1 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 5 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG 8 1 1 Những vấn đề lý luận về tiền lương 8 1 1 1 Quá trình hình thành và phát triển của tiền lương ở Việt Nam 8 1 1 2 K[.]
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG 8
1.1 Những vấn đề lý luận về tiền lương 8
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của tiền lương ở Việt Nam 8
1.1.2 Khái niệm tiền lương 10
1.1.3 Bản chất của tiền lương 12
1.1.4 Chức năng của tiền lương 14
1.1.4 Các nguyên tắc cơ bản của tiền lương 15
1.1.5 Các hình thức trả lương 16
1.2 Quy định của pháp luật về tiền lương theo Bộ luật lao động 2012 17
1.2.1 Tiền lương tối thiểu 18
1.2.2 Hệ thống thang lương, bảng lương của người lao động trong doanh nghiệp 20
1.2.3 Chế độ phụ cấp 23
1.2.4 Chế độ thưởng 24
1.2.5 Một số quy định của pháp luật về trả lương khác 25
Tiểu kết chương 1 30
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TIỀN LƯƠNG TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN TẦN HOÀNG 31
2.1 Tổng quan về Công ty TNHH Tần Hoàng 31
2.1.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty 32
2.1.2 Tình hình kinh doanh của công ty TNHH Tần Hoàng 35
2.2 Tình hình thực hiện pháp luật về tiền lương tại Công ty TNHH Tần Hoàng 39
2.2.1 Chính sách tiền lương của công ty 39
2.2.2 Qũy lương 40
2.2.3 Bảng lương chức vụ quản lý Doanh nghiệp 41
Trang 22.2.4 Bảng lương chức vụ quản lý phòng, ban, xí nghiệp 42
2.2.5 Thang lương, bảng lương nhân viên chuyên môn, nghiệp vụ 43
2.2.6 Thang lương, bảng lương của công nhân, nhân viên trực tiếp sản xuất kinh doanh 44
2.2.7 Bảng lương của lao động khác (không nặng nhọc, độc hại) 46
2.2.8 Bảng phụ cấp lương chức vụ (Trưởng phòng, phó trưởng phòng công ty và các chức vụ tương đương) 47
2.2.9 Chế độ tiền lương 48
2.2.10 Công tác trả lương của công ty 48
2.2.11 Công tác trả lương tiền thưởng, phụ cấp 51
2.2.12 Quyết định nâng bậc lương 53
2.3 Đánh gía công tác tiền lương của Công ty TNHH Tần Hoàng 53
CHƯƠNG 3 KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN TẦN HOÀNG 56
3.1 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả các công tác trả lương cho người lao động tại Công ty TNHH Tần Hoàng 56
3.1.1 Tăng cường công tác quản lý chất lượng 56
3.1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý tiền lương 56
3.1.3 Hoàn thiện công tác định mức lao động 56
3.1.4 Hoàn thiện công tác nhân sự 57
3.1.5 Hoàn thiện công tác phục vụ nơi làm việc 57
3.1.6 Hoàn thiện công tác đánh giá thực hiện công việc 58
3.2 Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác tiền lương tại công ty .58
3.2.1 Đối với công ty 58
3.2.2 Đối với người lao động 59
3.2.3 Đối với Nhà nước 59
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thịthường, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, tiền lương là một trongnhững chính sách kinh tế - xã hội vĩ mô quan trọng của Nhà nước nhằm phânphối, điều chỉnh thu nhập, phân bố và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nhất làcác nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Trong đó chính sách tiềnlương trong khu vực sản xuất kinh doanh là một trong những nội dung cơ bảncủa chính sách kinh tế - xã hội
Đối với doanh nghiệp xu hướng tối đa hóa lợi nhuận và áp lực cạnh tranh làrất lớn Bởi vậy tiền lương là giá cả sức lao động, phải có tính cạnh tranh vì tiềnlương là đầu vào của chi phí sản xuất, được hạch toán trong giá thành sản xuất.Tiền lương trả cho người lao động làm công ăn lương phải phụ thuộc vào kếtquả đầu ra Cụ thể là; tiền lương đối với người lao động là nguồn thu nhập chủyếu, là nguồn sống, là điều kiện để người lao động tái sản xuất sức lao động mà
họ đã hao phí Thực tế đã chứng minh rằng ở doanh nghiệp nào có chính sáchtiền lương đúng đắn, tiền lương mà người lao động nhận được xứng đáng vớicông sức mà họ đã bỏ ra thì người lao động trong doanh nghiệp đó sẽ hăng háilàm việc, tích cực cải tiến kỹ thuật, sáng tạo đem lại hiệu quả sản xuất kinhdoanh cao Ngược lại nếu doanh nghiệp không có chính sách tiền lương tốt,người lao động được trả lương không xứng đáng với công sức mà họ bỏ ra hoặckhông công bằng trong việc trả lương thì không kích thích được người lao độngthậm chí họ bỏ việc
Với tính ưu việt và tầm quan trọng của tiền lương, để thực hiện nguyên tắc
cơ bản nhất của luật lao động là: “Bảo vệ người lao động” Nhà nước ta đã ban
Trang 4hành nhiều văn bản pháp luật về tiền lương như: Hiến pháp, Bộ luật lao động,Nghị định, Thông tư , và còn quy định nhiều điều khoản khác về tiền lươngnhằm đảm bảo tạo cơ sở pháp lý quan trọng để điều chỉnh về chế độ tiền lương Thực tế, chế độ tiền lương đã được áp dụng tương đối đồng bộ và đạt đượcnhững kết quả bước đầu khả quan Tiền lương đã thực sự là một chính sách kinh
tế - xã hội
+ Là công cụ pháp lý bảo vệ người lao động
+ Là công cụ để bảo vệ quyền lợi công bằng cho người lao động tham giavào quan hệ lao động
+ Là công cụ để nhà nước thực hiện điều tiết thu nhập dân cư và bảo đảmcông bằng xã hội
+ Tiền lương cũng là cơ sở để các bên thỏa thuân khi giao kết hợp đồngđồng thời cũng là cơ sở để giải quyết tranh chấp lao động giữa các bên
Ngoài ra tiền lương là công cụ đòn bẩy tích cực trong việc đóng góp vàothu lợi nhuận của doanh nghiệp và là một nguồn thu, góp phần vào GDP của nhànước là công cụ kích thích và tích lũy
Tuy nhiên, hệ thống tiền lương nói chung và hệ thống tiền lương trong cácdoanh nghiệp nói riêng vẫn còn một số hạn chế nhất định, việc áp dụng trên thực
tế còn gặp nhiều khó khăn, vẫn còn khoảng cách giữa văn bản pháp luật và thực
tế áp dụng Quá trình thực hiện chính sách tiền lương còn một số vi phạm Chính
vì vậy, tôi chọn đề tài “Pháp luật về tiền lương và thực tiễn thực hiện tại Công
ty TNHH Tần Hoàng” nhằm tìm hiểu các quy định của pháp luật về tiền lương
trong các doanh nghiệp, đánh giá thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH TầnHoàng và đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về tiền lương
và nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tế
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề chủ yếu sau:
- Các vấn đề lý luận chung nhất về tiền lương như: Khái niệm tiền lương,bản chất tiền lương, chức năng tiền lương và những quy định khác về tiền lươngtrong doanh nghiệp
- Thực tiễn áp dụng tiền lương tại Công ty TNHH Tần Hoàng nhằm đánh giáthực trạng, tìm hiểu những hạn chế khó khăn trong quá trình áp dụng
Trang 5- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về tiền lương.
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi các văn bản pháp luật lao động như: Bộluật lao động, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thực hiện Nội dung báo cáogiới hạn trong những vấn đề lý luận về tiền lương và các quy đinh của pháp luật
về lĩnh vực này, là quá trình áp dụng tiền lương của Công ty TNHH Tần Hoàng.Hiện nay, bộ luật lao động 2019 đã được thông qua, tuy nhiên do bộ luật nàychưa có hiệu lực pháp luật nên chuyên đề sẽ tập trung nghiên cứu trong các quyđịnh và thực tiễn thực hiện theo các quy định trong bộ luật lao động 2012
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần tài liệu tham khảo, báo cáo còn
có hai chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tiền lương.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật tiền lương tại Công ty TNHH Tần
Hoàng
Chương 3: Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực
thi pháp luật về tiền lương tại Công ty TNHH Tần Hoàng
Trang 6CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG 1.1 Những vấn đề lý luận về tiền lương
1.1.1 Khái niệm tiền lương
Tiền lương không chỉ là một phạm trù kinh tế mà còn là yếu tố hàng đầucủa các chính sách xã hội liên quan đến trực tiếp cuộc sống của người lao động.Thuật ngữ tiền lương đã được nhiều tạp chí đề cập đến
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về tiền lương:
- Theo Tổ chức lao động quốc tế ILO đã có quan điểm về tiền lương “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền mặt và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người lao động
và người sử dụng lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động viết hay bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm (Điều 1- Công ước số 45 năm 1949).
Bên cạnh đó tiền lương còn được tiếp cận dưới phương diện về kinh tế, xãhội và phương diện về pháp lý
- Dưới góc độ kinh tế: Với sự thừa nhận sức lao động là hàng hóa, có thểhiểu tiền lương là sự biểu hiện bằng tiền giá trị sức lao động, là giá cả sức lao độngđược hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động trả chongười lao động Như vậy, tiền lương về thực chất là tiền trả cho việc thuê mướn sứclao động, là một trong các yếu tố đầu vào của sản xuất, cấu thành nên chi phí sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Tiền lương vừa là chi phí trong sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp vừa là lợi ích kinh tế, thu nhập của người lao động
- Dưới góc độ xã hội: Tiền lương là mục đích là động cơ chủ yếu để ngườilao động tham gia quan hệ lao động, bên cạnh đó tiền lương là một vấn đề nhạycảm của quan hệ lao động và sự thống nhất, ổn định bền vững của quan hệ laođộng, đảm bảo được cuộc sống ổn định, ấm no của người lao động
- Dưới góc độ pháp lý: Tiền lương là số tiền tệ mà người sử dụng lao độngtrả cho người lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụđược pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận theo hợp đồng lao động trên
Trang 7cơ sở năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc Theo Điều 90 Bộ
luật lao động năm 2019 quy định: “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”.
Như vậy, các khái niệm về tiền lương nêu trên đều nêu ra những đặc điểm,
và bản chất của tiền lương trên những góc độ khác nhau, tuy nhiên, trong phạm
vi nghiên cứu của chuyên đề, dưới góc nhìn từ phương diện pháp lý, em xin sửdụng khái niệm theo bộ luật lao động 2019 nêu trên
1.1.2 Đặc điểm của tiền lương
Có thể nói khái niệm tiền lương dưới phương diện pháp lý mang những đặctrưng cơ bản sau:
- Thứ nhất, về chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật về tiền lương.Chủ thể tham gia bao gồm: Người lao động và người sử dụng lao động.Trong đó người sử dụng lao động là người trả lương cho người lao động, cònngười lao động thông qua việc bán sức lao động của mình họ sẽ được nhận giátrị tiền tệ trên cơ sở lao động bỏ ra
- Thứ hai, về điều kiện trả lương
Điều kiện để người sử dụng lao động trả lương cho người lao động khi họhoàn thành công việc theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo pháp luật quy định
- Thứ ba, về căn cứ trả lương cho người lao động
Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận, khi người sử dụnglao động trả lương cho họ cần phải căn cứ vào: Năng suất, chất lượng và hiệuquả công việc được giao, ngoài tiền lương cũng phụ thuộc vào khu vực làm việc
và tính chất công việc mà người lao động thực hiện
Khi trả lương cũng căn cứ vào quy định của pháp luật, đó là tiền lương tốithiểu, các nguyên tắc xây dựng thang lương, bảng lương
- Thư tư, về bản chất của tiền lương
Tiền lương là giá cả của sức lao động, thị trường sức lao động hoạt độngtheo quy luật cung cầu, người lao động và người sử dụng lao động có quyền thỏa
Trang 8thuận về mức tiền lương, khi kinh tế - xã hội thay đổi thì kéo theo tiền lươngcũng thay đổi theo Bên cạnh đó khi người lao động bỏ ra nhiều công sức thì họđược nhận được tiền lương xứng đáng với công sức mà họ bỏ ra.
Như vậy, tiền lương luôn được coi là đối tượng quan tâm hàng đầu củadoanh nghiệp và người lao động Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, tiềnlương là giá cả cho một loại hàng hóa Tuy nhiên sức lao động là một loại hànghóa đặc biệt bởi thuộc tính nảy sinh giá trị và gắn liền với yếu tố con người, do
đó chế độ chính sách về tiền lương do Nhà nước quy định một mặt tôn trọng sựkhách quan của các quy luật cung cầu, giá trị trong thị trường, mặt khác phảixuất phát từ yêu cầu là quan tâm tới toàn diện mục đích, động cơ làm việc, cácnhu cầu lợi ích kinh tế của người lao động và người sử dụng lao động và củatoàn xã hội
1.1.3 Bản chất của tiền lương
Tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức laođộng thông qua sự thoả thuận giữa người có sức lao động và người sử dụngngười lao động Để bù đắp phần hao phí lao động đó họ cần có một lượng nhấtđịnh các vật phẩm tiêu dùng cho nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại… và người sử dụnglao động phải đáp ứng nhu cầu đó đúng mức hao phí mà người lao động đã bỏ rathông qua tiền lương Do đó sức lao động có thể là hàng hoá phụ thuộc vào sựbiến động cung cầu và chất lượng hàng hoá sức lao động trên thị trường tức làchịu sự chi phối của các quy luật giá trị đóng vai trò chủ đạo Tiền lương đảmbảo cho người lao động có thể tái sản xuất lao động để họ có thể tham gia vàoquá trình tái sản xuất tiếp theo Vì vậy, tiền lương bao gồm nhiều yếu tố cấuthành, để thu nhập là nguồn sống chủ yếu của bản thân người lao động và củagia đình họ Việc trả lương cho người lao động không chỉ căn cứ vào hợp đồng
mà căn cứ vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của người lao động mà họnhận được sau một thời gian lao động mà họ bỏ ra
1.1.4 Ý nghĩa của tiền lương
Trong mổi giai đoạn khác nhau thì cách tiếp nhận về bản chất tiền lươngkhác nhau Tuy nhiên có hai cách nhận thức cơ bản nhất về bản chất tiền lương Lao động của con người là một trong những yếu tố quan trọng và giữ vai
Trang 9trò quyết định trong quá trình sản xuất – kinh doanh, được biểu hiện ở khả năng
tư duy sáng tạo Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hầu hết các doanhnghiệp đều thuộc sở hữu Nhà nước và hoạt động sản xuất, kinh doanh để thựchiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước đặt ra Lúc bấy giờ, sức lao độngchưa được coi là hàng hóa, nên người sử dụng lao động không thương lượng,thỏa thuận với người lao động về tiền lương, tiền công mà đơn phương ấn địnhmức lương của người lao động trên cơ sở thang lương, bảng lương của Nhànước Khi đó người lao động chỉ biết chấp nhận các điều kiện lao động do người
sử dụng lao động đơn phương đưa ra để đưa vào làm việc với mức lương đượcquy định sẵn trong thang lương, bảng lương của người sử dụng lao động
Kể từ khi nước ta xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang nềnkinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các nhà hoạch định chínhsách tiền lương đã thay đổi nhận thức về lý luận trong xây dựng chính sách tiềnlương Nhà nước đã công nhận sự tồn tại khách quan của phạm trù hàng hóa sứclao động, tiền lương không chỉ thuộc phạm trù phân phối mà còn là phạm trùtrao đổi, phạm trù giá trị Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương là biểu hiệnbằng tiền giá trị sức lao động, là giá cả sức lao động Cũng như các thị trườngkhác thị trường sức lao động hoạt động theo quy luật cung cầu Do đó, người laođộng có quyền thương lượng, thỏa thuận với người sử dụng lao động về việclàm và điều kiện lao động khác phù hợp với khả năng chuyên môn, năng lực củamình Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận và được ghi tronghợp đồng lao động Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động theonăng suất, chất lượng và hiệu quả công việc Nhà nước chỉ quy định mức lươngtối thiểu và yêu cầu người sử dụng lao động trả lương cho người lao động khôngđược thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định trong từng thời kỳ.Mức lương tối thiểu ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làmcông việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức laođộng giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng và đượcdùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác Trên cơ sởmức lương tối thiểu và mức lương cụ thể đã thỏa thuận với người lao động,người sử dụng lao động có quyền lựa chọn một trong các hình thức sau để trả
Trang 10lương cho người lao động: trả lương theo thời gian (giờ, ngày, tháng, tuần) hoặctheo sản phẩm khoán Nhưng người lao động phải duy trì hình thức trả lương đãchọn trong một thời gian nhất định và phải thông báo cho người lao động.
Tiền lương có vai trò to lớn trong xã hội, luôn gắn liền với người lao động.Chính vì vậy, tiền lương mà các doanh nghiệp trả cho người lao động theo cơchế thị trường phải đáp ứng các điều kiện: tiền lương phải thực sự là thước đocho mỗi hoạt động của mỗi cơ sở kinh tế, từng người lao động và là đòn bẩykinh tế, tiền lương không phù hợp, phản ánh sai lệch sức lao động, nó sẽ cản trởtính năng động, sáng tạo của người lao động và kìm hãm sự phát triển của doanhnghiệp của nền kinh tế
1.1.5 Chức năng của tiền lương
Tiền lương có rất nhiều chức năng như sau:
- Chức năng thước đo giá trị sức lao động.
Cũng như mối quan hệ của hàng hóa khác, sức lao động củng được trả côngcăn cứ vào giá trị mà nó đã được cống hiến và tiền lương chính là biểu hiện bằngtiền của giá trị sức lao động trong cơ chế thị trường
Ngày nay ở nước ta thì tiền lương còn thể hịên một phần sức lao động màmổi cá nhân đã được bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, tiền lương là căn
cứ để thuê mướn lao động, tiền lương là cơ sở để người lao động tạo ra sự linhhoạt trong việc thuê mướn lao động với những công việc khác nhau sẽ có mứclương khác nhau
Chức năng thước đo giá trị phẩn ánh thông qua thang lương, bảng lương,bậc lương và hệ số lương
- Chức năng tái sản xuất sức lao động.
Đây là chức năng cơ bản của tiền lương vì người lao động sau quá trình sửdụng súc lao động thì họ phải được bù đắp sức lao động đã bỏ ra, họ cần có thunhập bằng tiền lương cộng với các khoản thu khác (mà tiền lương là chủ yếu)
Do vậy tiền lương là cơ sở giúp người lao động bù đắp lại sức lao động đã haophí để họ có thể duy trì liên tục quá trình sản xuất kinh doanh
Mặt khác, do yêu cầu của đời sống xã hội nên việc sản xuất không ngừngtăng nhanh về quy mô, về chất lượng Để đáp ứng được yêu cầu đó thì tiền
Trang 11lương phải đủ để họ duy trì và phát triển sản xuất lao động với ý nghĩa cả về sốlượng lẫn chất lượng.
- Chức năng kích thích và thúc đẩy phân công lao động xã hội.
Để thực hiện chức năng đó khi người lao động làm việc có năng suất cao,hiệu quả rõ rệt thì chủ sử dụng lao động cần quan tâm tới tiền lương để kíchthích người lao động Khi tiền lương làm động lực cho người lao động hăng háilàm việc sản xuất thì sẽ làm cho năng suất lao động tăng lên, đây là tiền đề choviệc phân công lao động xã hội một cách đầy đủ hơn Người lao động sẽ đượcphân công làm những công việc thuộc sở trường của họ
- Chức năng tích lũy.
Để thực hiện chức năng này thì tiền lương là phần thu nhập chủ yếu trongtổng số thu nhập của họ Tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo duy trìđược cuộc sống hàng ngày trong thời gian làm việc và còn dự phòng cho cuộcsống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hay gặp rủi ro
Ngoài các chức năng trên thì tiền lương còn góp phần làm cho việc quản lýlao động trong các đơn vị sản xuất kinh doanh trở nên dễ dàng và tiền lương còngóp phần hoàn thiện mối quan hệ xã hội giữa con người với con người trong quátrình lao động
1.1.6 Các nguyên tắc cơ bản của tiền lương
- Thứ nhất, trả lương phải trên cơ sở sự thỏa thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động không được thỏa thuận thấp hơn mức lương ấn định của Nhà nước.
Xuất phát từ sự bình đẳng và sự tự do của hai bên khi ký kết hợp đồng laođộng Nguyên tắc này làm cơ sở cho các bên khi tham gia ký kết hợp đồng laođộng Mặt khác pháp luật quy định mức lương tối thiểu là bắt buộc các bên thỏathuận không được thấp hơn giới hạn này nhằm mục đích tôn trọng cái riêng tưcủa các chủ thể trong quan hệ lao động, đảm bảo tính hợp pháp của pháp luật đểđảm bảo sự linh hoạt trong việc trả lương khi trong điều kiện lao động khácnhau, khu vực lao động khác nhau, tính chất công việc khác nhau thì tiền lương
sẽ khác nhau và tránh được sự lạm dụng sức mua của người sử dụng lao động,đảm bảo quyền lợi cho người lao động trước sức ép của nền kinh tế thị trường,
Trang 12đảm bảo nhu cầu tối yếu cho người lao động.
- Thứ hai, tiền lương phải được trả theo năng suất, chất lương lao động
và hiệu quả công việc.
Đây là nguyên tắc làm cơ sở cho việc hạ giá thành sản phẩm, tăng tích lũy
để tái sản xuất mở rộng, tăng năng suất lao động là điều kiện để phát triển sảnxuất Mặt khác, tiền lương là biểu hiện của giá trị sức lao động và nó chịu sự chiphối bởi năng suất lao động và các quy luật cung cầu về sức lao động trên thịtrường, nên khi tính lương trả cho người lao động, người sử dụng lao động phảitính đến năng suất chất lượng và hiệu quả công việc
- Thứ ba, tiền lương phải được trả trực tiếp, đầy đủ, đúng thời hạn và tại nơi làm việc.
Tiền lương là một phần thu nhập chủ yếu để đảm bảo sinh hoạt và cuộcsống của người lao động cũng như gia đình của họ Nguyên tắc này đặt ra nhằmmục đích bảo vệ quyền và lợi ích tối đa của người lao động việc trả lương vàhạn chế được nhiều nguyên nhân như: Trả lương chậm, khấu trừ tiền lương saiquy định, trả lương không đủ, gây khó khăn phiền hà hà cho người lao động.Trong một số trường hợp pháp luật cho phép chủ sử dụng lao động được trảlương thông qua cai thầu, hoặc trung gian, qua ngân hàng nhằm mục đích quản
lý được nguồn thu nhập của người lao động để người lao động thực hiện nghĩa
vụ của mình đối với Nhà nước và không gây phiền hà, khó khăn, nhanh gọn chocảc các bên trong quan hệ lao động
1.2 Quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về tiền lương
Từ ngày nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Đảng và Nhà nước ta luônquan tâm đến đời sống nhân dân, đặc biệt là công nhân viên chức và người laođộng làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước ta luôn cải cách chính sách tiềnlương cho phù hợp với sự thay đổi của kinh tế - xã hội quá trình hình thành vàphát triển tiền lương ở Việt Nam được thể hiện như sau:
Những ngày đầu thành lập nước, chưa có doanh nghiệp Nhà nước chỉ có một
số doanh nghiệp trưng thu của chế độ cũ để lại Tiền lương giai đoạn này vẫn theotiền lương và phụ cấp của chế độ cũ để lại Đến tháng 7-1946, Sắc lệnh số 133/SL
Trang 13ấn định lương tối thiểu của công chức các ngành (mỗi tháng 150 đồng = 15kg gạocho Hà Nội và 130 đồng = 13 kg gạo cho Hải Phòng và các tỉnh khác có phụ cấp
bổ túc gạo đắt cho bản thân, vợ và đến con thứ tư Đến tháng 2/1947 lương tốithiểu nâng lên 180 đồng và lương tối đa là 600 đồng)
Tháng 5/1948 chế độ công chức mới được ban hành có một thang lương với
5 ngạch công chức, đến tháng 2/1950 lương tối thiểu được nâng lên từ 220 đồngđến 250 đồng
Từ năm 1950 chiến sự còn lan rộng, giá sinh hoạt mỗi nơi mỗi khác, giá trịthực tế của đồng tiền giảm Tháng 5/1950 Sắc lệnh 77/SL quy định công nhângiúp việc của Chính phủ áp dụng thang lương chung 18 bậc Sắc lệnh số 98/SL ấnđịnh lương và phụ cấp hằng tháng theo giá gạo
Tháng 12/1955, Nghị định 650/TTg quy định chế độ tiền lương mới, thựchiện trả lương bằng tiền thêm cung cấp nhà ở, giường, chiếu, điện, nước, quy địnhthang lương 17 bậc có bậc riêng cho cán bộ dân cử, thang lương 11 bậc cho các
bộ nhân viên kỷ thuật nhà nước, thang lương 8 bậc cho cơ quan xí nghiệp nhànước, thang lương 6 bậc cho lao động phổ thông xí nghiệp
Từ những năm 1960 Đảng và Nhà nước tập trung tiến hành cải tạo xã hộichủ nghĩa Ban chấp hành trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 13 đã quyết địnhvấn đề cải cách tiền lương Thang lương công nhân cơ khí 8 bậc làm cơ sở xâydựng thang lương các nghề khác Tháng 7/1960 Chính phủ ra nghị định 25/CP vềchế độ lương khu vực sản xuất gồm 7 thang lương
Sau tháng 4/1975 nước nhà được thống nhất nhưng do hậu quả nặng nề củachiến tranh, phải tổ chức lại nền kinh tế, chính sách tiền lương lúc này còn baocấp và mất ý nghĩa là đòn bẩy kích thích và bù đắp Năm 1985 Trung ương Đảnghọp hội nghị lần thứ 8 khóa 5, Nghị định 235/HĐBT ban hành hệ thống tiềnlương mới Lương tối thiểu ấn định là 220 đồng/tháng, bội số lương hành chính là3,5 Hệ số lương trong các ngành sản xuất so với lương tối thiểu là 1.05 đến 1.6
có 5 thang lương và 15 bảng lương
Từ năm 1986 Nhà nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lýcủa nhà nước, đã phải chuyển mức lương lên 102,275% so với năm 1985, các xínghiệp Nhà nước tự chi trả tiền lương, ngân sách Nhà nước không bao cấp Tháng
Trang 145/1993 Ban bí thư trung ương Đảng ra quyết định số 69/QĐ-TW đề án cải cáchtiền lương, Chính phủ đã ban hành các Nghị định 25/Chính phủ, 26/Chính phủ vềquy định tạm thời chế độ tiền lương mới Mức lương tối thiểu là 120 nghìnđồng /tháng, bội số là 10, trong đó bảng lương thì so với lương tối thiểu, bảnglương công chức từ 1 đến 8.5, bảng lương doanh nghiệp từ 1 đến 7.06.
Trước sự thay đổi của nền kinh tế khu vực và thế giới, để phù hợp với điềukiện đó năm 1994 Bộ luật lao động ra đời đánh dấu một bước ngoặt quan trọng,tạo cơ sở pháp lý cho các bên khi quan hệ lao động, đặc biệt là về tiền lương Bộluật đó đã qua hai lần sửa đổi và bổ sung vào năm 2002 và 2006 để phù hợp với
sự thay đổi của kinh tế - xã hội Bên cạnh đó các cơ quan Nhà nước đã ban hànhnhững Nghị định, Thông tư để điều chỉnh về chế độ tiền lương Và năm 2012,Quốc hội đã ban hành Bộ luật lao động 2012, có hiêu lực từ ngày 01/05/2013.Qua quá trình hình thành và phát triển của pháp luật tiền lương và thực tiển
áp dụng, pháp luật tiền lương ở Việt Nam có những ưu điểm và hạn chế sau
Trang 15lợi cho các chủ thể đặc biệt là việc mở rộng thang lương, bảng lương có ý nghĩathiết thực đối với đời sống của nhân dân.
1.3 Quy định của pháp luật về tiền lương theo Bộ luật lao động 2012
Chế độ tiền lương là tổng hợp những quy định của Nhà nước nhằm xác địnhcác mức lương, hình thức và cách thức trả lương để người lao động và người sửdụng làm căn cứ thỏa thuận và tiến hành trả lương trong quan hệ lao động
Chế độ tiền lương được nhà nước quy định để nhằm mục đích:
-Là cơ sở pháp lí để người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuậnvới nhau khi ký kết hợp đồng lao động
- Là căn cứ để các bên trong quan hệ lao động thực hiện các quy định củapháp luật về kinh tế, tài chính , đồng thời là căn cứ để giải quyết tranh chấp vềtiền lương có thể xảy ra,
- Là công cụ pháp lý để nhà nước thực hiện việc điều tiết thu nhập dân cư,bảo đảm công bằng xã hội, định hướng phân công lao động xã hội
1.3.1 Tiền lương tối thiểu
Tiền lương tối thiểu là mức lương thấp nhất trả cho người lao động làmcông việc đơn giản nhất, ở mức độ nhẹ nhàng nhất và trong môi trường lao độngbình thường Nó đảm bảo cho người lao động có thể mua được những tư liệusinh hoại hiết yếu để tái sản xuất lao động của bản thân và dành một phần đểnuôi con và bảo hiểm lúc hết tuổi lao động
Theo Điều 91 Bộ luật lao động 2012 quy định “Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.”.
Từ khái niệm trên cho thấy, tiền lương tối thiểu có những đặc điểm sau:
- Được xác định với trình độ lao động đơn giản nhất,
- Tương ứng với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất trong điều kiện laođộng bình thường,
- Đảm bảo nhu cầu tiêu dùng ở mức độ cần thiết,
- Tương ướng với tư liệu sinh hoạt chủ yếu của vùng có mức giá trị trung bình
* Căn cứ quy định tiền lương tối thiếu
Trang 16Việc xác định tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định, tuy nhiên khi quyđịnh mức lương tối thiểu phải căn cứ những điểm sau đây:
- Nhu cầu tối thiểu của người lao động và gia đình,
- Mức tiền lương trung bình chung của cả nước,
- Mối tương quan về điều kiện sống giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế, năng xuất lao động
Căn cứ đó luôn luôn có sự thay đổi, vậy khi các căn cứ đó thay đổi thìchúng ta phải điều chỉnh tiền lương tối thiểu cho hợp lý
* Ý nghĩa của tiền lương tối thiểu.
Tiền lương tối thiểu không chỉ áp dụng cho lao động giản đơn mà còn làkhung pháp lý quan trọng, là nền để trả công cho người lao động trong toàn xãhội Chính vì thế các mức lương trong thang, bảng lương không được thấp hơnmức lương tối thiểu
Theo Điều 90 Bộ luật lao động 2012 quy định “Người lao động được trả lương trên cơ sở thỏa thuận với người sử dụng lao động nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định và theo năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc ”
Vậy, tiền lương tối thiểu có ý nghĩa rất quan trọng đối với người lao động,người sử dụng lao động và nhà nước; điều đó được thể hiện
- Thứ nhất, là công cụ của Nhà nước trên phạm vi toàn xã hội và trong
từng cơ sở kinh tế nhằm:
Hạn chế sự bốc lột đối với người lao động làm công ăn lương, bảo vệ sứcmua cho các mức lương khác nhau trước sự gia tăng của lạm phát và các yếu tốkinh tế khác và giảm bớt được sự đói nghèo
- Thứ hai, thiết lập mối quan hệ ràng buộc kinh tế trong lĩnh vực sử dụng
lao động, tăng cường trách nhiệm của các bên trong quản lý và sử dụng lao động
- Thứ ba, đảm bảo có tính pháp lý của Nhà nước đối với người lao động có
tham gia quan hệ lao động trong mọi khu vực kinh tế Là cơ sở để xây dựng hệthống thang lương, bảng lương và để các bên thỏa thuận tiền lương phù hợp vớiđiều kiện, khả năng và lợi ích của các bên trong quan hệ lao động
* Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về tiền lương tối thiểu
Trang 17Hệ thống tiền lương tối thiểu của một quốc gia được xây dựng phụ thuộcvào mối tương quan kinh tế- chính trị - xã hội trong tưng quốc gia Tiền lươngtối thiểu ở Việt Nam bao gồm các loại sau:
- Tiền lương tối thiểu chung:
Là mức lương áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước, là căn cứ để các mứclương tối thiểu khác khi ban hành không được thấp hơn mức lương tối thiểu chung
- Tiền lương tối thiểu vùng:
Là mức lương tối thiểu áp dụng cho từng vùng lãnh thổ nhất định, căn cứtrên mức lương tối thiểu chung và có tính đến các yếu tố đặc thù của vùnglãnh thổ đó
Xuất phát do có sự chênh lệch về giá cả sinh hoạt giữa các địa phương màtiền lương tối thiểu có thể khác nhau
- Lương tối thiểu ngành:
Là mức lương tối thiểu áp dụng cho một ngành nhất định, cũng căn cứ vàotrên mức lương tối thiểu chung và có tính đến yếu tố đặc thù của từng ngànhnghề đó
Từ các quy định về tiền lương tối thiểu đã nêu trên, chúng ta thấy rằngchính sách tiền lương do Chính phủ quy định là sự cụ thể hóa quy định của Bộluật lao động, là cơ sở để người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuậnmức tiền công cao hơn và giải quyết các vấn đề khác cho người lao động, theopháp luật quy định, tạo điều kiện hình thành giá tiền công trên thị trường, từngbước thực hiện tính đúng, tính đủ tiền lương trong giá thành và trong lưu thông,thúc đẩy quá trình đổi mới của doanh nghiệp gắn liền với tiền lương với năngsuất lao động, hiệu qủa sản xuất kinh doanh
1.3.2 Hệ thống thang lương, bảng lương của người lao động trong doanh nghiệp
Trong chính sách tiền lương, thang bảng lương là nội dung quan trọng Đểhiểu được thế nào là thang lương, bảng lương, chúng ta cần phải hiểu
* Thang lương
Là hệ thống các quy định nhằm xác định các mức lương tương ứng vớitừng bậc ngành nghề nhất định trên cơ sở phân biệt trình độ chuyên môn khác
Trang 18nhau giữa các nhóm người lao động.
Cơ cấu của thang lương bao gồm:
- Bậc lương
- Hệ số tiền lương
- Bội số của thang lương
Mỗi bậc trong thnang lương thể hiện mức phức tạp và mức tiêu hao lao độngcủa công việc Trong một thang lương có thể có một hoặc một số nhóm lương thểhiện điều kiện lao động nặng nhẹ, độc hại khác nhau của từng ngành nghề
* Bảng lương
Áp dụng cho những đối tượng làm những công việc có tính chất đặc biệt,đặc thù, kết quả lao động có tính chất trừu tượng
Kết cấu của bảng lương bao gồm:
- Ngạch lương, mỗi ngạch lương ứng với một ngạch công chức, viên chứcphản ánh nội dung công việc và trình độ của công chức, viên chức
- Hệ số mức lương: Là số mức lương khởi điểm của ngạch Mỗi ngạch đều
có đều có hệ số mức lương chuẩn
- Bậc lương thâm niên, thể hiện thâm niên công, viên chức đã làm việctrong ngạch đó xác định hợp lý nhằm động viên, khuyến khích công, viên chứcyên tâm làm việc
* Hệ thống thang lương, bảng lương trong doanh nghiệp
Tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp phụ thuộc vào sự thỏathuận giữa người lao động và người sử dụng lao động Khi xác định mức trảlương cho người lao động trong doanh nghiệp dựa theo các yếu tố sau:
- Mức độ phức tạp của công việc
- Mức độ tiêu hao lao động để hoàn thành một công việc
Theo điều 93 Bộ luật lao động sửa đổi bổ sung năm 2012 quy định:
“1 Trên cơ sở các nguyên tắc xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động do Chính phủ quy định, người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động làm cơ sở để tuyển dụng,
sử dụng lao động, thỏa thuận mức lương ghi trong hợp đồng lao động và trả lương cho người lao động.
Trang 192 Khi xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở
và công bố công khai tại nơi làm việc của người lao động trước khi thực hiện, đồng thời gửi cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện nơi đặt cơ sở sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động.”
Các doanh nghiệp xây dựng thang lương, bảng lương cần tuân thủ cácnguyên tắc sau:
- Thang lương, bảng lương được xây dựng cho lao động quản lý, lao độngchuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ và công nhân trực tiếp sản xuất kinh doanh theocông việc và ngành nghề đuợơc đào tạo
- Bội số của thang lương, bảng lương là hệ số mức lương cao nhất củangười lao động có trình độ quản lý chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ cao nhất vớingười có trình độ thấp nhất
- Số bậc của thang lương, bảng lương phụ thuộc vào độ phức tạp quản lý, cấpbậc công việc đòi hỏi Khoảng cách của bậc lương liền kề phải đảm bảo khuyếnkhích nâng cao trình độ, chuyên môn kỹ thuật, các tài năng, tích lũy kinh nghiệm
- Mức lương bậc một của thang lương, bảng lương phải cao hơn mức lươngtối thiểu do Nhà nước quy định Mức lương của ngành nghề hoặc công việc độchại, nguy hiểm phải cao hơn mức lương của công việc hoặc ngành nghề có điềukiện lao động bình thường
Hệ thống thang lương, bảng lương trong doanh nghiệp gồm:
- Hệ thống thang, bảng lương của công nhân được xác định theo ngành(hoặc một nhóm ngành) kinh tế kỹ thuật Trong đó các ngành nghề phải có tiêuchuẩn cấp bậc rõ ràng Trong một thang lương có một hoặc một số nhóm lươngthể hiện điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại khác nhau của từng ngành nghề.Mỗi nhóm lương có hệ số mức lương bậc một thể hiện yêu cầu đào tạo ban đầucủa nghề và hệ số bậc cao nhất thể hiện múc độ phức tạp kỹ thuật cao nhất củacông việc trong nghề Số bậc và bội số của thang lương phản ánh mức độ phứctạp của mỗi ngành nghề và được xác định căn cứ vào nội dung công việc theotiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật
- Bảng lương của công nhân trực tiếp sản xuất áp dụng cho công nhân làm
Trang 20việc ở những ngành nghề mà tiêu chuẩn cấp bậc không rõ ràng, không phân chiađược nhiều phức độ phức tạp rõ rệt hoặc do đặc điểm của công việc phải bố trícủa công nhân theo cương vị và trách nhiệm công việc Mỗi chức danh trongbảng lương được xác định bởi mỗi trình độ nhất định và công việc cụ thể.
- Bảng lương chức vụ quản lý doanh nghiệp chỉ quy định cho ba chức danh:Giám đốc; phó giám đốc; kế toán trưởng và được xác định theo hạng doanhnghiệp Bảng lương này áp dụng cho doanh nghiệp Nhà nước
Tóm lại: cho dù là cấp bậc cao hay thấp thì khi sử dụng thang lương, bảnglương trong doanh nghiệp mình thì ta phải tuân theo những nguyên tắc nhất định
do Nhà nước đưa ra
Qua quá trình phân tích hệ thống thang bảng lương trong doanh nghiệpchúng ta thấy rắng có những ưu điểm sau: Bội số thang lương được mở rộng gópphần chống bình quân, tạo điều kiện trả lương đúng theo năng lực, trình độ vàcống hiến của từng người Song hệ thống thang bảng lương ban hành, vẫn chưa
dự tính hết được sự phát triển của các ngành nghề, sự tiến bộ của công nghệ và
kỹ thuật mới của các ngành khi nền kinh tế chuyển sang thị trường Bên cạnh đócho doanh nghiệp tự xây dựng thang bảng lương là bất cập, trong khi Nhà nướcchỉ quy định nguyên tắc và hướng dẩn phương pháp để các doanh nghiệp tự xâydựng thang bảng lương nhằm làm cơ sở kí kết hợp đồng lao động, thỏa ước laođộng tập thể, xác định đơn giá tiền lương và trả lương cho người lao động Dokhông quy định chi tiết nên thực tế đã dẫn đến nhiều bất cập
1.3.3 Chế độ phụ cấp
Phụ cấp lương là tiền trả công lao động ngoài tiền lương cơ bản Nó bổsung cơ lương cơ bản bù đắp thêm do có những yếu tố không ổn định hoặc vượtquá giới hạn trung bình hoặc chưa được tính đến khi xác đinh tiền lương cơ bản
và nhằm đền bù, khuyến khích lao động tốt hơn
Theo Mục 1, Thông tư số 28/TT- BLĐTBXH của Bộ lao động thương binh
và xã hội ngày 5/12/2007 qui định: Doanh nghiệp có quyền quy định các khoảnphụ cấp lương hoặc áp dụng các chế độ phụ cấp lương do Chính phủ quy địnhđối với công ty Nhà nước để thu hút hoặc khuyến khích người lao động làm theo
Trang 21giờ, công việc đòi hỏi trách nhiệm cao hơn hoặc trong điêù kiện môi trường độchại nhưng chưa xác định trong mức lương của thang lương, bảng lương màdoanh nghiệp đã xây dựng.
Doanh nghiệp đăng ký các khoản phụ cấp lương cùng hệ thống thang lương,bảng lương của doanh nghiệp với cơ quan Nhà nước lao động tại địa phương
Áp dụng Điều 4, Nghị định 205/NĐ- CP của Chính phủ ngày 14/5/2004,quy định hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp trong công ty Nhànước gồm các chế độ sau:
- Chế độ phụ cấp khu vực: Nhằm bù đắp cho người lao động làm việc ở
những vùng khó khăn như khí hậu xấu, xa xôi, sinh hoạt khó khăn
Việc xác định phụ cấp khu vực dựa vào hai yếu tố: Yếu tố địa lý tự nhiên,vùng xa xôi hẻo lánh và địa giới hành chính Khi các yếu tố đó thay đổi thì phụcấp khu vực được xác định lại
Phụ cấp khu vực gồm 7 mức, được tính trên mức lương tối thiểu 0.2 - 0.3 – 0.4 – 0.5 – 0.7 và 1
chung:0.1 Chế độ phụ cấp thu hút: Nhằm khuyến khích động viên người lao động
đến làm việc ở vùng kinh tế mới, cơ sở kinh tế, đảo xa đất liền, ở đó thời gianđầu chưa có cơ sở hạ tầng ảnh hưởng đến cơ sở vật chất và tinh thần của ngườilao động
Mức phụ cấp được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên lương cấp bậc, chức vụcủa người lao động
Gồm 4 mức: 20%, 30%, 50%, 70%, thời gian hưởng từ 3 đến 5 năm
-Chế độ phụ cấp trách nhiệm: Nhằm bù đắp cho những người lao động vừa
trực tiếp sản xuất hoặc làm công tác chuyên môn nghiệp vụ vừa kiêm nhiệmcông tác quản lý không thuộc chức vụ lảnh đạo, bổ nhiệm, hoặc làm những côngviệc đòi hỏi trách nhiệm cao nhưng chưa xác định được trong mức lương
Phụ cấp gồm 4 mức: 0.1- 0.2- 0.3- 0.5 so với mức lương tối thiểu chung
- Chế độ phụ cấp lưu động: Nhằm bù đắp cho ngưới lao động làm mộtngàng nghề hoặc một công việc phải thường xuyên thay đổi nơi ở và nơi làmviệc, điều kiện làm việc không ổn định, khó khăn
Mức phụ cấp gồm 4 mức: 0.1- 0.2- 0.3- 0.4 so với mức lương tối thiểu chung
Trang 22Ngoài các loại phụ cấp trên còn có các loại phụ cấp khác như: Phụ cấp dichuyển, phụ cấp đi đường.
Các chế độ phụ cấp trên đảm bảo được mục tiêu khuyến khích, thu hútngười lao động đến làm việc ở nơi khó khăn, độc hại , bù đắp được hao phí laođộng chưa tính trong tiền lương Tuy nhiên theo sự phát triển của kinh tế thì cónhững chế độ phụ cấp còn quá thấp không khuyến khích được người lao động
1.3.4 Chế độ thưởng
Tiền thưởng là một loại thù lao lao động bổ sung cho lương theo thờigian hoặc lương theo sản phẩm, tăng thêm thu nhập lao động để kích thíchngười lao động nỗ lực thường xuyên, là một hình thức khuyến khích vật chất
hệ lao động khác nhau mà viêc trả lương khác nhau và từ đó việc quy định chế
độ tiền thưởng có sự khác nhau giữa khu vực hành chính và khu vực sản xuấtkinh doanh Chế độ tiền thưởng đối với khu vực sản xuất kinh doanh rất đa dạng
và phong phú về hình thức Qũy tiền thưởng được tạo ra từ nhiều nguồn khácnhau của doanh nghiệp: Hiệu quả sản xuất kinh doanh, thực hiện tốt hợp đồngkinh tế, chất lượng sản phẩm Chế độ thưởng đối với người lao động gồm nhiềuchế độ: Thưởng hoàn thành định mức, thưởng sản phẩm có chất lượng cao,thưởng tiết kiệm nguyên liệu Cơ sở thưởng là hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp, với làm lợi của người lao động cho doanh nghiệp
Qua quá trình phân tích và tìm hiểu sự điều chỉnh của pháp luật về tiềnlương, đó là nền tảng cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xây dựng cơ chế tiềnlương và cơ chế trả lương trong các doanh nghiệp, xây dựng thang lương, bảnglương và góp phần vàp việc bảo vệ được lợi ích cho người lao động Tuy nhiêntrên thực tế khi áp dụng vẫn còn không gặp ít khó khăn và chưa phù hợp với
Trang 23thực tế, không chỉ thế mà còn các doanh nghiệp chưa thực hiện theo đúng phápluật quy định.
Về chế độ thưởng, trên thực tế các doanh nghiệp đều thưởng cho người laođộng khi họ hoàn thành công việc được giao (chủ yếu là vào dịp tết) Song, nhìnchung tiền thưởng không đồng đều có lao động thì quá nhiều, có lao động thìquá ít Điều đó mất đi tác dụng của tiền thưởng, đa số các doanh nghiệp chưa cómột cơ chế thưởng cho việc thưởng ở đơn vị mình, hoăc là khi thưởng khôngtham khảo với Ban chấp hành công đoàn trong doanh nghiệp
1.3.5 Các hình thức trả lương
Điều 94 Bộ luật lao động 2012 quy định các hình thức trả lương sau:
* Trả lương theo thời gian.
Đây là hình thức trả lương căn cứ vào thời gian lao động và cấp bậc để tínhlương cho từng người lao động
Trả lương theo thời gian có 4 hình thức:
- Trả lương theo tháng: Là lương trả cho người lao động theo tháng, theobậc lương đã sắp xếp và các khoản phụ cấp nếu có áp dụng đối với người laođộng không xác định được trước khối lượng công trình hoàn thành
Lương tháng = Mức lương theo bảng lương + phụ cấp (nếu có)
- Trả lương theo tuần: Là mức lương trả cho người lao động theo tuần vàđược tính theo công thức
- Lương ngày: Là lương trả cho người lao động theo mức lương ngày và sốgiờ làm việc thực tế của họ
Lương công nhật: Là tiền lương thỏa thuận giữa người lao động và người sửdụng lao động, làm việc ngày nào hưởng ngày ấy theo quy định của từng loạicông việc
- Lương giờ: Là tiền lương được tính và trả theo giờ
Hình thức trả lương theo thời gian có ưu điểm: Tính toán đơn giản, ổn địnhtrong việc trả lương và dự toán tiền lương của doanh nghiệp Nhưng trả lươngtheo thời gian thường mang tính bình quân, không khuyến khích được tính tíchcực của người lao động, ít quán triệt nguyên tắc phân phối lao động
Trang 24Trên thực tế các doanh nghiệp chủ yếu áp dụng hình thức trả lưong này chủyếu là các doanh nghiệp Nhà nước và các doanh nghiệp có viêc làm và kinhdoanh ổn định.
* Trả lương theo sản phẩm.
Đây là hình thức trả lương cho người lao động theo số và chất lượng củacông việc đã hoàn thành Tiền lương của người lao động phụ thuộc vào đơn giátiền lương của đơn vị sản phẩm và số sản phẩm hợp quy cách đã sản xuất ra
* Trả lương theo khoán
Hình thức này áp dụng với các công việc nếu giao từng chi tiết, bộ phận sẽkhông có lợi mà phải giao toàn bộ khối lượng công việc cho cả nhóm nhân viênhoặc một người hoàn thành trong một thời gian nhất định
Hình thức trả lương theo sản phẩm và theo khoán khá phù hợp với nguyêntắc phân phối theo lao động, gắn thu nhập với người lao động với kết quả sảnxuất kinh doanh, khuyến khích người lao động hăng say lao động, nâng caonăng suất Tuy nhiên hai hình thức này làm cho người la động ít quan tâm đếnmáy móc thiết bị, chỉ chạy theo số lượng, không chú ý đến chất lượng, khôngtiết kiệm nguyên vật liệu và không quan tâm đến tập thể
1.3.6 Một số quy định của pháp luật về trả lương khác
* Trả lương khi người lao động ngừng việc
Theo quy định tại Điều 98 Bộ luật lao động 2012 thì trong trường hợp phảingừng việc, người lao động được trả lương như sau
- Nếu do lỗi của người sử dụng lao động thì người lao động được trảnguyên lương
- Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; nhữngngười lao động khác trong đơn vị phải ngừng việc đựoc trả lương theo mức dohai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu chung
- Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao độnghoặc do những nguyên nhân bất khả kháng thì tiền lương do hai bên thỏa thuậnnhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu chung
- Trong một ca làm việc, nếu ngừng việc từ hai giờ trở lên thì được trả
Trang 25lương ngừng việc và đươc trả với hình thức trả lương giờ.
* Trả lương khi người lao động làm thêm giờ
Người lao động làm thêm giờ được trả lương theo đơn giá tiền lương củacông việc đang làm như sau:
- Nếu trả lương theo thời gian, thì người lao động được trả lương làm thêmgiờ ngoài giờ tiêu chuẩn
- Nếu trả lương theo sản phẩm, theo khoán thì người lao động được trảlương làm thêm giờ khi người sử dụng lao đọng có thêm yêu cầu làm thêm khốilượng, số lượng sản phẩm công việc ngoài khối lượng, số lượng sản phẩm, côngviệc làm trong giờ tiêu chuẩn
Người lao động làm thêm giờ theo điều nói trên được trả lương làm thêmgiờ theo mức sau:
- Vào ngày thường, ít nhất 150%
- Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%
- Vào ngày nghỉ lể, nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300%
Nếu người lao động được nghỉ bù những giờ làm thêm thì người sử dụnglao động chỉ phải trả phần chêch lệch so với tiền lương tính theo đơn giá hoặctiền lương của công việc đang làm của ngày làm việc bình thường
“Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận làm thêm giờ, nhưng không quá 4 giờ trong một ngày, 200 giờ trong một năm, trừ một số trường hợp đặc biệt được làm thêm không quá 300 giờ trong một năm do Chính phủ quy định, sau khi tham khảo ý kiến của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam
và đại diện của người sử dụng lao động”.
* Trả lương khi người lao động làm việc vào ban đêm
Người lao động làm việc vào ban đêm được trả thêm ít nhất bằng 30%tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương của công việc đanglàm vào ban ngày Nếu làm thêm giờ vào ban đêm thì người lao động cònđược trả tiền lương làm thêm giờ
* Trả lương khi sản phẩm làm ra không đảm bảo chất lượng
Khi sản phẩm làm ra không đảm bảo chất lượng thì tùy theo từng trườnghợp cụ thể mà người sử dụng lao động trả lương cho người lao động
Trang 26- Sản phẩm làm ra không đảm bảo chất lượng do những nguyên nhân kháchquan như; thời tiết xấu, nguyên vật liệu, kỷ thuật không đảm bảo thì người lao độngđược trả lương đầy đủ hoặc theo một tỷ lệ nhất định (tùy theo sự thỏa thuận).
- Nếu do lỗi của người lao động gây ra thì căn cứ vào hậu quả xảy ra thực
tế mà trả lương ít hoặc không trả lương
* Trả lương khi người lao động đi học
Khi người lao động đang làm việc ở một doanh nghiệp mà đi học để nângcao trình độ, chuyên môn kỷ thuật thì tùy từng trường hợp người sử dụng laođộng trả lương cho người lao động
- Do nhu cầu của công việc trong doanh nghiệp, người sử dụng lao độngyêu cầu người lao động đi học, thì trong thời gian này tùy theo sự thỏa thuận củahai bên hoặc quy định trong thỏa ước tập thể lao động có thể trả nguyên lươnghoặc theo một tỷ lệ nhất định
- Do nhu cầu của người lao động thì tùy theo sự thỏ thuận của hai bên cóthể trả lương hoặc không trả lương
* Trả lương khi người lao động học tập, học nghề
Khi người lao động học tập, học nghề tạo một doanh nghiệp mà trực tiếplàm ra sản phẩm thì người lao động được trả lương theo sự thỏa thuận của haibên và mức lương không thấp hơn 70% đơn giá tiền lương hoăc tiền lương củangười lao động làm việc đó
Theo quy định tại khoản 2 Điều 61 Bộ luật lao động 2012 quy định “Trong thời gian học tập, học nghề nếu trực tiếp hoặc tham gia làm ra sản phẩm cho doanh nghiệp thì người học nghề, tập nghề được trả công theo mức do hai bên thỏa thuận”.
* Trả lương khi người lao động nghỉ chế độ
Theo quy định tại các Điều 73, 74 và khoản 3 Điều 76 Bộ luật lao đọng sửađổi, bổ sung thì trong thời gian nghỉ lễ, nghỉ tết, nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêngngười lao động được trả nguyên lương Trong trường hợp vì lý do thôi việc hoặc
vì lý do khác mà người lao động chưa nghỉ hằng năm, thì được trả lương nhữngngày chưa nghỉ
* Tạm ứng tiền lương
Trang 27Theo quy định tại Điều 10 Bộ luật lao động 2012 thì người lao động được tạm ứng tiền lương trong các trường hợp sau:
1 Người lao động được tạm ứng tiền lương theo điều kiện do hai bên thoả thuận.
2 Người sử dụng lao động phải tạm ứng tiền lương tương ứng với số ngày người lao động tạm thời nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân từ 01 tuần trở lên nhưng tối đa không quá 01 tháng lương và phải hoàn lại số tiền đã tạm ứng trừ trường hợp thực hiện nghĩa vụ quân sự.
Tóm lại, sự quy định của pháp luật về trả lương trong một số trong trườnghợp khác nhằm bảo đảm lợi ích tối đa cho người lao động, hạn chế được sự bốclột sức lao động, tránh được việc bớt xén tiền lương của người lao động Bêncạnh đó những quy định trên đã tạo cơ sở pháp lí vững chắc cho các bên trongquan hệ lao động để giải quyết tranh chấp về tiền lương khi xảy ra
Tuy nhiên, sự quy định như vậy làm cho các bên trong quan hệ lao động lợidụng pháp luật để thực hiện những hành vi trái với quy định của pháp luật,chửng hạn như: Đối với người sử dụng lao động lợi dụng pháp luật để tăng ca,
Trang 28tăng giờ làm, tìm mọi biện pháp để đạt được những lợi ích tốt nhất cho bản thânmình Mặt khác, người lao động cũng lợi dụng để đòi tăng lương, giảm giừo làmdẫn đến những tranh chấp trái với luật.
Trang 29Tiểu kết chương 1
Tổng hợp tất cả các kết quả vừa phân tích trên, có thể khẳng định chế độpháp lý về tiền lương trong doanh nghiệp là một chế độ là một chế độ mà Đảng
và Nhà nước ta luôn quan tâm để bảo vệ quyền lợi của người lao động và người
sử dụng lao động, đặc biệt là người lao công làm công ăn lương trong doanhnghiệp để họ được đối xử công bằng trong việc trả lương và các vấn đề khác.Đối với nền kinh tế thị trường và mang tính cạnh tranh như hiện nay, tiềnlương đóng một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội nói chung và
là một vấn đề rất đáng quan tâm đối với các doanh nghiệp Qua quá trình phântích và tìm hiểu về tiền lương chúng ta đã thấy rằng Đảng và nhà nước ta luônquan tâm đến chính sách tiền lương sự điều chỉnh chính sách thay đổi theo sựphát triển của kinh tế xã hội tạo một nền tảng pháp lí vững chắc cho người laođộng và người sử dụng lao động thỏa thuận trong việc trả lương, giúp cho cácdoanh nghiệp trong quá trình thực hiện quản lí và phân phối tiền lương trongdoanh nghiệp mình Bên cạnh những mặt đã đạt được, pháp luật về tiền lươngnói chung và chế độ về tiền lương trong các doanh nghiệp nói riêng vẫn còn một
số tồn tại bất cập, điều đó đã gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng và ứngdụng trên thực tiễn và dẫn đến những vi phạm pháp luật về tiền lương là khôngthể tránh khỏi
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TIỀN LƯƠNG TẠI CÔNG TY
TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN TẦN HOÀNG
2.1 Tổng quan về Công ty TNHH Tần Hoàng
Khởi nghiệp và phát triển Công ty TNHH Tần Hoàng là doanh nhân Nguyễn Thị Lệ Quyên - hiện là giám đốc công ty Công ty TNHH Tần Hoàng được thành lập ngày 10 tháng 11 năm 2010 và được Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Ninh cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số: 5701439394.
Từ ngày ra đời cho đến nay Công ty vẫn giữ tên là Công ty TNHH Tần Hoàng Tiền thân là đơn vị thương mại nhỏ với sản phẩm kinh doanh chủ yếu là các loại phụ kiện ống nước và các loại ống nước làm bằng kẽm với số vốn đầu tư ban đầu là 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng) Sau đó khi quen dần với thị trường Công ty
đã trở thành nhà cung cấp cho các đại lý, các cửa hàng về ngành hàng này Những vài năm gần đây trên thị trường xuất hiện phụ kiện và các loại ống nước hàn nhiệt nên việc kinh doanh ngành hàng này cũng chậm hơn trước do người tiêu dùng cũng chuyển sang sự lựa chọn mới vì các loại hàng hàn nhiệt này rất dễ thi công, vận chuyển gọn nhẹ lại dễ dàng lắp đặt hơn so với các hàng phụ kiện, ống nước làm bằng kẽm Doanh thu của Công ty ở thời điểm này cũng không cao như những năm trước Trước thực tế
đó, Công ty đã đưa ra một quyết định táo bạo đó là xâm nhập vào ngành hàng mới là ngành hàng thiết bị vệ sinh vốn đã có thị trường quen thuộc từ lâu Đây là một khó khăn, thử thách lớn đối với Công ty vì khi nghĩ đến ngành hàng này là người tiêu dùng
sẽ nghĩ ngay đến những cửa hàng san sát nhau tạo thành các dãy phố kinh doanh thiết
bị vệ sinh, nội thất đã khá quen thuộc, cùng với đó là các sản phẩm đã có thương hiệu trên thị trường như TOTO, INAZ, CAESAR, COTTO, FUFENG…nổi tiếng là những thương hiệu có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, kiểu dáng phong phú, đa dạng Vậy lý do
mà Công ty bước đầu đã thành công như hiện nay là do có những bạn hàng lâu năm cung cấp cho Công ty những nguồn hàng tốt với những sản phẩm cao cấp mà giá cả vừa phải phù hợp với kinh tế của nhiều hộ gia đình hiện nay cùng với các chính sách, chiến lược kinh doanh hợp lý nắm bắt được xu hướng của thị trường và của người tiêu dùng một cách kịp thời Sự phát triển của Công ty yêu cầu phải mở rộng thêm về các ngành hàng kinh doanh cũng như tăng vốn để phù hợp với quy mô của Công ty và nâng cao năng lực quản lý, đến năm 2012 Công ty đã thay đổi đăng ký kinh doanh
Trang 31Phó Giám Đốc
Phòng hành chính Phòng kinh
doanh
Phòng kế toán Bộ phận kho
Bộ phận lắp đặt
Bán hàng, chăm sóc khách hàng
Tên Công ty: CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN TẦN HOÀNG
Địa chỉ: Cửa khẩu Bắc Phong Sinh, Xã Quảng Đức, Huyện Hải Hà, Tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam.
Điện thoại: 0230 3740468 Fax: 0230 3740278
Vốn đầu tư : 12.000.000.000 đồng ( Mười hai tỷ đồng)
Mã số thuế: 5600178428
Người đại diện: Nguyễn Thị Lệ Quyên
2.1.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty
Nhằm phù hợp với những yêu cầu khách quan đề ra của nhà nước cũng như nhằm thích ứng với nền kinh tế hội nhập, mở cửa, Công ty TNHH Tần Hoàng đã xây dựng cho mình bộ máy tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh theo sơ đồ:
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
Bộ phận vận tải