Tả Quân Lê Văn Duyệt - Một con người với tính tình khảng khái,bộc trực, được nhiều người yêu mến nhưng cũng chính sự khảng khái đó khiến ông trở thành cái gai trong mắt không ít quan lại
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN: CƠ SỞ KHẢO CỔ HỌC
Giảng viên hướng dẫn : PGS TS Đặng Văn Thắng
Họ và tên - Mã số sinh viên: Phan Tuấn Kiệt - 2166040001
Nguyễn Minh Trung - 2156040040
Võ Thị Thùy Trang - 2156040151 Danh Kim Hoa - 2156040076 Trần Kim Ngân - 2156040105
TP Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
DẪN NHẬP 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Phương pháp nghiên cứu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 1
4 Đối tượng nghiên cứu 1
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
7 Bố cục đề tài 2
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM 5
1.1 Phương pháp 5
1.2 Phương pháp luận lịch sử 5
1.3 Phân kỳ lịch sử 6
CHƯƠNG 2 PHÂN KỲ LỊCH SỬ 7
2.1 Sự phát triển của lịch sử Việt Nam 7
2.1.1 Việt Nam thời Tiền sử 7
2.1.2 Thời kỳ dựng nước (2000 – 258 trước CN) 7
2.1.3 Nhà Thục (257 – 208 trước CN) 7
2.1.4 Thời kỳ phong kiến phương Bắc đô hộ lần thứ nhất (207 trước CN – 39) .8 2.1.5 Trưng Nữ Vương (40-43) 8
2.1.6 Thời kỳ phong kiến phương Bắc đô hộ lần thứ hai (43 – 542) 8
2.1.7 Thời tiền Lý và nhà Triệu (544 – 602) 8
2.1.8 Thời kỳ phong kiến phương Bắc đô hộ lần thứ ba (603 – 939) 8
2.1.9 Thời kỳ xây nền tự chủ (905 – 938) 8
2.1.10 Thời nhà Ngô (939 – 965) 8
2.1.11 Thời nhà Đinh (968 – 980) 8
2.1.12 Thời Tiền Lê (980 – 1009) 8
Trang 32.1.13 Thời nhà Lý (1010 - 1225) 9
2.1.14 Thời nhà Trần (1225 – 1400) 9
2.1.15 Thời nhà Hồ (1400 – 1407) 9
2.1.16 Thời Hậu Trần (1407 – 1413) 9
2.1.17 Thời kỳ giặc Minh đô hộ (1414 – 1427) 9
2.1.18 Thời nhà Lê Sơ (1428 – 1527) 9
2.1.19 Thời Bắc triều – Nam triều (1527 – 1592) 9
2.1.20 Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh (1533 – 1788) 10
2.1.21 Thời nhà Tây Sơn (1778 – 1802) 10
2.1.22 Thời nhà Nguyễn (độc lập) (1802-1883) 10
2.1.23 Thời Pháp đô hộ (1883 – 1945) 10
2.1.24 Việt Nam mới (1945 – 1975) 10
2.1.25 Việt Nam từ 1975 đến nay 11
2.2 Phân kỳ lịch sử Việt Nam 11
2.2.1.Các cách phân kỳ lịch sử Việt Nam 11
2.2.2.Vai trò của phương pháp luận sử học trong việc viết và phân kỳ lịch sử Việt Nam 12
2.3 Phân kỳ lịch sử Việt Nam theo trục thời gian 12
2.3.1 Thời công xã nguyên thủy 12
2.3.2 Thời dựng nước và giữ nước gồm: Thời Văn Lang , Âu Lạc 12
2.3.3 Thời Bắc thuộc và đấu tranh chống Bắc thuộc 13
2.3.4 Thời kỳ phong kiến dân tộc độc lập, từ thế kỳ X – giữa thế kỷ XIX 13
2.3.5 Thời kỳ Pháp thuộc và đấu tranh chống xâm lược, giải phóng dân tộc (1858-1945) 13
2.3.6 Kỷ nguyên độc lập đi lên CNXH, từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay 14
2.4 Cần phải có những điều kiện gì và cần phải làm gì cho công cuộc nhận định, phân kỳ lịch sử trong tương lai? 14
CHƯƠNG 3 VAI TRÒ, TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHÂN KỲ LỊCH SỬ 14
KẾT LUẬN 17
Trang 4DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 5DẪN NHẬP
1.Lý do chọn đề tài
Sau khi thống nhất đất nước năm 1802, Nguyễn Ánh chính thứclên ngôi hoàng đế vào năm 1803 Nhà Nguyễn được thành lập trongthời kỳ đầy khó khăn, thử thách Trong nước thì lòng dân bất mãn,quá trình cải cách và canh tân đất nước gặp không ít cản trở, bênngoài thì không chỉ bị các nước láng giềng “dòm ngó” mà có cảnhững quốc gia xa xôi Để có thể dựng nước và giữ nước trong bốicảnh lịch sử hỗn loạn lúc ấy, ngoài sự nhạy bén của một vị quânvương, Nguyễn Ánh còn có sự hỗ trợ đắc lực của các tướng tài dướiquyền – mà trong đó không thể không nhắc đến Đức Tả Quân Lê VănDuyệt, người cùng nằm gai nếm mật, đánh đông dẹp tây, giúp GiaLong không ít trong giai đoạn kiến thiết đất nước cũng như cống hiếncuộc đời vào thời kỳ đầu triều vua Minh Mạng
Tả Quân Lê Văn Duyệt - Một con người với tính tình khảng khái,bộc trực, được nhiều người yêu mến nhưng cũng chính sự khảng khái
đó khiến ông trở thành cái gai trong mắt không ít quan lại trongtriều, trong đó có cả hoàng đế Minh Mạng Thế nên ngay sau khi ôngqua đời, Minh Mạng đã truy tố tội trạng và lập nên một bản án đượccho là oan sai đối với vị khai quốc công thần này Mãi đến thời ThiệuTrị, ông mới được giải oan Đến thời Tự Đức, người dân Gia ĐịnhThành mới được phép tùy ý lập lại mộ phần cho ông và phu nhân.Lăng Ông chính là minh chứng cho tấm lòng yêu mến vị Tổng trấnthành Gia Định của người dân Nam Bộ cũng như sự hòa hảo giữa cácsắc tộc trên mảnh đất miền Nam Lăng Ông được xây dựng từngphần ở từng thời kỳ khác nhau nhưng cho đến nay cũng không cónhiều thay đổi mà vẫn giữ nguyên nét cũ từ lần tu sửa cuối cùng Tiẻu luận “Tổng trấn Gia Định Thành Lê Văn Duyệt và di tíchLăng Ông – Bà Chiểu” sẽ góp phần làm rõ hơn cuộc đời của Lê VănDuyệt, những công lao mà Đức Ông đã dành cho vùng đất Nam Bộ
Trang 6cũng như ảnh hưởng của Lăng Ông trong đời sống xã hội người dânNam Bộ Nhóm nghiên cứu sẽ dựa trên quần thể di tích Lăng Ông –Lăng Đức Tả Quân để phác họa lại cuộc đời của Tổng trấn thành GiaĐịnh, đồng thời nghiên cứu về những giá trị lịch sử mà Lăng Ông đểlại cũng như một số vấn đề xoay quanh khu di tích Lăng Ông – BàChiểu Thông qua đó ta thấy được người dân Nam Bộ kính trọng vàyêu mến vị Tổng trấn này như thế nào.
2.Phương pháp nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành nhiều phương pháp nghiên cứu
từ các ngành có liên quan với nhau Đối với phần khảo tả: nhóm thựchiện phương pháp nghiên cứu thực địa bằng cách đến Lăng Ông đểquan sát, tìm hiểu và đưa ra những kết luận khách quan Bên cạnh
đó, nhóm còn dựa trên những ghi chép ở một số tài liệu có liên quan
để đưa ra góc nhìn tổng quan nhất
Ngoài ra, nhóm còn dựa trên một số tài liệu về lịch sử, kiếntrúc, văn hóa để có cái nhìn khách quan về cuộc đời của đức TảQuân Lê Văn Duyệt và vai trò của Lăng Ông trong đời sống – xã hộicủa người dân Thành phố Hồ Chí Minh Đối với vấn đề này, bên cạnhnghiên cứu trên đầu tài liệu, nhóm còn thực hiện phương pháp sosánh để phác họa lại sự khác biệt giữa văn hóa cũng như bối cảnhlịch sử của từng giai đoạn trong quá trình xây dựng lại và bảo tồnkhu di tích lịch sử Lăng Ông – Bà Chiểu
Trang 7NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT VÀ KHU DI TÍCH LĂNG ÔNG – BÀ CHIỂU
1.1.Sơ nét về cuộc đời Tả Quân Lê Văn Duyệt
Chinh Thị Nại phong công đệ nhấtThu Qui Nhơn vĩ tích vô songHay
Gia trấn mạc hồng, nhân dân tư hãn mã, triều đình sùng bái biệt
thiên NamHành sơn phục hổ, vật sắc hội vân long, tiết việt chỉ huy vi đế táĐây là 02 trong hơn 10 cặp câu đối được ghi trong Lăng Đức Tảquân chưởng cơ Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt đã thể hiện
rõ công trạng của Đức Tả quân đối với thành Gia Định nói riêng vànước Việt Nam nói chung: Thời trẻ thì phò Chúa nam chinh bắc phạt,đến khi giang sơn thu về một mối lại tiếp tục góp sức ổn định vàhưng vượng vùng đất phía Nam cho tới khi qua đời
Có hằng hà sa số câu chuyện về cuộc đời không ít những thăngtrầm của ông từ chính sử tới dã sử Ông sinh năm Giáp Thân (1764)tại Mỹ Tho Theo ghi chép thì tổ tiên ông từ Quãng Ngãi theo đoànkhẩn hoang di cư vào Nam an cư lập nghiệp tại vùng Tiền Giang này.Thuở nhỏ không ít học văn, ham học võ, tính tình nóng nảy, cươngtrực, khảng khái Theo ghi chép thì ông không có vẻ ngoài khôi ngônhư người khác, lại có tật ẩn cung (Tinh hoàn ẩn), thế nên sau nàykhi gặp Nguyễn Ánh, ông được Ánh ưng thuận mà cho theo hầu cả từ
vẻ ngoài cho đến thói nết Từ đó mà ông rạng rỡ ghi danh muôn thuởvới núi sông “Sanh nhằm đời loạn, nếu không dựng nổi cờ trống đạitướng, đặng có công danh ghi vào sử sách, thì không phải là đấng tàitrai” – Lê Văn Duyệt đã từng dõng dạt tuyên bố với bạn bè như thế.Người ta hay bảo “Thịnh thế xuất năng thần, loạn thế xuất anhhùng”, Lê Văn Duyệt sinh ra vào thời loạn, trước loạn Đàng Trong –
Trang 8Đàng Ngoài, chính biến Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, quân Tây Sơn khởidậy, Chúa Nguyễn chạy loạn khắp nơi nuôi chí lớn Lê Văn Duyệt tựnhận thức được sứ mệnh của mình trong thời loạn thế Từ ấy mà mộtanh hùng xuất thiếu niên ra đời ở vùng đất Gia Định thành.
Sử chép, nhà Đức tả quân ngày xưa có bộ ván gỗ, trải chiếuhoa, ngày nào Duyệt cũng lau chùi sạch sẽ và cấm không cho aiđược ngồi vào, kể cả Duyệt Có người không biết mà ngồi vào thì sẽ
bị ông đánh, ông mắng, ông đuổi đi kể cả cha mẹ trong nhà Nhânhôm ấy Đức tả quân đi săn, ở nhà có 1 đoàn khách lạ gồm 5 ngườichạy vào nhà, ngồi lên bộ ván ấy Mẹ ngài ra thấy mà hoảng, màngăn, nhưng khách ấy cứ ngồi điềm nhiên Cho tới khi Đức tả quân
về, thay vì chửi mắng như thường lệ thì ông lại tỏ ra sợ hãi trước cái
uy của vị khách đó Hỏi ra thì biết đó là Chúa nhà Nguyễn Phúc, tên
là Ánh Sau đôi ba câu hỏi đáp giữ hai người, Nguyễn Ánh thấy bộưng bụng chàng thanh niên 17 tuổi, lại biết Đức tả quân có tật ẩncung nên cho giữ chức Thái giám, theo hầu mẹ cùng thị thiếp củaChúa là vương mẫu và vương phi Ấy là vào năm 1780
Ông Lê Văn Duyệt từ dạo đó theo chân Chúa Nguyễn đi bôn bakhắp nơi, tìm cơ hội phục dựng lại cơ đồ nhà Nguyễn Ông tham giavào nhiều công vụ của Chúa và bên cạnh đó là chăm lo cho cả Vươngmẫu lẫn Vương phi Suốt bấy nhiêu năm Chúa Nguyễn bị lạc ở Xiêm
La thì ngần ấy năm ông cày chăm cuốc bẩm để phục vụ Chúa vàkhông buông lời ngài Có lẽ vì lẽ đó mà Chúa Nguyễn thấy được lòngtrung của ông mà quý Đến khi về lại được đất Gia Định, năm 1793,Chúa Nguyễn sai ông Lê Văn Duyệt đi đánh thành Qui Nhơn, ôngcông được đồn, đem tin chiến thắng về kinh thành Đến năm 1797,ông được Chúa Nguyễn cải phong ông làm Tả đồn của đạo quânThần sách
Khi nhắc đến sự nghiệp nhà Nguyễn, đặc biệt là Nguyễn Ánh,
có lẽ ta sẽ không thể không nhắc đến cuộc chiến đầm Thị Nại năm
1801 Và người đi đầu tiên phong trong cuộc chiến ấy không ai khác
Trang 9chính là chàng thanh niên dáng người nhỏ bé Lê Văn Duyệt Ôngđược nhắc đến như một chiến tướng oai dũng trong cuộc chiến đầmThị Nại Và trận đầm Thị Nại cũng đã chứng minh được tầm nhìnchiến lược của ông trên võ trường, từ đó ông nghiễm nhiên trở thànhbậc khai quốc công thần cho nhà Nguyễn.
Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi, đôi hiệu Gia Long.Thăng Lê Văn Duyệt làm Khâm sai chưởng Tả quân doanh Bình Tâytướng quân, ông được hưởng đặc ân nhập triều bất bái và được đặcquyền chém trước tâu sau nơi biên thùy, cao cao tại thượng với vaitrò Công thần khai quốc của bổn triều Ngay sau đó, ông được GiaLong cử đi bình định Bắc Hà Việc thành, ông cải đổi địa chính Bắc Hàthành Bắc Thành Giang sơn về một mối, trải dài từ Bắc thành về GiaĐịnh thành Mặc dù đại cong cáo thành nhưng ông sẽ không ngờrằng lại chính là nguyên nhân gây ra cái án Lê Văn Duyệt mãi mấymươi năm về sau này
Từ năm 1803 đến 1808, ông được cử đi đánh giặc Mọi ThạchBích, bằng chiến lược riêng, ông giải quyết được phiến loạn khôngtốn một binh một tốt Vì Phó quân cơ Lê Quốc Huy hà khắc nhũngnhiễu, nên dân tình dấy lên làm loạn Ông cho chém Huy rồi táu vềtriều đình Giặc mọi Thạch Bích tạm thời yên ổn
Năm 1812 đến 1813, tình hình Gia Định thành bất ổn cả về mọimặt, Gia Long cử ông làm Tổng trấn Gia Định thành lần thứ 1 Trước
là giúp Nặc Ông Chân của Chân Lạp phục vị, sau là ổn định đời sốngkinh tế xã hội của vùng Nam Bộ trong triều đại mới Lúc bấy giờ anh
em Nặc Ông Chân nội bộ rối ren, người em chạy sang Xiêm La cầubinh về đánh nhau với anh mình là Nặc Ông Chân Chân lui binh vềGia Đình cầu viện triều đình Phú Xuân Vua phái Lê Văn Duyệt đi bìnhđịnh Bằng sách lược trước ngoại giao sau quân sự, ông bình định dễdàng quân Xiêm và đưa Ông Chân về lại Chân Lạp, ổn định xã tắc
Trang 10Năm 1815, Lê Văn Duyệt được lệnh lai kinh, giặc mọi ThạchBích lại làm loạn, ông được cử đi đánh dẹp, ra đến nơi, giặc trốn hết,ông quyết định cho xây Trường Lũy đến ổn định trị an
Năm 1819, ông được Gia Long cho giữ chứ Tả quân chương cơ,
đi đánh dẹp Phần vì lòng nhân nghĩa nên ông tha bổng, thu phụcđược phiến quân, một phần cho về tiếp tục làm ăn, một phần xungquân cho đi theo ông vào Nam làm lại cuộc sống mới
Năm 1820, Minh Mạng nguyên niên, Lê Văn Duyệt được vua saivào Nam tiếp tục làm Tổng trấn Gia Định thành lần 2 Trước bìnhđịnh giặc Sãi Kế (người Cao Miên) ở biên giới Tây Nam, sau là chấnhưng lại thành Gia Định Dĩ nhiên, với oai danh Tổng trấn kiêmChưởng cơ Tả quân, ông toàn quyền đem binh lính chiêu mộ được vềthành Gia Định Minh Mạng giao cho ông toàn quyền tự quyết trongquản lý và thu thuế xứ Nam Bộ, Lần này, ông về Gia Định làm Tổngtrấn cho tới khi qua đời
Năm 1823, ông cho đường bộ thì đắp đường từ Sài Gòn lên GòDầu (Tây Ninh) để tiện cho bộ binh tiến đánh Xiêm La, đường thủy lạisai đào Kênh Vĩnh Tế, nhắc đến Lê Văn Duyệt, chiến tích là nhắc đếnđầm Thị Nại, Bắc thành thì nhắc đến Trường Lũy, còn xuôi về phươngNam, không ai không biết đến Kênh Vĩnh Tế do chính ông đôn đốc vàchỉ huy xây dựng
Năm 1824, Lê Văn Duyệt cùng Lê Chất hồi kinh, theo đó, haingười từ tướng giỏi của tiên đế Gia Long, tư tưởng phóng đạt, vàosinh ra tử cùng tiên đế Nay nước non bình định được gần 30 năm, võtướng thì phóng khoáng, tự do, văn quan thì Nho học thủ cựu Chưa
kể mấy lão hủ Nho lại kề cận vua thường, Minh Mạng lại trọng Nho
để mong sao nước nhà sớm ngày hưng vượng, bảo lệ lợi ích cho giaicấp quý tộc phong kiến, giai cấp thống trị trung ương tập quyền Thếnên, Lê Văn Duyệt cùng Lê Chất nhận ra bản thân đã không còn phùhợp với chốn quan trường Khác biệt quá lớn trong tư tưởng của mộtngười tướng tài bôn ba khắp nơi với những văn thần sĩ phu trí thức
Trang 11Nho gia Hai người đành ngậm ngùi trở về giữ chứ phận ở chốn xatriều đình.
Năm 1832, sau nhiều năm ông chứng kiến những mất mác vìtuổi già của những người đồng chí sát cánh cùng ông trong sự nghiệpphò Chúa xây cơ đồ Lê Văn Duyệt có tấu xin Minh Mạng từ quannghỉ hưu hồi đầu năm nhưng vua không duyệt tấu Đến tháng 7 thìông thọ bệnh mà qua đời Cuộc đời ông 69 tuổi, trải bao nhiêu thăngtrầm, cuối cùng khi mất đi cũng muôn vàn sóng gió
Sau khi ông mất, binh biến Lê Văn Khôi nổi dậy, triều đình ngàytrước đã không hài lòng với thái độ của ông Nay lại dựa vào cuộcbinh biến của người con nuôi mà truy luận tội Phần vì Lê Văn Khôiđứng đầu vay cánh làm loạn Phần vì địa thế của thành Phiên An làmcho người ta ngờ vực Lê Văn Duyệt đã có ý đồ phản trắc nên mới đàohào sâu, xây thành cao nhằm chống lại triều đình Phần nữa vì Duyệt
là cái gai mà ai cũng muốn nhổ, nay ông mất rồi thì văn quan võthần ai không ưa cũng đều hạch tội Triều đình nghị sự cuối cùng đưa
Lê Văn Duyệt ra xử 7 tội đáng chém, 2 tội treo cổ, 1 tội phát quân
1 Sai người của mình tự tiện đi Miến Điện làm ngoại giao
2 Xin được đưa tiễn thuyền của nước Anh Cách Lợi về thành để tỏ
rõ có quyền
3 Xin giết Thị vệ là Trần Văn Tĩnh để khóa miệng người
4 Kháng sớ tâu xin giữ người đã được triệu về để bổ làm quan
5 Chứa riêng khống chỉ có đóng sẵn ấn vua
6 Cậy bè đảng riêng mà xin tăng thọ cho Lê Chất
7 Gọi mồ cha của mình là lăng, đồng thời, khi nói chuyện với mọingười dám tự xưng mình là cô
Hai tội treo cổ:
1 Dung nạp người Miến Điện làm chuyện bất minh
2 Dám nói với mọi người rằng mình từng xin được thơ tiên, trong
đó có câu nhắc chuyện hoàng bào ở Trần Kiều
Trang 12Xong bản nghị án, đệ trình lên Minh Mạng Lê Văn Duyệt bị sanbằng mồ mả, cho cắm xiềng xích chằng lên rồi dựng cột đề 8 chữ
“Quyền yểm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” Vợ con thân thuộc đều bịtội chết, người xử tội nhẹ thi được đi đày Cha ông bị tước chức, đục
lỗ trên bia để làm răn thế hệ mai sau
Thế nhưng, đến thời Thiệu Trị đã cho những người đi đầy đượcgiảm nhẹ tội hoặc tha bổng Đến thời Tự Đức, bệnh dịch hoảnh hành,trong triều có người bảo chắc do oan hồn lẩn khuất chưa siêu thoátnên sinh ra bệnh dịch Vua mới cho cải tội, bỏ xích, dỡ cột đồng, chongười dân tùy nghi mà sửa sang lại mộ, phục chức Vọng các Côngthần Chưởng Tả quân Bình Tây đại tướng quân Người dân Nam Bộxưa nay vốn ăn cây nào rào cây nấy, nên đền ơn Đức tả quân mà bỏtiền của công sức sang sửa lại mộ phần cho Ông
Một vị Công thần khai quốc, đến chết đi lại bị hạch tội muônđời Thật không biết do triều đình nhiễu nhương hay thật do ông làmquấy Nhưng trong phạm vi hiểu biết của tôi thì một người như LêVăn Duyệt cương trực, lẽ dĩ nhiên sẽ có người không thích vì đôichuyện ông làm sẽ ảnh hưởng đến chén cơm của mấy vị quan trên.Chính vì thế mà người ta cố tình moi việc quấy mà hạch tội
1 Khảo tả về Lăng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt
1.1 Khuôn viên Lăng Ông – Bà Chiểu
Nằm trong khuôn viên rộng 18.500 m2, kế bên là chợ Bà Chiểu(quận Bình Thạnh, TP HCM), Lăng Ông còn có tên gọi dân gian làLăng Ông - Bà Chiểu, là nơi chôn cất Tả quân Lê Văn Duyệt, vị Tổngtrấn thành Gia Định xưa Đây đồng thời là công trình kiến trúc có giátrị văn hoá, nghệ thuật đặc sắc của vùng đất Nam Bộ Lăng Ôngngày nay nằm ở khúc đường Lê Văn Duyệt quận Bình Thạnh Ngàyxưa rộng hơn bây giờ, nhưng do quy hoạch nên đã cắt ngang mộtphần đất của Lăng Ông để làm đường, khéo thay, lại cắt ngay phần
mộ của 2 nữ tỳ được tuẫn cùng để hầu Ông Qua thời gian khôngđược tu sửa, 2 phần mộ này cũng đã bị lạng xuống không còn nữa
Trang 13Bây giờ Lăng mộ của ông bà Lê Văn Duyệt và Đỗ Thị Phận vợ ông thìnằm một bên, còn mộ của 2 tỳ nữ thì nằm lẻ lỏi bên gần chợ BàChiểu.
Đi một vòng ngoài có thể thấy được cổng Tam Quan, tức là từ
đó có thể nhìn thấy được cả 3 phần của quần thể lăng mộ Lăng mộđược xây ở khu vực phong thủy bảo địa, gò đất cao, không ngậpnước, mang lại sự trù phú và thịnh vượng cho những người sốngquanh khu vực cũng như mang lại sự thanh tĩnh cho người nằm lại tạikhu lăng
Bức tường bao quanh lăng ông được xây dựng vào năm 1948.Tường có tất cả 4 cửa ra vào theo 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc Cửachính ở phía Nam gọi là cửa Tam Quan được xây dựng vào năm 1943,trên cửa phù điêu ba chữ: THƯỢNG CÔNG MIẾU Ngoài ra, trước cửacòn có cây thốt nốt, cây thốt nốt này hiện nay đã bị rễ của cây đabao phủ hết phần thân cây Hình ảnh cây thốt nốt đôi đại diện chotình hữu nghị giữa Chân Lạp và xứ Gia Định thành thời Lê Văn Duyệtcòn làm Tổng trấn, cho thấy được sự mến yêu của người dân danhcho vị quan thanh liêm, chính trực này Bà Lê Huỳnh Hoa (82 tuổi,cháu họ đời thứ 6 của tả quân) cho biết rằng nếu chiến tranh có tànphá Lăng Ông thì con cháu hãy tìm đến cây đa có rễ ôm cây thốt nốt
sẽ lần ra được khu lăng mộ ( Nguyên văn: “Năm 1954, khi mới 15
tuổi, trước khi tôi lên đường tập kết ra Bắc, mẹ tôi dẫn ra lăng Ông
và dặn dò nếu chiến tranh có tàn phá lăng mộ, thì con hãy tìm đến cây đa có rễ ôm lấy cây thốt nốt để lần ra khu mộ của tổ tiên” )
Huê viên Lăng Ông là nơi có nhiều loại cây mộc, tàn lá xum xuêche mát khắp huê viên: 2 bên phía trong cửa Tam quan là 2 bụi trúc,rải rác khắp huê viên có những loại cây như me tây, phượng vĩ, thốtnốt, dương liễu, kim điệp,….Ngoài ra, sát sau cửa Tam Quan, còn cóhai khẩu súng thần công ( kiểu thần công đời Gia Long ), đầu súnghướng ra ngoài Hai khẩu súng này do Nguyễn Trí Độ tặng Hội
Trang 14Thượng Công Quí Tế năm 1964 nhân dịp kỷ niệm Ngũ Thập Chu Niênngày Hội thành lập.
Theo quan niệm của người Trung Hoa luôn tin tưởng vào chủnhân của mọi khu đất gọi là Thổ Thần, người Việt cũng như thế vẫntin tưởng mỗi khu đất đều có vị Thổ Thần này làm chủ, muốn xâynhà hay chôn cất thì phải dâng cúng lễ vật để tránh Thổ Thần nổigiận Theo niềm tin đó, nên nhân dân đã lập bàn thờ Thổ Thần ngaytrong khuôn viên lăng Ông Bàn thờ Thổ Thần hay gọi là bàn thờ HậuThổ nằm ngay giữa khuôn viên, sát phía Đông mộ của Đức ThượngCông (ngày nay được dựng sát phần mộ của Tả quân Lê Văn Duyệt)1.2 Phần văn bia trước mộ Ông
Lăng Ông gồm 3 phần: Phần bia, phần miếu và phần mộVăn bia do Kinh lược sử Hoàng Cao Khải viết năm 1849 với nộidung ca ngợi công Đức Thượng Công Tả quân Lê Văn Duyệt đối vớitriều đình cũng như nhân dân, phần cuối bia có nhắc đến phu nhân
Đỗ Thị Phận và Phan Công Lương Khê ( Phan Thanh Giản ) cũng đượcthờ trong miếu Lê công văn bia có kích thước bia hình chữ nhật đầukhung tròn bằng đá đen ( 0m7 x 1m5 ) Đế bia làm theo hình đế có 4chân cao 0m4 x rộng 0m88 Mặt trước trên cùng trang trí hình lưỡnglong chầu ngọc chạm sâu vào đó, chung quanh có vần mây và chạmnối 4 chữ đại tự: “Lê Công Miếu Bi”: Dưới đế chạm 2 bông sen Chính giữa văn bia viết hàng chữ hán khắc sâu vào trong đá Mặt sau là hình con lân chạm vào đá quanh có vần mây chungquanh
Nhà để bia (tức Lê Công bi đình) ngay đầu phía Nam mộ Lê VănDuyệt , kích thước mỗi bề 3m8
Ở ngay đầu về phía Nam lăng Lê Văn Duyệt có hình tượng 2con rồng đang đối mặt vào viên ngọc chung quanh có mây bao phủgọi là “Lưỡng long chầu ngọc”, và ở giữa chạm nổi bốn chữ “LÊCÔNG MIẾU BI” “Lưỡng long chầu ngọc” trên các mái đình đền, chùachiền, không chỉ biểu tượng cho sức mạnh thần thánh mà còn ẩn
Trang 15trong đó những giá trị nhân văn, phản chiếu trí tuệ, ước vọng củacon người và nền văn minh cổ xưa Trong tâm thức của người Việt cổcũng như hiện nay thì rồng là đại diện trong tứ linh thần vật “long,lân, quy, phụng” Rồng cũng thường xuất hiện trong các tín ngưỡngcủa dân gian, ví như là truyền thuyết Con rồng cháu tiên, nó cũngảnh hưởng đến phong tục tập quán trồng lúa nước, và rồng đóng vaitrò trong việc điều khiển thời tiết: mưa thuận gió hòa.
Lưỡng chầu ngọc nguyên văn Hán tự là “Lưỡng long triều ngọc” Triều có nghĩa là “chầu” Mô tả hai con rồng quy tụ dưới viên ngọctrong tư thế thuần phục Lưỡng long chầu ngọc được sử dụng trongthờ cúng thần linh và không phù hợp với vua chúa Tuy nhiên, trongthờ cúng thì lưỡng long chầu ngọc lại mang ý nghĩa tâm linh thuầnphục thánh thần Hai con rồng là tượng trưng cho hai cực Âm –Dương, thể hiện sự cân bằng giữa 2 cực trong nhân gian Dùng hìnhảnh hai con rồng nắm giữ sự cân bằng của sự sống, cân bằng của vũtrụ nhằm thể hiện sức mạnh vô cùng to lớn và quan trọng của rồngtrong đời sống tâm linh Hình viên ngọc chính là Thái cực Bởi viênngọc ở đây được xem là đại diện của tự nhiên vũ trụ; sức mạnh của
tứ linh dù có mạnh mẽ bao nhiêu thì cũng phải thuần phục trước tựnhiên Chính vì vậy, hình ảnh rồng chầu ngọc là biểu tượng của sứcmạnh quy tụ, sự giao hòa của trời đất, cân bằng trong vũ trụ mangđến sức mạnh, sự quyền uy và tài lộc cho con người
Miếu bia ( Lê Công Miếu Bi ) do Quan phụ Chánh đại thầnHoàng Cao Khải cho dựng tại Lăng mộ Đức Thượng Công vào năm
1894 (Năm Thành Thái thứ 6) nhân dịp ông vào Gia Định để tiễnchân Toàn quyền Đông Dương De Lanessa về Pháp Bia bằng đá,được dựng trong một cái đình đề “Lê Công Bi Đình” Cái đình đề tấmbia là một ngôi điện nhỏ không có cửa, nằm ngang trước phần mộcủa Đức Thượng Công và phu nhân Đỗ thị Thương tiếc cho một vịquân tử trí dũng đa tài thuở sanh tiền, khi đã rời khỏi nhân thế chicòn lại nấm mồ, trước đó còn chịu mang tiến hàm oan, Hoàng Cao
Trang 16Khải viết lên văn bia với nội dung: Động lực thúc đẩy Ông dựng biatưởng nhớ Đức Thượng Công - Trường hợp ông thăm viếng lăng - Tiểu
sử và sự nghiệp Đức Thượng Công Uy danh của Ngài bất diệt - Cangợi chính quyền Pháp tôn trọng tín ngưỡng nân Việt Sau đó HoàngCao Khải nhắc tới Phu Nhân Đức Thượng Công và Ngài Phan CôngLương Khê (tức cụ Phan Thanh Giản) cũng được thờ chung ở LăngMiếu Đức Thượng Công Ngoài ra đọc lời văn bia, ta có thẻ nhận thấyHoàng Cao Khải đã lợi dụng cơ hội này để đề cao chính sách cai trịcủa người Pháp ở nước ta Chữ viết trên bia được viết bằng chữ Hánmang hơi hướng nửa hệ tư tưởng phong kiến Nho giáo (nhà Nguyễn)vừa mang một nét mới của du nhập văn hóa từ Pháp Theo một sốtài liệu nghiên cứu, thì văn bia được phiên âm, dịch nghĩa có nhiềucái sai, bởi vì do viết bằng chữ Hán mà câu chữ, ý nghĩa bị ngắt nghĩgián đoạn không đúng chỗ nên đã dẫn đến việc các học giả dịchkhông đúng, không sâu sắc hay không sát nghĩa của văn bia Có mộtthời gian dài, do sự hiểu chưa đúng về ngữ pháo Hán tự xưa nên cóvài bản dịch không phù hợp Mãi sau này có một bài phân tích tườngtận về việc sai phạm trong việc dịch thuật của Lý Việt Dũng (In trongtập Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ)
1.3 Phần mộ của Lê Văn Duyệt và phu nhân
Trước miếu là mộ, với kích thước dành cho đệ nhất công thầntheo cơ chế xưa Mộ xây bằng ô dước, đơn giản như quả trứng bổđôi, đầu người quá cố day vào miếu, mộ song hồn, bà bên cạnh ông(Phần mộ của vua Gia Long cũng xây theo hình thức này) Theophong thủy của người Trung Hoa thì nam tả, nữ hữu, nên nhìn theohướng nằm của phần mộ thì Đức Tả quân nằm bên trái và bên cạnh
là mộ của phu nhân Đỗ Thị Phận Bức tường vay quanh phần mộ, gọi
là Uỳnh Thành, rộng 12m, dài 14.5m, màu xám đen, xây vào dịpđược giải oan thời Tự Đức, theo cơ chế Ở cửa vào lăng có đặt mộtbức hoành, theo phong thủy Trung Hoa, việc đặt bức hoành ở cửa ravào cốt là để ngăn những luồng khí xấu xâm nhập
Trang 17Người dân tin rằng bức bình phong trấn giữ tránh những thứxấu xa không tốt đẹp ảnh hưởng đến “giấc ngủ ngàn thu” của Ôngthể hiện sự tôn sùng, kính trọng của người dân với Ông trong việccạnh giữ mộ phần của Tả quân Hai bức phù điêu (tiền và hậu) chạmkhắc những hình ảnh rất giản lược nhưng lại thật thú vị Theo ôngTrần Văn Sung, Trưởng ban Quý tế Lăng Ông, thì ở mặt trước bìnhphong tiền chạm hình một con đại bàng đậu trên cành cây trong tưthế đang nghênh chiến khiến con khỉ dưới đất sợ hãi, co rúm Đạibàng hiện thân cho sự tinh anh, dũng mãnh của loài hùng chim thiệnchiến và tinh anh nhất trên bầu trời đối lập hoàng toàn với hình ảnhcon khỉ co rúm sợ hãi chim đại bàng muốn nói lên cái danh tiến, uyquyền của Lê Văn Duyệt khiến cho quân Xiêm vừa nghe danh đã sợhãi Ở mặt sau bình phong chạm hình 2 con hổ: hổ phụ và hổ tử Hổcha nhảy lên, chân trước chạm vào vách núi nhưng mặt vẫn ngoái lạinhìn hổ con Hình ảnh con hổ hình ảnh con hổ ngoảnh mặt lại hình
hổ con nói về tích Lê Văn Duyệt sắp qua đời vẫn hướng về người con
là Lê Văn Khôi cho thấy Lê Văn Duyệt rất quan tâm lo lắng cho ngườicon nuôi của mình dù sắp nhắm mắt xui tay nhưng nỗi lo vẫn đauđáu xuất hiện có lẽ chính ông cũng đã suy đón được sẽ những biến
cố sẽ xảy ra với người con của mình ở tương lai nên trước khi ôngmất ông lo lắng như vậy
Bình phong hậu chạm hình “Long vân” (rồng ẩn mình trongmây) biểu tượng của bậc quan tướng nhưng đường nét cũng rất giảnlược Hai bên bình phong hậu có đắp quai, chạm hình “lá hóa long”cách điệu Đây là đặc trưng của phong cách chạm khắc rồng ở thờiNguyễn Hình tượng rồng được sử dụng rộng rãi, tuy vậy nhà nướcphong kiến vẫn có những quy chuẩn khá chặt chẻ phù điêu tronglăng của Lê Văn Duyệt được điêu khắc hình ảnh rồng 4 móng đầutiên nó thể hiện được vị thế của ông trong triều vì chỉ có quan nhấtphẩm, nhị phẩm mới được phép sử dụng rồng 4 móng Qua đó chothấy ông vẫn là người trung quân ái quốc Là người luôn giữ trọng
Trang 18đạo quân thần Với địa vị uy tín của ông đối với nhân dân, nắm trongtay binh quyền hùng mạnh sức mạnh của ông có thể làm chủ miềnNam, có thể xây dựng được một đế chế riêng cho mình nhưng mộông vẫn được điêu khắc rồng 4 móng thay cho rồng 5 móng thể hiệnđược sự hiếu trung với vua với triều đình phong kiến lúc bấy giờ.Giống như việc cải táng đặc trưng cho tầng lớp quý tộc vàthống trị thời nhà Nguyễn Không chỉ vua chúa như vua Gia Long có
mộ song táng mà có không ít những gia đình quyền quý thời mấy giờcũng cải táng theo hình thức này Lê Văn Duyệt là một vị khai quốccông thần, lại được toàn dân quý mến nên người dân cải táng Ôngtheo hình thức này Mộ song táng ở Lăng Ông Lăng mộ cổ của Tảquân Lê Văn Duyệt nằm trên khu đất rất tốt về phong thủy củathành Gia Định năm xưa Không chỉ vậy, đây được xem là lăng mộ cókiến trúc cổ nhất tồn tại từ 1840 đến nay Ngôi mộ cổ nằm trên “longmạch” Ngôi mộ này thì ngôi mộ được xây dựng ngây 30/8/1832 tạilàng Bình Hòa – Gia Định Mộ Tả quân Lê Văn Duyệt gối đầu lên một
gò cao có thế đất chạy thoai thoải từ hướng Bắc xuôi về phía Namđến giáp cầu Bông (Q Bình Thạnh) hiện nay Phần mộ gồm hai ngôi
mộ song táng: Tả quân và vợ là bà Đỗ Thị Phẫn Hai ngôi mộ đặtsong song và được cấu tạo giống nhau, có hình dạng như nửa quảtrứng ngỗng xẻ theo chiều dọc, úp trên bệ lớn hình chữ nhật Hìnhhình dạng của hai con rùa nằm cạnh song song với nhau
Ở hai bên được đặt hai tượng con nghê bằng đá, một con cóđính kèm con nghê con tượng trưng cho vợ chồng Đức Tả quân LêVăn Duyệt Trong Nho giáo có câu “Nghê giáo tử”, dùng để phân biệtnghê đực và nghê cái Song song theo đó thì con nghê đực sẽ đảmnhận vai trò dạy con Chính vì thế con ghê có con là con nghê đực,đại diện cho Đức Tả quân Và con nghê còn lại là con nghê cái, đạidiện cho phu nhân chính thức của ông là bà Đỗ Thị Phận Ngoài ra,nghê đá theo phong thủy còn giúp trấn yểm khu lăng mộ khỏi nănglượng xấu, bảo vệ sự sạch sẽ trong khu lăng Hình ảnh cặp kì lân đặt
Trang 19ở lăng ông dựa trên quy tắc “Nam tả nữ hữu” Mộ Ông nằm bên trái
và mộ Đỗ phu nhân sẽ nằm bên phải Theo quan niệm xưa, nam bêntrái tượng trưng cho thanh long, nữ bên phải tượng trưng cho bạchhổ
Thanh long và bạch hổ thuộc về tứ tượng trong khái niệmthuyết âm dương để xem hướng tốt phù hợp phong thủy được lưutruyền từ nhiều đời Người xưa rất chú trọng việc xây dựng mộ phầnsao cho đúng phong thủy Để sau này mọi chuyện được bình an vàsuông sẻ
1.4 Phần miếu trong khuôn viên Lăng Ông
Khu miếu thờ, hay còn được gọi là Thượng Công Linh Miếu vớisắc đỏ, vàng làm chủ đạo, là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dântrong việc thờ cúng tướng Lê Văn Duyệt Với kỹ thuật chạm khắc gỗ,chạm khắc đá, khảm sành sứ vô cùng tinh xảo, khu miếu thờ là nơiđẹp nhất trong toàn bộ khuôn viên Miếu thờ gồm 3 phần: tiền điện,trung điện và chính điện Mỗi gian điện thờ bằng một khoảng sân lộthiên gọi là sân thiên tỉnh (giếng trời) Đối xứng hai bên trục nhàchính là hai dãy Đông lang và Tây lang Trải qua gần 200 năm, LăngÔng Bà Chiểu còn mang đậm kiến trúc cung đình Huế trên nhữngbức phù điêu tinh xảo bằng sành sứ hay những mái “trùng thiềmđiệp ốc.”
Theo nghiên cứu của Tiến sĩ Sử học Bùi Thị Ngọc Trang, ngoàihai chất liệu truyền thống là gỗ, đá thì nghệ thuật khảm sành sứ tạilăng miếu là một kỹ thuật tiếp thu từ những công trình kiến trúc ở cố
đô Huế Với các loại mảnh sành sứ, thuỷ tinh vỡ vụn, nhiều màusắc Các nghệ nhân đã khéo léo lựa chọn và sắp xếp thành nhữngtác phẩm nghệ thuật sống động
Lăng Lê Văn Duyệt có diện mạo như ngày hôm nay phải trảiqua nhiều thời kì xây dựng trùng tu khác nhau Tiền điện cùng Đông,Tây lang được xây dựng năm 1937 Dưới nhiệm kỳ 1932-1953 củaBan quản trị Hội thượng công quý tế Tiền điện nằm ngay phía sau
Trang 20khu mộ cách một khoảng sân rộng 26 x 15 m, cao hơn mặt bằngkhuôn viên 0,5m Đây là nơi cho khách viếng sửa soạn lễ vật nhangđèn cúng tế.
1.4.1 Tiền điện
Kiến trúc của Tiền điện mang đậm nét đặc trưng của kiến trúcNam Bộ đó là kiểu kiến trúc nhà tứ trụ hay còn gọi là nhà tứtượng Kiểu nhà này rất phổ biến ở Nam Bộ và đặc biệt chỉ dùng ởcác đình chùa nơi thờ phật thần Kiểu nhà này như là một sự sángtạo riêng của người dân Việt ở vùng đất mới Nó thích hợp với khíhậu nhiệt đới, mưa nhiều của Nam Bộ
Bốn cột này được đặt trên bốn chân kê bằng đá thanh dạng cổbồng cao 1m Các cột được liên kết với nhau bằng hệ thống chính,
vì kèo và được đỡ bằng hệ thống gồm: cối, trống, áp quả tức theolối “vì kèo cầu cánh ác” Bên cạnh nét Nam Bộ, Tiền điện cònmang trên mình nét kiến trúc đặc trưng của nơi khác Bộ mái củaTiền điện được lợp ngói âm dương có hai lớp mái theo kiểu trùngthềm một đặc trưng của xứ Huế Riêng mái trước có thêm một lớpmái nữa nằm ở vị trí cách một khoảng so với mái dưới cùng vị trívới lớp mái dưới của Đông lang và Tây lang Lớp mái này được đỡbằng hệ thống con sơn màu đỏ Nó có tác dụng che nắng che mưatáp vào và tạo cảm giác thẩm mỹ, làm cho ngôi điện không caoquá mức
Bộ mái ngói được lợp với ba lớp ngói: một lớp ngói chiếu để tạomặt phẳng cho mái và tạo thẩm mỹ, trên lớp ngói chiếu là ngói
âm và cuối cùng là lớp ngói dương kiểu ống trúc, các viên ngói âmdương gắn chặt với nhau bằng vữa
Ở đầu mái ngói được trang trí bằng ngói âm dương tráng menxanh dập hoa văn nổi Lớp ngói màu xanh này tạo nên độ bền chomái và cả sự thẩm mỹ hài hòa cho cả công trình
Cổ diềm ( khoảng cách giữa lớp mái trên và dưới ) được trangtrí bằng hệ thống hoa văn hình chữ công (I) bằng gỗ sơn đỏ Dưới
Trang 21được trang trí hoa văn hình con sơn vă vừa để đỡ câc mâi đượcvươn ra xa người thợ khĩo dung hệ thống con sơn gỗ để đẩy mâingói ra xa hơn vă đỡ được sức nặng của mâi ngói Bờ nóc đượctrang trí hình con thuyền có gắn hai con phụng hăm thơ vă đề tăi
“Lưỡng Long Tranh Chđu” bằng gốm Phía dưới chia ô hộc, mỗi hộctrang trí một đề tăi riíng Ô giữa có gắn tượng gốm “ bât tiín quâhải” Hai ô hai bín trang trí mặt sư tử bằng gốm trâng men xanh.Hai phần còn lại trang trí hoa điểu bằng câch khảm sănh sứ
Bờ mâi được trang trí đôi lđn bằng sứ vă qui cả bờ nóc vă bờmâi thănh đề tăi tứ linh lă: long, lđn, quy, phụng
Bờ chảy phía dưới trang trí đề tăi câ chĩp vượt vũ môn, rồng vẵng mặt trời, bă mặt trăng Tất cả đều được lăm bằng gốm trângmen xanh rất có giâ trị mỹ thuật
Ba bộ cửa của tiện điện được lăm theo lối “ thượng song hạbản” trang trí đề tăi “dơi ngậm kim tiền” vă “ ngũ phúc lđm môn”tượng trưng cho phúc lộc, được thiếp văng, câc chi tiết còn lạiđược sơn son Mặt sau để trống đi thẳng tới sđn thiín tỉnh línTrung điện
Hệ thống cửa chớp hai bín được lăm bằng kính dễ thâo lắp khi
có lễ lớn lăm chỗ để quan khâch xem hât
Tiền điện nổi lín với một mău đỏ khi mă câc chi tiết kỉo, thính,rui, đòn dông, đòn tay đều được sơn mău đỏ Vì vậy mă Tiền điệnrất sâng
1.4.2 Trung điện
Đđy lă công trình được xđy dựng sớm nhất trong khu vực thờ
tự Nó được xđy dựng từ những năm 1925 gồm có hai công trình lăChânh điện vă Hậu cung Sau Tiền điện lă một sđn thiín tĩnh giữasđn có một đỉnh lớn bằng xi măng Qua sđn thiín tĩnh bước línmột bậc thềm lă tới trung điện Trung điện xđy dựng trín một nềncao hơn tiền điện khoảng 0.2m Trước kia nơi đđy được dùng lămChânh điện khi chưa xđy dựng Chânh điện mới Chânh điện vă hậu
Trang 22cung cùng nằm trên nền có chiều dài 21m, rộng 12m Bộ mái làmtheo lối cổ lầu hay còn gọi là trùng thềm như kết cấu ở Tiền điện.Tuy nhiên có thể nhận thấy Chánh điện và Hậu cung là 2 côngtrình riêng biệt được ghép liền lại để tạo một không gian thốngnhất và rộng lớn hơn Với kết cấu nhà ghép đã tạo cho trung điệnmột dạng trùng thềm điệp ốc Một kiểu kiến trúc đặc trưng xứ Huếvừa tạo nên cảm giác trùng điệp cao thấp khác nhau làm nên vẻđẹp cho công trình.
1.4.3 Chánh điện
Chánh điện được dựng thấp hơn hậu cung để phân biệt côngtrình chánh phụ và để tạo sự điệp ốc Công trình này cũng xâytheo lối tứ trụ, bốn cột được kê trên đá tảng Tuy nhiên có thể thấykiểu nhà tứ trụ này sẽ tạo thành một không gian rộng và vuông
mà trái lại nhà tứ trụ ở Tiền điện lại tạo thành một “gian” Vì toàn
bộ Chánh điện cũ nằm trên một cái nền với diện tích nhỏ hẹp rộng12m dài, 9m vì vậy khoảng cách giữa các cột cái trước và sau rấtgần nhau ( 2,5m) riêng hàng cột quân trước được xây bằng gạch
ốp đá cẩm thạch Các cột cái liên kết với nhau theo kiểu nhàrường gồm có chính, trên trích lại đặt cối và trống để đỡ cho vìkèo Cột quân liên kết với cột cái bằng hệ thống xà nách, trên xànách lại có hệ thống rường cánh để đỡ vì kèo của công trình Cảthảy có 3 lớp
Bộ mái của chánh điện cũng được lợp bằng ba lớp ngói âmdương Lớp dưới là lớp ngói chiếu, phủ lớp vôi trắng trước khi lợp.Với lớp ngói này đã tạo nên mặt dưới của mái nhà một màu trắngrất đẹp lại vừa đảm bảo cho việc thi công lớp ngói trên Lớp trên làlớp ngói dương Lớp ngói dương được trát xi măng để chống dộtcho công trình Ở đầu mái là trang trí ngói tráng men xanh in hoavăn nổi Bờ nóc trang trí hai con rồng cách điệu bằng vữa có khảmsành sứ đang trong tu thế chầu bầu tự ở giữa cũng làm bằng sành
sứ Cổ diềm chánh điện được trang trí bằng hoa văn chữ đinh