1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đến chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của việt nam

32 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đến chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của việt nam
Tác giả Trần Thị Quỳnh Như, Trần Anh Thư, Phạm Huỳnh Gia Nghi, Hồ Thị Tường Vy, Tôn Bảo Bảo, Nguyễn Thị Thu Uyên
Người hướng dẫn ThS. Cao Nguyễn Khánh Huyền
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 3,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ lâu ở Việt Nam với ưu thế như lực lượng lao động thủ công trẻ dồi dào đã thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài, làm cho mối quan hệ ngoại giao giữa các chủ thể thêm gắn kết và đôi

Trang 1

TRƯƠNG ĐAI HOC SƯ PHAM THÀNH PHỐ HÔ CHI MINH

KHOA LỊCH SỬ

TIÊU LUÂN

TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 4 ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VÀ QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

HỌC PHẦN: HIST113903 – QUAN HỆ QUỐC TẾ TRONG BỐI

CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ 4.0

Thành phố Hô Chi Minh, ngay 12 thang 04 năm 2022

Trang 2

TRƯƠNG ĐAI HOC SƯ PHAM THÀNH PHỐ HÔ CHI MINH

KHOA LỊCH SỬ

TIÊU LUÂN

TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 4 ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VÀ QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

HỌC PHẦN: HIST113903 – QUAN HỆ QUỐC TẾ TRONG BỐI

CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ 4.0

Danh sách thành viên: Nhóm 8

Giang viên hương dân: ThS Cao Nguyễn Khánh Huyền

Thành phố ô H  Chi Minh, ngay 12 thang 04 năm 2022

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Cấu trúc đề tài 3

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG SƠ NÉT VỀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 4 TẠI 1 VIỆT NAM 4

1.1 Khái quát về Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 4

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm 4

1.1.2 Thành tựu nổi bật 4

1.1.2.1 Lĩnh vực nông nghiệp 5

1.1.2.2 Lĩnh vực công nghiệp 5

1.1.2.3 Lĩnh vực dịch vụ 5

1.2 Tình hình vận dụng thành tựu CMCN lần thứ 4 đến chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế tại Việt Nam 5

CHƯƠNG TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 4 2 ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VÀ QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 7

2.1 Cơ hội đối với chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Việt Nam 7

2.1.1 Ngoại giao số 7

2.1.2 Về kinh tế 8

2.1.3 Về văn hoá 9

2.2 Thách thức đối với chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Việt Nam……… 11

Trang 4

2.2.2 Về quốc phòng 17

CHƯƠNG HÀM Ý CHÍNH SÁCH VỀ ĐỐI NGOẠI VÀ QUAN HỆ QUỐC TẾ 3 CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 20

3.1 Xây dựng chiến lược phát triển chính sách đối ngoại của Việt Nam ở giai đoạn 2021 – 2030 21

3.2 Hàm ý chính sách về đối ngoại và quan hệ quốc tế của Việt Nam 22

KẾT LUẬN 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cuộc sống luôn vận động và phát triển, bước vào thời đại 4.0 cũng là lúc thế giới đang bước vào “kỷ nguyên số” với đặc điểm, tính chất và sự tác động sâu rộng chưa từng có Các quốc gia trong quan hệ quốc tế cũng đang điều chỉnh chính sách, chiến lược cho phù hợp với những chuyển động, tác động của kỷ nguyên số mang lại Nhiều đánh giá đã được đưa ra về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư chứa đựng nhiều giá trị lớn lao không chỉ về kinh tế mà cả văn hóa xã hội một cách hoàn toàn riêng Bản chất của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là mang thế giới ảo và thế giới thực xích lại gần nhau hơn và nó dựa trên nền tảng của ba cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật từng có trong lịch sử Nếu như ở cuộc cách mạng lần thứ nhất bắt đầu từ

1784, đặc trưng nổi bật là khi con người phát minh ra máy móc chạy bằng hơi nước và sức nước, đây cũng là kỷ nguyên sản xuất cơ khí thay thế hệ thống kĩ thuật cũ của thời đại nông nghiệp Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai vào năm 1870 đến khi loài người phát minh ra động cơ điện, tạo nên nền sản xuất với các dây chuyền lắp ráp, sản xuất hàng loạt máy móc dựa vào năng lượng điện Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ

ba từ năm 1969 được biết đến như là kỷ nguyên công nghệ thông tin, với sự áp dụng phổ biến máy tính kỹ thuật số, sản xuất tự động với máy tính, điện tử, nên cũng có thể gọi là cách mạng số hóa khi máy móc thay thế hầu hết chức năng của con người Còn đến với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chúng ta đang ở giai đoạn đầu được xây dựng dựa trên nền tảng của cuộc cách mạng công nghệ số Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, kết nối vạn vật và điện toán đám mây đã xóa nhòa mọi ranh giới giúp con người, máy móc tự kết nối với nhau Ngày nay chúng ta không còn quá xa lạ với những lợi ích mà cuộc cách mạng 4.0 đem lại, chúng xuất hiện trong tất cả các lĩnh vực, len lỏi từ gia đình ra đến ngoài xã hội và dần thay thế cơ bản lối sống, phong cách làm việc

và cách thức giao tiếp của con người

Có thể nói rằng trí tuệ nhân tạo đặc biệt là robot trong tương lai có thể ay thế thhoàn toàn con người, chỉ cần số hóa các nền sản suất, các công ty có cơ hội đưa sản xuất về lại nước mình, giành lại công việc của các nước có giá nhân công thấp Đây cũng chính là l do khiến các chính phủ nhiều nước lập ra các chiến lược đối ngoạiý 4.0 cho riêng mình Từ lâu ở Việt Nam với ưu thế như lực lượng lao động thủ công trẻ dồi dào đã thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài, làm cho mối quan hệ ngoại giao giữa các chủ thể thêm gắn kết và đôi bên đều có lợi nhưng chịu sự tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 trong cuộc sống hiện nay có thể tước đi việc làm của người lao động

Trang 6

nhiều ngành nghề từ dệt may, dịch vụ, giải trí, giao thông, giáo dục… thì những ưu thế

đó không còn tác dụng nữa và dần bị thay thế

Vậy con người đã chịu những tác động nào của cuộc cách mạng lần thứ tư này đến chính sách ngoại giao giữa các quốc gia, và chúng ta phải làm gì để thích nghi với những tiến bộ và đối phó trước những thách thức mà cuộc cách mạng này đem lại? Dựa trên cơ sở đó, nhận thấy được ảnh hưởng của cuộc cách mạng lần thứ 4 đã, đang là một

xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động sâu sắc đến quan hệ giữa các quốc gia về lĩnh vực kinh tế lẫn đời sống của từng quốc gia Nhận thấy cách mạng công nghiệp 4.0 mang đến cho Việt Nam rất nhiều thời cơ, thuận lợi đồng thời cũng mang đến không ít khó khăn và thử thách, nhận thấy đây là một vấn đề cần nghiên cứu nên chúng tôi quyết định chọn đề tài “Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu và tìm hiểu

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Thông qua quá trình nghiên cứu, thu t ập và tìm hiểu vấn đề tác động của cách hmạng công nghiệp lần thứ tư đến chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Việt Nam giúp cho mọi người có cái nhìn cụ thể hơn về những ảnh hưởng của làn sóng cách mạng công nghiệp 4.0 đến Việt Nam Đặc biệt đi sâu vào tìm hiểu những cơ hội và thách thức trong các chính sách ngoại giao, chiến lược và quan hệ quốc tế của Việt Nam khi có sự tác động của xu thế cách mạng công nghiệp lần thứ tư Từ đó đưa ra những cách thức, , định hướng mới khắc phục những hạn chế trong chính sách đối ngoại của Việt Nam , với mục tiêu mở rộng tầm ảnh hưởng của quốc gia trong quan hệ quốc tế khi áp dụng công nghệ 4.0

3 Đối tượng nghiên cứu

Bài tiểu luận đi sâu vào tìm hiểu và phân tích những tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài là phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp tổng hợp và phân tích để tìm thông tin, phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu về đối tượng, sau đó liên kết, tổng hợp từng bộ phận thông tin đã được phân tích cung cấp cái nhìn mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp lịch sử – logic, phương pháp so sánh

để đưa ra những nhận xét, đánh giá phù hợp với từng đối tượng trong các chính sách

Trang 7

ngoại giao cũng như những ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến chiến lược quan hệ quốc tế của Việt Nam

5 Phạm vi nghiên c u

Phạm vi không gian: tiểu luận tập trung nghiên cứu trong lãnh thổ Việt Nam, ngoài ra đề tài không thể không đề cập đến các sự kiện của các quốc gia trên thế giới, góp tác động đến chính sách ngoại giao giữa các chủ thể trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4

Phạm vi thời gian: vấn đề nghiên cứu được giới hạn từ khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được du nhập vào Việt Nam và có những ảnh hưởng nhất định đến lĩnh vực ngoại giao cũng như quan hệ quốc tế của Việt Nam đến ngày nay

Trang 8

NỘI DUNG

CHƯƠNG SƠ NÉT VỀ1 CÁCH MẠNG CÔNG NGHI P L N TH 4 TỆ Ầ Ứ ẠI

VIỆT NAM 1.1 Khái quát v Cách m ng công nghi p l n th 4ề ạ ệ ầ ứ

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là một cách để giải thích sự xóa nhòa ranh giới giữa thế giới vật lý, kỹ thuật số hiện đại và sinh học Sự kết hợp và hội tụ của những tiến bộ trong các lĩnh vực công nghệ hiện đại có thể kể đến như: Trí tuệ nhân tạo (AI - Artificial Intelligence), Robot, Internet vạn vật (IoT - Internet of Thing), Dữ liệu lớn (Big Data), in 3D, công nghệ sinh học, chuỗi khối (Blockchain), điện toán đám mây (Cloud) và các công nghệ khác Đó là lực lượng tập thể đằng sau nhiều sản phẩm và dịch vụ đang nhanh chóng trở nên thiết yếu đối với cuộc sống hiện đại

Thuật ngữ Công nghiệp 4.0 xuất hiện lần đầu tiên tại triển lãm Hannover vào năm 2011 và sau đó là trong một báo cáo của chính phủ Đức vào năm 2013 Điều này

đã đánh dấu sự ra đời của một loạt công nghệ mới, kết hợp tất cả những trí thức mới nhất về vật lý, kỹ thuật số hóa, sinh học và hơn thế nữa, và mang lại những thay đổi cơ bản trong tất cả các lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư à kết quả của cơn bão công nghệ hoàn lhảo, đã và đang mở đường cho những thay đổi mang tính biến đổi trong cuộc sống của chúng ta và hoàn toàn cách mạng hoá hầu hết mọi lĩnh vực kinh doanh Sự phát triển diễn ra với tốc độ chóng mặt chưa từng có trước đây

Ở Việt Nam, do điều kiện chiến tranh và hoàn cảnh lịch sử, không có được cơ hội và điều kiện tiếp cận, bắt kịp ngay từ đầu Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba

Vì vậy, khi thế giới bắt đầu bước vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đây là

cơ hội để Việt Nam tham gia trực tiếp vào các lĩnh vực công nghệ cao, nhanh chóng áp dụng hành tựu t của cuộc cách mạng này để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, thu hẹp khoảng cách phát triển của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới cũng như những cơ hội lẫn thách thức đặt ra về ngoại giao trong bối cảnh hiện nay

1.1.2 Thành t u n i bổ ật

Những tiến bộ trong quá trình đổi mới đã tạo ra nhiều tiền đề quan trọng để Việt Nam tiếp cận và thực hiện Cách mạng Công nghiệp 4.0 Do đặc điểm của cuộc cách mạng này là không phụ thuộc vào máy móc và phụ thuộc phần lớn vào năng lực, trí tuệ của con người Điều này có thể tạo nên ưu thế cho Việt Nam trong việc nắm bắt thành

Trang 9

quả ở vị trí của nước đi sau để hạn chế những thách thức khó khăn của cuộc cách mạng , công nghiệp này trong quá trình áp dụng vào các lĩnh vực kinh tế xã hội ở Việt Nam.-

1.1.2.1 Lĩnh vực nông nghiệp

Lĩnh vực nông nghiệp ở các nền kinh tế phát triển đã áp dụng tiến bộ công nghệ theo các phương thức khác nhau, trong đó có việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và tự động hoá để tăng năng suất sản xuất một cách trực tiếp và hỗ trợ người nông dân đưa

ra các quyết định gián tiếp thông qua ICT (công nghệ thông tin truyền thông), cụ thể là các ứng dụng điện thoại di động trong nông nghiệp, ứng dụng Hệ thống Thông tin Địa

lý (GIS) trong canh tác và đánh bắt cá hay các công nghệ vệ tinh và khoa học nông nghiệp khác góp phần nâng cao đáng kể sản lượng nông nghiệp và ngư nghiệp.1

1.1.2.2 Lĩnh vực công nghiệp

Việc ứng dụng công nghệ cao rất phổ biến trong các ngành công nghiệp Ở các nền kinh tế công nghiệp hóa, công nghệ được sử dụng theo nhiều cách khác nhau để thúc đẩy hiệu suất (cả chất lượng và số lượng) và tăng năng suất

Ví dụ như, các nền kinh tế châu Á thành công như Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan và Malaysia đã đạt được những thành tựu thần kỳ về kinh tế với những chính sách phát triển công nghiệp đặt trọng tâm chiến lược vào các lĩnh vực định hướng xuất khẩu

cụ thể.2

1.1.2.3 Lĩnh vực dịch vụ

Việc sử dụng ngày càng nhiều thiết bị di động và sự gia tăng về mức độ tiếp cận internet rộng rãi đã thay đổi về cơ bản thế giới việc làm Sự xuất hiện của nền kinh tế tạm thời, nền tảng số, việc làm tự do và thương mại điện tử đã tạo ra những hình thức việc làm mới có thể được thực hiện từ xa (hay một phần được thực hiện từ xa) Chúng cũng góp phần đáng kể vào việc mở rộng thị trường ngoài phạm vi biên giới bằng cách kết nối con người với số lượng ngày càng gia tăng.3

1.2 Tình hình v n d ng thành t u CMCN l n thậ ụ ự ầ ứ 4 đến chính sách đối ngoại

và quan h ệ quố ế ạ c t t i Vi t Nam

Xu hướng quốc tế hiện nay là “hội nhập quốc tế” Với tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ 4.0, sự phát triển chưa từng có kéo theo sự tham gia của

Trang 10

tất cả các quốc gia vào quá trình hội nhập quốc tế, hội nhập quốc tế trở thành một tất yếu khách quan, phải được tích hợp Tuy nhiên, quan điểm của Đảng ta trong quá trình hội nhập quốc tế cho rằng đây là cuộc chơi có nhiều cơ hội và cũng không ít thách thức

Để hội nhập với cộng đồng quốc tế trong môi trường cạnh tranh gay gắt về chính trị, kinh tế, sự thống trị thế giới của các cường quốc, tình hình thế giới luôn biến động phức tạp đòi hỏi phải có độc lập, tự chủ, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia Vì vậy, khi hoạch định chính sách, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú ý phân tích tình hình quốc tế, theo kịp nhịp độ phát triển của nhân loại, sử dụng sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để đưa đất nước phát triển lên một tầm cao mới

Những vấn đề quan trọng đối với việc thực hiện chủ trương xây dựng nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, cũng như thiết thực đối với phát triển của đất nước như chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, môi trường, y tế, …

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và tăng cường vai trò, vị thế của Việt Nam trong các

tổ chức quốc tế thông qua đóng góp, hỗ trợ và tham gia các hoạt động Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức của Liên hợp quốc, đặc biệt là Tổ chức Y tế thế giới; tận dụng việc thành lập và hình thành các văn phòng đại diện của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam Đặc biệt trong thời kỳ đại dịch, nhà nước đã thực hiện có hiệu quả công tác ngoại giao vắc xin, thuốc và trang thiết bị y tế; thực hiện công nhận quốc tế về hộ chiếu vắc xin Mở rộng cửa giao lưu nhân sự; thực hiện các chính sách khuyến khích đầu tư

để phát triển ngành dược; là người đầu tiên có được thế hệ vắc xin, thuốc mới, công nghệ kiểm nghiệm, vật tư, thiết bị; thành lập ngành dược khu công nghiệp và tham gia vào chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu

Trang 11

CHƯƠNG TÁC ĐỘ2 NG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 4

ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VÀ QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

2.1 Cơ hội đố ới chính sách đố i v i ngoại và quan hệ quốc t c a Vi t Nam ế ủ ệ

2.1.1 Ngoại giao s

Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang trong tiến trình mở ra nhiều cơ hội nếu

có sự tận dụng, thích ứng một cách có hiệu quả, sẽ là bước đi giúp cho các quốc gia đứng lên bứt phá và phát triển một cách mạnh mẽ Và trong số đó, cuộc cách mạng thông tin và cách mạng số đã mở ra phương thức Ngoại giao số được xem như một lĩnh vực ngoại giao chuyên biệt đang từng bước trở thành một chọn lựa ưu tiên của nhiều nước và khu vực trên thế giới

Có thể hiểu, “Ngoại giao số” (Digital Diplomacy) là một hình thức ngoại giao công chúng m i, s d ng Internet, công ngh thông tin, truyớ ử ụ ệ ền thông (ICT) và phương

tiện truy n thông xã hề ội như những công c ụ để tăng cườ ng quan h ngo i giao.ệ ạ 4

Tuy có một xuất phát điểm thấp và muộn hơn so với các quốc gia trên thế giới nhưng Việt Nam, một quốc gia tầm trung, vẫn không ngừng cố gắng nhận được sự đánh giá là có nhiều tiềm năng, thế mạnh về ngành công nghệ thông tin cũng như là ngành công nghệ số Trong đó, cơ sở hạ tầng viễn thông được xây dựng một cách đồng bộ, vùng phủ sóng di động đạt đến 99,7% dân số trong nước (thuê bao di động đạt 125,6 triệu vào năm 2018), trong đó vùng phủ sóng 3G, 4G đạt trên 98% với mức cước phí thấp, mạng 5G thì vẫn đang được thử nghiệm và đưa ra thị trường từ năm 2020 Nền kinh tế số được hình thành và phát triển một cách nhanh chóng và dần trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam xếp vị trí thứ ba trong ASEAN

về quy mô nền kinh tế số Các mô hình chính phủ điện tử, chính phủ số, thành phố thông minh đang được triển khai, chỉ số phát triển chính phủ điện tử của Việt Nam được xếp hạng 88/193 quốc gia trên thế giới Bên cạnh đó, chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam xếp thứ 42/129 quốc gia/nền kinh tế, xếp thứ 4 trong khối ASEAN

Việt Nam với khát vọng và tầm nhìn vươn lên, nỗ lực không ngừng nghỉ nhằm chinh phục đạt đến những thứ bậc cao hơn về ngành công nghệ, kinh tế số và đổi mới sáng tạo, vào ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 52 đề ra một số chủ trương, cũng như là chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ

tư đến năm 2030, tầm nhìn 2045, Nghị quyết đã đặt ra mục tiêu và đòi hỏi Ngoại giao Việt Nam phải có những điều chỉnh, đặc biệt hơn một số nội dung đáng chú ý như việc:

4

(Trọng Đạt, 2021)

Trang 12

phải có sự tận dụng những cơ hội mà cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại với mục đích thúc đẩy quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, đồng thời có sự cơ cấu lại nền kinh tế gắn với thực hiện các đột phá về chiến lược và hiện đại hóa đất nước, song đó tiếp tục phát triển mạnh mẽ nền kinh tế số; phát triển nhanh chóng và bền vững trên lĩnh vực khoa học – công nghệ, không ngừng đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cuộc sống, cũng như phúc lợi của người dân và cuối cùng là đảm bảo về vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái.5

2.1.2 Về kinh t ế

Cách mạng công nghiệp 4.0 đã mang đến tác động mạnh mẽ đối với nền kinh tế hầu hết trên các lĩnh vực chủ chốt của kinh tế đối ngoại như thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế bao gồm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Trong hơn 30 năm qua, FDI chiếm một vai trò hết sức quan trọng, đã góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế Việt Nam và giúp nâng cao vị thế của Việt Nam đối với khu vực và quốc tế Và trong những khoảng thời gian tới, thì Chính phủ Việt Nam đặt

sự quan tâm hầu hết cho công tác định hướng thu hút FDI Và với một số đặc trưng của CMCN 4.0 đã có sự tác động lớn đối với nền kinh tế Việt Nam

Đầu tiên, về dữ liệu lớn (Big ata) và phân tích dữ liệu lớn Trong đó, Big D Data với nguồn dung lượng lớn, đồng thời tốc độ xử lý cao, đa dạng về chủng loại, tạo nên việc kết nối với những dữ liệu chính xác, có khả năng phục vụ một cách có hiệu quả đối với các nhiệm vụ kinh tế xã hội của các quốc gia toàn cầu Để từ đó, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ có thể ra quyết định nhanh chóng và có cơ sở chắc chắn cho việc ra các quyết định đầu tư ở đâu nhằm tối đa các mục tiêu của họ Lấy ví dụ như việc Tập đoàn Samsung để có đủ những cơ sở nhằm quyết định đầu tư trước khi đưa nhà máy vào Thái Nguyên của Việt Nam, thì họ đã phải chuẩn bị và đưa ra phân tích tới hơn 1000 tiêu chí Có thể nói, điều này là cơ hội nhưng cũng là thách thức cho các quốc gia trong đó

có cả ở Việt Nam

Thứ hai, về công nghệ in 3D (3D Printing) thì đây là lĩnh vực công nghệ để tạo

ra một đối tượng vật lý bằng cách là bồi đắp dần các lớp vật liệu từ một bản vẽ hay một

mô hình 3D có trước Các công ty trên thế giới đã bắt đầu sử dụng phương pháp này để tạo ra những giá trị mới cho nền kinh tế toàn cầu và cũng làm thay đổi cách sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng Công nghệ sản xuất bồi đắp hiện nay đã có mặt trên thế giới bao gồm các phiên bản công nghệ như SLA, FDM, MJM, 3DP, SLS Với nền công nghiệp 4.0, sản xuất bồi đắp sẽ được sử dụng một cách rộng rãi nhằm mục đích sản xuất

5

(Vũ Lê Thái Hoàng & Nguyễn Đức Huy, 2020)

Trang 13

từng phần nhỏ của những sản phẩm đặc chế đưa đến sự tiện lợi về mặt cấu trúc Công nghệ in 3D cho phép sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh nhờ nhất thể hóa các dây chuyền sản xuất mà không cần phải trải qua công đoạn lắp ráp các thiết bị phụ trợ và bên cạnh

đó loại bỏ các khâu sản xuất trung gian và giảm được tối thiểu những chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất Từ đó, cho thấy việc nếu khu vực FDI ở Việt Nam trước đây luôn đòi hỏi có mạng lưới các doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm trung gian thì bây giờ khi đến với công nghệ in 3D, yếu tố này sẽ không còn đáng bận tâm như trước nữa Chính yếu tố này thì việc công nghệ 4.0 đã góp phần hỗ trợ cho Việt Nam khắc phục điểm yếu khó tháo gỡ để đáp ứng yêu cầu của khu vực FDI từ trước tới nay

Thứ ba về việc tự động hóa: CMCN 4.0 tạo nên những sự thay đổi lớn và vô cùng mạnh mẽ đối với ngành sản xuất và dịch vụ, nhất là việc ứng dụng robot tự động hóa hay chăng là thiết bị tự hành vào quá trình sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch

vụ Các thiết bị robot hữu hình được vận dụng trong các nhà máy, trong đời sống con người, trong các cửa hàng, cửa hiệu như một nguồn lực của xã hội Trong đó, khu vực FDI hiện có ở Việt Nam chủ yếu sử dụng nhiều lao động rẻ như các nhà máy của Samsung, các nhà máy lĩnh vực dệt may… từ đó có thể thay thế bằng robot tự động Và

từ đó, các dự án FDI sử dụng nhiều lao động sẽ giảm xuống đòi hỏi Việt Nam cần có điều chỉnh chính sách thu hút FDI trong thời gian tới

Cuối cùng là sự hội tụ hệ thống với CMCN 4.0 như hiện nay, các công ty, phòng ban có cơ hội được gắn kết hơn, bởi việc toàn bộ các mạng lưới thông tin đều mang tính đồng nhất giúp hiệu lực hóa chuỗi giá trị tự động Hoạt động hội nhập hay hội tụ này được gắn kết, kết nối thông qua các ứng dụng phần mềm, các ứng dụng trợ lý ảo, không gian tương tác màn hình ba chiều theo thời gian thực với các thiết bị phần cứng hỗ trợ (máy chiếu 3D, kính 3D, âm thanh 3D, mùi vị ) có thể làm việc từ xa mà như trực tiếp Điều này góp phần hỗ trợ không nhỏ cho việc hình thành liên kết kinh doanh giữa các công ty đa quốc gia (MNES) ngày một phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng, đồng thời các doanh nghiệp trong nước còn có khả năng dễ dàng tiếp nhận đầu tư để hợp tác kinh doanh dưới sự cho phép, chuyển giao công nghệ của các MNEs mà không cần các dự

án FDI hiện diện tại nước sở tại Vì có tính đa chiều, và thuận tiện do đó giúp tiết kiệm được thời gian, chi phí Tác động này không chỉ diễn ra ở một vài nước mà ở trên phạm

vi toàn cầu, trong đó có Việt Nam.6

2.1.3 Về văn hoá

6 (Bùi Thúy Vân, 2022)

Trang 14

Theo như chia sẻ của Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản, Vũ Hồng Nam: “Ngoại giao văn hóa cực kỳ quan trọng và xuất hiện tự nhiên từ thời xa xưa Cho đến nay, ngoại giao văn hóa đã có nhiều đóng góp quan trọng vào công tác đối ngoại, nâng cao

hình ảnh đất nước ta” Và bên cạnh đó, ông cũng có sự nhận định thêm rằng: “Trong

ngoại giao văn hóa có ngoại giao kinh tế và trong ngoại giao kinh tế có ngoại giao văn hoá Hai lĩnh vực này song hành cùng nhau Khi kết hợp sức mạnh tổng hợp này thì

công tác ngoại giao của ta ở nước ngoài sẽ phát huy rất tốt.”

Qua sự phát biểu về ý kiến của ông, từ đó ta thấy được vai trò của ngoại giao văn hóa sẽ góp phần đưa quan hệ giữa Việt Nam đối với các nước và các tổ chức quốc

tế theo chiều sâu, bền vững Đồng thời, tham gia vào quá trình hình thành mạng lưới 30 đối tác chiến lược, đối tác toàn diện của Việt Nam trên toàn cầu, tạo điều kiện cho Việt Nam có những cơ hội thuận lợi cho việc thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư, du lịch giữa Việt Nam với các nước trên thế giới và hơn hết ngoại giao văn hóa sẽ tạo nên khả năng để nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.7

Bên cạnh đó, thời gian qua thế giới cùng nhau hứng chịu sự ảnh hưởng của đại dịch Covid 19, khiến cho tình trạng về kinh tế cũng như văn hóa ngoại giao bị đình trệ không kém Song bên cạnh khó khăn như thế, thành tựu của cuộc Cách mạng công nghệ 4.0 đã tạo nên bước đi mới đối với mỗi một quốc gia, và trong đó có cả Việt Nam

Cụ thể, trong bối cảnh có nhiều sự ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh gần 2 năm qua, Đại sứ quán Việt Nam tại Thụy Sỹ cũng như các nước trên thế giới đã tích cực thúc đẩy cũng như là đầu tư chất lượng nhân lực, cơ sở hạ tầng, nâng tốc độ đường truyền internet và các thiết bị nhằm mục đích phục vụ, tổ chức các hoạt động trực tuyến Việc duy trì đó giúp duy trì các cầu nối, để trong việc giao lưu giữa ngoại giao của các nước không bị ngưng trệ Dù vậy, các hoạt động trực tuyến vẫn không thể thay thế được các hoạt động trực tiếp

Theo như sự chia sẻ của Đại sứ Lê Linh Lan - Đại sứ Việt Nam tại Thụy Sỹ Thì vào năm 2021 sẽ là dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và

Thụy Sỹ, “hai bên đã tổ chức được 2 cuộc trao đổi đoàn cấp cao Phó Tổng thống Thụy

Sỹ sang thăm Việt Nam và mang viện trợ gói vật tư y tế kịp thời Đây là cử chỉ đặc biệt, nghĩa tình, đoàn kết với Việt Nam trong bối cảnh 2 nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan

hệ Ngoại giao và 30 năm quan hệ hợp tác phát triển Gần đây phía Việt Nam có đoàn cấp cao do Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu thăm chính thức Thụy Sỹ Chuyến

thăm diễn ra thành công tốt đẹp Sự chuẩn bị c a chúng tôi th i gian v a qua b ng các ủ ờ ừ ằ

7

(An Bình, 2021)

Trang 15

hoạt độ ng trực tuyến cũng hướng tới việc thực hiện được chuyến thăm cấp cao trực tiếp, tuân th ủ đầy đủ các quy ch , bi n pháp an toàn ch ng d ch Covid-19 và chuy n ế ệ ố ị ế

thăm này đã tạo ra xung lực chính tr m nh m , thành công tị ạ ẽ ốt đẹp Nguyên th ủ 2 nước

đã có các cuộc hội đàm, trọng thị, thực chất”

Việc ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt các công nghệ mới trong cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã giúp ta duy trì cầu nối, duy trì giao lưu văn hóa, góp phần đưa hình ảnh Việt Nam đến gần hơn với bạn bè quốc tế Chính điều này đã có sự đòi hỏi rằng phải có sự sự thống nhất hành động, nhận thức tư duy của các bộ, ngành và cùng với các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài chung lòng, chung sức nhằm mục tiêu tiếp tục phát huy đổi mới sáng tạo trong việc quảng bá văn hóa trong thời đại dịch Covid-19, cũng như là trong tương lai

Việc gia tăng đầu tư, phát triển các sản phầm nền tảng công nghệ số để quảng

bá về văn hóa, đất nước và con người Việt Nam rất đặc sắc và nhận được sự ủng hộ và trân trọng từ nhiều bạn bè quốc tế Chúng ta luôn có sự cố gắng phát huy khả năng vốn

có và tiếp tục tăng cường đầu tư về nguồn lực, lẫn cơ sở hạ tầng cùng với các sản phẩm

kỹ thuật số Một khi có được sự vận dụng hiệu quả sẽ tạo ra cơ hội giúp tăng cường thương hiệu của đất nước, nâng cao sức mạnh mềm của đất nước, đưa Việt Nam ngày càng trở thành điểm đến có sức hút, không chỉ về văn hóa, đất nước mà còn là con người

và cả nền kinh tế năng động Và việc nâng cấp sử dụng hiệu quả các ứng dụng công nghệ mới của cuộc cách mạng 4.0 sẽ là điểm then chốt trong việc triển khai ngoại giao văn hóa, cũng như thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong thời kỳ mới.8

2.2 Thách thức đối với chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Việt Nam

2.2.1 Về kinh t ế

Mặc dù cả số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực nước ta ở giai đoạn hiện nay được cải thiện và có những chuyển biến tích cực, nhưng trước yêu cầu về sự phát triển tương quan với bối cảnh thế giới hiện nay đã cho thấy giai cấp công nhân của nước

ta còn nhiều hạn chế và bất cập đòi hỏi cần phải có những giải pháp thiết thực để khắc phục ở thời điểm hiện nay Có thể thấy rằng, sự phát triển của nguồn nhân lực nước ta hiện nay chưa đáp ứng được các yêu cầu về số lượng, quy mô, cơ cấu, chuyên môn, trình độ học vấn cũng như những kinh nghiệm và kỹ năng nghề nghiệp trong xu thế phát triển của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, số lượng người lao động giỏi, lành nghề, có trình độ học vấn, chuyên môn cao, được đào tạo đầy

8

(Hoàng Ki u, 2021) ề

Trang 16

đủ từ cơ bản đến nâng cao đang chiếm một phần khá ít trong cơ cấu kinh tế nước ta, đa

số người lao động hiện nay từ nông dân, trình độ chuyên môn chưa cao và chưa qua đào tạo cơ bản và hệ thống chặt chẽ Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Việt Nam chưa thực sự tương thích với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động Chỉ với 24% trong tổng lực lượng lao động xã hội, số lượng giai cấp công nhân lao động công nghiệp hiện nay vẫn còn ở mức thấp, từ đây cũng gây khó khăn đến quá trình hướng đến một nền công nghiệp hiện đại trong tương lai của Việt Nam.9

Ngoài ra, tuy mặt bằng chung về trình độ văn hóa và chuyên môn của công nhân nước ta dù được cải thiện và ngày càng nâng cao, song vẫn còn thấp và chậm, điều này

đã cản trở một phần đến việc tiếp thu và ứng dụng khoa học – kỹ thuật, đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Với tốc độ tăng năng suất lao động như hiện nay, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã nhận định thì phải đến năm 2038, năng suất lao động của công nhân nước ta mới bắt kịp Philippines, để bắt kịp Thái Lan thì phải đến năm

2069 Chính vì vậy, việc tập trung đầu tư để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có chính sách, kế hoạch đào tạo chuyên môn, nâng cao tay nghề chặt chẽ, phù hợp với bối cảnh đất nước hiện tại là một trong những vấn đề quan trọng, cấp thiết cần được nước

ta chú trọng quan tâm và triển khai thực hiện để tránh tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực nghiêm trọng khi có các dự án lớn đầu tư vào Việt Nam.10

Hơn thế nữa, một thực trạng đáng báo động, đáng quan tâm khác chính là tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng cao, trong đó có cả những người đã qua đào tạo và có trình

độ chuyên môn, do đó, nhà nước ta cũng cần phải có giải pháp thích hợp để đẩy lùi vấn

đề thất nghiệp, mở ra nhiều chính sách giải quyết việc làm, từ đó góp phần khắc phục được mối đe dọa đến tốc độ phát triển của nền kinh tế nước ta Có thể thấy rằng, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là sự gia tăng, mở rộng ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin, điều khiển và cơ chế tự động hóa Trong những ngành nghề cần sử dụng lao động, vai trò của con người trong một số công đoạn hoặc toàn bộ dây chuyền sản xuất hiện tại được thay thế bằng các hệ thống robot thông tin nhân tạo hoạt động trên cơ chế tự động hóa và áp dụng nhiều khoa học – công nghệ, từ đó làm giảm vai trò của con người trong một số lĩnh vực, ngành nghề đặc biệt

là trong các ngành cần sử dụng nhiều lao động, đây được xem là một nhân tố nổi bật là gây ra nhiều thách thức cho nước ta trong vấn đề giải quyết việc làm Đây cũng được xem là một trong những thách thức lớn nhất trong tiến trình phát triển kinh tế và khẳng định vị thế của Việt Nam với các nước khác trong khu vực và trên toàn thế giới, bởi lẽ

9 (Tr n Th Thanh Bình, 2020) ầ ị

10 (Tr n Th Thanh Bình, 2020) ầ ị

Ngày đăng: 01/04/2023, 16:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w