1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Môn học những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế buổi thảo luận thứ năm quy định chung về thừa kế

25 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 251,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môn học những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế buổi thảo luận thứ năm quy định chung về thừa kếMôn học những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế buổi thảo luận thứ năm quy định chung về thừa kếMôn học những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế buổi thảo luận thứ năm quy định chung về thừa kếMôn học những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế buổi thảo luận thứ năm quy định chung về thừa kếMôn học những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế buổi thảo luận thứ năm quy định chung về thừa kếMôn học những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế buổi thảo luận thứ năm quy định chung về thừa kếMôn học những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế buổi thảo luận thứ năm quy định chung về thừa kếMôn học những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế buổi thảo luận thứ năm quy định chung về thừa kếMôn học những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế buổi thảo luận thứ năm quy định chung về thừa kếMôn học những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế buổi thảo luận thứ năm quy định chung về thừa kếMôn học những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế buổi thảo luận thứ năm quy định chung về thừa kếMôn học những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế buổi thảo luận thứ năm quy định chung về thừa kếMôn học những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế buổi thảo luận thứ năm quy định chung về thừa kế

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH – NHÀ NƯỚC

MÔN HỌC: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ

BUỔI THẢO LUẬN THỨ NĂM QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ

GIẢNG VIÊN: LÊ THANH HÀ DANH SÁCH NHÓM 2 – HC46A2

Trang 2

Mục LụcBài 1 Di sản thừa kế 1 1.1 Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 1 1.2 Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao? 1 1.3 Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. 2

1.4 Trong Bản án số 08, Toà án có coi diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bán án có câu trả lời? 4 1.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Toà án trong Bản án số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 5 1.6 Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao? 6 1.7 Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao? 6 1.8 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích

đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K 7 1.9 Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền

đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

7

1.10 Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao? 8 1.11 Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao? 8 1.12 Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao? 9 Bài 2 Quản lý di sản 10 2.1 Trong Bản án số 11, Tòa án xác định ai là người có quyền quản lý di sản của ông Đ và

bà T; việc xác định như vậy có thuyết phục không, vì sao? 11 2.2 Trong Bản án số 11, ông Thiện trước khi đi chấp hành án có là người quản lý di sản không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 12 2.3 Trong Bản án số 11, việc Tòa án giao cho anh Hiếu (Tiến H) quyền quản lý di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 13 2.4 Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền tôn tạo, tu sửa lại di sản như trong Bản án số 11 không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 13

Trang 3

2.5 Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền giao lại cho người khác quản

lý di sản (như trong Bản án số 11 là ông Thiện giao lại cho con trai) không? Nêu cơ sở pháp lý

khi trả lời 14

2.6 Trong Quyết định số 147, Tòa án xác định người quản lý không có quyền tự thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 15

Bài 3 Thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế 16

3.1 Cho biết các loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế ở Việt Nam 16

3.2 Pháp luật nước ngoài có áp đặt thời hiệu đối với yêu cầu chia di sản không? 17

3.3 Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm nào? Đoạn nào của Quyết định tạo lập thành Án lệ số 26/2018/AL cho câu trả lời? 19

3.4 Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao? 19

3.5 Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T với thời điểm bắt đầu từ thời điểm Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được công bố có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao? 20

3.6 Suy nghĩ của anh/chị về Án lệ số 26/2018/AL nêu trên 21

Bài 4 Tìm kiếm tài liệu 21

4.1 Liệt kê những bài viết liên quan đến pháp luật về tài sản và pháp luật về thừa kế được công bố trên các Tạp chí chuyên ngành Luật từ đầu năm 2018 đến nay 21

4.2 Yêu cầu 2: Cho biết làm thế nào để tìm được những bài viết trên 22

Trang 4

Bài 1 Di sản thừa kế

1.1 Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Việc xác định di sản thừa kế hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau:

 Ý kiến thứ nhất cho rằng di sản thừa kế bao gồm tài sản và các nghĩa vụ

về tài sản của người chết để lại

 Ý kiến thứ hai cho rằng di sản thừa kế bao gồm tài sản và nghĩa vụ tài sảncủa người chết trong phạm vi di sản để lại,

 Ý kiến thứ ba thì cho rằng di sản thừa kế chỉ là các tài sản của người chết

để lại sau khi đã thanh toán các nghĩa vụ tài sản của người chết.1

- Trong đó, quan điểm thứ ba lại được nhiều nhà khoa học đồng ý và đã được

thể hiện trong Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.”

- Các điều từ 659 đến 662 Bộ Luật Dân sự 2015 đều được hiểu rằng trước khichia di sản, những người thừa kế phải thanh toán các nghĩa vụ của người chết

để lại xong rồi mới được phân chia (Ví dụ nghĩa vụ trả nợ, các thừa kế phảithanh toán hết số tiền nợ trước khi phân chia di sản)

 Do đó, di sản không bao gồm nghĩa vụ của người quá cố

1.2 Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao?

- Tùy trường hợp mà chúng ta sẽ coi nó có phải di sản hay không:

 Khi tài sản mới đó có giá trị vượt quá giá trị của tài sản do người quá cố đểlại thì nó sẽ không được coi là di sản

 Còn khi giá trị của nó bằng với giá trị ban đầu thì nó sẽ được coi là di sản

- Trong thực tiễn xét xử, tài sản thay thế (xuất hiện sau thời điểm mở thừa kế)được coi là di sản Hướng giải quyết này chưa được quy định trong văn bảnnhưng rất thuyết phục và được áp dụng cả đối với trường hợp di sản được thay

1 Nguyễn Xuân Quang, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế của Đại học Luật TP

Hồ Chí Minh, NXB Hồng Đức 2018, Chương V

Trang 5

thế bằng một khoản tiền như tiền đền bù Thực tế còn cho thấy, khi di sản bịbán cho người khác, Tòa án nhân dân tối cao cũng có định hướng tiền từ việcbán (chuyển nhượng) là di sản và trong trường hợp Tòa án đã giao di sản chomột người không được hưởng (và bản án đã có hiệu lực pháp luật), ngườiđược giao sở hữu tài sản phải thanh toán giá trị tài sản và giá trị này cũng đượcchia như di sản Tương tự như vậy khi Tòa án giao di sản cho một người thừa

kế và người thừa kế chuyển nhượng di sản cho người khác nhưng sau đó quyếtđịnh giao di sản bị hủy thì di sản được chuyển thành tiền và người nhận tiềnphải chia cho những người thừa kế tiền đã nhận.2

1.3 Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Theo Điều 612 Bộ Luật Dân sự 2015: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.”

=> Như vậy, để được xem là di sản thì trước hết đó phải là tài sản của ngườichết lúc họ còn sống

- Căn cứ theo quy định tại Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.” =>

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệhợp pháp giữa nhà nước với người sử dụng đất Thông qua Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, nhà nước xác lập mối quan hệ pháp lý giữa nhà nước với

tư cách là chủ sở hữu đất đai với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được nhànước chuyển giao quyền sử dụng đất Nhằm có đầy đủ các căn cứ pháp lý đểthực hiện quản lý Nhà nước về đất đai, tạo cơ sở pháp lý để bảo hộ quyền vàlợi ích hợp pháp của người sử đụng đất Dù nhận quyền sử dụng đất dướihình thức nào thì căn cứ rõ ràng nhất để xác định chủ thể có quyền sử đụngđất hợp pháp là chủ thể sử dụng phải đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất

2 Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, NXB Hồng Đức-Hội Luật gia Việt

Nam 2019 (xuất bản lần thứ tư)

Trang 6

- Tuy nhiên về bản chất di sản có giá trị tài sản là quyền sử dụng đất chứ không

phải Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Do đó, nếu có chứng cứ chứngminh người quá cố là người có quyền sử dụng đất hợp lệ thì quyền sử dụngđất đó vẫn được xác định là di sản thừa kế Vì vậy, Luật đất đai 2013 chophép người sử đụng đất chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn có

quyền để thừa kế trong trường hợp có “đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” Họ

có thể sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu có các giấy tờthay thế như: giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy chứngnhận quyền sử dụng đất tạm thời hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổđịa chính, sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18 tháng 12 năm 1980;

dự án hoặc danh sách hoặc văn bản về việc di dân đi xây dựng khu kinh tếmới, di dân tái định cư; Giấy tờ của nông trường, lâm trường quốc doanh vềviệc giao đất cho người lao động trong nông trường, lâm trường để làm nhàở;…3

 Vì thế, không hẳn phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới có thể đượccoi là di sản, mà chỉ cần chứng minh được người quá cố là người có quyền sửdụng đất hợp lệ thì quyền sử dụng đất đó vẫn được xác định là di sản thừa kế

 Tóm tắt Bản án số 08 Bản án số 08/2020/DSST ngày 28/8/2020 của Tòa án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc

- Nguyên đơn: Ông Trần Văn Hoà

- Bị đơn:

 Anh Trần Hoài Nam

 Chị Trần Thanh Hương

- Vấn đề tranh chấp: Thừa kế tài sản.

- Nội dung Bản án: Bà Cao Thị Mai và ông Trần Văn Hoà kết hôn với nhau năm

1980 Quá trình hôn nhân, hai ông bà có hai con chung là anh Nam và chịHương Ngoài ra, không có con đẻ hay con nuôi nào khác Tài sản của ông Hoà,

bà Mai gồm: 1 ngôi nhà 3 tầng, sân tường bao quanh và một lán bán hàng xâydựng năm 2006, trên diện tích đất 169,5m2 (trong đó, diện tích được cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Hoà là 84m2, còn lại 85,5m2 ôngHoà sử dụng ổn định và không có tranh chấp) Theo biên bản thẩm định tài sản

3 Luật sư Phạm Tuấn Anh, Điều kiện để thừa kế quyền sử dụng đất, truy cập vào ngày 04/09/2022.

Trang 7

và định giá tài sản ngày 21/2/2020, tổng tài sản có trị giá là 6.127.665.000đ Tàisản các đương sự có tranh chấp: tiền cho thuê nhà và lán bán hàng từ tháng3/2018 đến thời điểm xét xử do ông Hoà đang quản lý, tiền cho thuê lán bánhàng từ năm 2017, 2018 do chị Hương quản lý Ngày 31/7/2017, bà Mai chết vàkhông để lại di chúc nên di sản của bà được phân chia theo pháp luật

- Cơ sở pháp lý:

 Điều 213, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 660, 357 và khoản 2 Điều

468 của Bộ Luật Dân sự

 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình

- Quyết định của Tòa án:

 Toà án quyết định chia cho ông Hoà số tài sản tổng trị giá2.220.664.000đ;

 Diện tích đất 38,4m2 ông Hoà có nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước cóthẩm quyền cấp giấy chứng nhận sau khi đã thực hiện nghĩa vụ thuế;

 Chia cho anh Nam số tài sản tổng trị giá 4.207.0001.000đ;

 Diện tích đất 47,1m2 anh Nam có nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

 Chia cho chị Hương quyền sở hữu số tiền thuê 30.000.000đ;

 Buộc anh Nam thanh toán chênh lệch về tài sản cho ông Hoà số tiền1.220.412.000đ

1.4 Trong Bản án số 08, Toà án có coi diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bán án

Trang 8

nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, nếu không xác định là di sản thừa kế và phânchia thì sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.Phần đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát không được hội đồng xét xửchấp nhận Các đề nghị khác đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ,được Hội đồng xét xử xem xét và quyết định.”

1.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Toà án trong Bản án số 08

về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Hướng xử lý của Tòa án trong Bản án số 08 về diện tích đất chưa được cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp lý

- Vì theo Điều 621 Bộ Luật Dân sự 2015: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.”

Sau khi bà Mai mất thì phần đất này mới được tiếp tục giao cho ông Hòa thựchiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước và được cấp giấy chứng nhận quyền sởhữu cho ông Hoà Vậy nên đây là tài sản riêng của ông Hòa chứ không phảitài sản chung giữa ông Hòa và bà Mai, dẫn đến việc phần đất này không phải

di sản của bà Mai

 Tóm tắt án lệ số 16/2014/AL:

- Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 573/2013/DS-GĐT ngày

16-12-2013 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao về vụ án dân sự “Tranh chấp thừa

kế tài sản” tại tỉnh Vĩnh Phúc

- Vị trí án lệ: đoạn 2 trong phần “Nhận định của Tòa án”.

- Nguyên đơn: chị Phùng Thị H1, chị Phùng Thị N1, chị Phùng Thị H2, chị

Phùng Thị P

- Bị đơn: anh Phùng Văn T.

- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: chị Phùng Thị N2, chị Phùng Thị H3.

- Nội dung án lệ:

Năm 1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m 2 trong tổng diện tích 398m 2 của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất là 267,4m 2 Năm 1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 267,4m 2 , bà Phùng Thị G cùng vợ chồng anh Phùng Văn T vẫn quản lý sử dụng nhà đất này Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con bà Phùng Thị G đều biết, nhưng

Trang 9

không ai có ý kiến phản đối gì, các con của bà Phùng Thị G có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để lo cuộc sống của bà và các con Nay ông Phùng Văn K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, có cơ sở để xác định các con bà Phùng Thị G đã đồng ý để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131m 2 nêu trên cho ông Phùng Văn K Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất bà Phùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn

K vào khối tài sản để chia là có căn cứ Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích đất 398m 2 (bao gồm cả phần đất đã bán cho ông Phùng Văn K)

để chia là không đúng.

1.6 Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?

- Thời gian ông N mất là ngày 7/7/1984, theo khoản 1, Điều 611, BLDS 2015

quy định: “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.”  Do đó, thời điểm mở

thừa kế là vào cùng thời điểm ông Phùng Văn N mất, tức ngày 7/7/1984

- Theo Điều 612, BLDS 2015 định nghĩa: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.

Tại thời điểm đó, tài sản chung của 2 vợ chồng là mảnh đất 398m2, nên theoluật định, di sản ông N là 199m2

1.7 Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K

có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

- Theo án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông K không đượcxem là di sản để chia, với lý do:

- Trong phần “Nhận định của Tòa án” có đoạn: “…việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con bà Phùng Thị G đều biết, nhưng không ai có ý kiến phản đối gì, các con của bà Phùng Thị G có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để lo cuộc sống của bà và các con…”.

 Việc bà G bán 131m2 diện tích đất cho tổng ông K để lấy tiền trangtrải, chăm lo cho cuộc sống của các con, các đồng thừa kế đều biết việc đónhưng không phản hồi gì cho thấy việc đồng thuận với giao dịch chuyển nhượngđất giữa bà G và ông K

Trang 10

1.8 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K.

- Trong phần “Nhận định của Tòa án” có đoạn:

Nay ông Phùng Văn K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, có cơ sở để xác định các con bà Phùng Thị G đã đồng ý để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131m 2 nêu trên cho ông Phùng Văn K Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất bà Phùng Thị G

đã bán cho ông Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là có căn cứ Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích đất 398m 2 (bao gồm cả phần đất

đã bán cho ông Phùng Văn K) để chia là không đúng.

- Tòa án xét xử việc không xác nhập tài sản của ông K vào phần di sản để chiathừa kế là hợp lý và bảo vệ quyền lợi ích của ông K Án lệ đã công nhận giaodịch một phần diện tích đất giữa một bên là đồng thừa kế xác lập, và khôngquy phần diện tích đất đó vào di sản thừa kế Ngoài ra, giao dịch này còn có sựchấp thuận của các đồng hưởng thừa kế, sau khi chồng bà G chết, bà G và anh

T tiếp tục đảm nhiệm giữ phần di sản Do đó, về mặt pháp lý, hợp đồngchuyển nhượng này là hợp pháp, nên sau khi giao dịch chuyển nhượng phầndiện tích đất không bị gộp chung vào di sản thừa kế

- Bên cạnh đó việc bà G thực hiện giao dịch với ông K cũng có sự chấp thuậncủa các đồng thừa kế, không có sự phản đối và vào năm 1999, ông K cũng đãđược cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất Theo điều 223, BLDS 2015 có quy định rằng: “Người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay hoặc hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thì có quyền sở hữu tài sản đó.”

1.9 Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

- Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cho cuộc sống của các con màdùng tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó phải được coi là disản để chia Thực tế án lệ vẫn còn bỡ ngỡ về vấn đề này, theo nhóm em thìnếu xảy ra vấn đề trên thì cần lấy khoản tiền thu về từ việc chuyển nhượng131m2 cho ông K để thay vào phần di sản đã được định đoạt Do đó khoản

Trang 11

tiền đó vẫn được đưa vào phần di sản thừa kế, hướng giải quyết trên đã đượcTòa án nhân dân tối cao giải quyết thông qua một số vụ án tuy nhiên thì vẫnchưa được phát triển thành án lệ Hoặc là phần tài sản được chuyển nhượng

sẽ được trừ vào phần tài sản của bà G trong phần tài sản hung, tức là có398m2 đất là tài sản chung thì được chia đôi cho ông N và bà G mỗi người199m2 và sau khi chuyển nhượng cho ông K 131m2 thì tài sản của bà G còn68m2 còn ông N vẫn là 199m2

1.10 Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao?

- Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tíchđất trên là 152,57m2 Bởi vì:

 Tài sản chung của ông N và bà G là 398m2 và năm 1991 bà Phùng Thị Gchuyển nhượng cho ông Phùng Văn K một phần diện tích đất trên vớidiện tích đất là 131m2 để trả nợ và trangtrải cuộc sống gia đình, còn lại diện tích 267m2 Diện tích 267m2 là tài sảnchung của ông N và bà G nên mỗi người sẽ được ½ tức là 133,5m2 Mànăm 1984 ông N chết nhưng không để lại di chúc nên phần tài sản củaông N 133,5m2 này sẽ chia theo pháp luật, chúng ta căn cứ vào điểm a,Khoản 1, Điều 65, BLDS 2015:

“ Điều 651 Người thừa kế theo pháp luật

1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con

đẻ, con nuôi của người chết”

Từ đó ta thấy 133,5m2 của ông N sẽ được chia đều cho hàng thừa kế thứ nhấtgồm 6 người con và bà N tức là mỗi người sẽ nhận 19,07m2

. Cộng với số133,5m2 thì ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trongdiện tích đất trên là 152,57m2

1.11 Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2

có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?

- Việc Tòa xác định phần di sản của bà G để lại là 43.5m2 là không thuyết phục,với lý do sau:

Trang 12

- Trong khối tài sản 398m2 trên, trừ phần diện tích đất đã bán cho ông K là131m2, thì tổng khối di sản còn lại là 267m2 và đó là tài sản chung của 2 vợchồng Sau khi ông Phùng Văn N mất, mối quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà

G chấm dứt theo luật định tại Điều 65, Luật Hôn nhân và gia đình 2014

- Ngoài ra, khi ông N chết, không để lại di chúc, do đó, căn cứ theo điểm a, khoản

1, Điều 651, BLDS 2015: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ

đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết…”, theo đó những ngườithuộc hàng thừa kế thứ nhất trong trường hợp này là bà G (vợ ông N), PhùngThị N1, Phùng Thị N2, Phùng Thị H2, Phùng Văn T, Phùng Thị P, Phùng ThịH1 (tổng cộng 7 người) Do đó, mỗi người đồng thừa kế được hưởng 1/7 trên disản của ông N, tức 19.07m2, ngoài ra, trước khi chết, bà G có để lại di chúc đểlại một phần diện tích đất 90m2, cho con gái là chị H1

 Do đó, phần di sản của bà Phùng Thị G là 62.7 m2

- Việc bà G để lại di sản không nằm trong nội dung của Án lệ số 16 Vì nội dungcủa Án lệ là công nhận hợp đồng chuyển nhượng 131m2 giữa bà G (đồng thừakế) và ông K là hợp pháp, do đó phần đất ông K sở hữu không nằm trong di sảnthừa kế để chia, chứ không để cập đến phần di sản của bà G để lại sau mất làbao nhiêu

1.12 Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại”

có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?

- Việc Toà án quyết định “còn lại 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại”không thuyết phục Bởi vì:

 Các hàng thừa kế thứ nhất của bà G gồm 6 người con, mặc dù trong dichúc bà G đã định đoạt cho bà H1 là 90m2, phần còn lại không có trong dichúc thì chia theo pháp luật sẽ được chia đều cho 6 người con trong hàngthừa kế

 Đây không là nội dung của án lệ số 16 Vì nội dung án lệ số 16 được quyđịnh trong đoạn 2 của phần “Nhận định của Tòa án”:

“[2] Năm 1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m 2 trong tổng diện tích 398m 2 của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất là 267,4m 2 Năm 1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, diện tích 267,4m 2 , bà Phùng Thị G cùng vợ chồng anh Phùng Văn T vẫn

Ngày đăng: 02/04/2023, 06:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w