1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài quốc tế (tailieuluatkinhte com)

14 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài quốc tế
Trường học Trường Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Luật Quốc Tế
Thể loại Bài tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 208,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

https tailieuluatkinhte com TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA LUẬT o0o BÀI TẬP GIỮA HỌC PHẦN MÔN TRỌNG TÀI QUỐC TẾ Họ và tên Mã sinh viên Ngày sinh Ngành Luật Quốc Tế Đề bài Các nguyên tắc giải quyết tr.MỤC LỤC A. ĐẶT VẤN ĐỀ 2 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4 I. Một số khái niệm liên quan 4 II. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài 4 1. Nguyên tắc thỏa thuận 4 2. Nguyên tắc bình đẳng 7 3. Nguyên tắc độc lập và vô tư 8 4. Nguyên tắc chung thẩm 10 KẾT LUẬN 12 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

KHOA LUẬT

-o0o -BÀI TẬP GIỮA HỌC PHẦN MÔN: TRỌNG TÀI QUỐC TẾ

Họ và tên:

Mã sinh viên:

Ngày sinh:

Ngành: Luật Quốc Tế

Đề bài: Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Quốc tế

Hà Nội, ngày 25 tháng 03 năm 2023

Trang 2

MỤC LỤC

A ĐẶT VẤN ĐỀ 2

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4

I Một số khái niệm liên quan 4

II Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài 4

1 Nguyên tắc thỏa thuận 4

2 Nguyên tắc bình đẳng 7

3 Nguyên tắc độc lập và vô tư 8

4 Nguyên tắc chung thẩm 10

KẾT LUẬN 12

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Trang 3

Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và xu hướng hội nhập quốc tế cho nên tranh chấp xảy ra ngày càng nhiều và phức tạp Trước tình hình đó, việc lựa chọn phương thức nào để giải quyết tranh chấp có tầm quan trọng vô cùng đặc biệt bởi nó liên quan đến nhiều vấn đề như: chi phí, thời gian, … để giải quyết tranh chấp đó Hiện nay, không có phương thức giải quyết nào là chiếm vị thế tuyệt đối Tuy nhiên, giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình thức trọng tài thương mại nói chung và trọng tài quốc tế nói riêng đang là xu hướng giải quyết được nhiều chủ thể lựa chọn, bởi tính linh hoạt, nhanh gọn của nó Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp có tính chất tài phán phi chính phủ do các đương sự thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp thương mại Do đó, để hiểu sâu hơn vấn đề này, sau đây em xin

chọn đề tài: “ Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Quốc tế”

làm bài kiểm tra giữa học phần môn Trọng tài quốc tế

Trang 4

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Một số khái niệm liên quan

Trước tiên muốn hiểu trọng tài quốc tế là gì, ta cần hiểu “trọng tài” là gì? Trọng tài là một quá trình giải quyết tranh chấp được thỏa thuận giữa các bên trong đó tranh chấp được đệ trình cho một hoặc nhiều trọng tài viên đưa ra

bên giải quyết tranh chấp của họ bên ngoài tòa án Nhà nước, I E., không kiện tụng

Từ đó ta có thể suy ra, Trọng tài quốc tế là một phương thức giải quyết tranh chấp tư mà sự bắt đầu của nó dựa trên sự thỏa thuận của các bên tham gia tranh chấp nhằm giải quyết có yếu tố quốc tế (hay yếu tố nước ngoài) giữa các bên tranh chấp với nhau bởi một hội đồng trọng tài gồm một hoặc một số lẻ khác các trọng tài viên trên cơ sở trình tự thủ tục do các bên tranh chấp thỏa thuận chọn ra Tính quốc tế của trọng tài được quyết định trên hai yếu tố, hoặc được sử dụng riêng rẽ hoặc được kết hợp với nhau đó là: Tính chất quốc tế của tranh chấp

và đặc điểm của chủ thể tham gia tranh chấp

II Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

1 Nguyên tắc thỏa thuận

Có thể nói, thỏa thuận trọng tài là “hòn đá tảng” của quá trình giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài, thể hiện sự nhất trí của các bên cùng đưa tranh chấp ra trọng tài để giải quyết theo quy tắc của một tổ chức trọng tài nhất định Đây là cơ sở cho các bên tiến hành giải quyết bằng trọng tài Nội dung chính của nguyên tắc này là quá trình trọng tài phải diễn ra phù hợp với thỏa thuận của các bên về cách thức bổ nhiệm trọng tài viên, số lượng trọng tài viên trong hội đồng trọng tài, luật áp dụng trong xét xử trọng tài và thủ tục tố tụng Nếu những điều này bị vi phạm có thể dẫn tới hậu quả là phán quyết trọng tài sẽ bị hủy bỏ theo yêu cầu của một bên hoặc bị từ chối thi hành ở nước ngoài

Nguyên tắc này được công nhận rộng rãi bởi pháp luật của các quốc gia, cũng như pháp luật và tập quán trọng tài quốc tế Điều V Công ước New York 1958 quy định rằng:

Trang 5

1 Việc công nhận và thi hành quyết định có thể bị từ chối, theo yêu cầu của bên phải thi hành, chỉ khi nào bên đó chuyển tới cơ quan có thẩm quyền nơi việc công nhận và thị hành được yêu cầu, bằng chứng rằng

(d) Thành phần trọng tài xét xử hoặc thủ tục xét xử trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc, nếu không có thoả thuận đó, không phù hợp với luật của nước nơi tiến hành trọng tài;

Nguyên tắc thoả thuận được ghi nhận với những nội dung khác nhau, mà trước tiên là các yêu cầu về trọng tài viên Theo Luật Mẫu của UNCITRAL, các bên

có quyền tự do thoả thuận về số lượng Trọng tài viên cũng như cách thức bổ

nhiệm Trọng tài viên Tương tự, quy tắc trọng tài ICC tại Điều 8.2 chỉ rõ: “Khi các bên không có quy định về số lượng Trọng tài viên, thì toà án sẽ chỉ định Trọng tài viên duy nhất ” Và tại Điều 8.3 quy định: “Trường hợp các bên thoả thuận rằng tranh chấp sẽ do một Trọng tài viên duy nhất giải quyết, họ có thể bằng thoả thuận, chỉ định Trọng tài viên duy nhất để xác nhận việc này”

Sự tự do thoả thuận về số lượng trọng tài viên và thủ tục bổ nhiệm là một phần của nguyên tắc thoả thuận cũng được ghi nhận rộng rãi trong pháp luật nhiều nước Điều 12.1 Quy tắc tố tụng trọng tài của Viện Trọng tài Hà Lan quy định:

“Nếu các bên không thoả thuận về số lượng Trọng tài viên, thì số lượng này sẽ được xác định bởi người quản lý ”, và “nếu các bên đã thoả thuận về cách thức bổ nhiệm Trọng tài viên khác với các thủ tục được quy định tại Điều 14,

sự bổ nhiệm này sẽ được thực hiện theo thoả thuận của các bên chiểu theo những quy định của các đoạn sau” (Điều 13.1) Khoản 1 Điều 1035 Luật Trọng tài Đức 1998 quy định: “Các bên tự do thoả thuận về thủ tục bổ nhiệm Trọng tài viên hoặc các Trọng tài viên” Tương tự, khoản 1 Điều 16 Luật Trọng tài Anh 1996 quy định: “Các bên tự do thoả thuận về thủ tục bổ nhiệm Trọng tài viên hoặc các Trọng tài viên, bao gồm cả việc bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng Trọng tài”

Nguyên tắc thỏa thuận không chỉ liên quan tới vấn đề trọng tài viên và lập hội đồng trọng tài mà còn liên quan tới việc xác định luật áp dụng trong xét xử trọng tài và các thủ tục tố tụng điều chỉnh toàn bộ quá trình trọng tài như địa điểm trọng tài được xác định như thế nào, ngôn ngữ sử dụng trong trọng tài là

Trang 6

tiếng gì, phiên họp giải quyết tranh chấp được tổ chức như thế nào, thủ tục ra phán quyết v.v Về điểm này, Luật Mẫu UNCITRAL 2006 cho phép các bên tranh chấp tự do thoả thuận về các thủ tục mà hội đồng trọng tài phải thực hiện khi tiến hành tố tụng, mặt khác, họ cũng có quyền thoả thuận về nơi tiến hành trọng tài (ở trong nước hoặc ở nước ngoài), ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài Bên cạnh đó, Luật Mẫu cũng có quy định cho phép các bên tranh chấp thỏa thuận về luật áp dụng cho nội dung tranh chấp Đạo Luật Tư pháp Quốc tế của Thụy Sĩ 1987 quy định, các bên có thể trực tiếp sử dụng hoặc dựa trên những quy tắc trọng tài xác định thủ tục trọng tài Họ cũng có quyền "đặt quá trình trọng tài vận hành theo những thủ tục được quy định trong luật tố tụng được xác định bởi họ”(Điều 182.1) Nội dung này cũng được thể hiện tại

Điều 187.1: “Hội đồng Trọng tài sẽ quyết định vụ tranh chấp theo những quy định được ghi nhận trong luật đã được các bên lựa chọn” Luật Trọng tài

Brazil 1996 quy định rằng, các bên có the do lựa chọn “luật áp dụng trong quá trình trọng tải miễn là sự lựa chọn của họ không vi phạm chuẩn mực đạo đức

và chính sách công cộng” (Điều 2) và Điều 21 cho phép “thủ tục trọng tài tuân theo những thủ tục được thỏa thuận bởi các bên trong thoả thuận trọng tài”.

Khoản 1 Điều 46 Luật Trọng tải Anh 1996 cũng đề cao nguyên tắc tôn trọng sự

thoả thuận của các bên khi quy định: “Hội đồng Trọng tài sẽ giải quyết tranh chấp theo luật được lựa chọn bởi các bên với tư cách là luật áp dụng cho nội dung tranh chấp" Tương tự như pháp luật trọng tài nhiều nước, Luật Trọng tài

thương mại 2010 của Việt Nam cũng đề cao nguyên tắc thỏa thuận của các bên tranh chấp Khoản 1 Điều 4 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định rõ:

"Trọng tài viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không

vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội " Khoản 4 Điều 4 Luật này quy định thêm: "Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” Đây chính là nguyên tắc chỉ đạo

xuyên suốt quá trình xây dựng toàn bộ nội dung Luật Trọng tải thương mại

2010 cũng như thực tiễn giải quyết tranh chấp giữa các bên bằng trọng tải nói chung, trọng tài quốc tế nói riêng theo pháp luật Việt Nam

Trang 7

Như vậy, hầu hết pháp luật trọng tài trên thế giới đều ghi nhận các quy định rõ ràng, phản ảnh đậm nét nguyên tắc thoả thuận của các bên trong phương thức trọng tài Tuy nhiên, việc trao cho các bên quyền tự do thoả thuận không có nghĩa là họ có thể thoả thuận về bất cứ điều gì họ muốn mà phải trong khuôn khổ pháp luật mà quan trọng hơn cả là tuân thủ các quy định pháp luật bắt buộc của nước nơi tiến hành trọng tài và nơi mà phán quyết sẽ được thi hành bởi nếu không, phán quyết trọng tài có nguy cơ bị vô hiệu

2 Nguyên tắc bình đẳng

Nội dung cơ bản của nguyên tắc bình đẳng thể hiện ở chỗ, hội đồng trọng tài phải đối xử với các bên một cách công bằng và trao cho họ cơ hội đầy đủ để trình bày lý lẽ của mình về tranh chấp trong quá trình trọng tài Như vậy, hiển nhiên rằng toàn bộ mục đích của trọng tài sẽ không đạt được nếu các bên không được đối xử công bằng trước phiên toà trọng tài, hoặc nếu như họ bị tước đi các cơ hội để trình bày quan điểm của mình về vụ việc

Một vấn đề mang tính liên hệ là, nếu các bên được đối xử công bằng thì các trọng tài viên trong hội đồng trọng tài phối độc lập và vô tư Nếu có đủ cơ sở

để khẳng định rằng một trọng tài viên bất kỳ trong hội đồng là không vô tư và độc lập họ sẽ bị thay thế Hầu hết pháp luật các nước cũng như các quy tắc trọng tài đều quy định như vậy Một điều cần lưu ý là, việc trao cho các bên cơ hội đầy đủ để trình bày quan điểm về vụ việc không có nghĩa là các bên được phép trinh bày lý lẽ của mình tại phiên toà với bất kỳ độ dài thời gian nào cho

đủ các bên nghĩ rằng đó là độ dài phù hợp Nguyên tắc bình đẳng không chỉ được tìm thấy trong các văn kiện pháp lý quốc tế mà còn thấy trong hầu hết pháp luật trọng tài các nước cũng như các quy tắc trọng tài mẫu quốc tế Chẳng

hạn như Luật Mẫu UNCITRAL 2006 ghi nhận như sau: “Các bên phải được đối xử một cách công bằng và mỗi bên phải được trao đầy đủ cơ hội để trình bảy về vụ việc của minh" (Điều 18), tương tự, Đạo Luật Trọng tài Thụy Điển

1999 có nêu rõ tại Điều 24: “Trọng tài sẽ trao cho các bên, trong phạm vi cần thiết, một cơ hội để trình bày về vụ việc của họ bằng văn bản hoặc bằng miệng" Khoản 2 Điều 1036 Bộ luật Tố tụng Dân sự Hà Lan 1915 cũng quy định rõ rằng: “Hội đồng trọng tài sẽ đối xử công bằng với các bên Hội đồng

Trang 8

Trọng tài sẽ trao cho mỗi bên cơ hội như nhau để diễn giải về những khiếu kiện của mình và trình bày về tài liệu, thông tin liên quan đến vụ việc mà các bên đã mang đến trọng tài " Khoản 1 Điều 1042 Luật Trọng tải Đức chỉ tỏ:

“Các bên sẽ được đối xử công bằng và mỗi bên sẽ được ta cho một cơ hội đầy

đủ để trình bày vụ việc của họ" Luật Trọng tài thương mại 2010 của Việt Nam cũng quy định nguyên tắc này tại khoản 3 Điều 4 như sau: "Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình"

Tóm lại, nội dung chính của nguyên tắc bình đẳng và đồng thời cũng là mục đích của tố tụng trọng tài, chỉ đạt được nếu các bên tham gia tranh chấp được trao đẩy dù các cơ hội như nhau để trình bày quan điểm của mình (bao gồm cả việc cung cấp các chứng cứ, tài liệu, thông tin khác có liên quan) về vụ việc và trả lời ý kiến của bên kia, cũng như được đối xử công bằng trong việc tiếp cận mọi thông tin có liên quan tới vụ việc mà trọng tài được phép cung cấp, được đối xử bình đẳng về thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ trong quá trình trọng tài Chỉ khi thực hiện đầy đủ những nội dung như vậy trong toàn bộ quá trình trọng tải mới góp phần loại bỏ khả năng phản quyết trọng tái sau khi được tuyến có nguy cơ bị hủy bỏ

3 Nguyên tắc độc lập và vô tư

Nguyên tắc này trực tiếp liên quan tới các trọng tài viên Nó được đặc biệt nhân mạnh trong các quy định mẫu của UNCITRAL, ICC, các quy định của ICSID, LCIA và pháp luật trọng tài nhiều nước Quy tắc trọng tài ICC yêu cầu các trọng tài viên phải độc lập với các bên liên quan đến trọng tài (Điều 7.1), Quy tắc trọng tài LCIA cũng đòi hỏi tất cả các thành viên của hội đồng trọng tài phải duy trì sự độc lập và vô tư của họ trong suốt quá trình trọng tài, không được phép hành động với tư cách là người biện hộ cho các bên (Điều 3) Tương

tự Điều 10.1 Quy tắc trọng tài Viện Trọng tài Hà Lan quy định: Trọng Tài viên phải vô tư và độc lập Trọng tài viên không thể có quan hệ nghề nghiệp hay nhân thân gần gũi với các trọng tài khác trong hội đồng xét xử, với bất kỳ một bên tranh chấp nào Trọng tài viên không thể có lợi ích nghề nghiệp hoặc lợi ích nhân thân trực tiếp nào trong kết quả giải quyết vụ việc Trước khi được bổ

Trang 9

nhiệm, Trọng tài viên không thể tiết lộ quan của mình về vụ việc với một trong các bên tranh chấp, diem Rõ ràng, nguyên tắc này liên quan trực tiếp tới các trọng tài viên Một trọng tài viên chi được xem là độc lập nếu không có bất kỳ lợi ích tài chính nào trong kết quả giải quyết vụ việc (chẳng hạn như ông ta là một cổ động của một công ty đang là một bên tham gia tranh chấp) và cũng không có bất kỳ mối quan hệ nghề nghiệp hay gia đình nào với bất kỳ một bên tranh chấp cũng như các trọng tài viên khác trong hội đồng Trong mọi trường hợp, khi nhận ra những yếu tố làm ảnh hưởng tới “tinh độc lập” của mình, trọng tài viên có nghĩa vụ thông bảo ngay cho các bên Nếu ông ta không hành động như vậy, các bên khi tìm thấy những yếu tố ảnh hưởng tới sự độc lập của trọng tài viên có thể quyết định thay đổi trọng tài viên Hơn nữa, để được xem

là độc lập, một trọng tài viên cần tránh các cuộc tiếp xúc với duy nhất một bên, chẳng hạn như các cuộc trao đổi miệng trực tiếp giữa trọng tài viên với một bên

mà không có mặt bên kia, hoặc trao đổi thông qua văn bản với một bên mà không đồng thời chuyển tới cho bên kia một bản phô tô Một vấn đề khác đang gây tranh cãi đó là quốc tịch của trọng tài viên có ảnh hưởng tới sự độc lập của ông ta hay không Điều này muốn nhắc tới trường hợp hội đồng trọng tài chỉ gồm một trọng tài viên duy nhất hoặc chủ tịch hội đồng trọng tải là trọng tài viên có cùng quốc tịch với bất cứ bên tranh chấp nào, Giải quyết vấn đề này

Luật Mẫu UNCITRAL 2006 quy định “Không ai bị còn trở để trở thành Trong trí viên vì lý do quốc tịch, nếu các bên không có thoả thuận nào khác (khoản 1

Điều 11)

Quy tắc trọng tài UNCITRAL 1976 quy định: “Trong quá trình chỉ định, cơ quan có thẩm quyền chỉ định phải cần nhắc để đảm bảo chỉ định được một Trọng tài viên khách quan và độc lập và sẽ xét tới khả năng chỉ định một Trọng tài viên có quốc tịch khác với quốc tịch của các bên" (Điều 6.4) Quy tắc trọng tài ICC thì cho rằng: “Trọng tài viên duy nhất hoặc Chủ tịch Hội đồng Trọng tài sẽ có quốc tịch khác với quốc tịch của các bên” (Điều 9.5) Tương tự như thế, Quy tắc trọng tải LCIA chí rõ: “Khi các bên có quốc tịch khác nhau, Trọng tài viên duy nhất hoặc Chủ tịch Hội đồng Trọng tải sẽ không có cùng

Trang 10

quốc tịch với bất kỳ bên nào trừ khi các bên có thoả thuận khác bằng văn bản” (Điều 6.1)

Trọng tài viên ngoài sự độc lập còn phải thể hiện rõ sự vô tư của mình trong quá trình giải quyết tranh chấp Một trọng tải viên bị cho là không vô tư nếu ông ta bày tỏ định kiến chống lại một trong số các bên hoặc cổ tình thay đổi kết quả xét xử nhằm tạo lợi thế cho một bên

4 Nguyên tắc chung thẩm

Đây là nguyên tác rất quan trọng của Trọng tài Quốc tế nó giúp phương thức trọng tải chiếm ưu thế hơn so với các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn như trung gian, hòa giải, giám định chuyên môn, Nội dung cơ bản của nguyên tác này là tố tụng trọng tài kết thúc bằng một phần quyết của hội đồng trọng tài thì có giá trị bắt buộc thi hình đối với các bên tranh chấp và như vậy, các bên phải từ bỏ quyền kháng cáo đối với nội dung quyết định trọng tài Nguyên tắc này được ghi nhận rộng rãi trong pháp luật trọng tài trên thế giới

Luật Mẫu UNCITRAL 2006 quy định: “Tổ tụng trọng tài sẽ được chấm dứt bởi quyết định chung thẩm hoặc bởi yếu cầu của Hội đồng Trọng tài (khoản

1 Điều 32), Điều 1055 Đạo Luật Trọng tài Đức 1998, ghi nhận về hiệu lực

phán quyết trọng tài “Phán quyết trọng tài có hiệu lực như một bàn ăn có hiệu lực chung thăm do toà án tuyên và bắt buộc các bên phải thi hành"

Ở đây cần phân biệt rõ ba loại quyết định trọng tải đó là: quyết định cuối

cùng, quyết định từng phần và tạm thời, và quyết định dựa trên cơ sở thoả thuận của các bên Quyết định cuối cũng là quyết định do hội đồng trọng tài ban hành, giải quyết mọi vấn đề (hoặc mọi vấn đề còn lại) đã đưa ra trọng tài Quyết định cuối cùng có hiệu lực chung thẩm, buộc các bên phải thì hành và chấm dứt tranh chấp giữa các bên Nó cũng đồng nghĩa với việc khước từ mọi thủ tục kháng cáo đối với nội dung quyết định trọng tài Tuy nhiên, các bên hoặc một bên có quyền yêu câu hỏi đồng sửa chữa các lỗi đánh máy, in ấn, hay tính toán nhằm làm cho quyết định trọng tài rõ ràng hơn Điều 36 Quy tắc tố tụng trọng tài UNCITRAL 1976 ghi nhận: “… một trong các bên bằng việc thông báo cho bên kia có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài sửa chữa các lỗi về tính toán, lỗi đánh máy hay in ấn các lỗi tương tự trong quyết định trọng tài”

Ngày đăng: 01/04/2023, 14:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w