1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Niên luận quan hệ ngoại giao việt nam liên xô (1945 1975)

38 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Niên Luận Quan Hệ Ngoại Giao Việt Nam - Liên Xô (1945 - 1975)
Tác giả Nguyễn Minh Trung
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Hồng Nhung
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Niên luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 3,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử đã chứng minh một trong những nhân tố cơ bản, đồng thời cũng là một bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng Việt Nam là phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA LỊCH SỬ KHOÁ 2021 2025

NIÊN LUẬN

QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM - LIÊN XÔ

(1945 - 1975)

GIẢNG VIÊN: TS NGUY N TH H NG NHUNG Ễ Ị Ồ

SINH VIÊN TH C HI N: NGUY N MINH TRUNG Ự Ệ Ễ

MSSV: 2156040040

TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 12/2022

Trang 2

4 Mục tiêu, nhi m v nghiên c u 3 ệ ụ ứ

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 K t c u 4 ế ấ đề tài

NỘI DUNG 5 CHƯƠNG 1 TIỀN ĐỀ THIẾT LẬP QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM - LIÊN

XÔ (1945 - 1950) 5 CHƯƠNG 2 QUAN H Ệ NGOẠI GIAO VIỆT NAM - LIÊN XÔ (1950 - 1975) 9 2.1 Quân s 9 ự2.2 Kinh t 16 ếCHƯƠNG 3 NHẬN XÉT – ĐÁNH GIÁ 25

KẾT LUẬN 29

TÀI LIỆU THAM KH O 30 Ả

Trang 3

NHỮNG CH Ữ VIẾT TẮT TRONG NIÊN LUẬN

VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

CHMNVN : C ng hòa Mi n Nam Vi t Nam ộ ề ệ

MTDTGTMNVN : Mặt tr n Dân t c Gi i phóng mi n Nam Vi t Nam ậ ộ ả ề ệQĐNDVN : Quân đội nhân dân Vi t Nam ệ

CNQTVS : Chủ nghĩa Quốc tế vô sản

Trang 4

MỞ ĐẦ U

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam - Liên Xô cách xa nhau hàng vạn dặm, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân hai nước trong những thời kỳ lịch sử trước đây không giống nhau, ngôn ngữ và truyền thống văn hóa cũng khác nhau Thời cận đại, hai bên hầu như không có quan hệ gì về kinh tế, chính trị, văn hóa Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười, Liên

Xô trở thành trung tâm cách mạng thế giới và là chỗ dựa của cách mạng Việt Nam Lịch

sử đã chứng minh một trong những nhân tố cơ bản, đồng thời cũng là một bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng Việt Nam là phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, tranh thủ sự giúp đỡ của cách mạng thế giới, trước hết và hàng đầu là của Liên Xô Đảng Cộng sản Việt Nam –

có sự giúp đỡ của Liên Xô, đặc biệt là của Đảng Cộng sản Liên Xô, đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi theo con đường của cách mạng tháng Mười, đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành và giữ được nền độc lập, góp phần thúc đẩy cách mạng thế giới, nâng vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế rong nhiều thập kỷ trước đây việc T , xây dựng tình đoàn kết, ủng hộ và hợp tác với Đảng Cộng sản Liên Xô đã được Đảng Cộng sản Việt Nam coi là một nhiệm vụ chiến lược trong chính sách đối ngoại, thường xuyên được vun đắp, giữ gìn

Quan hệ giữa hai quốc gia trải qua nhiều giai đoạn rong đó giai đoạn 1954 , t - 1975

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, diễn ra trong bối cảnh quốc tế phức tạp sau chiến tranh thế giới thứ II với việc hình thành trật tự thế giới mới và những năm căng thẳng của chiến tranh lạnh Đông - Tây Giai đoạn này, quan hệ giữa hai nước về cơ bản là thuận lợi và liên tục, có ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình lịch sử mỗi nước, đặc biệt là Việt Nam Liên Xô không chỉ là chỗ dựa tinh thần, đồng minh chiến lược, mà từ năm 1950 còn là "cửa sổ nhìn ra thế giới và châu Âu" của Việt Nam hững hiểu biết của chúng N

ta về quan hệ giữa Việt Nam và Liên Xô dù khá nhiều song chưa đầy đủ nên việc nghiên cứu đề tài để hiểu thêm lịch sử quan hệ giữa hai Nhà nước cũng như mối quan hệ giữa các tổ chức kinh tế, chính trị, văn hoá; góp phần vào việc nghiên cứu, phục vụ giảng dạy

- học tập lịch sử Việt Nam và lịch sử quan hệ đối ngoại của Nhà nước VNDCCH Qua

đó rút kinh nghiệm trong việc xây dựng và củng cố quan hệ với những nước có cùng hệ thống chính trị xã hội và hệ tư tưởng trong tình hình hiện nay, góp phần thực hiện và - xây dựng chính sách đối ngoại của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở

Trang 5

hiện tại và tương lai

Hơn nữa, kể từ khi Liên Xô tan rã (1991) quan hệ Liên Bang Nga Việt Nam đã có - nhiều thay đổi phù hợp trong tình hình mới Vì vậy việc rút ra những nhận xét từ quan

hệ quá khứ là điều cần thiết để tiếp tục phát triển quan hệ giữa hai nước lên tầm cao mới

và kế thừa có hiệu quả quan hệ truyền thống tốt đẹp xưa Với ý nghĩa khoa học và thực

tiễn đó tác giả niên luận đã chọn vấn đề “Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Liên Xô (1945 - 1975)” làm đề tài cho niên văn 1 của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Mối quan hệ Việt Nam - Liên Xô được đề cập nhiều trong các văn bản chính thức của Đảng và Nhà nước, các hiệp định, các bài phát biểu, thư điện của các nguyên thủ quốc gia, các báo cáo, văn bản tiếp xúc của các phái đoàn, cơ quan hai nước được công

bố Bên cạnh đó còn có những tác phẩm của các nhà nghiên cứu Có thể kể đến các tác phẩm như:

- “Việt Nam - Liên Xô 30 năm quan hệ (1950 - 1980)", Nhà xu t b n Ngo i giao, Hà ấ ả ạNội, 1980 Cu n sách bao g m nhố ồ ững văn kiện quan tr ng nh t v quan h gi a Viọ ấ ề ệ ữ ệt Nam và Liên Xô trong những năm 1950 - 1980 gồm các Hiệp ước, hiệp định và nh ng ữvăn kiện thỏa thuận khác, những tuyên bố và thông cáo chung, những thông báo về các cuộc hội đàm giữa các đoàn đại biểu Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, công đoàn

và các đoàn đại biểu khác của Việt Nam và Liên Xô

- Các bài vi t, tranh ế ảnh được đăng tải trên báo Nhân dân, báo Pravda, báo Liên Xô ngày nay, báo Quân đội nhân dân, t p chí L ch s Quân s , ạ ị ử ự … tiêu biểu như “25 năm hợp tác thắng lợi” của Xcasơcôp (Liên Xô ngày nay số 8 ngày 15/4/1980), “Tìm hiểu s giúp ự

đỡ của nhân dân Liên Xô trong cu c kháng chiến c a nhân dân Việt Nam 1945 - 1975” ộ ủcủa H ng Hồ ạnh - H i Hà (T p chí L ch s quân s , s 4/2000), ả ạ ị ử ự ố … những bài viết này

đã đề ập đế c n những khía cạnh khác nhau của m i quan hệ, nhất là sự ố giúp đỡ Liên Xô

đố ới v i Việt Nam

- Các nhà s hử ọc Liên Xô cũng đã cho ra mắ ạn đọt b c m t s công trình có giá tr v ộ ố ị ềmối quan h Liên Xô - ệ Việt Nam như: “Lịch s quan h Liên Xô - ử ệ Việt Nam (1917 - 1985)”, Nxb Quan hệ quốc tế, 1986, tiếng Nga của M.P.Ixaep A.X.Trecnưsep; “Liên bang Xô Vi t và chi n tranh Viế ế ệt Nam”, Nxb Công an nhân dân, Hà N i, 1998 cộ ủa I.Lya V Gaiduk, …

- Các nhà nghiên c u ứ phương Tây cũng đã có những nghiên c u v m i quan h giứ ề ố ệ ữa

Trang 6

hai qu c gia, s vi n tr và c nh ng m t t i trong quan hố ự ệ ợ ả ữ ặ ố ệ hai nước như: “The Soviet Legacy and Its Impact on Contemporary Vietnam”, Cambridge University Press, 2018;

“Soviet-Vietnamese Relations and the Future of Southeast Asia”, Robert C Horn, Pacific Affairs, University of British Columbia, 1979; The Soviet Union and Vietnam, Bhabani Sen Gupta, 1973; nh ng tác ph m này cho chúng ta thữ ẩ ấy được m i quan h ố ệngoại giao m t góc nhìn m i l , m t góc nhìn t m t h ở ộ ớ ạ ộ ừ ộ ệ tư tưởng khác so v i Liên Xô ớ

và Vi t Nam ệ

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu quan hệ giữa VNDCCH và Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết (1945 - 1975)

Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa VNDCCH và Cộng hòa Liên bang Xô Viết, làm rõ

vị trí và vai trò của mỗi Nhà nước, Chính phủ trong mối quan hệ để thấy rõ được sự đóng góp của mỗi bên đối với tiến trình cách mạng của bên kia Qua đó thấy được chính sách khu vực của Liên Xô cũng như vị trí cách mạng Việt Nam trong mối quan hệ quốc

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích này niên luận phải thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Niên luận trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về - chủ nghĩa quốc tế vô sản

- Niên luận trình bày một cách tương đối toàn diện, có hệ thống về quá trình hình thành

Trang 7

và phát triển mối quan hệ của Việt Nam và Liên Xô, trên các lĩnh vực: lý luận, sự giúp

đỡ của Liên Xô với Việt Nam cũng như những quan điểm chung trong vấn đề quốc tế

- Trên cơ sở những tư liệu, sự kiện, niên luận xem xét, đánh giá mặt tích cực, mặt hạn chế của Liên Xô đối với Đảng và cách mạng Việt Nam, làm rõ những đóng góp của ta,

từ đó bước đầu nêu lên một số kinh nghiệm trong mối quan hệ quốc tế

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích, yêu cầu và nhiệm vụ của niên luận, tác giả dựa vào cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin Đó là phương pháp duy vật biện - chứng và phương pháp duy vật lịch sử Về cơ bản tác giả sử dụng phương pháp luận sử học như: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, hệ thống Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, mô tả để phân tích, xử lý các số liệu một cách khách quan

Trang 8

Trước tình hình đó, ngày 3/10/1945, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời 0đưa ra chính sách ngoại giao với nội dung cơ bản là mong muốn hợp tác với các nước đồng minh, sẵn sàng thân thiện, hợp tác với các nước nhược tiểu dân tộc, cùng với hai người bạn Lào và Campuchia chống lại sự xâm lược của Pháp và giúp đỡ nhau trong sự nghiệp xây dựng đất nước để tranh thủ sự ủng hộ của dư luận quốc tế và xem đây là một trong những nhân tố “đưa nước nhà đến sự độc lập hoàn toàn vĩnh viễn” Việt Nam sẽ tạo điều kiện cho những kiều dân Pháp làm ăn sinh sống nếu họ tôn trọng độc lập chủ quyền của Việt Nam Riêng với Chính phủ Pháp đứng đầu là Charles de Gaulle, chủ - trương thống trị Việt Nam thì ta kiên quyết chống lại Trong bối cảnh quốc tế ở thời điểm đó chính sách ngoại giao của Việt Nam là rất rộng mở, nó thể hiện nguyện vọng , của nhân dân Việt Nam muốn hợp tác với tất cả các quốc gia tôn trọng những nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương

Cùng với những thay đổi của tình hình quốc tế và diễn biến của cuộc kháng chiến chống Pháp, chính sách đối ngoại của Việt Nam ngày càng cụ thể hoá và mở rộng nhằm

cô lập, phân hóa kẻ thù và tranh thủ tới mức tối đa sự ủng hộ của các nước

Từ 1947 đến 1949, cùng với những thắng lợi trên chiến trường, hoạt động ngoại giao của Đảng và nhà nước Việt Nam trở nên sôi động và tích cực hơn với nhiều hình thức phong phú, đa dạng bắt đầu hướng tới quan hệ hợp tác quốc tế Ngày 14/7/1947 ,

cơ quan đại diện của Việt Nam tại Bangkok chính thức đi vào hoạt động Năm 1948, Việt Nam lập cơ quan đại diện tại Miến Điện đồng thời lập quan hệ với Ấn Độ, Pakistan, Indonesia dưới nhiều hình thức khác nhau Chính phủ Việt Nam còn cử phái viên đến các nước để mở rộng quan hệ với các tổ chức dân chủ, hoà bình, các Đảng anh em ở các châu lục ác đại biểu của Việt Nam đã dự 12 Hội nghị quốc tế và khu vực Trong thời C

Trang 9

gian này, Việt Nam đã tổ chức được 10 phòng thông tin ở các quốc gia khác nhau như: Pháp, Mỹ, Anh, Thái Lan, Singapore…

Có thể nói, hoạt động ngoại giao của nước VNDCCH đã thu được những thắng lợi đáng kể, bước đầu phá vỡ sự cô lập với bên ngoài, tranh thủ được sự đồng tình và ủng

hộ của các nước làm cho cuộc kháng chiến hòa với xu hướng chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc vì hòa bình, độc lập, dân chủ

Riêng đối với Liên Xô, Đảng ta vẫn tiếp tục phát triển mối quan hệ truyền thống cũ, tuyên truyền bảo vệ Liên Xô khỏi sự xuyên tạc của thế lực thù địch, nâng cao vai trò của Liên Xô trên vũ đài quốc tế, tiến hành tổ chức kỷ niệm cách mạng tháng Mười ới V

tư cách là một nước vừa mới giành được độc lập, Việt Nam đã rất sớm có mối liên hệ với nhà nước Xô Viết để tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của bạn Chỉ 20 ngày sau khi nước VNDCCH ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi Stalin bức công điện qua đại sứ Liên Xô tại Pháp Bức công điện nêu rõ việc thành lập nước VNDCCH dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Min dân tại Bắc Kỳ bắt đầu chết đói và kêu gọi sự hỗ trợ; nhưng h; bức điện này chưa bao giờ có lời hồi đáp (Bukhăckin, Kremly và Hồ Chí Minh 1998) Sau đó vào tháng 10, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục gửi một bức điện khác, với nội dung tố cáo Pháp cấu kết với Nhật chống lại phe đồng minh, lên án những hành động hèn nhát của Pháp đầu hàng phát xít Nhật Bức điện cũng nói rõ, nước VNDCCH được thành lập trên cơ sở giành lại nền độc lập từ tay Nhật, nhưng Pháp đã coi thường những quyết định của Hiến chương Đại Tây Dương và quay lại xâm chiếm Việt Nam Đặc biệt, bức công điện nhấn mạnh đến ý chí của nhân dân Việt Nam là quyết tâm đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp; nhưng cũng như bức điện trước, nó vẫn không được hồi đáp (Bukhăckin, Kremly và Hồ Chí Minh 1998) Theo I.V.Bukhăckin, phó vụ trưởng Vụ lưu trữ tư liệu lịch sử Bộ ngoại giao Nga (tác giả của bài báo), việc không trả lời những bức điện trên được giải thích là do Liên Xô không có nhiều thông tin về Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, bên cạnh đó người ký mỗi bức điện khi thì viết Khôxkhimingơ khi thì Khôchimin khiến cho phía Liên Xô rất khó phân biệt Về phía mình, chúng ta có thể hiểu được việc không trả lời là do chính sách, đường lối ngoại giao của Liên Xô Song với lòng tha thiết muốn hợp tác với Liên Xô và các nước dân chủ, trong lời kêu gọi gửi Liên Hợp Quốc cuối năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trên mọi lĩnh vực” (Hồ Chí Minh (2000) Toàn tập, tập 4 Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,

Trang 10

tr 470.) Bằng các hoạt động đối ngoại hướng ra bên ngoài, các đặc phái viên của Việt Nam có cơ hội tiếp xúc với các nhà lãnh đạo ngoại giao Liên Xô, tuyên truyền về đường lối, ý nghĩa, của cách mạng Việt Nam Chỉ đến khi cục diện trên chiến trường có những thay đổi căn bản có lợi cho cách mạng Việt Nam, tình hình thế giới hết sức thuận lợi nhất là sự thắng lợi của cách mạng Trung Quốc cùng với chính sách đối ngoại chủ - động của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thì Việt Nam mới trở thành mối quan tâm lớn của các cường quốc, trong đó có lợi ích chiến lược của Liên Xô Như Đảng Cộng sản Việt Nam vạch rõ: “Ta có mạnh thì họ mới chịu “đếm xỉa đến” Ta yếu thì chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu là kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy ” (Đảng Cộng sản Việt Nam (2000) trong Văn kiện Đảng toàn tập Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr 244.)

Năm 1950 là thời điểm đã có những điều kiện khách quan và chủ quan để có thể kêu gọi các nước công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Trong bản tuyên bố ngày 14/01/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ nước VNDCCH nêu rõ

“Chính phủ nước VNDCCH là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam Căn cứ trên quyền lợi chung, Chính phủ nước VNDCCH sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với nước nàotôntrọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam để cùng nhau bảo vệ hoà bình và xây đắp dân chủ thế giới.” (Hồ Chí Minh (2000) Toàn tập, tập 66 Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr 470.)

Chỉ trong tháng 01 và tháng 02 năm 1950, Liên Xô, Trung Quốc và tất cả các nước dân chủ nhân dân Đông Âu, Mông Cổ, Triều Tiên công nhận nước VNDCCH, trong đó Liên Xô tuyên bố công nhận nước VNDCCH về mặt ngoại giao ngày 30/01/1950 Đánh giá việc Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

Mấy năm kháng chiến đã đưa lại cho nước ta một thắng lợi to nhất trong lịch sử Việt Nam, tức là hai nước lớn nhất trên thế giới - Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ mới đã thừa nhận nước VNDCCH là nước ngang hàng trong đại gia đình các nước dân chủ trên thế giới Nghĩa là ta đứng hẳn về phe dân chủ và nhập vào khối 800 triệu nhân dân chống đế quốc Chắc rằng, cuộc thắng lợi chính trị ấy, sẽ là cái đà cho thắng lợi sau này (Hồ Chí Minh (2000) Toàn tập, tập 66 Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr.81-82)

Trang 11

Như vậy, với sự hình thành hai cực đối đầu sau chiến tranh thế giới thứ hai và những chuyển biến mạnh mẽ của phong trào cách mạng thế giới xuất phát từ lợi ích riêng và , chung cùng với những nỗ lực trong hoạt động đối ngoại của hai bên,từ mối quan hệ trên tinh thần cách mạng trước đó; ngày 30/ 1/1950, Liên Xô và Việt Nam chính thức thiết 0lập quan hệ ngoại giao với nhau

Trang 12

Chương 2 QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM LIÊN XÔ (GIAI ĐOẠN 1950 -

- 1975)

Trong chiến tranh Việt Nam, cả Liên Xô và Trung Quốc đã cung cấp tiền và vũ khí cho VNDCCH Những năm 1950, Liên Xô viện trợ cho VNDCCH non trẻ với số lượng khiêm tốn nhưng đến cuối hiến tranh, Liên Xô đã cung cấp khoảng 80% ngân sách nhà cnước VNDCCH Trong thời kỳ hậu chiến, viện trợ kinh tế và quân sự của Moscow tăng đều đặn Tuy nhiên, kể từ đầu những năm 1980, mối quan hệ của cả hai đã mang một đặc điểm mới và phức tạp hơn Trong niên luận này, chúng ta chỉ tìm hiểu giai đoạn

1945 -1975

2.1 Quân sự

Stalin dường như “không để tâm” đến với cuộc đấu tranh của Việt Minh chống lại thực dân Pháp Điện Kremlin cho rằng việc ủng hộ VNDCCH một cách công khai là không tốt về chính trị, có thể khiến Liên Xô phải trả giá Điều này khiến một số nhà quan sát quốc tế kết luận rằng Liên Xô thờ ơ với kết quả của cuộc chiến và không hỗ trợ đáng kể cho VNDCCH Một số người khác lại rằng Moscow đã làm rất ít vì cuộc chiến đang được Trung Quốc hỗ trợ đầy đủ

Lực lượng Việt Minh từ khi bắt đầu chiến tranh đã nhận được sự trợ giúp quân sự quan trọng từ Trung Quốc hoặc từ Liên Xô qua Trung Quốc; để tách biệt hai nguồn này hầu như là không thể Tuy nhiên, Liên Xô không thừa nhận sự tham gia của mình một cách công khai mà chỉ viện trợ bí mật: viện trợ được trao cho Trung Quốc, nước này đã trao cho VNDCCH Cuối tháng 5 năm 1953, Moscow vẫn chính thức khẳng định rằng

họ không cung cấp hỗ trợ quân sự cũng như kinh tế cho VNDCCH Điện Kremlin đưa

ra lý do cho việc vận chuyển vũ khí tới Đông Dương là làm cho đế quốc nói chung và liên minh Pháp - Mỹ nói riêng suy yếu, hoặc đơn giản là làm chảy máu và làm suy yếu nước Pháp Trung Quốc cũng tuyên bố rằng Moscow hành động vì tình anh em giữa Khối Xã hội Chủ nghĩa với nhau

Những ngày đầu chiến tranh, các đơn vị Việt Minh có quy mô nhỏ, hoạt động ở các làng quê và không có nhiều đạn dược hoặc nguồn cung cấp quân sự Khi lực lượng Việt Minh phát triển, nhu cầu hậu cần tăng lên và sự trợ giúp từ bên ngoài cũng tăng lên tương ứng Khi chiến tranh Triều Tiên đi vào kết thúc giữa năm 1951, các chuyến hàng viện trợ của Liên Xô đến Đông Dương đã có sự gia tăng đáng kể Những chiếc xe tải Molotova bắt đầu những chuyến tàu tốc hành "quả bóng đỏ" từ bến cảng, nhà ga, đến

Trang 13

biên giới Việt Nam 300 xe tải khác phục vụ tuyến đường Côn Minh Phong Thổ cung - cấp vũ khí cho lực lượng kháng chiến ở miền Bắc Điều này cho phép sức mạnh hỏa lực của Việt Nam được tăng cường đáng kể, có thể đối đầu với quân Pháp, lần đầu tiên có thể giành được chiến thắng quyết định trên chiến trường Ba trung đoàn Việt Minh tại Điện Biên Phủ gần như được trang bị hoàn toàn bằng vũ khí của Liên Xô, trong đó có

300 khẩu pháo Hầu hết các xe tải và gần như tất cả các thiết bị liên lạc được sử dụng trong hai năm cuối của cuộc chiến là do Liên Xô sản xuất Nhìn chung, khoản viện trợ quân sự do Liên Xô cung cấp phải có tổng giá trị ít nhất là một tỷ đô la theo tỷ giá thời

ấy

Một số trang thiết bị chiến tranh đưa vào Việt Nam từ Trung Quốc là do Mỹ sản xuất, bị bắt ở Triều Tiên, bị tịch thu trước đó từ những người theo chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc đang chạy trốn, hoặc thậm chí được sản xuất ở Liên Xô Trong số các loại

vũ khí do Liên Xô sản xuất xuất hiện ở Việt Nam, một số trước đây đã được trang bị cho các lực lượng Trung Quốc chiến đấu ở Triều Tiên đã được chuyển hướng sang Việt Nam khi chúng không còn cần thiết ở Triều Tiên nữa Do đó, bất kỳ nỗ lực nào nhằm xác định nguồn gốc và lịch sử cụ thể của một trang thiết bị phục vụ cho chiến tranh nào đều khó khăn vào thời điểm đó và ngày nay là không thể Cũng không thể xác định chính xác tổng số lượng vũ khí do hai đồng minh cung cấp cho chúng ta Chỉ có thể nói Liên

Xô đã tham gia vào một nỗ lực hợp tác để đảm bảo rằng lực lượng Việt Minh nhận được gần như tất cả khí tài quân sự mà họ có thể tiếp nhận

Khoản viện trợ quân sự đầu tiên sau kháng chiến chống Pháp từ Moscow cho VNDCCH là việc gửi đến Việt Nam năm 1957 các sĩ quan Quân đội Liên Xô làm cố vấn giảng dạy trong các trường kỹ thuật và pháo binh của QĐNDVN vì nhiệm vụ của QĐNDVN vào thời điểm đó là bảo vệ đất nước cần khí tài quân sự, nhân lực, tuy nhiên, hầu hết mọi thứ cần thiết đều phải nhập khẩu vì không có nhà máy sản xuất vũ khí nào

ở miền Bắc

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tổng khối lượng hàng quân sự các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ Việt Nam là 1.992.452 tấn; trong đó Liên Xô viện trợ 513.582 tấn, chiếm khoảng 26%

Chiến tranh ở miền Nam bắt đầu vào năm 1959 với chiến lược chính là kêu gọi các lực lượng miền Nam tự duy trì và giành lấy những gì họ cần từ kẻ thù Đến năm 1965, tính chất của cuộc chiến thay đổi với sự xuất hiện của lính bộ binh, thủy quân lục chiến,

Trang 14

không quân Mỹ và năm quốc gia đồng minh ở miền Nam Việt Nam và sự xuất hiện của những cuộc chiến trên không ở miền Bắc Việt Nam hiến lược mới của Bộ Tổng tham Cmưu QĐNDVN đã đặt ra cho những yêu cầu lớn về hậu cần.

Sự kiện quan trọng trong việc hỗ trợ thời chiến của Liên Xô đối với VNDCCH là Phái bộ Kosygin tới Hà Nội vào tháng 2 năm 1965 để hoạch định chiến lược chiến tranh tổng thể và xác định nhu cầu quân sự trong tương lai của VNDCCH với sự có mặt của một số quan chức quân sự chủ chốt của Liên Xô: Tướng Yevgeny Loginov, Bộ trưởng

Bộ Hàng không Dân dụng Liên Xô; Nguyên soái Konstantin Vershinin, Tham mưu trưởng Không quân Liên Xô; Tướng Georgy Sidorovich; và nhà lãnh đạo Liên Xô tương lai, Yuri Andropov Sự kiện này cho phép VNDCCH chuẩn bị một cuộc chiến kéo dài trên quy mô toàn diện ở cả hai miền Nam Bắc với sự cam kết hỗ trợ của Liên Xô Cụ thể: ấn định số lượng và hình thức hỗ trợ quân sự từ Liên Xô cũng như đàm phán, củng

cố và xác nhận lại các hiệp định kinh tế trong quá khứ, điều chỉnh chúng cho phù hợp với yêu cầu thời chiến hời điểm đó, có thông tin cho rằng Phái bộ Kosygin đã cam kết Tthực hiện một chương trình viện trợ quân sự ban đầu khoảng 1 tỷ rúp [40] Bản mô tả công khai của VNDCCH về công việc của phái bộ là khá sơ sài Thông tấn xã Việt Nam cho biết: "Đã có sự nhất trí về các biện pháp cần thực hiện để tăng cường tiềm lực quốc phòng của miền Bắc Việt Nam." [41]

Giữa tháng 4, một phái đoàn quân sự của Việt Nam do Đại tướng Võ Nguyên Giáp đứng đầu cùng với Lê Duẩn và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh tới Moscow một tuần để thảo luận với Brezhnev, Kosygin và Alexander Shelepin Tiếp theo đó là phái đoàn dưới sự chỉ huy của nhà kinh tế, Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước Lê Thanh Nghị, dẫn đến một hiệp định viện trợ bổ sung được hai bên ký vào ngày 10/7/1965

Sau đó, các chuyến hàng viện trợ quân sự xuất phát từ Liên Xô bắt đầu ngay lập tức Đến tháng 9, Kosygin báo cáo với Hội nghị toàn thể Ủy ban Trung ương CPSU rằng

“chúng tôi đã cung cấp cho Bắc Việt Nam một lượng đáng kể vũ khí và trang thiết bị quân sự Chính sách của chúng tôi là tiếp tục cung cấp cho Bắc Việt Nam mọi sự trợ giúp, vật chất và chính trị mà họ cần "[42]

Tháng 12, tờ báo Sao Đỏ của Bộ Quốc phòng Liên Xô đưa tin: "tên lửa và máy bay chiến đấu do nhân dân Liên Xô chế tạo đang canh giữ bầu trời miền Bắc Việt Nam." [43] Ngày 21 tháng 12 năm 1965, Liên Xô và Việt Nam đã ký nghị định thư viện trợ và

Trang 15

thương mại hàng năm cho năm 1966, theo đó Pravda cho biết “sự viện trợ của Đảng Cộng sản, Chính phủ và nhân dân Liên Xô cho cuộc đấu tranh của Việt Nam là nguồn cảm hứng to lớn đối với nhân dân và tiếp thêm sức mạnh to lớn cho họ trong cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước, giải phóng quê hương”[44] Việc ký kết các Hiệp định viện trợ kinh tế và viện trợ khác giữa các nước là sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu đối với cuộc đấu tranh của nhân dân ta, góp phần tích cực vào việc củng cố và phát triển tình đoàn kết chiến đấu giữa các nước trong sự nghiệp cách mạng chung

Đài phát thanh Moscow và Komsomolskaya Pravda trong suốt tháng Giêng và tháng Hai năm 1966 ghi nhận rằng Bắc Việt Nam đã nhận được vũ khí, máy bay, tên lửa và phòng không có hệ thống dẫn đường bằng radar Sự nhấn mạnh trong phóng sự đó là tính chất phòng thủ của vũ khí Đài phát thanh Moscow cho biết Bắc Việt Nam đang nhận được "tất cả những gì họ yêu cầu" về vật chất chiến tranh và lưu ý rằng QĐNDVN hiện có tên lửa đất đối không do Liên Xô chế tạo, vũ khí phòng không tự theo dõi bắn nhanh và máy bay chiến đấu đánh chặn siêu thanh.[46]

CPSU vào tháng 3 năm 1966 đã gửi thư riêng cho các đảng Cộng sản ở Tây Âu mô

tả viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam trong năm 1965:

Liên Xô chuyển giao cho VNDCCH một số lượng lớn vũ khí trang bị, bao gồm

hệ thống tên lửa, pháo phòng không, máy bay, xe tăng, pháo bờ biển, tàu chiến và nhiều mặt hàng khác Chỉ riêng trong năm 1965, vũ khí và vật tư chiến tranh đã lên tới nửa tỷ rúp được gửi tới miền Bắc Việt Nam Ngoài ra, Bắc Việt còn nhận viện trợ trong việc đào tạo phi công, lực lượng tên lửa, chuyên gia xe tăng và pháo binh Viện trợ quân sự của chúng tôi được chính các nhà lãnh đạo Việt Nam cho là cần thiết trong phạm vi cần thiết Hỗ trợ vật chất và quân sự lớn cũng được Liên Xô dành cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.[47]

Ngân sách nhà nước của Liên Xô vào cuối năm 1966 chỉ ra rằng chi tiêu quốc phòng

đã tăng từ 5 đến 15% và báo chí Liên Xô cho rằng sự gia tăng này là do Chiến tranh Việt Nam Tuy nhiên, Việt Nam đặc biệt thận trọng trong việc thừa nhận những chuyến hàng quân sự, nhất là trong những năm đầu chiến tranh như phát biểu của Lê Thanh Nghị năm 1967 “Trong cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ hiện nay, chúng ta có một : hậu phương vô cùng to lớn đó là phe xã hội chủ nghĩa Liên Xô đã và đang giúp đỡ - chúng tôi không ngừng và về mọi mặt, vật chất và tinh thần Hàng nghìn kỹ thuật viên,

Trang 16

chuyên gia Liên Xô hỗ trợ chúng tôi xây dựng và phát triển nền kinh tế Liên Xô đã cung cấp cho chúng tôi những gì cần thiết để đánh bại quân xâm lược Mỹ.”[48] Dần dần cách đối xử với báo chí của Việt Nam và Liên Xô trở nên rõ ràng hơn Một báo cáo TASS tháng 8 năm 1971 tiết lộ rằng các thỏa thuận mới đã được ký kết để tăng cường năng lực phòng thủ của miền Bắc Việt Nam Tên lửa, thiết bị ra đa, máy bay phản lực, vũ khí phòng không, đạn dược và các vật tư quân sự thiết yếu khác, …, nền tảng của không quân VNDCCH đang phòng thủ đều đến từ Liên Xô Hàng nghìn chuyên gia quân sự Liên Xô để giúp ộ đội Việt Nam làm chủ kỹ thuật quân b sự Các nhà quan sát

và chuyên gia quân sự nước ngoài thừa nhận sự hỗ trợ của Liên Xô là một trong những yếu tố quan trọng nhất.[49]

Sau chiến tranh, Liên Xô thậm chí còn cụ thể hơn:

Trong cuộc đấu tranh của họ (VNDCCH) chống lại sự xâm lược của Mỹ Liên

Xô, trung thành với nghĩa vụ quốc tế của mình, đã cung cấp cho Việt Nam sự hỗ trợ không giới hạn về trang thiết bị chiến đấu Tên lửa hiện đại, máy bay chiến đấu, pháo,

xe tăng, các thiết bị kỹ thuật khác phục vụ chiến tranh, tiếp tế đạn dược, nhiên liệu, lương thực liên tục được chuyển từ Liên Xô sang Việt Nam Mọi thứ cần thiết để đánh trả kẻ thù liên tục được vận chuyển từ Liên Xô sang Việt Nam Các chuyên gia quân sự Liên Xô trong các vị trí chiến đấu ở Việt Nam và trong các học viện quân sự của Liên

Xô đã giúp đào tạo công dân Việt Nam thành cán bộ chỉ huy và chuyên gia quân sự.[50] Lực lượng QĐNDVN trong chiến tranh đã được cung cấp những công nghệ quân

sự tốt nhất của Liên Xô Hệ thống phòng không mà miền Bắc Việt Nam sử dụng trong chiến tranh vượt trội hơn rất nhiều so với bất kỳ hệ thống phòng không nào từng được thấy trong chiến tranh trước đây, bao gồm cả hệ thống phòng không của London và Berlin trong Thế chiến thứ hai Có khoảng 6.000 khẩu pháo phòng không với độ đa dạng

cỡ nòng từ 37mm đến 100mm rải rác trên khắp miền Bắc Việt Nam, cũng như 35 khẩu đội tên lửa đất đối không (SAM) SA 2 (với sáu bệ phóng tên lửa cho mỗi khẩu đội),-

- tổng cộng khoảng 250 bệ phóng tên lửa QĐNDVN cũng có các tên lửa chiến thuật khác, chẳng hạn như tên lửa tầm nhiệt được biết đến là thứ gây chết người cho máy bay trực thăng và máy bay bay thấp

Việc Liên Xô xây dựng lực lượng phòng không của VNDCCH bắt đầu vào cuối tháng 1 năm 1965 Các tên lửa đất đối không đầu tiên với các cố vấn kỹ thuật của Liên

Xô đã đến vào tháng 2, cùng tháng mà Hoa Kỳ bắt đầu ném bom và không kích có hệ

Trang 17

thống vào miền Bắc Việt Nam Một chương trình cung cấp quân sự cấp tốc đã được triển khai sau các sứ mệnh của Kosygin và Đại tướng Võ Nguyên Giáp Kết quả là khoảng 500.000 tấn vật chất chiến tranh đã đến miền Bắc Việt Nam năm 1965; 1,5 triệu tấn vào năm 1966, tiếp theo là 2 triệu tấn vào năm 1967 Số lượng vũ khí phòng không điều khiển bằng radar đã tăng từ hầu như không có gì vào giữa năm 1964 lên 1.500 vào giữa năm 1965 và 6.000 vào tháng 10 năm 1966 30 khẩu đội SAM, do người Việt Nam điều khiển với 4.000 cố vấn và kỹ thuật viên tên lửa Liên Xô, đã hoạt động vào cuối năm 1965 Trong ba năm đầu của cuộc chiến, Liên Xô đã vận chuyển khoảng 10.000

“thùng” cho Việt Nam, tức là tên lửa 120mm và 140mm; cối 120mm và 160mm; và pháo lên đến cỡ nòng 152mm, có tầm bắn 10 dặm Vài trăm máy bay chiến đấu cũng đã được chuyển giao (MiG 15, MiG 17, MiG 21 siêu thanh và sau đó là MiG 21C và MiG 21D tiên tiến hơn), cùng với một vài máy bay ném bom chiến thuật phản lực đôi Ilyushin Il-28 Để sử dụng trên bộ và trong các cuộc tấn công lớn trong các năm 1967-1968, 1972

và 1975, quân đội Xô Viết đã cung cấp xe tăng T-54 và PT-76, súng trường tự động AK-47 và các biến thể của nó, súng máy các cỡ nòng khác nhau, máy bay trực thăng,

xe vận tải quân sự và số lượng lớn các thiết bị liên lạc tinh vi Sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, Liên Xô tuyên bố tăng 20% các chuyến hàng quân sự tới Bắc Việt Nam Toàn bộ xăng dầu cho miền Bắc Việt Nam trong chiến tranh đều do Liên Xô cung cấp

Từ năm 1965, lượng hàng các chuyến hàng viện trợ quân sự của Liên Xô giao đã tăng nhanh chóng; sau năm 1969 bắt đầu giảm dần Loại khí tài quân sự được chuyển giao cũng thay đổi từ vũ khí nhỏ và vũ khí hạng nhẹ sang loại vũ khí nặng hơn và đắt tiền hơn Phần lớn trong số này là gia tăng năng lực cho lực lượng không quân Số lượng MiG của Không quân QĐNDVN tăng gấp ba lần trong ba năm từ giữa năm 1967 đến giữa năm 1970, tăng từ khoảng 80 lên khoảng 336 (bao gồm 111 máy bay bị mất trong thời kỳ này) Các chuyến hàng đầu tiên chủ yếu là MiG-15 và MiG-17; đến năm 1970, chúng chủ yếu là MiG-19 và MiG-21

Trong chiến tranh, một lượng lớn người Việt Nam đã sang Liên Xô để huấn luyện quân sự và học kỹ thuật dân sự Các kỹ sư đường sắt tương lai đã đến Học viện Kỹ sư Vận tải Đường sắt ở Moscow và các thuyền trưởng tương lai đến Trường Kỹ thuật Hàng hải ở Odessa Mức độ đào tạo trước chiến tranh là khoảng 1.000 người Việt Nam mỗi

Trang 18

năm, nhưng trong chiến tranh đã tăng lên khoảng 10.000 người Việt Nam cùng một lúc

để đào tạo, nằm rải rác trong khoảng 50 thành phố của Liên Xô

Moscow còn cung cấp các dịch vụ khác Các đặc vụ Liên Xô tại Hồng Kông và thị trường chợ đen Nam Việt Nam đã mua các đồng piaster với tổng trị giá nửa triệu đô la mỗi tuần để sử dụng cho Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam ở Nam Việt Nam và Campuchia [54] Hai tàu đánh cá của Liên Xô đầy các điện tử tự đóng cách đường băng của Lực lượng Không quân Hoa Kỳ ở căn cứ Guam bốn dặm, theo dõi việc cất cánh của các phi vụ B 52 tới Đông Dương và truyền dữ liệu vô tuyến về Hà Nội -Năm 1970, Liên Xô bắt đầu các chương trình phát thanh tuyên truyền cho lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam bằng tiếng Anh và có thêm tiếng lóng của Mỹ thúc giục những người lính này đào ngũ

Moscow cũng góp phần thúc đẩy, vận động những đóng góp chiến tranh lớn hơn từ Đông Âu, đặc biệt là sau năm 1968 Người ta ước tính rằng trong số hỗ trợ quân sự được cung cấp trong giai đoạn 1969 1973, khoảng 25% đến từ Đông Âu, chủ yếu là Tiệp -Khắc và Đông Đức

Sự hỗ trợ quân sự của Liên Xô đã phát huy hết tác dụng với cuộc tiến công chiến lược hay còn gọi là Chiến dịch Xuân Hè 1972 của QĐNDVN: một cuộc chiến tranh - quy mô lớn, công nghệ cao Điều này đòi hỏi những vũ khí tốt nhất mà các nhà máy sản xuất vũ khí của hối Xã hội Chủ nghĩa có thể sản xuất, và họ đã đáp ứng được thách kthức này, trong đó có khoảng 185 loại vũ khí hoặc máy móc chiến tranh riêng biệt mà Liên Xô đã vận chuyển tới miền Bắc Việt Nam Quân đội Việt Nam cùng lực lượng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trong cuộc tấn công năm 1972 có nhiều xe tăng (410) và pháo tầm xa hơn (pháo 130mm và 152 mm) Cuộc tấn công đã thắng lợi về mặt chiến lược, góp phần quyết định đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, chuyển biến căn bản cục diện chiến tranh, bộ đội Việt Nam đứng vững trên những địa bàn quan trọng và dân quân du kích phát triển

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết và trong thời gian ngừng bắn (1973–1975), Liên Xô đã giúp xây dựng lại hệ thống trang thiết bị và hậu cần của QĐNDVN ước tính lên tới 2,5 tỷ đô la

Tổng chi tiêu của Moscow trong hiến tranh Việt Nam ước tính là 8 tỷ đô la trongcgiai đoạn 1960-1975, chiếm khoảng 65% tổng số viện trợ nhận được ở miền Bắc Việt

Trang 19

Nam Sự đóng góp của Liên Xô trong chiến tranh Việt Nam trong một năm 1968 vượt quá chi phí hỗ trợ của phe Cộng sản trong suốt cuộc hiến tranh Triều Tiên c

2.2 Kinh tế

Sự hỗ trợ kinh tế đầu tiên của Liên Xô dành cho VNDCCH diễn ra vào cuối mùa hè năm 1954, khi tàu chở hàng Arkhangelsk của Liên Xô đến ngoài khơi Việt Nam để bắt đầu các dịch vụ như một tàu chở khách để đưa người Bắc Việt di cư vào Nam, và người tập kết ừ Nam ra Bắct

Hỗ trợ kinh tế chính thức của Liên Xô bắt đầu bằng việc ký kết Hiệp định viện trợ kinh tế không hoàn lại đầu tiên giữa Việt Nam và Liên Xô vào ngày 18 tháng 7 năm

1955 Hiệp định này được gia hạn hàng năm cho đến năm 1985 khi được thay thế bằng một thỏa thuận viện trợ dài hạn Ngày gốc vẫn được giữ hàng năm trong các lễ lớn ở Hà Nội

Theo thỏa thuận đầu tiên, Liên Xô hứa sẽ hỗ trợ VNDCCH trong khoảng 90 dự án, trong đó có 25 dự án được xếp vào loại lớn như cửa hàng Máy số 1 Hà Nội sản xuất công cụ và nông cụ (năm 1956); mỏ thiếc Tĩnh Túc; mỏ apatit Lào Cai (nguyên liệu phân bón); Nhà máy điện Vinh, Lào Cai; nhà máy đóng hộp cá Hải Phòng (3.000 tấn/năm); các mỏ than Hòn Gai, Cẩm Phả, Hà Tu, Đèo Nai, Mông Dương, Thái Nguyên, Cao Sơn; nạo vét cảng Hải Phòng; tàu lai dắt sử dụng bến cảng; các nhà máy chế biến chè tại Phú Thọ, Hà Giang, … vớic tổng chi phí ước tính khoảng 100 triệu đô la D Stevanovskiy, trên tờ Sladkaya Zhizn sau này đã mô tả: “

Một phái đoàn của Đảng và Chính phủ VNDCCH do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm trưởng đoàn đã đến thăm nước ta (Liên Xô) vào tháng 7 năm 1955 Các văn kiện được

ký kết đánh dấu sự khởi đầu của quan hệ hợp tác kinh tế và thương mại giữa Liên Xô

và Việt Nam Nhân dân Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ toàn diện, giúp họ có thể khắc phục trong một thời gian ngắn những hậu quả nặng nề của cuộc kháng chiến chống Pháp, tạo tiền đề để khôi phục và phát triển nền kinh tế đất nước.”

Trong giai đoạn 1953-1959, miền Bắc với sự giúp đỡ của Liên Xô trong việc đào tạo cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề đã xây dựng và đưa vào hoạt động 45 xí , nghiệp và dự án công nghiệp Trong giai đoạn 1955-1960, 1.400 chuyên gia Liên Xô làm việc tại Việt Nam đã đào tạo hàng nghìn công nhân lành nghề của Việt Nam và có hàng nghìn nam nữ thanh niên Việt Nam được đào tạo tại các trường đại học và dạy

Ngày đăng: 01/04/2023, 16:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w