TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM KHOA SAU ĐẠI HỌC TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG THU THUẾ VÀ CÁC KIẾN NGHỊ CẢI CÁCH HỆ THỐNG THUẾ Ở VIỆT NAM GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN PGS TS NGUYỄN NGỌC HÙNG NHÓM HỌC VIÊN NGUYỄN TH[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
KHOA SAU ĐẠI HỌC
-TIỂU LUẬN:
THỰC TRẠNG THU THUẾ VÀ CÁC KIẾN NGHỊ CẢI CÁCH HỆ THỐNG THUẾ
Trang 21.2 Nhận xét hệ thống thuế ở Việt Nam 2
1.2.1 Nhận xét về chính sách thuế 2
1.2.1.1 Ưu điểm 2
1.2.1.2 Bất cập, hạn chế 3
1.2.2 Nhận xét về tổ chức bộ máy thu thuế 8
1.2.3 Nhận xét về công cụ quản lý thu thuế 10
2 CÁC KIẾN NGHỊ CẢI CÁCH HỆ THỐNG THUẾ Ở VIỆT NAM 10
2.1 Điều kiện kinh tế cho việc kiến nghị 10
2.1.1 Môi trường kinh tế trong nước 10
2.1.2 Môi trường kinh tế quốc tế 11
2.1.2.1 Các cam kết cắt giảm thuế khi đã gia nhập WTO 11
2.1.2.2 Các cam kết cắt giảm thuế của khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Hàn Quốc 11
2.1.2.3 Xu hướng cải giảm thuế TNDN để tăng sức cạnh tranh của các nền kinh tế trong khu vực
12 2.2 Quan điểm, mục tiêu cải cách 12
2.3 Các kiến nghị 13
2.3.1 Cải cách hệ thống chính sách thuế 13
2.3.2 Cải cách thuế tiêu thụ đặc biệt 13
2.3.3 Thuế tài nguyên 13
2.3.4 Thuế nhà đất 13
2.3.5 Thuế chuyển quyền sử dụng đất 14
2.3.6 Thuế sử dụng đất nông nghiệp 14
2.3.7 Thuế xuất nhập khẩu 14
2.3.8 Thuế giá trị gia tăng 14
2.3.9 Thuế thu nhập cá nhân 16
2.3.10 Thuế TNDN 16
3 KẾT LUẬN 17
Lời mở đầu
Cùng với các ngành tài chính, ngân hàng , ngành thuế Việt Nam luôn được đánh giá là một trong những lĩnh vực trọng yếu, có tầm quan trọng hàng đầu trong hệ thống kinh tế nước nhà Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước đã luôn theo dõi, quan tâm và chỉ đạo
Trang 3sát sao công cuộc xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống thuế trong suốt nhiều nămqua
Với nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, ngành thuế nước ta đã nhữngbước phát triển, những chuyển hướng tích cực đáng ghi nhận Cùng với việc đổi mớichính sách kinh tế, hệ thống luật pháp, thể chế, cải cách hệ thống thuế trong thời gian qua
đã góp phần quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, điềuchỉnh vĩ mô các hoạt động sản xuất và tiêu dùng cũng như thực hiện các mục tiêu pháttriển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn những tồntại, những bất cập đã và đang phát sinh, tiếp diễn …
Sau gần hai thập kỷ cải cách, cơ cấu kinh tế và điều kiện kinh tế - xã hội ViệtNam đã có những chuyển biến quan trọng hướng đến một giai đoạn mới của quá trìnhphát triển; quan hệ hợp tác quốc tế cũng bước vào giai đoạn hội nhập sâu, rộng hơn vàonền kinh tế thế giới Hệ thống thuế là một trong những thực thể bị chi phối nhiều nhất khiViệt Nam gia nhập WTO Dựa trên một số nguyên tắc bắt buộc phải tuân thủ khi gianhập WTO và dựa vào các chuyển động của công tác thuế trong thời gian gần đây chochúng ta nhận định rằng hệ thống thuế cần phải tiếp tục cải cách, cải cách mạnh mẽ hơnnữa để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế trong giaiđoạn mới
Ngày 06/12/2004, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 201/QĐ-TTg phêduyệt chương trình cải cách thuế đến năm 2010 Đây có thể coi là nội dung chủ đạo củachương trình cải cách thuế bước 3 cho đến năm 2010
Trên cơ sở những nhận định trên, chúng em quyết định thực hiện đề tài “Thực
trạng hệ thống thuế & các kiến nghị cải cách hệ thống thuế ở VN” với mong muốn có
thêm những đóng góp, những cái nhìn thiết thực về hệ thống thuế nước ta
Tuy đã hết sức cố gắng, nhưng do trình độ còn hạn chế phần nào, nên chắc chắntrong quá trình làm không thể tránh được khỏi những sai sót, mong thầy chỉ bảo vàhướng dẫn để đề tài được hoàn thiện hơn
Chúng em xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến PGS, TS Nguyễn Ngọc Hùng,người thầy đã tận tình giảng dạy chúng em trong suốt thời gian qua Tuy rằng chỉ đượchọc với thầy trong một thời gian ngắn, nhưng chúng em đã thật sự cảm nhận thêm đượcnhững cái hay, những cái mới về Tài chính công
Xin chân thành cám ơn ! Thành phố Hồ Chí Minh tháng 11/2008
Nhóm thực hiện đề tài
1 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG THUẾ Ở VIỆT NAM
1.1 Cơ cấu hệ thống thuế ở Việt Nam
Trang 4 Các sắc thuế hiện hành ở Việt Nam
Thu trong nước (Không kể thu từ
Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu
Thu từ khu vực công, thương
nghiệp, dịch vụ ngoài quốc
Trang 5Thuế sử dụng đất nông nghiệp 1.96 0.62 0.1 0.07 0.06 0.04Thuế thu nhập đối với người có
Thuế xuất nhập khẩu thuế tiêu
Thu viện trợ không hoàn lại 2.23 1.82 1.95 1.51 1.66 2.83
1.2 Nhận xét hệ thống thuế ở Việt Nam
1.2.1 Nhận xét về chính sách thuế
1.2.1.1 Ưu điểm
Chính sách thuế đã bắt đầu phát huy được tác dụng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh
tế Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất đã tạo ra môi trường bình đẳng về pháp luậtcho sự cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tếphát triển Chính sách thuế từng bước tạo ra sự công bằng về nghĩa vụ nộp thuế giữa cácđối tượng khác nhau, góp phần thúc đẩy đầu tư vốn, cải tiến công nghệ, tăng năng suấtlao động, giảm giá thành …
Thuế thu nhập cá nhân
Trang 6Luật Thuế TNCN vừa được ban hành đã đảm bảo được nguyên tắc công bằng vàkhả năng nộp thuế, thể hiện ở chỗ: Người có thu nhập cao hơn thì nộp thuế nhiều hơn,người có thu nhập như nhau nhưng có hoàn cảnh khó khăn hơn thì nộp thuế ít hơn, mỗi
cá nhân dù có thu nhập từ các nguồn khác nhau đều được điều chỉnh thống nhất trongmột chính sách thuế; người có thu nhập thấp chưa phải nộp thuế
Ngoài ra, đối tượng nộp thuế có bổ sung thêm cá nhân có thu nhập chịu thuế từ đầu
tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng tài sản, thu nhập từ thừa kế, quà tặng
Thu nhập chịu thuế được mở rộng đối với các khoản như: thu nhập từ đầu tư vốn;thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản trong đó có chuyểnnhượng quyền sở hữu nhà ở hoặc quyền sử dụng đất ở; chuyển nhượng quyền thuê đất,thuế mặt nước; một số khoản thu nhập từ thừa kế, quà tặng; thu nhập từ trúng thưởngtrong các hình thức cá cược, casino
Thuế xuất, nhập khẩu và thuế GTGT
Chính sách thuế đã góp phần khuyến khích xuất khẩu Hàng hóa xuất khẩu không phảichịu thuế giá trị gia tăng, đồng thời được hoàn lại toàn bộ số thuế giá trị gia tăng đã nộp ởđầu vào
Thuế sử dụng đất nông nghiệp (thuế SDĐNN)
Nghị quyết của Quốc hội về miễn, giảm thuế SDĐNN từ năm 2003 đến năm 2010
là một chủ trương lớn được đa số cử tri cả nước tán thành Thực sự, với người nông dânmức sống của họ thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung của cả nước Chủ trương củaĐảng và Nhà nước về miễn, giảm thuế SDĐNN lần này là Nhà nước đầu tư trực tiếpphần thuế cho hộ nông dân nhằm giúp họ có điều kiện đầu tư mở rộng sản xuất, ổn địnhcuộc sống
Ngoài ra, việc miễn giảm thuế cho họ còn mang một ý nghĩa xã hội rất lớn, gópphần đẩy nhanh tốc độ xóa đói giảm nghèo, nâng cao phần nào đời sống nông thôn, hạnchế tốc độ phân cấp giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn hiện nay
Mặt khác, số thuế từ SDĐNN chiếm tỷ trọng không lớn so với tổng thu ngân sách
và Chính phủ cũng đã có lộ trình điều chỉnh, giảm dần từ vài năm trước, nên không ảnhhưởng gì lớn đến việc cân đối ngân sách của các địa phương
Theo nội dung của Nghị quyết, các đối tượng được miễn thuế SDĐNN bao gồm:
Hộ nông dân sử dụng diện tích trong hạn mức quy định tại Luật Đất đai, kể cả hộ nôngdân đó được cho, tặng, thừa kế, nhận chuyển nhượng đất để sản xuất nông nghiệp, màtổng diện tích của hộ đó chưa vượt hạn điền
Hộ nông trường xã viên, xã viên HTXNN nhận đất giao khoán của doanh nghiệp, HTX
để sản xuất nông nghiệp
Hộ nông dân đưa ruộng đất vào thành lập các HTXNN theo Luật HTX
Toàn bộ diện tích đất sản xuất nông nghiệp của hộ được xác định là hộ nghèo theo quyđịnh chuẩn hộ nghèo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và tổ chức, cá nhân có
Trang 7đất sản xuất nông nghiệp ở các xã đặc biệt khó khăn theo Chương trình 135 của Chínhphủ
Các đối tượng được giảm thuế bao gồm:
Đất của các tổ chức, doanh nghiệp đang quản lý và trực tiếp sản xuất chưa thực hiệnviệc giao khoán cho các hộ nông trường viên
Đất của các tổ chức, tổ chức kinh tế-xã hội, các đơn vị hành chính sự nghiệp, đơn vịlực lượng vũ trang đang sử dụng đất hoặc đấu thầu giao đất cho các tổ chức, cá nhânkhác sản xuất và thu lại bằng tiền hoặc hiện vật
Đất của hộ gia đình có sản xuất nông nghiệp nhưng không phải là hộ nông dân
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp vượt hạn điền của các hộ nông dân và các hộ khác
Các hộ được giảm thuế nêu trên, nếu trong năm sản xuất gặp thiên tai gây thiệt hại mùamàng cũng sẽ được xem xét giảm thuế do thiên tai
1.2.1.2 Bất cập, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, Luật thuế GTGT hiện hành còn bộc lộ một sốhạn chế cần được tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xãhội của đất nước trong tình hình mới
Một là, về diện hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT:
Luật thuế GTGT hiện hành quy định 28 nhóm hàng hoá, dịch vụ không chịu thuếGTGT Quy định này là phù hợp với điều kiện thực tiễn của nước ta thời gian qua, tuynhiên trong quá trình thực hiện và cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước, một số hàng hoá, dịch vụ nếu tiếp tục áp dụng không chịu thuế GTGT sẽ khôngcòn phù hợp do không đảm bảo tính liên hoàn trong việc khấu trừ thuế đầu vào, đầu racủa doanh nghiệp Do đó, cần rà soát để chuyển sang đối tượng chịu thuế nhằm đảm bảotính liên hoàn của thuế GTGT và tạo thuận lợi hơn cho cơ sở sản xuất, kinh doanh Bêncạnh đó cũng cần bổ sung cụ thể hoá các dịch vụ tài chính mới chưa được quy định trongLuật, như: dịch vụ hoán đổi lãi suất, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọnmua, bán ngoại tệ, (gọi chung là các dịch vụ tài chính phái sinh) và các giao dịchchuyển nhượng vốn để đảm bảo cơ sở pháp lý trong quá trình thực hiện và phù hợp vớithông lệ quốc tế
Hai là, về thuế suất thuế GTGT
Năm 1997, khi ban hành Luật thuế GTGT, ngoài thuế suất 0%, còn có 3 mức thuếsuất: 5%, 10 % và 20%. Từ ngày 1 tháng 4 năm 2004; áp dụng Luật sửa đổi bổ sung: bỏthuế suất 20%, chỉ còn 2 thuế 5% và 10% Trong đó 5 % là mức thuế suất ưu đãi, được
áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ là đầu vào của sản xuất nông nghiệp hoặc phục vụ nhucầu thiết yếu của người dân Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, trước những khó khăncủa nền kinh tế, diện áp dụng mức thuế suất 5% cũng được mở rộng và chưa theo đúngnguyên tắc nêu trên Từ đó dẫn đến doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh một số hàng hoá,
Trang 8dịch vụ ở mức thuế suất này không những không phải nộp thuế mà còn được hoàn thuế từngân sách Nhà nước, do đó, cần thiết rà soát lại diện áp dụng mức thuế suất 5% để phùhợp với thực tiễn.
Mặt khác, tiêu chí phân định ranh giới áp dụng mức thuế suất 5% và 10% chưa rõràng: vừa theo tên hàng hoá, dịch vụ, vừa theo công dụng hàng hoá, dịch vụ, vừa theotính chất của hàng hoá, dịch vụ, dẫn đến việc áp dụng mức thuế suất không thống nhất,nảy sinh vướng mắc trong quá trình thực hiện
Ví dụ: sản phẩm cơ khí tiêu dùng áp dụng mức thuế suất 10%, sản phẩm cơ khí là
tư liệu sản xuất áp dụng mức thuế suất 5%, trên thực tế có những sản phẩm cơ khí khôngthể phân định được rõ ràng là dùng cho tiêu dùng hay dùng cho sản xuất
Ba là, về điều kiện được khấu trừ, được hoàn thuế
Luật thuế GTGT hiện hành quy định căn cứ khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào làhoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ Thực tiễn quản lý thuế thời gian qua cho thấy quyđịnh nêu trên chưa đầy đủ, chưa chặt chẽ, dễ bị lợi dụng khấu trừ khống hoặc hoàn thuếkhống thông qua việc sử dụng hoá đơn ghi chép không trung thực với thực tế giao dịch
và các loại hoá đơn bất hợp pháp khác để gian lận trong khấu trừ, làm giảm số thuếGTGT phải nộp hoặc tăng số thuế GTGT được hoàn khống rút tiền ngân sách, gây bấtbình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các đối tượng nộp thuế, ảnh hưởng đến môi trường đầu
tư Trong thời gian vừa qua đã xuất hiện một loại tội phạm kinh tế mới - tội phạm mua,bán, sử dụng hoá đơn bất hợp pháp để chiếm đoạt tiền thuế GTGT của Nhà nước như một
số đối tượng đã lợi dụng sự thông thoáng của Luật Doanh nghiệp và quy định về điềukiện được khấu trừ thuế, được hoàn thuế nêu trên để thành lập doanh nghiệp nhằm mụcđích mua, bán hoá đơn kiếm lời bất chính
Bốn là, về hình thức văn bản.
Thuế GTGT được thể hiện tại 3 văn bản Luật khác nhau là Luật thuế GTGT năm
1997, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT năm 2003, Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế GTGT năm 2005 Mặtkhác, năm 2006, Luật Quản lý thuế (đã được Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ01/7/2007) đã quy định các nội dung về quản lý thuế như đăng ký, kê khai, nộp thuế, xử
lý vi phạm để thay thế cho các quy định về quản lý thuế trong các luật, pháp lệnh thuế đãđược ban hành trước đây, trong đó có Luật thuế GTGT Với nhiều văn bản Luật cùng quyđịnh về thuế GTGT nên chưa tạo thuận lợi cho việc tra cứu, áp dụng pháp luật
Thuế xuất, nhập khẩu
Cách thức áp mã số thuế tuỳ tiện, miễn, giảm thuế vô lối cho doanh nghiệp này màkhông cho doanh nghiệp khác không chỉ làm nhà nước thất thu lớn mà còn làm méo mómôi trường kinh doanh
Điều nguy hiểm là những chính sách hướng dẫn không rõ ràng, không nhất quán từcấp bộ cho tới cấp tổng cục xuống các cục, chi cục hải quan sẽ tạo ra những kẽ hở lớncho cán bộ, công chức ngành này nhũng nhiễu
Trang 9Việc áp dụng giá tối thiểu tuy dễ thực hiện, đảm bảo chống gian lận về giá, nhưnglại không phù hợp với thông lệ quốc tế Nhiều trường hợp không chính xác, mang tính ápđặt của Nhà nước nên có tình trạng lạm thu hoặc thất thu.
Luật hiện hành chỉ quy định hình thức thu thuế theo tỷ lệ (ví dụ thu 30% giá trị/kgtáo) chưa quy định hình thức thu thuế theo mức thu tuyệt đối (ví dụ thu 5.000 đ/kg táo).Hình thức thu thuế theo tỷ lệ tuy có ưu điểm là dễ áp dụng, nhưng trong trường hợp đốitượng nộp thuế khai thấp giá trị tính thuế, nhưng cơ quan hải quan không có đủ cơ sở đểxác định chính xác trị giá nhập khẩu mà người mua phải thanh toán cho người bán
Thuế chuyển quyền sử dụng đất
Thuế chuyển quyền sử dụng đất là 4% đối với đất ở, đất xây dựng công trình và 2%đối với đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối Thuếchuyển quyền sử dụng đất hiện nay quy định là quá cao, khiến người dân chấp nhận muabán trao tay, không qua đăng ký, làm cho Nhà nước thất thu thuế và không quản lý đượcviệc sử dụng nhà đất
Ví dụ: một hộ gia đình mua 1 ngôi nhà có diện tích đất 50 m2, với giá trung bìnhhiện nay ở Hà Nội khoảng 30 triệu đồng/m2, chủ nhân phải đóng thuế CQSDĐ là 60 triệuđồng
Trong thực tế hiện nay, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cá nhân vớinhau, đa số là thông qua hợp đồng chuyển nhượng được các cơ quan có thẩm quyền xácnhận, hình thức trao tiền qua tay mà không hề sử dụng đến tờ hóa đơn, nên đã xảy ratrường hợp là giá đất chuyển nhượng thực tế ghi trên hợp đồng chuyển nhượng có thể caohơn hoặc thấp hơn giá đất mà UBND tỉnh quy định tại thời điểm trước bạ Do vậy, trongtrường hợp này thì cơ quan thuế tính thu theo giá thực tế ghi trên hợp đồng chuyểnnhượng quyền sử dụng đất hay là giá UBND tỉnh quy định
Từ thực tế này dẫn đến việc gia tăng và tồn tại chủ yếu hoạt động mua bán “traotay” hoặc lập hai hợp đồng mua bán, trong đó có một hợp đồng giả giảm giá bán để trốnthuế Còn đối với khu vực đất nông thôn lại diễn ra tình trạng mua bán bằng giấy viết tay,không qua giao dịch để tránh nộp thuế
Chính sách ban hành hiện nay chưa nhất quán, cùng một thời điểm thu như nhau,cùng một diện tích đất, vị trí đất cũng như nhau mà căn cứ để tính thu khác nhau là khôngphù hợp với thực tế
Ví dụ: Người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có sử dụng hóa đơn, giá thực
tế ghi trên hóa đơn cao hơn giá UBND tỉnh quy định, thì tính lệ phí trước bạ là giá ghitrên hóa đơn, còn người chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải nộp thuế chuyển quyền
sử dụng đất theo giá đất UBND tỉnh quy định
Thuế chuyển quyền sử dụng đất mang tính “cào bằng”, bất kỳ trường hợp sangnhượng nào, dù có thu lợi nhuận hay không cũng đều phải đóng thuế chuyển quyền sửdụng đất
Trang 10Đối với doanh nghiệp kinh doanh bất động sản vừa phải nộp thuế chuyển quyền sửdụng đất, lại vừa nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (thu nhập từ chuyển nhượng).
Thuế sử dụng đất nông nghiệp
Đối tượng được miễn thuế sử dụng toàn bộ diện tích đất nông nghiệp là các hộnghèo (căn cứ quy định chuẩn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội); và tổ chức, hộgia đình, cá nhân có đất sản xuất nông nghiệp tại các xã đặc biệt khó khăn thuộc chươngtrình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng xa
Nhưng thực tế cho thấy, lợi dụng quan điểm vì người nghèo này của Nhà nước, màmột số nơi đã trục lợi Thực tế người dân nghèo không được miễn giảm gì cả, mà số tiềnthuế miễn giảm cũng chẳng được đưa vào ngân sách mà lại chảy vào túi một số kẻ chứctrách Đây là thực tế đau lòng mà Đảng, Nhà nước ta đang ra sức loại bỏ
Chúng ta vẫn phải duy trì một bộ máy thu thuế cồng kềnh, quan liêu, trong khi tiềnthu được chỉ chiếm 0.04% ngân sách năm 2006
Thuế nhà, đất:
Công thức tính thuế nhà, đất:
Thuế nhà, đất = Diện tích đất x Mức thuế sử dụng đất nông nghiệp x Bội sốthuế sử dụng đất nông nghiệp x Hệ số phân bổ theo tầng
Thuế nhà đất vẫn được tính dựa trên cơ sở là thuế đất nông nghiệp để nhân lên từ 1
đến 32 lần tùy theo vị trí là một điều bất hợp lý và thiếu sức thuyết phục Điều này đã dẫnđến việc có rất nhiều cá nhân và tổ chức ở các đô thị phản đối Họ cho rằng họ ở “trênphố” và không làm ruộng vậy thì không có lý do gì để lấy thuế đất nông nghiệp rồi nhânlên 32 lần để đánh thuế
Khi thực hiện chuyển từ đánh thuế theo hiện vật sang đánh thuế theo thị trường thìchúng ta lại không có cơ sở để xác định giá trị tài sản
Đối với nhà đất mà người bán có nhu cầu thay đổi chỗ ở và người mua có nhu cầumua để sử dụng thì người mua và người bán thường tự thỏa thuận ghi giá trị mua bán trênhợp đồng chính thức (hợp đồng qua công chứng) thấp hơn giá trị thực để trốn thuế (mặc
dù Nhà nước có quy định là giá trị hợp đồng thấp hơn giá trị quy định để tính thuế thì thutheo giá nhà nước, ngược lại thì thu theo giá trị hợp đồng)
Đối với nhà, đất mà nhà đầu tư thứ cấp kinh doanh (giao dịch thứ cấp, có yếu tố đầucơ) thường giao dịch qua tay với nhau, họ chỉ cần xác nhận giao dịch hoặc chuyển tênqua chủ đầu tư, giá trị giao dịch là do hai bên mua bán thỏa thuận, Nhà nước không quản
lý được giá trị giao dịch để thu thuế
Chưa có một hệ thống chuyên sâu về định giá tài sản, do đó không định giá đúnggiá trị nhà, đất dẫn đến việc thu thuế chưa đảm bảo được sự công bằng cho mọi ngườidân
Hạng đất và mức thuế chênh lệch giữa các hạng đất không được xác định rõ ràng dễdẫn đến tiêu cực trong đóng thuế và thu thuế bởi đa số người dân không biết đất mình