1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chuyên đề thực tập thực trạng quản lý thu thuế tncn đối với văn phòng đại diện người nước ngoài trên địa bàn tp hồ chí minh

64 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng quản lý thu thuế tncn đối với văn phòng đại diện người nước ngoài trên địa bàn tp hồ chí minh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý thuế
Thể loại Chuyên đề thực tập
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 842,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỤC LỤC Trang Lôøi môû ñaàu CHƯƠNG I LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THUẾ TNCN Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam[.]

Trang 1

Trang Lời mở đầu

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THUẾ TNCN

Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới

Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRỊ CỦA T.TNCN

I Khái niệm cơ bản về thuế TNCNSỰ KHÁC BIỆT TRONG CHÍNH SÁCH T.TNCN Ớ CÁC QUỐC GIA

II.

Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân

Vai trị của thuế thu nhập cá nhân trong nền kinh tế xã hội

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ THUẾ TNCN HIỆN HÀNH Phạm vi áp dụng

Đối tượng nộp thuế

Thu nhập chịu thuế

2.1 Thu nhập thường xuyên gồm:

Thu nhập khơng thường xuyên bao gồm:

Các khoản thu nhập khơng chịu thuế bao gồm:

Căn cứ tính thuế thu nhập

Đối với thu nhập thường xuyên

Đối với thu nhập khơng thường xuyên

Những nội dung pháp lý cơ bản về quản lý thuế TNCN

6 Tổ chức quản lý thu :

Đăng ký, cấp và sử dụng mã số thuế

Trang 2

Thủ tục kê khai, nộp thuế

Kê khai và nộp thuế đối với thu nhập thường xuyên

Kê khai nộp thuế đối với thu nhập không thường xuyên

Thời hạn kê khai, nộp thuế

6 Nguyên tắc quyết toán thuế

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ TNCN ĐỐI VỚI VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TRÊN

ĐỊA BÀN TP.HỒ CHÍ MINHKHÁI QUÁT TÌNH HÌNH THU THUẾ TNCN Ở TP.HCM TRONG NHỮNG NĂM QUA

Đặc điểm kinh tế -xã hội TP.HCM

Cơ cấu tổ chức của Cục Thuế Tp.HCM

Bộ máy tổ chức của toàn cục nói chung

Chức năng nhiệm vụ của Phòng thuế TNCN

Tình hình thu thuế TNCN ở Tp.HCM trong những năm qua

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ TNCN ĐỐI VỚI VPĐD

Tìm hiểu khái quát về hoạt động của VPĐD trên địa bàn TP.HCM

Khái niệm

Vai trò

Trang 3

trên địa bàn Tp.HCM

NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1 Các biện pháp quản lý hành chính được tăng cường hiệu quả

2 Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thu thuế

3 Kiểm soát gắt gao hoạt động của các VPĐD bằng cách phối hợp với các cơ quan có liên quan

4 Kiểm tra chặt chẽ các quyết toán thuế ớ các VPĐD

5 Ý thức tự giác của người dân được nâng cao

IV. NGUYÊN NHÂN CỦA TÌNH TRẠNG THẤT THU THUẾ

1 Nguyên nhân từ phía văn phòng đại diện

2 Nguyên nhân từ phía Nhà nước

3 Nguyên nhân từ phía cán bộ thuế và cơ quan thuế

BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT HIỆU QUẢ NGUỒN THUẾ

TNCN Ở VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN

I ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT HIỆU QUẢ VỚI CƠ QUAN

THUẾ

II HOÀN THIỆN CÁC CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỂ KIỂM SOÁT

HIỆU QUẢ NGUỒN THU T.TNCN

Trang 5

Bảng 1: Số thu và tốc độ tăng thu (TĐTT) T.TNCN ở Tp.HCM, T.TNCN cả nước và tổng thu NS nhà nước trong giai đoạn từ 2001-2006

Bảng 2: Tỷ trọng thuế TNCN ở Tp.HCM so với cả nước và so với tổng thu

NS quốc gia, tỷ trọng T.TNCN cả nước so với tổng thu NS.

Bảng 3: Số lượng VPĐD trên địa bàn TP.HCM từ 2002-2006

Bảng 4: Số liệu thống kê tình hình thu thuế TNCN của các VPĐD trên địa bàn TP.HCM từ 2003-2006

Bảng 5: Tỷ trọng T.TNCN ở VPĐD so với T.TNCN Tp và cả nước từ 2006

2003-Biểu 1: Áp dụng với công dân Việt Nam và cá nhân khác định cư tại Việt Nam

Biểu 2: Áp dụng với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và công dân Việt Nam lao động, công tác ở nước ngoài

Trang 6

Hình 1: Sơ đồ bộ máy tổ chức Cục Thuế TP.HCM

Hình 2: Sơ đồ tổ chức phòng thuế TNCN TP.HCM

Đồ thị 1: Tốc độ tăng thu T.TNCN từ 2003-2006

Đồ thị 2: Tỷ trọng T.TNCN ở VPĐD so với T.TNCN Tp từ 2003-2006



Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

I Hoàn cảnh và lý do chọn đề tài

TP Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước với tốc độphát triển rất cao, nguồn vốn đầu tư nước ngoài nhiều Vì vậy đây cũng là địabàn có số lượng văn phòng đại diện người nước ngoài nhiều nhất cả nước.Năm 2007 vừa qua là một năm có nhiều sự kiện lớn đầy biến động và ảnhhưởng mạnh mẽ đến tình hình phát triển kinh tế của Thành phố Đặc biệt là

sự kiện đã gia nhập tổ chức WTO Hội nhập quốc tế sâu tạo nên những thuậnlợi cũng như khó khăn thách thức cho Thành phố nói riêng và cả nước nóichung

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã có nhiều camkết về chính sách cắt giảm thuế, đồng nghĩa với việc NSNN sẽ bị giảm mộtphần Tuy nhiên bên cạnh việc thực hiện cắt giảm một số sắc thuế thì chúng

ta cũng phải triển khai nhiều chính sách thuế mới mà các nước tiên tiến trênthế giới đã thực hiện từ nhiều thập kỷ qua, trong đó có thuế thu nhập cá nhân(TNCN) Thuế TNCN ra đời nhằm tăng thu cho NSNN, tạo sự bình đẳngthuế đối với tất cả các thành phần trong xã hội, nhất là bối cảnh đất nước đãchính thức gia nhập WTO Vì vậy, việc nghiên cứu các giải pháp nâng caoquản lý thuế TNCN có tầm quan trọng hàng đầu…

Năm 2007 cũng là năm Phòng thuế TNCN tập trung kiểm tra vào khuvực người nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam, trong đó có những ngườilàm việc trong các VPĐD Nguồn thu T.TNCN ở VPĐD trong những nămvừa qua đã tăng lên đáng kể do số lượng VPĐD ngày càng tăng Tuy nhiênvẫn còn nhiều bất cập trong việc quản lý làm thất thu thuế Nếu ta có nhữngbiện pháp để kiểm soát hiểu quả nguồn thu này thì sẽ tăng số lượng rất đáng

kể cho nguồn thuế TNCN của TP Hồ Chí Minh

Với những lập luận như trên, tôi đã chọn đề tài biện pháp kiểm soáthiệu quả nguồn thuế TNCN ở các văn phòng đại diện trên địa bàn TP.HCM.Qua đó tôi xin được nêu ra thực trạng thu thuế TNCN ở VPĐD trong nhữngnăm qua ở TP.HCM và đưa ra những giải pháp đề xuất của bản thân để có

Trang 8

II Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là các cá nhân người nước ngồi và Việt Namlàm việc trong các VPĐD trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

VPĐD hiện tồn tại ở TP.HCM với nhiều hình thức đa dạng, phongphú Nguồn thu nhập của các nhân viên làm việc trong VPĐD, đặc biệt làngười nước ngồi rất khĩ kiểm sốt Bởi vì các tổ chức này trên thực tếkhơng phải chỉ là văn phịng đại diện mà họ cịn thực hiện những hoạt độngkinh doanh để sinh lời Vì vậy họ cĩ thể đĩng gĩp vào rất nhiều cho nguồn

NS thành phố

III Thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Ở chương I của đề tài : lý luận tổng quan về T.TNCN, tơi đã sửdụng các tài liệu thuế của cá chuyên gia thuế, số liệu từ các bàibáo về kinh tế, sách thuế Từ những tài liệu này, tôi đãphân tích, chọn lọc, tổng hợp và làm rõ hơn phần cơ sở lýluận của thuế thu nhập cá nhân

Ở chương II là phần thực trạng, tôi đã sử dụng cácphương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tập hợpnguồn số liệu tổng kết báo cáo tổng kết côngtác từng tháng, quý, năm của phịng Thuế TNCN năm 2002-2006,tạp chí thuế Nhà nước từ năm, các bài bình luậnvề thuế TNCN của các tác giả…

Ở chương III là phần giải pháp, từ những con số thực tế,những dữ liệu tổng hợp được tơi xin được đề xuất những giải pháp để cĩ thểkiểm sốt hiệu quả hơn nguồn thu này trong thời gian tới

Trang 9

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

I LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THUẾ TNCN

1 Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới

Trên thế giới, thuế TNCN ra đời cách đây hơn 200 năm: được áp dụng đầutiên tại Hà Lan vào năm 1797 Năm 1799 xuất hiện tại nước Anh, gọi là thuế thunhập (loại thuế đánh trên thu nhập của những người làm công ăn lương, hoặc sửdụng tài sản của mình vào việc kinh doanh kiếm lợi nhuận), đã có những bước pháttriển vững chắc và ngày nay trở thành sắc thuế quan trọng, giữ vị trí trung tâm trong

hệ thống thuế tại nhiều quốc gia trên thế giới Và trên thực tế thuế thu nhập đã trởthành sắc thuế có doanh thu lớn nhất tại nhiều nước

Mỹ, các nước châu Âu và những nước công nghiệp phát triển khác áp dụngthuế TNCN từ thế kỷ XIX; các nước châu Á vào giữa thế kỷ XX; các nước thuộc hệthống XHCN cũ chỉ bắt đầu áp dụng khi thực hiện cải cách, chuyển đổi nền kinh tếvào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước

Ngày nay, thuế TNCN được áp dụng ở hầu khắp các nước trên thế giới(khoảng 180 nước) và đã trở thành một trong những nguồn thu nhập chính của ngânsách quốc gia, nhất là ở các nước phát triển (Đan Mạch 50%; Anh 35%; Mỹ,Canađa, Úc là 40%, 30% và 54% trong tổng số thu về thuế của ngân sách liên bang;Trung Quốc khoảng 12% tổng thu thuế của nhà nước)

Hầu hết các quốc gia đều có chính sách thuế TNCN, đều nhằm một số mụctiêu tương tự nhau và đều có thuế suất lũy tiến từng phần Thuế TNCN trên thế giớithông thường đánh vào cả cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh Thuếnày thường được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân

có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoảnmiễn trừ đặc biệt Tuy nhiên, do khác nhau về hoàn cảnh kinh tế-xã hội, nhất lànăng lực quản lý khác nhau nên thu nhập chịu thuế được xác định không giống

Trang 10

 Thu nhập tính thuế là TNCN trừ đi một khoản cố định không tínhthuế; hoặc trừ đi một số khoản chi tiêu tối thiểu tùy nhân than ngườinộp thuế.

 Thu nhập tính thuế là thu nhập của từng cá nhân riêng biệt; hoặc thunhập bình quân/cá nhân trong từng hộ gia đình

 Thu nhập tính thuế là tổng thu nhập của cá nhân (từ nhiều nguồn,nhiều hoạt động khác nhau; hoặc tính thuế riêng biệt trên từng loại cánhân

Xét về nguyên lý thì khi đánh thuế thu nhập, nhà nước phải khấu trừ các chiphí tạo ra thu nhập và các suất miễn thu, phần thu nhập còn lại mới thuộc diện chịuthuế Tuy nhiên, xét về cách thức thu thuế thì trên thế giới có hai cách thu thuế:hoặc là thu từ đồng thu nhập đầu tiên, hoặc là đặt ra ngưỡng thu nhập chịu thuế.Mỗi cách thức thu thuế này đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, song đa sốcác nước trên thế giới thường áp dụng cách thu từ đồng thu nhập đầu tiên

Cách thức thu từ đồng thu nhập đầu tiên mang lại nhiều ưu điểm hơn vì nótạo được sự công bằng và đơn giản hơn so với cách thức xác định ngưỡng thu nhậpchịu thuế Nhà nước có cơ hội tốt nhất để kiểm soát thu nhập của người dân; mặtkhác những người có thu nhập thấp lại được hưởng lợi từ những chính sách trợ cấpcủa nhà nước, vì qua kê khai nộp thuế, nhà nước biết được thu nhập của họ để thựchiện trợ cấp, và vì vậy, tránh được ý định trốn kê khai nộp thuế của nhiều đối tượng,vốn dĩ là một vấn đề không dễ kiểm soát của mọi nhà nước khi thu thuế TNCN

Cách thu thuế trên cơ sở xác định ngưỡng thu nhập chịu thuế thực ra là chỉđánh thuế đối với những người có thu nhập cao đến một mức nhất định, không phảimọi người dân có thu nhập đều phải nộp thuế Điều đó làm mất đi bản chất của loạithuế với tên gọi là thuế TNCN; không tạo ra sự công bằng trong nộp thuế của ngườidân ở cả góc độ quyền lẫn nghĩa vụ Và tất nhiên, do chỉ có một số người có thunhập vượt ngưỡng mới phải nộp thuế nên phát sinh một vấn đề thực tế là chỉ nhữngngười đó mới kê khai thu nhập, do đó nhà nước khó có thể kiểm soát được thu nhậpcủa dân chúng và tất nhiên việc thất thoát nguồn thu này là rất lớn (thực tiễn thuếthu nhập đối với người có thu nhập cao ở Việt Nam hiện nay đã minh chứng điềuđó

Trang 11

người gửi tiền và chỉ nộp 10% số tiền trên cho cục thuế Ngày 1-9-2005, người cóthu nhập trên 1.500 nhân dân tệ (ba triệu đồng Việt Nam) mới phải đóng thuế thunhập cá nhân, tăng lên so với mức thu nhập phải đóng thuế trước kia là 800 nhândân tệ (1,6 triệu đồng Việt Nam) Tỷ lệ đóng thuế cũng sẽ được nâng lên đối vớingười có mức thu nhập cao.

Nhìn chung: Các nước đều áp dụng tỷ lệ thu thuế cao đối với người có thu nhập cao nhằm rút bớt khoảng cách giàu nghèo Ngược lại, các nước cũng chú trọng đến tình trạng kinh tế và gia đình của người nộp để được miễn giảm.

2 Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

Việt Nam đã có thuế TNCN hay chưa? Ttrong nghiên cứu cũng có ý kiếncho rằng chúng ta chưa có thuế TNCN, nếu hiểu thuế TNCN là loại thuế đánh vàomọi đối tượng là cá nhân có thu nhập và đánh từ đồng thu nhập đầu tiên của cánhân ý Ý kiến này cho rằng ở Việt Nam mới chỉ có thuế thu nhập đối với người cóthu nhập cao, tức là mới chỉ đánh thuế thu nhập đối với những đối tượng - cá nhân

có thu nhập đến một mức nhất định theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, đa số ýkiến cho rằng, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ở nước ta hiện nay cũngchính là thuế thu nhập cá nhân, mặc dù đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế cũngnhư cách tính loại thuế này có nhiều điểm rất khác biệt so với pháp luật thuế TNCNcủa các nước trên thế giới

Dù còn có những ý kiến khác nhau nói trên, song, thực tiễn Việt Nam đã tồntại một loại thuế thu trực tiếp vào thu nhập của cá nhân, đó là Pháp lệnh thuế thunhập đối với người có thu nhập cao (sau đây gọi tắt là thuế thu nhập cao) ra đời vàonăm 1990, được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1994, 1997, 1999 Đến năm 2001,

Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh mới thay thế Pháp lệnh năm

1990 và Pháp lệnh thuế thu nhập cao năm 2001 gần đây đã được sửa đổi, bổ sungbởi Pháp lệnh ngày 24 tháng 3 năm 2004 Ngoài ra còn có 2 sắc thuế khác cũng trựctiếp điều tiết thu nhập của cá nhân đó là Thuế thu nhập doanh nghiệp (đánh vào thunhập của các cá nhân kinh doanh) và Thuế chuyển quyền sử dụng đất (đánh vào thunhập từ chuyển quyền sử dụng đất của cá nhân) Theo số liệu của Bộ Tài chính,tổng số thu thuế đối với thu nhập của cá nhân năm 2005 đạt khoảng 8.300 tỷ đồng

(trong đó thuế thu nhập cao 4.400 tỷ đồng, thuế TNDN của hộ kinh doanh là 3.000

Trang 12

sách từ thuế, phí, lệ phí, tương đương 1,1% GDP Năm 2006, tỷ lệ này đã tăng đáng

kể và được coi là sự chuyển biến tích cực

Sau hơn 20 năm đổi mới và phát triển (từ 1986), tình hình kinh tế - xã hộiViệt Nam đã có những bước tiến dài và đáng tự hào: kinh tế tăng trưởng với tốc độcao và ổn định; hoạt động đầu tư kinh doanh không ngừng được mở rộng và ngàycàng phát triển; số lượng doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh ngày càng ra tăng, đặcbiệt là từ khi chúng ta có các luật về doanh nghiệp, về đầu tư Xét trên góc độ tàichính, các nguồn vốn được đưa vào đầu tư kinh doanh ngày càng nhiều, thu nhậpcủa doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh và thu nhập của người dân nói chung ngàycàng tăng Đó là một trong những nhân tố quyết định phải có sự điều chỉnh chínhsách thu tài chính quốc gia, cải cách hệ thống pháp luật thuế, nhằm giải quyết tốtmối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, giữa lợi ích doanh nghiệp, người lao động

và nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế Một trongnhững nội dung điều chỉnh chính sách, pháp luật thuế hiện hành đó là nghiên cứuxây dựng và ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN) ở Việt Nam, thay thếcho thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện nay (dự kiến sẽ được áp dụngvào 1/1/2009)

3 Ưu, nhược điểm của 2 cách thức thu thuế trên thế giới: thu từ đồng thu nhập đầu tiên và đặt ra ngưỡng thu nhập chịu thuế

Xét về nguyên lý thì khi đánh thuế thu nhập, nhà nước phải khấu trừ các chi phí tạo

ra thu nhập và các suất miễn thu, phần thu nhập còn lại mới thuộc diện chịu thuế.Tuy nhiên, xét về cách thức thu thuế thì trên thế giới có hai cách thu thuế: hoặc làthu từ đồng thu nhập đầu tiên, hoặc là đặt ra ngưỡng thu nhập chịu thuế Mỗi cáchthức thu thuế này đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, song đa số các nướctrên thế giới thường áp dụng cách thu từ đồng thu nhập đầu tiên

Cách thức thu từ đồng thu nhập đầu tiên mang lại nhiều ưu điểm hơn vì nó tạo được

sự công bằng và đơn giản hơn so với cách thức xác định ngưỡng thu nhập chịu thuế.Nhà nước có cơ hội tốt nhất để kiểm soát thu nhập của người dân; mặt khác nhữngngười có thu nhập thấp lại được hưởng lợi từ những chính sách trợ cấp của nhànước, vì qua kê khai nộp thuế, nhà nước biết được thu nhập của họ để thực hiện trợcấp, và vì vậy, tránh được ý định trốn kê khai nộp thuế của nhiều đối tượng, vốn dĩ

là một vấn đề không dễ kiểm soát của mọi nhà nước khi thu thuế TNCN

Trang 13

Cách thu thuế trên cơ sở xác định ngưỡng thu nhập chịu thuế thực ra là chỉ đánhthuế đối với những người có thu nhập cao đến một mức nhất định, không phải mọingười dân có thu nhập đều phải nộp thuế Điều đó làm mất đi bản chất của loại thuếvới tên gọi là thuế TNCN; không tạo ra sự công bằng trong nộp thuế của người dân

ở cả góc độ quyền lẫn nghĩa vụ Và tất nhiên, do chỉ có một số người có thu nhậpvượt ngưỡng mới phải nộp thuế nên phát sinh một vấn đề thực tế là chỉ những người

đó mới kê khai thu nhập, do đó nhà nước khó có thể kiểm soát được thu nhập củadân chúng và tất nhiên việc thất thoát nguồn thu này là rất lớn (thực tiễn thuế thunhập đối với người có thu nhập cao ở Việt Nam hiện nay đã minh chứng điều đó)

II KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA T.TNCN

1 Khái quát chung về vai trò và ý nghĩa của thuế TNCN ở các nước

Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá

nhân trong xã hội, trong khoảng thời gian nhất định ( thường là một năm ) Bất kỳ

một quốc gia nào có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường đều coi thuế

TNCN là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách và thực hiện công bằng xã hội Thông qua việc bị điều tiết một phần thu

nhập vào NSNN, những cá nhân có thu nhập cao đã đóng góp nhiều hơn những người có thu nhập thấp vào việc trang trải những chi tiêu của nhà nước, nhu cầu chi tiêu chung của xã hội; khoản đóng góp này đến lượt nó, góp phần mang lại cho người nghèo những tiện ích/phúc lợi mà tự họ không lo liệu được Thuế TNCN trên thế giới thông thường đánh vào cả cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh Thuế này thường được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt Bản chất của thuế thu nhập cá nhân: định nghĩa một

cách rõ ràng về cơ sở tính thuế, hai nhà kinh tế học Haig và Simons định nghĩa vềthu nhập chịu thuế TNCN: "là giá trị của cải ròng tăng lên của một cá nhân cộng

với sự tiêu dùng của cá nhân đó trong một thời gian nhất định, thường là một năm "

Định nghĩa này mang tính toàn diện vì nó bao gồm cả thu nhập bằng tiền và thu

Trang 14

Vậy ta có định nghĩa cơ bản về T.TNCN như sau: Thuế thu nhập cá nhân là

loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội, trong khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)

2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân

Thuế TNCN củng là một loại thuế nên nó mang đầy đủ những đặc điểm củathuế nói chung và thuế trực thu nói riêng Ngoài những đặc điểm cơ bản của thuếnhư: mang tính cưỡng chế, không có đối giá trực tiếp, dùng vào chi tiêu công cộng

và mang tính vĩnh viễn thì thuế TNCN còn có những đặc điểm sau:

- Thuế TNCN là thuế trực thu Đối tượng kê khai nộp thuế cũng chính làngười chịu thuế, cho nên thuế trực thu luôn gây cảm giác gánh nặng thuế, bên cạnh

đó thuế TNCN có tác động rất lớn, ảnh hưởng đến mọi thành viên trong xã hội Do

đó thuế TNCN rất nhạy cảm và dễ bị phản ứng tiêu cực từ phía người nộp thuế dễdẫn đến tình trạng trốn thuế, gian lận thuế

- Thuế TNCN là loại thuế đánh vào thu nhập của cá nhân Đối tượng kê khainộp thuế là các cá nhân có thu nhập, vì vậy đây sẽ là sắc thuế có phạm vi điều tiếtrộng nhất, số lượng cá nhân đăng ký, kê khai nộp thuế lớn Mặt khác, cả đối tượngnộp thuế và nguồn thu nhập chịu thuế đều rất đa dạng, phức tạp và rất phân tán nênviệc hình thành các căn cứ tính thuế trong quá trình xây dựng luật thuế rất khó đầy

đủ, chính xác Đồng thời quá trình quản lý thu nộp thuế trong thực tiễn cũng đòi hỏitrình độ quản lý rất cao và bao quát Vì vậy, công tác thanh tra, kiểm tra, phòngchống các hành vi gian lận và trốn thuế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định

sự thành công của sắc thuế này

Như vậy thuế TNCN là một loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập mà cá nhânnhận được nên nó mang đầy đủ những ưu, khuyết điểm của một loại thuế trực thu.(Thuế trực thu là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế đồng thời cũng là người chịuthuế, chẳng hạn như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế TNCN ):

- Ưu điểm: động viên trực tiếp thu nhập của từng cá nhân có

thu nhập cho nên đảm bảo được tính công bằng xã hội hơn thuế gián thu vìphần đóng góp về thuế sẽ phù hợp với khả năng của từng đối tượng, thu nhậpcao thì nộp thuế nhiều, thu nhập thấp thì nộp thuế ít Ngoài ra, thuế TNCN

Trang 15

nộp thuế như: hoàn cảnh bản thân (tật, bệnh); tình trạng hôn nhân (đã có haychưa có gia đình); hoàn cảnh gia đình (số người phải nuôi dưỡng);

- Nhược điểm: vì thu nhập càng cao sẽ phải nộp càng nhiều nên loại

thuế này sẽ phần nào hạn chế cố gắng tăng thu nhập của các đối tượng Mặtkhác, người có thu nhập chịu thuế phải trực tiếp trả thuế cho Nhà nước nên

họ cảm thấy gánh nặng của thuế và có thể dẫn đến những phản ứng từ chốihoặc trốn, lậu thuế Cơ sở tính thuế là đánh vào thu nhập có trừ chi phí cầnthiết nên, nên việc xác định chi phí được trừ sao cho hợp lý, hợp lệ là mộtvấn đề rất phức tạp và nan giải, thường gây tranh cãi giữa hười nộp thuế và

cơ quan thuế Việc quản lý khó khăn phức tạp và chi phí quản lý tương đốicao

- Do những đặc điểm trên, ta có thể thấy thuế TNCN là rất nhạy cảm ,yêu cầu có một sự tế nhị và khéo léo trong việc thực hiện Việc quản lý thuếTNCN là rất phức tạp, chi phí quản lý thường cao hơn các loại thuế gián thu

Vì nguồn thu nhập chịu thuế đa dạng, phức tạp và rất phân tán, nhất là đốivới các nước áp dụng hệ thống đánh thuế trên tổng thể cho nên thuế TNCNđòi hỏi trình độ quản lý rất cao và tiên tiến

- Đây là loại thuế đánh trực tiếp vào người có thu nhập cá nhân, không gâytác đông xấu đến giá cả hàng hóa, dịch vụ

- Chi phí hành thu của thuế TNCN thường là rất cao, do vậy để giảm chi phíhành thu, một trong các biện pháp thường được các quốc gia áp dụng là khấu trừthuế tại nguồn

- Thuế TNCN là loại thuế có chức năng điều tiết mạnh và đảm bảo côngbằng xã hội Đành rằng, một trong những chức năng của hệ thống thuế nói chung làđiều tiết vĩ mô nền kinh tế, thực hiện công bằng xã hội, song chức năng này thể hiện

rõ nhất trong thuế TNCN, bởi cơ sở tính thuế phụ thuộc vào mức thu nhập củangười nộp thuế và áp dụng loại hình thuế suất lũy tiến từng phần

* Kết luận: Do những đặc điểm trên, ta có thể thấy thuế TNCN là rất nhạy

cảm, yêu cầu có một sự tế nhị và khéo léo trong việc thực hiện Việc quản lý thuếTNCN là rất phức tạp, chi phí quản lý thường cao hơn các loại thuế gián thu Vì

Trang 16

nước áp dụng hệ thống đánh thuế trên tổng thể cho nên thuế TNCN đòi hỏi trình độquản lý rất cao và tiên tiến

3.

Vai trò của thuế thu nhập cá nhân trong nền kinh tế xã hội

- Thuế TNCN là một trong những nguồn thu chủ yếu của Ngân sáchNhà nước.Phụ thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế, nguồn thu này có tính

ổn định và tăng trưởng Ở các nước có nền kinh tế phát triển, dân cư có thu nhậpcao, hệ thống quản lý của nhà nước khá chặt chẽ nên T.TNCN là nguồn thu chủ lựccủa NSNN; ngược lại, ở các nước đang phát triển như Việt Nam ta, do thu nhập dân

cư thấp, đồng thời do hệ thống quản lý còn yếu kém nên T.TNCN chưa phải lànguồn thu lớn

Cụ thể hiện nay trên thế giới có hơn 180 nước đã áp dụng thuế thu nhập cánhân Theo xu hướng phát triển của thế giới Tthì thuế trực thu nói chung và thuếTNCN nói riêng chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng thu Ngân sách về thuế của cácnước phát triển như: Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức… có tỷ trọng thuế thu nhập chiếmkhoảng 30-40% tổng thu ngân sách quốc gia (Hoa Kỳ 56.35%, Canada 50.98%)

Một số nước trong khối ASEAN như Thái Lan, Malaysia, Philippines, thuế thunhập cá nhân chiếm khoảng 12-16% tổng thu ngân sách Nhà nước; các nước đangphát triển khoảng 13 - 14% Trong khi đó ở Việt Nam, số thu từ thuế thu nhập đốivới người có thu nhập cao chỉ chiếm khoảng 2,5% tổng thu ngân sách Nếu tính cả

số thu từ cá nhân, hộ kinh doanh và cá nhân chuyển quyền sử dụng đất thì tổng sốthu thuế thu nhập từ các đối tượng này cũng chỉ chiếm khoảng 4,1% tổng thu ngânsách Nhà nước

Ở các nước đang phát triển, thuế TNCN tuy chiếm tỷ trọng không cao nhưng

số thu luôn gia tăng theo từng năm cùng với mức sống của người dân: Indonesia33.47%; Thái Lan 28.52% (1998); Hàn Quốc 16.66%; Malaysia 10.2%, Philipines17.42% (1998), Việt Nam 1.85% (2002) Ngoài ra, trong xu hướng toàn cầu hóa1

hiện nay, thì thuế TNCN mới thực sự cho thấy được vai trò của nó trong tổng thuNgân sách Nhà nước đặc biệt khi các hiệp định thương mại được ký kết, những ràocản thuế quan được tháo bỏ thì Ngân sách của rất nhiều nước sẽ mất một khoản thurất lớn từ thuế xuất nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt, trong khi thuế TNCN sẽ vẫn

ổn định và tăng lên cùng số lượng lao động ngày một tăng trên thị trường lao động

Trang 17

- Thuế TNCN bảo đảm nguồn thu đáng kể và ổn định cho NSNN Đây là loạithuế có độ co dãn cao về thu nhập, nên Chính phủ không phải thay đổi luật thuếthường xuyên Sự ổn định trong mức huy động hợp lý về thuế sẽ tạo được môitrường phù hợp với mục tiêu thúc đẩy đầu tư phát triển lâu dài, bền vững của mỗiquốc gia.

- Thuế TNCN là công cụ quản lý và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân :Việc đánh thuế vào thu nhập của cá nhân sẽ tác động trực tiếp tới hành vi tiêu dùng

và tích lũy của mỗi cá nhân Khi tăng thuế suất sẽ làm giảm thu nhập của cá nhân,

cá nhân sẽ giảm tiêu dùng Nhu cầu tiêu dùng giảm sẽ làm thay đổi giá cả hàng hoátheo chiều hướng giảm xuống, và nhu cầu tiết kiệm sẽ tăng lên

- Thuế TNCN góp phần điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trongphân phối: trong cơ chế thị trường, các quy luật khách quan được phát huy tác dụngmột cách tối đa, điều này cũng đồng nghĩa với việc phải đối mặt với tình trạng phâncực đối lập nhau: một bên là thiểu số người giàu có thu nhập cao và một đại bộ phậndân cư chỉ đạt mức tăng thu nhập nhỏ nhoi

Tình trạng trên không chỉ nói lên mức sống bị phân biệt mà còn liên quanđến đạo đức, công bằng xã hội Khoảng cách giàu nghèo ấy ảnh hưởng rất lớn đến

sự phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia Bởi vậy, sự can thiệp, điều tiết củaNhà nước là đặc biệt hữu ích, và thuế TNCN là một công cụ có vai trò đó Khôngchỉ điều hoà thu nhập xã hội, thuế TNCN còn trực tiếp thực hiện công bằng xã hộithông qua việc đánh thuế trực tiếp vào thu nhập của mỗi cá nhân Số thu thuế từnhững người có thu nhập cao sẽ được phân phối lại cho những người có thu nhậpthấp hơn thông qua việc sản xuất hàng hoá công và các khoản trợ cấp

- Thuế TNCN giúp khắc phục tính luỹ thoái trong thuế gián thu (ProportionalTax): Nhược điểm của thuế gián thu là tính lũy thoái (là loại thuế thu cùng một thuếsuất đối với những khối lượng khác nhau của cùng một loại hàng hóa), thuế suấtgián thu không phân biệt người nghèo hay người giàu vì khi tiêu thụ hàng hoá, dịch

vụ, mọi người đều phải chịu một thuế suất như nhau trên cùng một lượng hàng hoá,dịch vụ Mức chênh lệch về thu nhập càng lớn thì tính luỹ thoái của thuế gián thucàng cao Thuế TNCN với thuế suất luỹ tiến từng phần sẽ góp phần khắc phục đượcvấn đề này vì người có thu nhập cao sẽ bị đóng thuế nhiều hơn

Trang 18

- Thuế TNCN được xây dựng theo biểu thuế lũy tiến, bảo đảm được chínhsách động viên công bằng giữa các tầng lớp dân cư có thu nhập cao, thấp khác nhau,góp phần thu hẹp khoảng cách quá chênh lệch về thu nhập, đời sống xã hội

- Thuế TNCN còn là công cụ thực hiện việc kiểm soát toàn bộ thu nhập củadân cư: thông qua việc kiểm tra thu nhập, cơ quan thuế sẽ phát hiện các khoản thunhập không hợp pháp Qua đó Nhà nước có thêm điều kiện nắm được tình hình thunhập trong các tầng lớp dân cư, để có căn cứ xem xét, xây dựng các chính sách kinhtế-tài chính và phát huy tác dụng tích cực, hổ trợ cho việc triển khai các chính sáchtiết kiệm, chống lãng phí tham ô

- Thuế TNCN góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp: Giữathuế thu nhập doanh nghiệp và thuế TNCN tồn tại một mối quan hệ gắn bó, khi thuếthu nhập doanh nghiệp bị giảm xuống do tăng các khoản trả cho người lao động thìlúc đó thu nhập của người lao động sẽ tăng lên , và lúc đó sẽ chịu thuế TNCN nhiềuhơn Điều đó khắc phục được sự câu kết giữa doanh nghiệp và người lao động

- Thuế TNCN - góp phần hạn chế sự thất thu thuế Giá trị gia tăng: Ở

một số nước phát triển như Singapore chính phủ cho phép cá nhân khi sử dụnghàng hoá, dịch vụ (có lấy hoá đơn giá trị gia tăng) sẽ được khấu trừ khống ra khỏithu nhập chịu thuế 5% trên tổng thu nhập

Ở những nước phát triển, thuế thu nhập cá nhân góp cho ngân sách rất cao, đến 40% (Mỹ, Nhật); số còn lại là từ thuế trị giá gia tăng Ngân sách nhà nước của họkhông trông chờ vào thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế nhập khẩu như ở ta Nhờ

30-đó họ dễ áp dụng những chính sách ưu đãi khác nhau cho các doanh nghiệp, tạođiều kiện cho họ ăn nên làm ra; khi ấy họ sẽ tăng lương cho người lao động; ngườisau sẽ đóng thuế nhiều hơn Các chính phủ ấy có phương tiện để tác động làm chonền kinh tế quốc dân phát triển Nhà nước ta chỉ trông vào có mỗi doanh nghiệp;nên chỉ có thể áp dụng các biện pháp ưu đãi có tính “giật gấu vá vai” trong nội bộdoanh nghiệp Không thu được thuế của cá nhân mà giảm thuế cho doanh nghiệp làngân sách thiếu tiền ngay Vì vậy, lâu lâu ta lại nghe thấy việc phải thúc đẩy các

Trang 19

doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội; chứ chẳng bao giờ nghe thấy phải dễ dãi hơncho người lao động khi họ lấy lại tiền của họ

* Kết luận : Bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường đều coi thuế TNCN là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy

động nguồn thu cho ngân sách và thực hiện công bằng xã hội Thông qua việc bị

điều tiết một phần thu nhập vào NSNN, những cá nhân có thu nhập cao đã đóng gópnhiều hơn những người có thu nhập thấp vào việc trang trải những chi tiêu của nhànước, nhu cầu chi tiêu chung của xã hội; khoản đóng góp này đến lượt nó, góp phầnmang lại cho người nghèo những tiện ích/phúc lợi mà tự họ không lo liệu được

Ở các nước có nền kinh tế phát triển, dân cư có thu nhập cao, hệ thống quản

lý của nhà nước khá chặt chẽ nên T.TNCN là nguồn thu chủ lực của NSNN; ngượclại, ở các nước đang phát triển như Việt Nam ta, do thu nhập dân cư thấp, đồng thời

do hệ thống quản lý còn yếu kém nên T.TNCN chưa phải là nguồn thu lớn

Số liệu cụ thể: hiện nay, có hơn 180 nước đã áp dụng thuế thu nhập cánhân Theo xu hướng phát triển của thế giới thì thuế thu nhập chiếm tỷ trọng ngàycàng cao trong tổng số thu ngân sách, đặc biệt là các nước phát triển như: Mỹ, Nhật,Anh, Pháp, Đức… có tỷ trọng thuế thu nhập chiếm khoảng 30-40% tổng thu ngânsách quốc gia Một số nước trong khối ASEAN như Thái Lan, Malaysia,Philippines, thuế thu nhập cá nhân chiếm khoảng 12-16% tổng thu ngân sách Nhànước; các nước đang phát triển khoảng 13 - 14% Trong khi đó ở Việt Nam, số thu

từ thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao chỉ chiếm khoảng 2,5% tổng thungân sách Nếu tính cả số thu từ cá nhân, hộ kinh doanh và cá nhân chuyển quyền

sử dụng đất thì tổng số thu thuế thu nhập từ các đối tượng này cũng chỉ chiếmkhoảng 4,1% tổng thu ngân sách Nhà nước

IV

1 Sự khác biệt về T.TNCN ở các nước phát triển và đang phát triển.

V Ở các nước có nền kinh tế phát triển, dân cư có thu nhập cao, hệ

thống quản lý của nhà nước khá chặt chẽ nên T.TNCN là nguồnthu chủ lực của NSNN; ngược lại, ở các nước đang phát triển như

Trang 20

Việt Nam ta, do thu nhập dân cư thấp, đồng thời do hệ thống quản

lý còn yếu kém nên T.TNCN chưa phải là nguồn thu lớn

VI Số liệu cụ thể: hiện nay, có hơn 180 nước đã áp dụng thuế thu

nhập cá nhân Theo xu hướng phát triển của thế giới thì thuế thunhập chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng số thu ngân sách,đặc biệt là các nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức…

có tỷ trọng thuế thu nhập chiếm khoảng 30-40% tổng thu ngânsách quốc gia Một số nước trong khối ASEAN như Thái Lan,Malaysia, Philippines, thuế thu nhập cá nhân chiếm khoảng 12-16% tổng thu ngân sách Nhà nước; các nước đang phát triểnkhoảng 13 - 14%

VII Trong khi đó ở Việt Nam, số thu từ thuế thu nhậpđối với người có thu nhập cao chỉ chiếm khoảng 2,5% tổng thungân sách Nếu tính cả số thu từ cá nhân, hộ kinh doanh và cánhân chuyển quyền sử dụng đất thì tổng số thu thuế thu nhập từcác đối tượng này cũng chỉ chiếm khoảng 4,1% tổng thu ngânsách Nhà nước

1 Xác định thu nhập chịu thuế ở các nước khác nhau

VIII Hầu hết các quốc gia đều có chính sách thuế TNCN, đều nhằm

một số mục tiêu tương tự nhau và đều có thuế suất lũy tiến từngphần Tuy nhiên, do khác nhau về hoàn cảnh kinh tế-xã hội, nhất

là năng lực quản lý khác nhau nên thu nhập chịu thuế được xácđịnh không giống nhau, về cơ bản, T.TNCN của các nước có thể

có những khác biệt:

IX Thu nhập tính thuế là TNCN trừ đi một khoản cố định không tính

thuế; hoặc trừ đi một số khoản chi tiêu tối thiểu tùy nhân thanngười nộp thuế

X Thu nhập tính thuế là thu nhập của từng cá nhân riêng biệt; hoặc

thu nhập bình quân/cá nhân trong từng hộ gia đình

XI Thu nhập tính thuế là tổng thu nhập của cá nhân (từ nhiều nguồn,

nhiều hoạt động khác nhau; hoặc tính thuế riêng biệt trên từng loại

cá nhân

XII

1 Sự khác biệt về các cách thức thu thuế TNCN ở các nước

Trang 21

XIII Việt Nam nên chọn thu thuế TNCN từ đồng thu nhập đầu tiên hay

là đặt ra ngưỡng thu nhập chịu thuế?

XIV Xét về nguyên lý thì khi đánh thuế thu nhập, nhà nước phải khấu

trừ các chi phí tạo ra thu nhập và các suất miễn thu, phần thunhập còn lại mới thuộc diện chịu thuế Tuy nhiên, xét về cách thứcthu thuế thì trên thế giới có hai cách thu thuế: hoặc là thu từ đồngthu nhập đầu tiên, hoặc là đặt ra ngưỡng thu nhập chịu thuế Mỗicách thức thu thuế này đều có những ưu điểm và hạn chế nhấtđịnh, song đa số các nước trên thế giới thường áp dụng cách thu

từ đồng thu nhập đầu tiên

XV Cách thức thu từ đồng thu nhập đầu tiên mang lại nhiều ưu điểm

hơn vì nó tạo được sự công bằng và đơn giản hơn so với cáchthức xác định ngưỡng thu nhập chịu thuế Nhà nước có cơ hội tốtnhất để kiểm soát thu nhập của người dân; mặt khác những người

có thu nhập thấp lại được hưởng lợi từ những chính sách trợ cấpcủa nhà nước, vì qua kê khai nộp thuế, nhà nước biết được thunhập của họ để thực hiện trợ cấp, và vì vậy, tránh được ý địnhtrốn kê khai nộp thuế của nhiều đối tượng, vốn dĩ là một vấn đềkhông dễ kiểm soát của mọi nhà nước khi thu thuế TNCN

XVI Cách thu thuế trên cơ sở xác định ngưỡng thu nhập chịu thuế

thực ra là chỉ đánh thuế đối với những người có thu nhập cao đếnmột mức nhất định, không phải mọi người dân có thu nhập đềuphải nộp thuế Điều đó làm mất đi bản chất của loại thuế với têngọi là thuế TNCN; không tạo ra sự công bằng trong nộp thuế củangười dân ở cả góc độ quyền lẫn nghĩa vụ Và tất nhiên, do chỉ cómột số người có thu nhập vượt ngưỡng mới phải nộp thuế nênphát sinh một vấn đề thực tế là chỉ những người đó mới kê khaithu nhập, do đó nhà nước khó có thể kiểm soát được thu nhậpcủa dân chúng và tất nhiên việc thất thoát nguồn thu này là rất lớn(thực tiễn thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ở Việt Namhiện nay đã minh chứng điều đó)

XVII

XVIII

XIX MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ THUẾ TNCN HIỆN HÀNH

Trang 22

Một số quy định cơ bản của luật thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao theo thông tư số 81/2004/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định số 147/2004/NĐ-CP ngày 23/7/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp

lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.

1 Phạm vi áp dụng

1.1 Đối tượng nộp thuế

Công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác, lao động ở nước ngoài cóthu nhập; cá nhân là người không mang quốc tịch Việt Nam nhưng định cư khôngthời hạn tại Việt Nam có thu nhập; người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam (baogồm: người nước ngoài làm việc tại Việt Nam và người nước ngoài không hiện diệntại Việt Nam nhưng có thu nhập phát sinh tại Việt Nam)

1.2 Thu nhập chịu thuế

1.2.1 2.1 Thu nhập thường xuyên gồm:

Tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền phụ cấp; tiền trợ cấp thay lương nhận

từ quỹ bảo hiểm xã hội; tiền ăn trưa, ăn giữa ca (nếu nhận bằng tiền); tiền thưởngdưới các hình thức: tiền, hiện vật; thu nhập từ dịch vụ khoa học kỹ thuật; tiền bảnquyền sử dụng sáng chế, nhãn hiệu; dịch vụ tin học, tư vấn, đào tạo, đại lý, tiềnnhuận bút, hoa hồng môi giới; dịch vụ khác; thu nhập của các cá nhân không thuộcdiện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

2.2.1.2.2 Thu nhập không thường xuyên bao gồm:

Thu nhập về chuyển giao công nghệ (trừ trường hợp biếu, tặng); trúngthưởng xổ số dưới các hình thức, kể cả trúng thưởng khuyến mại

1.3 Các khoản thu nhập không chịu thuế bao gồm:

Các khoản phụ cấp; tiền công tác phí; tiền ăn định lượng; các khoản trợ cấp

xã hội; tiền bồi thường bảo hiểm; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc; trợ cấp điềuđộng về cơ sở sản xuất; tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật do Nhà nước Việt Nam tổchức, công nhận; tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong tặng;tiền nộp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế từ tiền lương, tiền công của người lao

Trang 23

thuế thu nhập doanh nghiệp; các lợi ích được hưởng do cơ quan chi trả thu nhậpthanh toán

2 Căn cứ tính thuế thu nhập

2.1 Đối với thu nhập thường xuyên

BIỂU THUẾ LŨY TIẾN TỪNG PHẦN ĐỐI VỚI THU NHẬP THƯỜNG XUYÊN

Biểu 1: Áp dụng với công dân Việt Nam và cá nhân khác định cư tại Việt Nam

Bậc Thu nhập bình quân

(Tháng/Người)

Thuế suất

Biểu 2: Áp dụng với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và công dân Việt

Nam lao động, công tác ở nước ngoài

Trang 24

x20%-5.22.2 Đối với thu nhập không thường xuyên

- Thuế suất 5% đối với thu nhập chịu thuế về chuyển giao công nghệ

- Thuế suất 10% đối với thu nhập chịu thuế về trúng thưởng xổ số, trúngthưởng khuyến mại

63 Những nội dung pháp lý cơ bản về quản lý thuế TNCN

6.13.1 Tổ chức quản lý thu :

63 .1.1 Đối với trường hợp xác định được cơ quan chi trả thu nhập,

việc kê khai, nộp thuế TNCN được thực hiện theo nguyên tắc khấu trừ tại nguồn.

Tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập (gọi tắt là cơ quan chi trả thu nhập) cónghĩa vụ khấu trừ tiền thuế TNCN để nộp vào ngân sách Nhà nước trước khi chi trảthu nhập cho cá nhân Cơ quan chi trả thu nhập bao gồm:

Trang 25

- Các tổ chức, cá nhân chi trả tiền lương, tiền công, tiền thưởng, tiền thù lao

và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;

- Các cơ quan quản lý, tuyển chọn, môi giới hoặc cung cấp lao động ở trongnước;

- Các cơ quan quản lý, tuyển chọn đưa người đi làm việc tại nước ngoài: các

- Mã số thuế cấp cho cá nhân là mã số thuế duy nhất Mã số thuế được sửdụng trong việc kê khai nộp thuế và quyết toán thuế

63 3 Kê khai, nộp thuế

63 .3.1 Đối tượng kê khai thuế

- Cơ quan chi trả thu nhập cho cá nhân có thu nhập đến mức phải khấu trừthuế

- Cá nhân đăng ký nộp thuế tại cơ quan thuế, kể cả trường hợp ủy quyền chocác tổ chức, cá nhân được phép kinh doanh dịch vụ tư vấn thuế theo qui định củapháp luật

63 3.2 Nơi kê khai thuế

- Cơ quan chi trả thu nhập có hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc cơ quanthuế cấp nào quản lý thì kê khai nộp thuế TNCN tại cơ quan thuế đó

Trang 26

- Cơ quan chi trả thu nhập không có hoạt động sản xuất kinh doanh thì kêkhai, nộp thuế tại Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đóng trụ sở

cơ quan

- Cá nhân đăng ký thuế tại cơ quan thuế thì kê khai, nộp thuế tại Cục thuếtỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

63 3.3 Thủ tục kê khai, nộp thuế

* Kê khai và nộp thuế đối với thu nhập thường xuyên

- Đối với cơ quan chi trả thu nhập, việc kê khai, tạm nộp thuế hàng thángđược thực hiện khấu trừ theo Biểu thuế lũy tiến từng phần hoặc thực hiện khấu trừ10% trên tổng thu nhập đối với các khoản chi trả cho cá nhân có thu nhập từ500.000 đồng trở lên mà khoản thu nhập này có được từ hoạt động đại lý hưởng hoahồng, môi giới, tiền nhuận bút…

- Kê khai nộp thuế tại cơ quan thuế: hàng tháng cá nhân căn cứ vào tờ khaithuế để nộp tiền thuế theo thời hạn qui định

* Kê khai nộp thuế đối với thu nhập không thường xuyên

Thuế thu nhập không thường xuyên nộp cho từng lần phát sinh thu nhập Cơquan chi trả thu nhập thực hiện khấu trừ tiền thuế và cấp biên lai thuế khi chi trả chongười có thu nhập

63 4 Thời hạn kê khai, nộp thuế

Theo qui định tại Thông tư 81/2004/TT-BTC ngày 13/8/2004 thì thời hạnnộp tờ khai cho cơ quan thuế chậm nhất là ngày 10 và nộp thuế vào NSNN chậmnhất vào ngày 25 của tháng tiếp theo tháng phát sinh thu nhập

Theo qui định tại Thông tư 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 thì thời hạnnộp tờ khai và thời hạn nộp thuế là chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp theotháng phát sinh nghĩa vụ thuế

6.3 5 Nguyên tắc quyết toán thuế

Quyết toán thuế đối với thu nhập thường xuyên được thực hiện theo nămdương lịch Cuối năm hoặc sau khi hết hạn hợp đồng, cơ quan chi trả thu nhập, cánhân tổng hợp tất cả các nguồn thu nhập, thu nhập chịu thuế trong năm thực hiện kê

Trang 27

Theo qui định tại Thông tư 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 thì thời hạnnộp hồ sơ quyết toán thuế và nộp số thuế còn thiếu vào NSNN chậm nhất là ngàythứ 90, kể từ ngày kết thúc năm dương lịch.

3 Đăng ký, kê khai, quyết toán thuế

- Cơ quan chi trả thu nhập phải đăng ký thuế cho các cá nhân trong đơn vị cómức thu nhập vượt mức khởi điểm tính thuế để được cấp mã số thuế TNCN

- Hàng tháng phải lập tờ khai thuế TNCN gửi cơ quan thuế hạn chót trướcngày 10 tháng sau

- Cuối năm tổng hợp TN cả năm từng cá nhân, xác định thu nhập bình quântháng/người và tính số thuế TN phải nộp của năm quyết toán Hạn chót nộp báo cáoquyết toán là 28/2 năm sau

BẢNG QUY ĐỔI THU NHẬP SAU THUẾ RA THU NHẬP TRƯỚC THUẾ

(Kèm theo Thông tư số 81/2004/ TT-BTC ngày 13/8/2004 của Bộ Tài chính)

Đối với công dân Việt Nam và các cá nhân khác định cư tại Việt Nam

Đơn vị tính: 1000đ

THU NHẬP SAU THUẾ

Trang 29

1 Đặc điểm kinh tế -xã hội TP.HCM

Mặc dù có nhiều biến động chính trị, ảnh hưởng của dịch SARS, song năm

2003 kinh tế TP.HCM vẫn đạt được các chỉ tiêu đề ra Tổng sản phẩm nội địa trênđịa bàn (GDP) tăng 11% Đây là năm thứ ba liên tiếp kinh tế thành phố tiếp tục tăngtrưởng, mà đóng góp đáng kể nhất là các ngành công nghiệp và dịch vụ Kim ngạchxuất khẩu của thành phố tăng 12%, góp phần đưa tổng thu ngân sách Nhà nước đạt38.491 tỷ đồng

Năm 2004 tình hình kinh tế quốc tế và trong nước có nhiều thuận lợi chophát triển kinh tế của TP.HCM Tình hình chính trị xã hội tiếp tục ổn định là cơ sởvững chắc để khai thác các tiềm năng nguồn lực Mặc dù vẫn còn những yếu tốkhách quan gây trở ngại, song  thuận lợi là cơ bản, giúp TP.HCM mạnh dạn xâydựng chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2004 cao hơn năm trước Tốc độ tăng trưởng kinh

tế là 12% Năm 2005 vẫn được tiếp tục phát triển theo định hướng ổn định chínhsách quản lý vĩ mô của nhà nước và từng bước hoàn thiện để hòa nhập nền kinh tếquốc tế

Năm 2007 là năm đầu tiên chúng ta gia nhập WTO - một năm kinh tế pháttriển nhanh trong quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới với những thành

tựu: tăng trưởng kinh tế cao nhất 10 năm qua: tổng GDP đạt 1.144.000 tỷ đồng,

GDP bình quân đầu người đạt 13,4 triệu đồng, tương đương 835 USD/đầu người.Các chỉ tiêu về tổng thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu, tổng vốn đầu tư nước

Trang 30

tổng mức lạm phát của cả năm 2007 lên tới 12,63%, vượt xa mức tăng trưởng8,55% và là mức tăng cao kỷ lục trong suốt 10 năm qua Tuy đạt được tốc độ tăngtrưởng kinh tế cao, nhưng điểm đáng lo ngại là năng lực cạnh tranh, cả về thể chếcũng như hàng hóa, đều chưa được nâng lên

Năm 2008 là năm bản lề, có ý nghĩa quan trọng tạo điều kiện hoàn thànhthắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 và Chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010 Tuy nhiên, lạm phát trong quý 1/2008 khácao: 9,19%, ảnh hưởng lớn đến sản xuất kinh doanh, đầu tư, xuất khẩu, đời sốngnhân dân, đe dọa ổn định kinh tế vĩ mô Do đó, mục tiêu hàng đầu giai đoạn hiệnnay là kiểm soát, kiềm chế lạm phát; ổn định kinh tế vĩ mô; đảm bảo an sinh xã hội

và tăng trưởng bền vững

Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn, cũng nhấn mạnh đến những thuận lợinhư: tăng trưởng trong quý 1/2008 vẫn cao, môi trường đầu tư thuận lợi, lương thựcthực phẩm thế giới tăng cao thuận lợi cho xuất khẩu các mặt hàng của Việt Nam,nguồn nhân lực dồi dào Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao (đạt 11% trong quýI/2008), đóng góp 20% GDP của toàn quốc, chiếm gần 40% giá trị xuất khẩu của cảnước là những con số chứng minh vai trò, vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, vănhóa-xã hội của TP HCM

2 Cơ cấu tổ chức của Cục Thuế Tp.HCM

2.1 Bộ máy tổ chức của toàn cục nói chung

2.1.1 Chức năng

Cục Thuế TP.HCM là tổ chức trực thuộc Tổng cục Thuế, có chức năng tổchức thực hiện thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách Nhà nước(gọi chung là thuế) trên địa bàn TP.HCM theo quy định pháp luật

2.1.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức Cục Thuế

Hình 1: Sơ đồ bộ máy tổ chức Cục Thuế TP.HCM

Trang 32

2.1.3 Vai trò, ý nghĩa

        Là đơn vị dẫn đầu ngành thuế trong nhiều lĩnh vực như: hoàn thiện quy trìnhquản lý hộ; Tổ chức lại đội thuế phường,xã, xoá bỏ tình trạng kế toán doanh nghiệptìm gặp công chức thuế chuyên quản… ;

Là đơn vị tiên phong tổ chức trung tâm tư vấn thuế miễn phí cho người nộpthuế, thực hiện thành công mô hình Tuyên truyền hỗ trợ tổ chức, cá nhân nộp thuế;dẫn đầu về quản lý thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; đưa vào hoạt độnghiệu quả Phòng thuế Thu nhập cá nhân…

        Là đơn vị tiên phong của ngành thuế trong việc ứng dụng công nghệ tin họcvào công tác quản lý thuế Cục thuế đã tổ chức tốt việc đăng ký mã số thuế cho16.773 doanh nghiệp, 158.500 hộ kinh doanh công thương nghiệp…

        Không ngừng xây dựng bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ ngày càng trongsạch vững mạnh, có trình độ, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, tiếp thu và ứng dụngđược khoa hoc công nghệ tiên tiến, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý thuế tronggiai đoạn mới

        Cục thuế thành phố là hạt nhân trong phong trào thi đua yêu nước của thànhphố Hồ Chí Minh nói riêng và toàn ngành Thuế nói chung Để ghi nhận nhữngthành tích trên, trong 15 năm qua Cục Thuế thành phố đã được Nhà nước khenthưởng 24 Huân chương, 7 Cờ thi đua và 4.144 bằng khen

Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh với số thu lớn nhất, chiếm trên 1/3 tổng sốthu của cả nước; Luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước với sốthu năm sau cao hơn năm trước góp phần quan trọng giữ vững ổn định tài chính vĩ

mô, động viên, huy động nguồn lực phục vụ cho phát triển, thiết thực đóng góp tăngtrưởng kinh tế của đất nước, giải quyết được nhiều vấn đề xã hội như xóa đói giảmnghèo, đầu tư nhiều công trình về hạ tầng, tích lũy và thực hiện chế độ lương mới

2.2 Cơ cấu tổ chức, nhân sự, chức năng, nhiệm vụ của Phòng quản lý Thuế thu nhập cá nhân - Cục Thuế TP.HCM

Ngày đăng: 01/04/2023, 22:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quản lý Ngân Sách Nhà nước, PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng, NXB Thống kê, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Ngân Sách Nhà nước
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1998
2. Các Luật thuế và các văn bản pháp lý hướng dẫn thi hành Luật Thuế TNCN hiện hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Luật thuế và các văn bản pháp lý hướng dẫn thi hành Luật Thuế TNCN hiện hành
7. Cục thuế TP.HCM: WWW.hcmtax.gov.VN Link
8. Sở Thương mại: www.trade.hochiminhcity.gov.vn Link
9. Cục Thống kê TP.HCM: www.pso.hochiminhcity.gov.vn 10.Thời báo kinh tế Sài gòn: www.saigontimes.com.vn 11.www.mof.gov.vn… Link
3. Báo Thanh niên: www.thanhnien.com.vn 4. Báo tuổi trẻ: www.tuoitre.com.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w