cái vật chất và tinh thần.Cái tinh thần luôn khó nắm bắt, trừu tượng.Mỗi cá nhân được sinh ra nếu mang cho mình những nhận thức riêng về vấn đề đó - về cõi âm, cõi dương, về sự thờ cúng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ VÀ TIN HỌC – HULFIT
KHOA NGOẠI NGỮ
ĐỀ TÀI 52 : CÕI ÂM TRONG TÂM THỨC
NGƯỜI VIỆT
SINH VIÊN : TRẦN LÊ HẢI VÂN
MSSV : 20DH714761 NHÓM :
SỐ TT : 71
Năm 2020
Trang 2Mục lục
Phần TỔNG QUAN
Phần NỘI DUNG
Chương I: Quan niệm về cõi âm của người Việt
Chương II : Từ quan niệm về cõi âm đến tục thờ cúng
Chương III : Tục tang ma
Phần KẾT LUẬN
I/ PHẦN TỔNG QUAN :
Trang 31/ Lý do chọn đề tài : Tâm linh - đặc biệt là cõi âm luôn là một vấn đề từ xưa và nay luôn khá trừu tượng trong mắt mỗi người Em chọn đề tài này để mong có cái nhìn khách quan sâu sắc hơn về nó
2/ Mục đích nghiên cứu đề tài : Biết thêm kiến thức, rèn luyện kĩ năng cho mỗi người Rèn luyện tinh thần tự học, tìm hiểu thông tin
3/ Đối tượng nghiên cứu : Các lễ hội liên quan tới cõi âm – phong tục – con người 4/ Phương pháp nghiên cứu : Tìm hiểu thông tin – so sánh - đối chiếu - kết luận 5/ Dự kiến những kết quả sau khi nghiên cứu : Biết thêm nhiều khái niệm mới, phong tục mới, hiểu rõ sâu xa nguyên nhân
II/PHẦN NỘI DUNG :
Chương I: Quan niệm về cõi âm của người Việt
Nhân gian ta có câu “ Chính người mười ý”.Mỗi con người luôn có ý thức, suy nghĩ khác nhau về mỗi vấn đề trong cuộc sống Trong tâm thức người Việt luôn có
Trang 4cái vật chất và tinh thần.Cái tinh thần luôn khó nắm bắt, trừu tượng.Mỗi cá nhân được sinh ra nếu mang cho mình
những nhận thức riêng về vấn đề
đó - về cõi âm, cõi dương, về sự
thờ cúng tín ngưỡng sùng bái
của con người.Cũng vì lẽ đó mà
người xưa đã thần thánh nó bằng
khái niệm “linh hồn”.Người Việt
và một vài dân tộc Đông Nam á
còn tách linh hồn ra thành hồn
và vía Người Việt cho rằng con
người chỉ có 3 hồn, nhưng vía
thì nam có 7, còn nữ có 9 Hồn
vía là sản phẩm của trí tuệ bình
dân với những con số 3-7-9 ước
lệ (sản phẩm của truyền thống
coi trọng những con số lẻ của
người Việt) Tuy nhiên, dần dần
người ta tìm ra cách giải thích ý
nghĩa của các khái niệm và những con số này Theo đó, vía là cái làm hoạt động các quan năng – những nơi có thể tiếp xúc với môi trường xung quanh Đàn ông
có 7 vía cai quản 7 lỗ trên mặt: hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và miệng Phụ nữ thì có thêm hai cái vía cai quản nơi sinh đẻ và nơi cho con bú Ba hồn, theo một cách giải thích uyên bác, gồm tinh, khí và thần Tinh là sự tinh anh trong nhận thức (nhờ các quan năng, các vía mang lại) Khí là khí lực, là năng lượng làm cho cơ thể hoạt động Thần là thần thái, là sự sống nói chung Như vậy, từ xác đến vía, từ vía đến tinh, từ tinh đến khí, từ khí đến thần là cả một chuỗi xích với mức độ trừu tượng và tầm quan trọng tăng dần.
Hồn vía được người xưa dùng để giải thích các hiện tượng như trẻ con hay đau
ốm, hiện tượng ngủ mê, ngất, chết, … Trong hồn và vía thì vía phụ thuộc vào thể xác: có người lành vía, người dữ vía, có người yếu vía, người cứng vía, … Cho nên khi gặp người có vía độc khi chạm vía thì phải đốt vía, trừ vía, giải vía, … khi người chết thì vía hòa vào thể xác mà tiêu tan Hồn trừu tượng hơn nên được xem
là độc lập với thể xác Hiện tượng ngủ mê được dân gian giải thích là hồn lâm thời lìa thể xác để đi chu du Khi ốm nặng ngất đi bất tỉnh nhân sự thì có tục gọi hồn,
hú hồn Hồn của người này (đã chết lâu) có thể nhập vào xác của người kia (mới chết sinh ra chuyện Hồn Trương Ba, da hàng thịt (truyện cổ tích) Khi chết thì hồn lìa khỏi xác mà ra đi.
Chết tức là cơ thể từ trạng thái động trở thành tĩnh, cho nên theo triết lí âm dương thì hồn đi từ cõi Dương (Dương gian, Dương thế) sang cõi Âm (Âm ti, Âm phủ)
Đó là một thế giới bên kia Ở vùng nông nghiệp sông nước này thì “thế giới bên kia” cũng là nơi sông nước, ngăn cách chúng ta bằng chín suối (9 – con số lẻ ước
Trang 5lệ biểu thị số nhiều); tới đó phải đi bằng thuyền Thời Đông Sơn, người chết được chôn trong những quan tài bằng thân cây đẽo theo hình thuyền Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và suốt miền duyên hải Trung Bộ còn lưu giữ nghi lễ “chèo đưa linh” – hội các bà múa điệu chèo đò và hát những câu tiễn đưa linh hồn người chết về nơi chín suối
Chương II : Từ quan niệm về cõi âm đến tục thờ cúng
Niềm tin rằng chết là về với tổ tiên nơi chín suối, tin rằng tuy ở nơi chín suối, nhưng ông bà tổ tiên vẫn thường xuyên đi về thăm nom, phù hộ cho cháu con là cơ
sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Nó có mặt ở nhiều dân tộc Đông Nam
Á, nhưng, theo quan sát của nhà dân tộc học người Nga G G Stratanovich thì nó phổ biến và phát triển hơn cả ở người Việt Đối với người Việt, nó gần như trở thành một thứ tôn giáo; ngay cả những gia đình không tin thần thánh cũng đặt bàn thờ tổ tiên trong nhà Người miền Nam gọi là Đạo Ông Bà
Khác với người phương Tây coi trọng ngày sinh, trong tục thờ cúng tổ tiên, người Việt Nam coi trọng hơn cả là việc cúng giỗ vào ngày mất (kị nhật), bởi lẽ người ta tin rằng đó là ngày con người đi vào cõi vĩnh hằng Ngoài ngày giỗ thì việc cúng tổ tiên còn được tiến hành đều đặn vào các ngày sóc vọng (mồng một, ngày rằm), dịp
lễ tết và bất kỳ khi nào trong nhà có việc: để bá cáo tổ tiên (dựng vợ gả chồng, sinh con… ); để cầu tổ tiên phù hộ (làm nhà, đi xa, thi cử… ); để tạ ân (thi đỗ, đi xa
về bình yên… )
Bàn thờ tổ tiên bao giờ cũng đặt ở gian giữa – nơi trang trọng nhất Người Việt quan niệm dương sao âm vậy cho nên cúng tổ tiên bằng cả đồ ăn lẫn đồ mặc, đồ dùng, tiền nong (làm bằng giấy, gọi là vàng mã) Cùng với đồ ăn đồ mặc là hương hoa, trà rượu Rượu (rượu gạo) có thể có hoặc không, nhưng li nước lã thì nhất thiết không thể thiếu Nhất thiết có, vì nó đơn giản nhất, nhà nào, lúc nào cũng sẵn; nhất thiết có, còn vì ý nghĩa triết lí: nước là thứ quý nhất (sau đất) của dân nông nghiệp lúa nước Sau khi tàn tuần hương, đồ vàng mã được đem đốt, chén rượu cúng đem rót xuống đống tàn vàng – có như vậy người chết mới nhận được đồ cúng tế Hương khói bay lên trời, nước (rượu) hòa với lửa mà thấm xuống đất – trước mắt ta là một sự hòa quyện lửa – nước (âm dương) và trời – đất – nước (tam tài) mang tính triết lí sâu sắc!
Trong gia đình, ngoài thờ tổ tiên, người Việt Nam còn có tục thờ Thổ Công Thổ công, một dạng của Mẹ Đất, là vị thần trông coi gia ư, ngăn chặn tà thần, định đoạt phúc họa cho một gia đình Sống ở đâu thì có Thổ Công ở đó: Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá Thổ Công là một hình tượng bộ ba Theo truyền thuyết thì xưa có hai vợ chồng sống không hòa thuận vợ bỏ nhà ra đi và lấy một người chồng khá giả Một hôm có người ăn xin vào nhà; khi mang gạo ra cho, người vợ nhận ra đó
là người chồng cũ của mình Gần trưa, sợ chồng mới về hiểu lầm, người vợ bảo người chồng cũ ra đống rơm núp tạm Chồng mới về vào bếp lấy tro bón ruộng
Trang 6không có, bèn ra đốt đống rơm Thấy chồng cũ chết trong đống rơm, thương xót quá, người vợ bèn nhảy vào lửa cùng chết Chồng mới thấy vậy, tuy không hiểu đầu đuôi, nhưng vì thương vợ nên cũng nhảy vào lửa cùng chết nốt Trời thấy ba người sống đầy tình nghĩa bèn phong cho cả ba cùng làm Vua Bếp (= Táo Quân, ông Táo, do vậy mà bếp có ba ông đầu rau), trong đó chồng mới là Thổ Công trông nom việc trong bếp, chồng cũ là Thổ Địa trông coi việc trong nhà, và vợ là Thổ Kì trông coi việc chợ búa
Mối quan hệ giữa Thổ Công (địa thần) với ông bà tổ tiên (nhân thần) trong gia đình rất thú vị: Thổ Công định đoạt phúc họa cho cả nhà nên quan trọng nhất, nhưng ông bà tổ tiên sinh thành ra ta nên được tôn kính nhất Để giữ được hòa khí giữa các thần và không làm mất lòng ai, người Việt Nam xếp cho ông bà tổ tiên ngự tại cái bàn thờ tôn kính nhất ở gian giữa, còn Thổ Công thì ở gian bên trái (bên trái (= phương Đông) quan trọng thứ hai sau trung tâm) Tuy địa vị có kém nhân thần nhưng quyền lực lại lớn hơn: trong gia đình, Thổ thần được coi là “Đệ nhất gia chi chủ” Mỗi khi giỗ cha mẹ đều phải khấn Thổ thần trước rồi xin phép Ngài cho cha
mẹ được về “phối hưởng” Đó là ảnh hưởng của truyền thống “lãnh đạo tập thể”, thật chẳng khác vua Lê chúa Trịnh chút nào!
Cũng như rất nhiều hiện tượng khác của văn hóa Việt Nam, truyền thuyết về Thổ Công là một câu chuyện chứa đầy ý nghĩa triết lí: Sở dĩ Thổ Công là thần đất mà cũng là thần bếp là vì đối với người Việt Nam nông nghiệp sống định cư, đất – nhà – bếp và người – phụ- nữ đồng nhất với nhau, đều tối quan trọng như nhau Bộ ba hai ông một bà cùng chết trong lửa, hóa thành thần bếp, được thờ bên trái này, tạo nên một bộ tam tài đặc biệt, biểu tượng bằng quẻ Li gồm hai (hào) dương một (hào) âm, trong Bát quái tiên thiên có nghĩa là lửa nằm ở phương Đông (bên trái); còn trong Bát quái hậu thiên có nghĩa là (trung) nữ nằm phương Nam, ứng với hành Hỏa trong Ngũ hành
Ở Nam Bộ, Thổ Công được thay bằng Ông Địa với các đặc điểm: bàn thờ đặt ở dưới đất (thần đất phải trở về với đất!) và nhiều nơi đồng nhất với Thần Tài (mọi của cải đều từ đất mà ra!) Nhiều tranh tượng Ông Địa với khuôn mặt nữ tính, ngực lớn và cái bụng chình ình của người sắp đẻ (gọi là ông Địa – Bà Bóng) cho thấy rõ mối liên hệ với cội nguồn Mẹ Đất và nguyên lí phồn thực
Tín ngưỡng thờ thần của Việt Nam không chỉ đóng khung trong phạm vi gia đình Ngoài các vị thần tại gia, còn có các thần linh chung của thôn xã hoặc toàn dân tộc
Trang 7Trong phạm vi thôn, xã, quan trọng nhất là việc thờ thần Thành Hoàng Cũng như Thổ Công trong một nhà, Thành Hoàng trong một làng là vị thần cai quản, che chở, định đoạt phúc họa cho dân làng đó “Thành Hoàng” là một từ Hán-Việt xuất hiện sau này ở cộng đồng người Việt Nam chỉ một khái niệm đã có từ lâu đời mà người các dân tộc miền núi gọi là ma làng Thần làng phải có nguồn gốc lâu đời như thế nào thì nó mới trở thành hiện tượng phổ biến như vậy: Không làng nào là không có Thành Hoàng Cái “lệ làng ” này mạnh đến mức năm 1572 (đời Lê Anh Tông), triều đình phải ra lệnh sưu tầm và soạn thần tích của Thành Hoàng các làng để vua ban sắc phong thần Được phong thần là những vị có tên tuổi, tước vị
rõ ràng, những người có công lập ra làng xã, những anh hùng dân tộc liên quan đến làng Ngoài những Thành Hoàng được vua thừa nhận, có nhiều làng thờ làm Thành Hoàng những người vốn là trẻ con, ăn mày, ăn trộm, người mù, người gắp phân, người chết nghẹn, v v, tóm lại.
những kẻ có “lí lịch” không hay ho
gì; loại này bị gọi là tà thần Sở dĩ họ
được thờ làm Thành Hoàng là vì
những người này, theo niềm tin của
dân làng, chết vào giờ thiêng nên đã
ra oai (gây dịch bệnh cho người, gia
súc, gây hỏa hoạn v v ) khiến cho
dân nể sợ.
Trong nhà thờ gia tiên thì trong nước,
người Việt Nam thờ vua tổ – vua
Hùng Mảnh đất Phong Châu (Vĩnh
phú), nơi đóng đô của các vua Hùng
khi xưa, trở thành đất tổ Ngày 10-3 là
ngày giỗ tổ
Người Việt Nam còn có một tín
ngưỡng đặc biệt là tục thờ tứ bất tử
(bốn người không chết): Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, và Liễu Hạnh Tản Viên (với truyền thuyết “Sơn Tinh Thủy Tinh”) và Thánh Gióng (với truyền thuyết “‘Thánh Gióng”) là biểu tượng cho sức mạnh đoàn kết của một cộng đồng nông nghiệp phải liên kết chặt chẽ với nhau để, một mặt, đối phó với môi trường tự nhiên là chống lụt và, mặt khác, đối phó với môi trường xã hội là chống giặc ngoại xâm Sự phối hợp thần thánh ấy đã dựng nên Đất nước
Có đất nước rồi, người Việt Nam không có mơ ước gì hơn là xây dựng một cuộc sống phồn vinh về vật chất và hạnh phúc về tinh thần Chử Đồng Tử – người nông dân nghèo khổ, với hai bàn tay trắng, đã cùng vợ gây dựng nên phố xá sầm uất –
Trang 8chính là hiểu tượng cho ước mơ thứ nhất Liễu Hạnh – người con gái quê ở Vân Cát (Vụ Bản, Nam Hà), tương truyền là công chúa con Trời, ba lần (con số 3!) từ
bỏ cuộc sống đầy đủ trên Thiên Đàng, xin xuống trần gian để sống một cuộc đời bình dị với khát vọng tự do, hạnh phúc – chính là hiểu tượng cho ước vọng thứ hai Hai ước vọng thiêng liêng ấy đã tạo nên Con Người Không phải ngẫu nhiên mà Liễu Hạnh xuất hiện vào thời Lê (bà sinh năm 1557) thời kì Nho giáo độc tôn, vai trò truyền thống của người phụ nữ nông nghiệp bị xâm phạm nghiêm trọng Kết quả của sự phản kháng này là: Trong truyền thuyết, triều đình đã phải lùi bước mà trả lại tự do cho Liễu Hạnh Ngoài cuộc đời, Liễu Hạnh được nhân dân tôn sùng một cách thành kính là Thánh Mẫu, một cách dân dã là Bà Chúa Liễu, một cách gần gũi thân thương là Mẹ (thành ngữ có câu Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ) Đền miếu, phủ thờ Liễu Hạnh mọc lên khắp nơi: Phủ Giày (Nam Hà), phủ Tây Hồ (Hà Nội), đền Sòng và đền Phố Cát (Thanh Hóa), đền Phủ Giày (TP HCM)… Ngoài hệ thống Tứ bất tử, bà còn được bồ sung vào hệ thống Tam phủ để thành Tứ phủ và được thờ riêng trong tín ngưỡng Tam tòa Thánh Mẫu.Như vậy, tục thờ Tứ Bất Tử là một giá trị văn hóa tinh thần rất đẹp của dân tộc, là tinh hoa chắt lọc qua suốt chiều dài lịch sử biểu tượng cho sức mạnh liên kết của cộng đồng để làm ruộng và đánh giặc, cho khát vọng xây dựng một cuộc sống vật chất phồn vinh và
tinh thần hạnh phúc.
GS-TS Trần Ngọc Thêm – Sách CSVH Việt Nam – 2012 - 136
Ở miền bắc, thôn làng xưa thường có cây đa cổ thụ Dươi gốc đa có một bàn thờ nhỏ.Không ai biết rõ bàn thờ này được nên nên từ bao giờ Ở bàn thờ có bài vị đề bốn chữ Hán : Đại Thụ Linh thần Như vậy là bàn thờ thần linh trú ngụ tại cây đa đại thọ ấy.Bàn thờ có bốn bát hương, thường ngày khói hương nghi ngút Chân hương lúc nào cũng nhiều chật ních cả hát Màu đỏ chân hương xen lẫn màu xám trắng của tàn hương Ờ bàn tờ cũng có bình hoa, luôn luôn được cắm những bông hoa huệ Loại hoa này có hương thơm thoang thoảng quyện với mùi hương nhang lan tỏa theo gió bay ra xa
Hai bên mé bản thờ là những bình vôi, có lẽ những ai đó trong số dân làng, từ bao giờ cũng không rõ, đã đem ra đặt ở đấy Những bình vôi này lớn nhỏ đủ cỡ Vôi ở miệng bình khô cứng lãi vì thiếu nước và trời nắng nóng Một số bình vôi đã ngã màu : màu tro nhạt hay màu vàng xám
Những bình vôi khác cũng được treo lủng lẳng ở các trễ cây lòng thòng Các cơn gió mạnh đã thổi đẩy nhữnng bình vôi ấy đong đưa qua lại Nhiều cụ trong làng nói rằng vào đêm hôm đen tối, những bình vôi đong đưa ấy giống như những chiếc đầu lâu của giặc Cờ Đen đã bị chém, bêu đầu
Vẫn chưa chết, bàn thờ dưới gốc đa còn có mấy đài rượu, cả trăm vàng hoa ngũ sắc Bên cạnh, thêm những đôi hài xanh đỏ, nhựng chiếc nón chóp bằng giấy trắng hay màu có những quai tua sặc sỡ được treo lòng thòng Người ta nói đấy là những
Trang 9nón dành cho các “bà, cô, cậu” trú ngụ chung với nhau ở dưới gốc cây đa này.Vào những đêm khuya tối tăm và thanh vắng, gặp những ngày có gió, gió rung lá đa và lùa vào những cành rít lên như những tiếng hú nghe rợn người Rồi người ta lại bảo nhau : khi những lá vàng lác đác rụng xuống với dáng vẻ lạnh lùng trong tĩnh mịch, người ta nghe như có tiếng thì thầm của nhiều âm hồn đang trò chuyện to nhỏ cùng nhau ở dưới gốc đa và các cành đa
Cây đa cổ thụ vì thế mà trở nên u linh và thiêng liên đối với mọi nguời trong thôn làng
Nguồn : Phạm Côn Sơn – Sách Văn hóa lễ tục abc – 2006 -104
Cây đa 13 gốc và những chuyện huyền bí
https://phapluatxahoi.vn/cay-da-13-goc-va-nhung-chuyen-huyen-bi-69115.html
Cập nhật: 14:00 | 18/01/2014
(PL&XH) - Người dân Việt Nam quen với hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình Nhưng có lẽ cây đa có tán lá rộng như cây bàng, có tới 13 gốc thì không
ở đâu có được.
Người dân phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, Hải Phòng vẫn gọi là “di sản thiên nhiên có một không hai”.
Cây đa với sức sống mãnh liệt
Cây đa 13 gốc nổi tiếng với người dân Hải Phòng từ nhiều năm nay Cây đa ngự ở
vị trí xóm Trại, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, Hải Phòng Ngày trước, xã Đằng Giang là nông thôn Người dân quanh năm gắn bó với ruộng vườn Xóm Trại được đặt tên như thế vì khu đất này là người dân ra khai hoang xây nhà, lập trại Qua quá trình đô thị hóa, Đằng Giang giờ đã lên phường và xóm Trại thưa thớt dân cư giờ đông đúc Nhưng khi đến đây, người ta vẫn cảm nhận được cảm giác mát mẻ, yên bình của làng quê bởi hình ảnh cây đa ở ngay đầu làng Theo lời các cụ cao niên, từ khi còn nhỏ, cây đa này đã có 13 gốc Ngay thời những năm kháng chiến chống Pháp, các cụ cao tuổi cũng không biết chính xác tuổi của cây Sau này, một số nhà khoa học đến thăm đã đo đạc, đánh giá cây có thể gần 1.000 tuổi.
Cụ Thiết gần 80 tuổi người có nhiều năm gắn bó với cây đa này kể, dưới gốc đa trước kia có một am nhỏ thờ thổ địa Gần đây, ngày càng nhiều người đến lễ bái, nhất là ngày rằm, mùng một âm lịch, mỗi ngày có hàng nghìn người Không chỉ có khách từ Hải Phòng mà còn từ Quảng Ninh, Thái Bình, Hà Nội cũng về chiêm ngưỡng vẻ đẹp lạ lùng của cây đa Tương truyền khi xưa Chúa năm phương cùng
Trang 102 cô hầu cận hay đi xe kéo lúc nửa đêm dạo quanh vùng đất Hải Phòng, cây đa 13 gốc là nơi chúa bà dừng chân cuối cùng Người dân thấy sự linh thiêng nên dưới gốc đa nên lập 1 ngôi miếu nhỏ thờ Chúa Bà, quanh năm hương khói Chân tượng Chúa trong miếu phủ áo trắng và tiệc Chúa ngày 16-6.
Cụ Phạm Thị Dịu người thường ra gốc đa quét dọn kể rằng, ngày xưa có một vị tướng quân trên đường đi đánh giặc dừng chân ở đây và buộc ngựa vào cây đa
khiến ngọn cây bị gãy Sau, tán cây mọc ra và cây đa có hình dáng như ngày nay Vào những năm 90 của thế kỷ trước, cây đa có tán lá rậm rạp, sum sê, từ xa nhìn lại cây đa trông giống như mâm xôi khổng lồ
Đến nay, cây đa được UBND phường Đằng Giang đặc biệt quan tâm nên đã có nhiều biện pháp bảo vệ di sản thiên nhiên Khu vực quanh cây đa được xây dựng lát sân sạch sẽ và đặt ghế đá như một khu tham quan thắng cảnh để người dân và khách thập phương ghé chân qua
Cây đa 13 gốc ở phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, Hải Phòng Ảnh: Phương
Linh Những câu chuyện đồn thổi
Người dân ở xóm Trại thường kể nhau rằng vào thời Pháp thuộc, phố Cầu Đất bây
giờ còn được gọi là phố Cô Đầu, bởi có nhiều nhà hát cô đầu (còn được gọi là hát
ả đào hay ca trù) Có một ca nương chẳng may yểu mệnh mất đúng vào giờ thiêng, nên rất linh thiêng Có người thương cảm dựng đền thờ gần đó Sau do biến cố của lịch sử, đền cũ không còn Có người phu xe đứng chờ khách ở gần đền cũ vào lúc nửa đêm, bỗng thấy có người con gái mặc quần áo trắng gọi xe về khu vực xóm Trại Khi người phu xe chở đến cây cầu nhỏ bắc qua mương gần cây đa 13