuật” khiến việc xuất khẩu bị giảm sút, thậm chí không thể tham gia vào các thị trường cao cấp

Còn ông Bùi Văn Nhạc, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Grimaud Việt Nam -đơn vị cung cấp vịt giống hướng thịt hàng đầu tại Việt Nam thì cho rằng, hiện nay sản phẩm thịt vịt của Việt Nam chưa xuất khẩu được vì chưa đáp ứng được các điều kiện

kỹ thuật như:

Đầu vào của nguồn nguyên liệu chưa ổn định và chưa đáp ứng được tiêu chuẩn

để xuất khẩu, cụ thể là chưa truy xuất được nguồn gốc để kiểm soát được dư lượng kháng sinh trước khi giết mổ, mức độ đồng đều và quy mô chưa đáp ứng do chăn nuôi nhỏ lẻ

Ngày đăng: 02/04/2023, 10:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w