1. Trang chủ
  2. » Tất cả

He thong bai tap men ngan hang thuong mai 522223

35 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Phát Triển Ngành Công Nghiệp Thép Ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Thuỳ Hơng
Người hướng dẫn Th.s Nguyễn Đình Trung
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Công Nghiệp
Thể loại Đề án môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 282,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

B §Ò ¸n m«n häc GVHD Th s NguyÔn §×nh Trung LỜI MỞ ĐẦU Công nghiệp thép là ngành công nghiệp cơ bản của Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa và có định hướng thay thế nhập khẩu Sản xuất thép không[.]

Trang 1

đó đòi hỏi nhà nước phải có sự quan tâm đặc biệt đối với ngành công nghiệpnày Nhận biết được tầm quan trọng của ngành công nghiệp thép ở Việt Nam,

em xin trình bày vấn đề: “THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNGNGHIỆP THÉP Ở VIỆT NAM”

Nội dung đề tài gồm 3 phần chính:

Phần 1: Tổng quan về ngành công nghiệp thép ở Việt Nam

Phần này tập trung làm rõ quá trình hình thành và phát triển của ngànhthép ở Việt Nam; vai trò của ngành thép trong nền kinh tế quốc dân và quanđiểm phát triển ngành thép ở Việt Nam

Phần 2: Thực trạng ngành công nghiệp thép ở Việt Nam

Phần này bao gồm thực trạng và triển vọng thị trường thép ở Việt Nam,tình hình sản xuất thép và tình hình phân phối thép ở Việt Nam

Phần 3: Một số giải pháp phát triển ngành thép ở Việt Nam

Trang 2

NỘI DUNG

PHẦN 1: TỔNG QUAN NGÀNH CÔNG NGHIỆP THÉP Ở VIỆT NAM

I Quá trình hình thành và phát triển ngành công nghiệp thép ở Việt Nam

Lịch sử ngành công nghiệp thép có thể chia làm 2 giai đoạn lớn là trước

và sau ngày đất nước thống nhất(1975)

Thời kỳ trước năm 1975, ngành thép của 2 miền được hình thành dưới

2 hệ thống với những đặc trưng kinh tế khác nhau Miền bắc, nhà máy thépThái Nguyên (TISCO) được bắt đầu xây dựng năm 1959, đây là nhà máy liênhợp khép kín, mục tiêu bắt đầu sản xuất 200000 tấn thép thô /năm Dung tích

lò luyện 100m3, các lò thép nhỏ được thiết kế và xây dựng nhờ viện trợ kinh

tế của Trung Quốc Sau năm 1966, thiết bị sản xuất - vận chuyển của nhà máy

bị thiệt hại lớn trong chiến tranh Sau 15 năm nhà máy gang thép TháiNguyên mới có sản phẩm cán Miền Nam, từ nửa sau thập kỷ 60 tư sản HoaKiều bỏ vốn xây dựng 1 số nhà máy luyện cán thép Các nhà máy nằm gầnSài Gòn vói các lò luyện thép Hồ Quang Điện có dung lượng khoảng 5 >15tấn/mẻ, máy cán thép năng lượng khoảng 5 tấn/ngày Nhà máy quy mô nhỏnhưng được Đài Loan và Nhật Bản cung cấp kỹ thuật nên được tiếp thu kỹthuật tương đối mới Những nhà máy cán thép được quốc hữu hóa sau đấtnước thống nhất

Năm 1975, nhà máy luyện cán thép Gia Sàng do Đức giúp đã đi vào sảnxuất, công suất thiết kế cả khu liên hợp gang thép Thái Nguyên lên đến 10vạn tấn/năm

Năm 1976, công ty luyện kim đen Miền Nam được thành lập với tổngcông suất 80000 tấn thép cán/năm

Từ năm 1976 > 1989, ngành thép gặp rất nhiều khó khăn do kinh tếđất nước lâm vào khủng hoảng Mặt khác ngành thép nhập khẩu từ Liên Xô

Trang 3

(trước đây) & các nướcXHCN vẫn còn dồi dào Vì vậy ngành thép khôngphát triển được & chỉ duy trì mức sản lượng 40000 - 85000 tấn/năm

Từ năm 1989 > 1995 thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa của Đảng

& nhà nước ngành thép bắt đầu có tăng trưởng, sản lượng thép trong nước đãvượt ngưỡng 100000 tấn/năm Năm 1990, tổng công ty thép Việt Nam đượcthành lập, thống nhất quản lý ngành sản xuất thép quốc doanh trong cả nước.Đây là thời kỳ phát triển sôi động& nhiều dự án đầu tư theo chiều sâu, liêndoanh với nước ngoài được thực hiện Năm 1995, tổng công ty thép Việt Nam

& tổng công ty kim khí thuộc Bộ thương mại được hợp nhất

Từ năm 1996 > 2000, ngành thép vẫn giữ dược tốc độ tăng trưởng khácao, tiếp tục được đầu tư mới và đầu tư theo chiều sâu Đã xây dựng và hoạtđộng 13 dự án liên doanh, trong đó có 12 nhà máy liên doanh cán thép & giacông chế biến sau cán Sản lượng cán thép cả nước năm 2000 đạt 1,57 triệutấn gấp 3 lần năm 1995 và gấp 14 lần năm 1990 Đây là thời kỳ có tốc độ tăngtrưởng mạnh nhất

Hiện nay, lực lượng tham gia sản xuất & gia công chế biến thép trongnước rất đa dạng Gồm nhiều thành phần kinh tế, ngoài tổng công ty thép ViệtNam & các cơ sở quốc doanh thuộc các ngành, địa phương khác nhau, còn cócác liên doanh, các công ty cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài & cáccông ty tư nhân Sau 10 năm đổi mới và tăng trưởng, ngành thép Việt Nam đã

có công suất luyện thép lò luyện 500000 tấn/năm, công suất cán thép kể cảcác đơn vị ngoài TCT thép Việt Nam tới 2,6 triệu tấn/năm, gia công sau cántrên 500000 tấn/năm

II Vai trò của ngành công nghiệp thép trong nền kinh tế quốc dân

- Nhu cầu sắt thép luôn tăng hàng năm theo hàm số mũ công nghiệp hóa vàphát triển kinh tế Vì vậy, phát triển ngành thép nội địa sẽ cho phép các quốcgia tiết kiệm được ngoại tệ từ việc cắt giảm nhập khẩu và cải thiện được cáccân thanh toán

Trang 4

- Phát triển ngành công nghiệp thép sẽ góp phần hình thành và thúc đẩy pháttriển các ngành công nghiệp khác mà thép là loại nguyên liệu chủ yếu của cácngành này

- Phát triển công nghịêp thép cho phép khai thác và sử dụng triệt để các tiềmnăng sản xuất thép trong nước

- Tạo cơ hội việc làm bằng cách thúc đẩy phát triển các ngành có liên quanđến công nghiệp gang thép như giao thông vận tải, sữa chữa & bảo dưỡng,các lĩnh vực kỹ thuật liên quan

III Quan điểm phát triển ngành thép ở Việt Nam giai đoạn 2007 - 2015

Theo điều 1 của quyết định số 145/2007/QĐ-TTG ngày 04/9/2007 của thủtướng chính phủ đã đưa ra quan điểm:

 Phát triển ngành thép Việt Nam phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triểnkinh tế – xã hội và ngành côn nghiệp của cả nước, quy hoạch phát triển kinh

tế - xã hội các địa phương và lộ trình hội nhập của Việt Nam

 Xây dựng và phát triển ngành thép Việt Nam thành một ngành côngnghiệp quan trọng, bảo đảm phát triển ổn định và bền vững, giảm thiểu sựmất cân đối giữa sản xuất gang, phôi thép với sản xuất thép thành tấm, giữasản phẩm thép dài với sản phẩm thép dẹt

 Xây dựng ngành thép với công nghệ tiên tiến hợp lý, sử dụng tiết kiệm vàhiệu quả nguồn tài nguyên của đất nước, bảo đảm hài hòa bảo vệ moi trườngsinh thái tại các địa bàn phát triển ngành thép

 Coi trọng và khuyến khích các thành phần kinh tế,các ngành kinh doanhtrong nước liên kết, hợp tác với nước ngoài đầu tư xây dựng một số tổ hợpmỏ- luyện kim, nhà máy thép liên hợp và nhà máy cán các sản phẩm thép dẹtquy mô lớn

Trang 5

PHẦN 2: THỰC TRẠNG CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP THÉP Ở

VIỆT NAM

I Thực trạng và triển vọng thị trường thép ở Việt Nam

1.1 Vấn đề tăng trưởng nhu cầu thép trên thị trường

Những thay đổi tích cực của nền kinh tế và sự phát triển với tốc độ caocủa nhiều ngành công nghiệp khác trong những năm qua ở Việt Nam đã tạo ra

sự tăng trưởng nhanh của thị trường thép Tính từ năm 1991 đến 2003, tốc độtăng trưởng nhu cầu thép hàng năm ở Việt Nam đạt mức trung bình khoảng27%, từ 350 ngàn tấn thép năm 1991 đến 5.084 ngàn tấn thép năm 2002 đạt5.715 tấn năm 2003 Từ năm 2003 đến nay, nhu cầu thép ở Việt Nam đềutăng ở mức 2 con số mỗi năm Năm 2008 nhu cầu thép ở Việt Nam tăng tới

17 - 20% so với năm 2007 Tốc độ tăng trưởng này là khá cao nếu so với sựchững lại của nhu cầu thép thế giới và tốc độ tăng trưởng nhu cầu thép ở cácnước trong khu vực Tốc độ tăng trưởng nhu cầu thép cao trong thời gian qua

lở Việt Nam là kết quả của sự tăng trưởng nhanh cử GDP và sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa Năm 1990 công nghiệp chiếm19,1% GDP của cả nước Năm 2000 chiếm 26,9% và năm 2007 công nghiệpchiếm 54,8% Mặc dù tốc độ tăng trưởng khá cao, nhưng nhìn chung thiếu sự

ổn định và có xu hướng chững lại Giai đoạn 1991 đến 1996, tốc độ tăngtrưởng nhu cầu bình quân hàng năm đạt mưc trung bình khoảng 40% Đếngiai đoạn 1997 – 2003 chỉ đạt 18,43% Sự tăng trưởng không ổn định của nhucầu thép là một khó khăn lớn cho việc dự đoán và quy hoạch năng lực sảnxuất thép trong thời gian tới

Mặc dù nhu cầu thép không chắc chắn và khó dự đoán nhưng nhiềuchuyên gia trên lĩnh vực thép tin tưởng rằng có những cơ sở xác đáng về mộttriển vọng tăng trưởng cao của nhu cầu thép ở Việt Nam trong thời gian tới

Từ những lý do: Thứ nhất, mức tiêu dùng thép bình quân đầu người hàng năm

ở Việt Nam vẫn thấp so với ở nhiều nước Thứ hai, tốc độ tăng trưởng kinh tế

sẽ tiếp tục ở mức cao, cơ cấu kinh tế sẽ tiếp tục chuyển dịch theo hướng công

Trang 6

nghiệp, các ngành công nghiệp và xây dựng sẽ tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởngcao ở mức khoảng 10 - 10,5% năm và sẽ chiếm khoảng 40 - 41% GDP vàonăm 2010 Thứ ba, hệ thống cơ sở hạ tầng sẽ tiếp tục được ưu tiên đầu tư pháttriển Hệ thống mạng lưới phân phối điện, hệ thống đường sắt,cầu vượt, các

cơ sở đóng và sữa chữa tàu thủy tiếp tục được đầu tư theo hướng đồng bộ hó

và hiện đại hóa Thứ tư, nguồn gỗ có thể khai thác đang ngày càng bị cạn kiệtdần, và người tiêu dùng bắt đầu có xu hướng sử dụng các vật làm bằng kimloại thay cho gỗ

Với những nhận định trên cùng xu hướng tăng trưởng nhu cầu thép được quansát trong những năm qua, nhiều nhà chuyên môn dự đoán nhu cầu thép thànhphẩm của Việt Nam dự kiến:

Bảng 1: Dự báo nhu cầu thép thành phẩm ở Việt Nam :

1.2 Vấn đề thu hút dự án đầu tư vào ngành công nghiệp thép ở Việt Nam

Với tốc độ tăng trưởng cao của nhu cầu thép cùng những thay đổi cănbản trong chính sách thương nhân và chính sách thu hút vốn đầu tư nướcngoài, trong những năm qua Việt Nam đã thu hút số lượng lớn vốn đầu tư vàthương nhân tham gia phát triển ngành thép, làm cho mức đọ cạnh tranh trênthị trường thép ngày càng mạnh mẽ hơn Trước năm 1995, các doanh nghiệpsản xuất thép ở Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước Các doanhnghiệp tư nhân có sản lượng rất nhỏ, không đáng kể, chủ yếu tồn tại dưới hìnhthức xưởng thủ công mang tính chất gia đình và tại các làng nghề Sau năm

1995, hàng loạt các công ty sản xuất thép liên doanh ra đời đã làm thay đổi cơ

Trang 7

bản cấu trúc thị trường thép Việt Nam Năm 2000 với việc ban hành LuậtDoanh Nghiệp, hàng loạt các nhà máy thép tư nhân và 100% vốn nước ngoàilần lượt được thành lập và đi vào hoạt động Tính đến năm 2002, các nhà máythép thuộc Tổng Công Ty Thép, các liên doanh thuộc Tổng Công Ty Thép vàcác công ty thuộc các thành phần kinh tế khác lần lượt có thị phần là 31%,47% và 22% thị trường thép Việt Nam

Ngành công nghiệp thép Việt Nam là một trong những ngành được đặcbiệt chú ý đầu tư với nhiều dự án liên hợp luyện thép lớn chưa từng có trongkhu vực Đông Nam Á, cả về công suất & tổng vốn đầu tư Theo quyết địnhđược thủ tướng phê duyệt, nhu cầu thép thành phẩm của Việt Nam dự kiếnnăm 2010 đạt 10-11 triệu tấn, năm 2025 khoảng 24-25 triệu tấn/năm

Từ năm 2006, 2007 nhiều dự án liên hợp thép lớn đã “bùng nổ” đăng

ký đầu tư vào Việt Nam Cho tới nay có 3 dự án lớn được cấp phép & đangthi công là: Tycoon - E United tại Dung Quất, công suất 5 triệu tấn/năm, tổngvốn đầu tư công bố trên 1 tỷ USD Dự án Fomosa Sunco ở Vũng áng (HàTĩnh), công suất 15 triệu tấn/năm, nhà máy liên hợp thép 100% vốn Đài Loan,ước 3,35 tỷ USD, công suất 4-5 triệu tấn/năm Thép Cà Ná tại Ninh Thuậncông suất 14,5 triệu tấn/năm Ngoài ra còn nhiều dự án thép liên doanh vớinước ngoài khác với tổng vốn đến hàng chục tỷ USD, như dự án khu liên hợpsản xuất gang thép & cảng Sơn Dương, dự án của tập đoàn thép Posco (HànQuốc),dự án liên hợp thép liên doanh giữa Vnsteel & tập đoàn TaTa, côngsuất dự kiến 4,5 - 5 triệu tấn/năm, dự án liên hợp thép liên doanh giữa tậpđoàn Lion Group - Vinashin công suất dự kiến 4,5 triệu tấn/năm

Thị trường Việt Nam đang có nhiều cơ sở để thu hút các tập đoàn théplớn thế giới là do: Mức tiêu thụ thép đang tăng; môi trường đầu tư được cảithiện rõ rệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO & GDP tăng trưởng ổn định;Việt Nam có lợi thế về nhân công, ổn định chính trị, đặc biệt là những camkết về chính sách của chính phủ cũng như thiện chí hợp tác của những doanhnghiệp Việt Nam Việc thu hút được nhiều nhà đầu tư mang lại nhiều thuận

Trang 8

lợi cho Việt Nam: Có nhiều liên hợp thép mạnh ở trong nước giúp chủ độngtrong ngành công nghiệp này;Đáp ứng tối đa nhu cầu về sản phẩm thép củanền kinh tế và tăng cường xuất khẩu Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều bấtlợi: Khả năng dư thừa thép trong nước là cực lớn, tổng công suất của các nhàmáy đã được cấp phép lên tới trên 50 triệu tấn/năm trong khi theo dự báo củahiệp hội thép Việt Nam, nhu cầu thép của Việt Nam chỉ đạt khoảng 10-11triệu tấn vào năm 2010; công nghiệp thép là một ngành quan trọng mà sảnphẩm có liên quan đến hầu hết các ngành kinh tế & quốc phòng của đất nước.Nếu toàn bộ liên hợp là vốn FDI của nước ngoài sẽ làm vai trò củ nước chủnhà Việt Nam trong ngành công nghiệp này sẽ không có Nếu dự án 100%vốn nước ngoài thì Việt Nam chỉ có thể theo dõi việc thực hiện dự án ở 2 lĩnhvực công nghệ và tác động môi trường Nhưng ở 2 lĩnh vực này nếu Việt Namkhông trực tiếp tham gia dự án thì những thông tin nêu trong dự án hoàn toànkhông có đủ cơ sở để giám sát;Số lượng dự án đầu tư là quá nhiều, có một số

dự án được chấp nhận dễ dãi, đối tác không lựa chọn Đó là những đối tácchẳng có kinh nghiệm hoặc thứ bậc gì về thép, nhiều dự án được ký nhưngkhông triển khai vì thiếu vốn Những thu hút đầu tư của Việt Nam thì biếnthành lời nhuận của những anh cơ hội Còn hậu quả thì ta gánh chịu, họ dữđát đai lâu trong khi hàng ngàn hộ lao động nông nghiệp mất đất, dự án khácmuốn vào không được Ngoài ra còn có việc bán dự án cho đối tác khác để ănchênh lệch

Nếu thiếu quy hoạch và kiểm soát đầu tư thì nhiều dự án luyện thép có quy

mô vừa và nhỏ sử dụng công nghệ hao tốn nguyên liệu sẽ ra đời ồ ạt Điềunày gây ra ván đề về môi trường và thiếu hụt năng lượng, thiếu hụt về nguồnphế liệu và các công ty phải cạnh tranh gay gắt mua nguồn nguyên liệu.Chính phủ phân cấp đầu tư cho các địa phương được quyết định với các dự ánđầu tư nước ngoài, trong khi địa phương chưa có đủ năng lực thẩm định dự

án, công nghệ, thiết bị của nhà máy như thế nào

Trang 9

1.3 Thực trạng về sản lượng sản xuất thép ở Việt Nam

Sự quan tâm ngày càng lớn của các nhà đầu tư vào phát triển ngànhthép đã làm cho sản lượng thép sản xuất tăng lên một cách nhanh chóng từnăm 1991 đến nay Năm 2006, sản xuất phôi thép trong nước chỉ đạt trên dưới

1 triệu tấn, tương đương khoảng 1/4 nhu cầu nguồn phôi Nhà máy thép TháiNguyên được xem là “ đại gia” trong lĩnh vực sản xuất phôi thép của ViệtNam nhưng cũng chỉ sản xuất được khoảng 300 ngàn tấn phôi từ nguyên liệuquặng sắt, còn đa số các doanh nghiệp đều sản xuất phôi từ thép phế liệu.ngành thép vẫn còn phụ thuộc trên 50% nguồn phôi thép từ nước ngoài

Bảng 2: Sản lượng do những cơ sở gang thép ở nước ta :

và nếu nhất thiết phải sử dụng thép sản xuất ở Việt Nam thì ta cần phải tăngcường mạnh khả năng sản xuất

1.4 Nguồn hàng nhập khẩu trên thị trường nguyên liệu thép

Phôi thép là bộ phận chủ yếu trên thị trường nguyên liệu thép ViệtNam, các sản phẩm của các công đoạn trước như gang và quặng thiêu kết chỉchiếm tỷ trọng không đáng kể do ngành sản xuất thép Việt Nam chủ yếu tậptrung ở công đoạn cán thép Trong khi đó do nhu cầu sử dụng thép ở ViệtNam trong những năm qua chỉ ở mức độ thấp, nên khối lượng thép phế thải

có thể thu mua trong nước cũng tương đối khan hiếm Trong giai đoạn

1998-2002 nhu cầu phôi thép tăng trưởng khá nhanh đạt mức bình quân hàng nămkhoảng 19% và từ năm 2002 đang có xu hướng tăng ngày càng nhanh

Trang 10

Bảng 3: Thị trường phôi thép

B/quâng/đoạn98-02Nhu cầu phôi

Tỷ lệ nhập khẩu 61.

07% 64 53% 65 09% 80 02% 81 49% 70 44%

Nguồn: cơ sở số liệu được cung cấp bởi VSC, VSA, NEU-JICA

Tuy nhiên sản lượng phôi thép sản xuất trong nước chỉ đạt ở mức rất thấp vàkhông có xu hướng gia tăng rõ rệt Vì vậy nhu cầu phôi thép chủ yếu đượcđáp ứng bằng nguồn nhập khẩu và có xu hướng ngày càng phụ thuộc vàonguồn nhập khẩu

Trang 11

Bảng 4: Tỷ trọng phôi nhập khẩu của ngành thép:

Phần còn lại của nhu cầu được đáp ứng bằng nguồn phôi sản xuất trongnước Phôi thép trong nước được sản xuất trên cơ sở nguồn sắt thép phế liệunhập khẩu và phế liệu thu mua trong nước Trong đó thép phế liệu thu muatrong nước chiếm tỷ trọng khá lớn Một phần nhỏ phôi được sản xuất từquặng ở nhf máy gang thép Thái Nguyên Tuy nhiên, giá thành phôi thép sảnxuất trong nước thường cao hơn giá thép nhập khẩu (trừ thời điểm đầu năm2003) Theo tính toán của một số chuyên gia ngành thép thì chi phí sản xuấtphôi thép của Công ty gang thép Thái Nguyên và Công ty thép Miền Nam (2nguồn cung cấp thép nội địa chính của Việt Nam) đều cao hơn giá phôi thépnhập khẩu ít nhất từ 3-4 USD

Giá thành phôi thép sản xuất trong nước cao và ưu thế vượt trội về mặt tỷtrọng của nguồn phôi nhập khẩu trong việc đáp ứng nhu cầu sản xuất thép đãlàm cho giá phôi thép ở thị trường trong nước phụ thuộc rất lớn vào sự biếnđộng giá phôi thép trên thị trường thế giới Điển hình 6 tháng cuối năm 2007,giá thép trong nước tăng với tốc độ chóng mặt từ trên 8 triệu đồng/tấn thépcuộn hồi tháng 6 đến đạt ngưỡng 10 tr đồng/tấn vào đầu tháng 8 Đây là mứcgiá cao từ trước tới nay Nguyên nhân chính theo hiệp hội thép đánh giá là giánguyên liệu nhập khẩu tăng Phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, phụ

Trang 12

thuộc vào chính sách thuế nhập khẩu của các nước, phụ thuộc vào chính sáchthuế trong nước…đã khiến các nhà sản xuất thép trong nước luôn luôn trongtình trạng “ vừa sản xuất vừa trong chừng” Cụ thể sau khi Trung Quốc cónhững thay đổi trong chính sách thuế như thoái thu thuế VAT, giảm thuế xuấtkhẩu… dẫn đến giá thép nhập khẩu vào Việt Nam rẻ một cách “bất ngờ”.Đứng bên cạnh một nước có tiềm lớn về sản xuất thép (trên 300 tr tấn/năm)

và cũng là thị trường chính cung cấp phôi thép cho Việt Nam nên nguồn thépViệt Nam (có nguồn lực sản xuất trên 3 tr tấn/năm) hoàn toàn bị động

Điển hình năm 2007, 6 tháng cuối năm giá thép trong nước tăng với tốc

độ chóng mặt từ lớn hơn 8 triệu đồng/tấn thép cuộn hồi tháng 6 đạt năng 10triệu đồng/tấn vào đầu tháng 8 Đây là mức giá cao từ trước tới nay và tăngkhoảng gần 2 triệu đồng /tấn so với cùng kỳ năm 2006 Nguyên nhân chínhtheo hiệp hội thép là giá nguyên liệu nhập khẩu tăng, phụ thuộc vào nguồnnguyên liệu nhập khẩu, phụ thuộc vào chính sách thuế nhập khẩu của cácnước, phụ thuộc vào chính sách thuế trong nước đã khiến các nhà sản xuấtthép trong nước luôn trong tình trạng “ vừa sản xuất - vừa trong chừng” Cụthể sau khi Trung Quốc có những thay đổi về chính sách thuế như thoái thuVAT, giảm thuế xuất khẩu…dẫn đến giá thép nhập vào Việt Nam rẻ một cách

“ bất ngờ” Đứng bên cạnh một nước có tiềm lực lớn về sản xuất thép vốn lớnhơn 300 triệu tấn /năm và cũng là thị trường chính cung cấp phôi thép choViệt Nam nên nguồn thép Việt Nam (có năng lực sản xuất khoảng hơn 3 triệutấn/năm) hoàn toàn bị động

II Tình hình sản xuất thép ở Việt Nam

2.1 Quy trình sản xuất thép

Thép là loại vật liệu cơ bản, không thể thiếu trong nhiều ngành công

nghiệp, do nó có nhiều ưu điểm so với các loại vật liệu khác như: sự kết hợpgiữa độ cứng, độ bền, dễ gia công, dễ tái sinh, có thể từ hóa & có tính kỹ thuệtcao Nhờ những tính năng ưu việt này, thép được sử dụng rộng rãi trong nhiều

Trang 13

ngành công nghiệp như: ô tô, thiết bị điện, đóng tàu, xây dựng, giao thông vàcông nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng có tuổi thọ cao Ở các nước, công nghiệpthép được coi là bộ phận quan trọng của nền kinh tế

Quy trình sản xuất thép hoàn chỉnh được thực hiện thông qua 6 côngđoạn cơ bản: (1) thiêu kết, (2) luyện cốc, (3) luyện gang, (4) luyện thép, (5)đúc thép, (6) cán thép Ba công đoạn đầu tiên của quy trình sản xuất thépthường tạo ra những sản phẩm tương đối đồng nhất Từ công đoạn thứ tư trở

đi, các sản phẩm sẽ bắt đầu được phân nhánh theo 2 nhóm chủ yếu là các sảnphẩm dài & các sản phẩm dẹt với những tính năng khác nhau tùy thuộc vào

kỹ thuật luyện thép

Các nhà máy thép có thể được xây dựng với một, một số hoặc toàn bộ cáccông đoạn Nhà máy thép với đầy đủ công đoạn nói trên được gọi là nhà máythép liên hợp Chi phí đầu tư cho những công đoạn thượng nguồn cao hơn rấtnhiều so với các công đoạn hạ nguồn Theo các chuyên gia trong ngành thép,

đẻ có một dây chuyền sản xuất 100000 tấn phôi/năm, doanh nghiệp cần đầu

tư khoảng 300 triệu USD, trong khi chỉ cần 200 tỷ đồng là đã xây dựng đượcmột nhà máy cán thép có công suất 200000 tấn/năm

Ở các nước đang phát triển, ngành công nghiệp thép được bắt đàu từcác công đoạn hạ nguồn, sau đó mở rộng lên các công đoạn thượng nguồn.Những nước giàu tài nguyên cũng có thể bắt đàu phát triển ngành côngnghiệp từ công đoạn khai thác quặng Việc lựa chọn công đoạn phát triểntrong mỗi thời kỳ được thực hiện trên cơ sở đánh giá về nhu cầu thị trường,tiềm năng nguyên liệu, hiệu quả sản xuất của từng công đoạn, khả năng huyđộng vốn & những ràng buộc khác liên quan đến hoạt động đầu tư Các nhàđầu tư tự quyết định công đoạn để đầu tư nhưng nhà nước cũng có thể ảnhhưởng đến sự lựa chọn của các nhà đầu tư thông qua việc ban hành và thực thicác chính sách phát triển ngành công nghiệp này

Trang 14

2.2 Quy mô sản xuất thép

Thép được coi là ngành sản xuất nguyên liệu chủ yếu cho nhiều ngànhcông nghiệp khác ở Việt Nam Truớc năm 1990, nhà nứơc độc quyền sản xuất

và buôn bán thép, trong bối cảnh đó ngành thép phát triển rất chậm Sau năm

1990, với chính sách đổi mới ở Việt Nam ngành thép đã có nhiều điều kiệnthuận lợi hơn để phát triển Đặc biệt từ sau 1995 ngành thép với nòng cốt làTổng Công Ty Thép Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, thànhphần và chất lượng Nhiều cơ sở sản xuất thép đã đựoc cải tạo hoặc xây dựngmới duới những hình thức sở hữu khác nhau Đến nay, cả nước có hơn 280công ty, nhà máy và các cơ sở sản xuất thủ công tham gia sản xuất thép (chủyếu là cán thép) Tổng công suất thiết kế của tất cả các cơ sở này ở khoảng4trỉệu tấn thép cán/ năm Bình quân công suất thiết kế của một cơ sỏ sản xuấtthép chỉ khoảng 15 ngàn tấn/ năm Nếu tính riêng cho 43 cơ sở sản xuất lớnnhất hiện nay với tổng công suất 3666 ngàn tấn/ năm thì bình quân công suấtcủa một cơ sỏ sản xuất là 85 ngàn tấn/ năm

Toàn bộ các công ty, nhà máy và cơ sở sản xuất thép ở Việt Nam có thểchia thành 5 hệ thống nhỏ bao gồm: (1) Hệ thống sản xuất của VSC, (2) Hệthống sản xuất của các cơ sở liên doanh giữa VS C với nước ngoài, (3) Hửthống các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty tư nhân, công ty 100% vốnnước ngoài, (4) Hệ thống các cơ sở sản xuất(CSSX) quốc doanh khác và quốcphòng, (5) hệ thống các CSSX thủ công gia đình Hệ thống sản xuất của VSCbao gồm những năng lực sản xuất cụ thể : 3 lò cao nhỏ 100m3/lò Có 12 lò hồquang AC cỡ nhỏ từ 1,5 tấn/mẻ - 30 tấn/mẻ do Việt Nam tự chế tạo và nhậpkhẩu của Trung Quốc Tổng công suất sản xuất khoảng 470000- 500000 tấn/năm 4 máy đúc điện liên tục phôi vuông tổng cộng 10 đường đúc, công suất

330000 tấn/năm 5 máy cán bán liên tục sản xuất thép tròn và hình nhỏ vớithiết bị của Đài Loan, Trung Quốc, Ấn Độ, Italia, tổng công suất khoảng

260000 tấn/năm Ngoài ra có năm máy cán mi ni tự trang bị, tổng cộng côngsuất 250000 tấn/năm VSC hiện đang có 5 liên doanh cán thép xây dựng trong

Trang 15

đó có 2 máy cán liên tục và 3 máy cán bán liên tục, tổng công suất cán thép 5liên doanh là 90100 tấn/năm Ngoài ra VSC còn có 7 liên doanh sản xuất thépống, tôn mạ kẽm, tôn mạ màu và gia công cắt thép

Hầu hết các cơ sở cán thép trong hệ thống các công ty TNHH, công ty

cổ phần và công ty 100% vốn nước ngoài được đầu tư xây dựng sau năm

2000 Hiện tại hệ thống này có 7 CSSX cán thép, tổng công suất ước khoảng

1680 ngàn tấn/năm Do mới được xây dựng nên công nghệ cán thép của cácnhà máy này tương đối hiện đại

Trừ nhà máy cán thép Sông Đà có công suất 250000 tấn/năm Các CSSXthép còn lại của hệ thống CSSX thép quốc doanh khác và quốc phòng đều cóquy mô nhỏ Công suất của các CSSX trong hệ thống này biến động trongkhoảng 10 ngàn- 30 ngàn tấn/năm Tổng công suất của hệ thống này ước tínhkhoảng 350 ngàn tấn thép cán/năm, song sản lượng sản xuất không ổn địnhphụ thuộc vào biến động của thị trường Có khoảng 250 CSSX nhỏ tư nhânđang sử dụng các lò luyện thép và cán thép rất nhỏ, kiểu mini, thủ công,các cơ

sở bình quân trên dưới 1 ngàn tấn/năm/1 cơ sở Các cơ sở này nằm rải rác ởnhiều tỉnh và thành phố từ Bắc đến Nam Tổng năng lực sản xuất của khu vựcnày ước tính khoảng 250- 300 ngàn tấn/năm

2.3 Cơ cấu năng lực sản xuất thép

Nếu xét theo quan hệ năng lực sản xuất trong nước và nhu cầu sử dụngthép toàn bộ các sản phẩm thép được lưu thông trên thị trường Việt Namđược chia thành 3 nhóm chính như sau:

Nhóm 1: Các chủng loại sản phẩm đã sản xuất ổn định: Thép xây dựng,thép ống hàn, thép cho ngành cơ khí chế tạo, thép đúc hợp kim và hợp kimferô

Nhóm 2: Các chủng loại sản phẩm thép đã sản xuất được trong nướcnhưng chưa ổn định : Thép chế tạo, thép hợp kim

Trang 16

Nhóm 3: Các chủng loại sản phẩm thép trong nước chưa sản xuất được:Thép hình chữ U,V,I có kích thước lớn hơn các kích thước của các loại nhómtrên và các chủng loại thép hình phức tạp Thép tấm, thép lá các loại (cho tất

cả các mác thép) Thép cán, phôi rèn từ các mác thép đặc biệt khác ngoài thépcác bon, thép hợp kim thông thường Thép ống tròn, ống hình có đường kínhlớn hơn 125mm Thép calíp dạng thanh, cuộn các loại dùng trong chế tạo máy

từ các loại mác thép hợp kim Thép daay cán nóng từ các mác thép cácbonchất lượng, thép hợp kim, thép khong gỉ Thép ống không hàn các loại

Trong những năm qua, thép sản xuất trong nước đáp ứng trong nướcđược khoảng từ 50-60% nhu cầu thép của cả nước Tuy nhiên tỷ lệ đáp ứngnhu cầu về mặt số lượng của thép sản xuát sản xuất trong nước theo từng loạisản phẩm lại có sự biến động rất lớn Thép xây dựng và sản phẩm sau cán đápứng được 100% nhu cầu tiêu dùng nội địa Tôn mạ kẽm và thép ống đáp ứngđược khoảng 50% nhu cầu Các loại thép khác nhu cầu trong nước hoàn toànđựoc đáp ứng bằng nguồn nhập khẩu Trong khi đó hệ số sử dụng công suấtthép ở Việt Nam chỉ đạt mức 60% Tỷ lệ huy động công suất ở công đoạn sảnxuất phôi thép đạt ở mức cao(97%) Trong khi đó tỷ lệ huy động công suấtcủa công đoạn thép lại đạt mức 60% Tỷ lệ huy động công suất của năng lựcsản xuất thép ống và thép lá mạ kẽm lại đạt ở mức rất thấp 40%

2.4 Cơ cấu sản xuất thép giữa 2 công đoạn thượng nguồn và hạ nguồn

Quá trình sản xuất thép diễn ra 6 công đoạn cơ bản từ thượng nguồnđến hạ nguồn Nếu xét cơ cấu năng lực sản xuất thép theo các công đoạn thìhoạt động sản xuất thép ở Việt Nam có thiên hướng ập trung nhiều hơn cáccông đoạn hạ nguồn Hiện nay, năng lực cán thép đạt mức 2,6 triệu tấn/năm.Năng lực luyện thép Năng lực luyện cán lò điện 500000 tấn/năm Gia côngsau cán trên 500000 tấn/năm Phôi thép được sản xuất chủ yếu bằng nguồn sắtthép phế liệu được sử dụng Một phần nhỏ phôi được công luyện từ côngđoạn luyện gang ở nhà máy gang thép Thái Nguyên Tổng năng lực luyện

Trang 17

gang và thiêu kết ở Việt Nam hiện nay chỉ đạt mức khoảng 40.000tấn/năm.Một con số nhỏ so với nhu cầu gang cần thiết để luyện thép

Do năng lực sản xuất mất cân đối giữa các công đoạn sản xuất nên khả năngđáp ứng nhu cầu đầu vào của các công đoạn thượng nguồn và hạ nguồn trựctiếp là rất thấp Công đoạn luyện thép chỉ đáp ứng được khoảng 25% nhu cầuphôi vuông cỡ nhỏ cho công đoạn cán thép Trong khi đó nhu cầu phôi thépcủa các cơ sở cán thép ở tất cả các khu vực đều tăng trong những năm gầnđây đã dẫn tới sự mất cân đối ngiêm trọng giữa các công đoạn của quá trìnhsản xuất thép

2.5 Trình độ công nghệ, trang thiết bị

Ngành thép Việt Nam hiện nay có năng lực sản xuất thực tế khoảng 2,6triệu tấn thép cán /năm (thép xây dựng); 0,5-0,6 triệu tấn phôi thép bằng lòđiện (phôi thép vuông và cả lò đúc cỡ nhỏ) Về trình độ có thể chia ra 4 mức:

 Loại tương đối hiện đại: Gồm các dây chuyền cán liên tục của 2công ty liên doanh VINAKYOEI,VPS và 1 số dây chuyền được xâydựng sau năm 2000

 Loại trung bình bao gồm các dây chuyền cán liên tục như Vinasteel,Natsteelvina, Tây đô, Nhà Bè, Biên Hoà, Thủ Đức (SSC), Gia Sàng,Lưu Xá (TISCO) và các công ty cổ phần, công ty tư nhân

 Loại lạc hậu: bao gồm các dây chuyền cán thủ công mi ni của cácnhà máy Nhà Bè, Thủ Đức, Tân Thuận, Thép Đà Nẵng, Thép MiềnTrung và các cơ sở khác ngoài TCT Thép Việt Nam

 Loại rất lạc hậu bao gồm các dây chuyền cán mi ni có công suấtnhỏ(dưới 20000 tấn/năm) và các máy cán của hộ gia đình, làng nghề.Kết quả điều tra của NEU-JICA cho thấy:Công nghiệp lạc hậu chiếm75% số trang thíêt bị của ngành, công nghiệp tiên tiến chỉ chiếm 15% và côngnghiệp trung bình chiếm khoảng 10% năng lực cán thép

Về nguồn gốc công nghệ, có hơn 33% các CSSX hiện tại sử dụng côngnghệ từ Trung Quốc và 20% có nguồn gốc từ Nga và các nước SNG có mức

Ngày đăng: 01/04/2023, 10:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quyết định số 145/2007/QĐ-TTG ngày 04/09/2007 của thủ tướng chính phủ, “ Phê duyệt quy hoạch phát triển ngành Thép Việt Nam giai đoạn 2007- 2015, có xét đến năm 2025” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt quy hoạch phát triển ngành Thép Việt Nam giai đoạn 2007- 2015, có xét đến năm 2025
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2007
2. Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản và NEU, “Chính sách công nghiệp và thương mại của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công nghiệp và thương mại của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
Tác giả: Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản, NEU
3. Tạp chí khoa học công nghệ - số 17/2007, “ngành thép còn nhiều bất ổn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngành thép còn nhiều bất ổn
Nhà XB: Tạp chí khoa học công nghệ
Năm: 2007
4. Khánh Hoà - Tạp chí khoa học công nghệ -2008, “Năm mới gặp sứ giả ngành thép” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm mới gặp sứ giả ngành thép
Tác giả: Khánh Hoà
Nhà XB: Tạp chí khoa học công nghệ
Năm: 2008
5. Tạp chí Kinh tế Châu á - Thái Bình Dương - số 42(185) ngày 16/10/2007,“Ban hành khung giá thép sẽ khó thực hiện” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban hành khung giá thép sẽ khó thực hiện
Nhà XB: Tạp chí Kinh tế Châu á - Thái Bình Dương
Năm: 2007
6. Báo điện tử cộng sản - ngày 6/10/2008, “doanh nghiệp thép đang chờ chính sách mới của chính phủ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: doanh nghiệp thép đang chờ chính sách mới của chính phủ
Nhà XB: Báo điện tử Cộng sản
Năm: 2008
7. Báo Sài Gòn Giải Phóng - ngày 10/9/2007, “Ngành công nghiệp thép Việt Nam thu hút hàng tỷ USD đầu tư trong và ngoài nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành công nghiệp thép Việt Nam thu hút hàng tỷ USD đầu tư trong và ngoài nước
Nhà XB: Báo Sài Gòn Giải Phóng
Năm: 2007
8. Việt Nam trên con đường hội nhập - ngày 30/9/2008, “FDI đổ vào ngành thép: cơ hội- thách thức” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam trên con đường hội nhập - ngày 30/9/2008
Năm: 2008
9. Hội hợp tác quốc tế (1998), “Báo cáo cuối cùng về điều tra quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành công nghiệp thép Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo cuối cùng về điều tra quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành công nghiệp thép Việt Nam
Tác giả: Hội hợp tác quốc tế
Năm: 1998
10. Hội hợp tác quốc tế (2000), “ Báo cáo cuối cùng về điều tra kế họach xây dựng nhà máy cán thép Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo cuối cùng về điều tra kế hoạch xây dựng nhà máy cán thép Việt Nam
Tác giả: Hội hợp tác quốc tế
Nhà XB: Hội hợp tác quốc tế
Năm: 2000
11. Kawabata Nozomi (2001), “ Hiện trạng ngành thép Việt Nam và triển vọng” (MPI-JICA (2001) quyển 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng ngành thép Việt Nam và triển vọng
Tác giả: Kawabata Nozomi
Nhà XB: MPI-JICA
Năm: 2001
12. Phạm Chí Cường (2001), “ Thực trạng và tương lai của ngành thép Việt Nam” - Trình bày tại hội thảo chuyên đề về ngành thép lần thứ 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và tương lai của ngành thép Việt Nam
Tác giả: Phạm Chí Cường
Năm: 2001
13. Những vấn đề mang tính cấu trúc và giải pháp trong tương lai - thang 7/2000, “buôn bán thép toàn cầu” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề mang tính cấu trúc và giải pháp trong tương lai
Năm: 2000
14. Ono Keichi (2001), “ Đánh gía kế hoạch xây dựng ngành công nghiệp thép của Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh gía kế hoạch xây dựng ngành công nghiệp thép của Việt Nam
Tác giả: Ono Keichi
Năm: 2001
15. Bộ đầu tư kế hoạch nước CHXH CNVN-hội hiệp tác quốc tế MPI-JICA (2001), “ Báo cáo tổn hợp giai đoạn 3 về điều tra xây dựng kế hoạch viện trợ linh tế thị trường của Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổn hợp giai đoạn 3 về điều tra xây dựng kế hoạch viện trợ linh tế thị trường của Việt Nam
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư nước CHXHCN Việt Nam, MPI-JICA
Nhà XB: MPI-JICA
Năm: 2001
17. Theo VnEconomy - ngày25/11/2008, “Ngành thép Việt Nam có “ảo tưởng”?” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành thép Việt Nam có “ảo tưởng”
Tác giả: Theo VnEconomy
Nhà XB: VnEconomy
Năm: 2008
18. Hoàng Đức Thân, TrầnVăn Hoè, Nguyễn Đức Anh, “ Cơ sở chung cho việc tái cấu trúc chính sách đối với ngành công nghiệp thép của Việt Nam trong quá trình hội nhập”, NEU- JICA, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở chung cho việc tái cấu trúc chính sách đối với ngành công nghiệp thép của Việt Nam trong quá trình hội nhập
Tác giả: Hoàng Đức Thân, TrầnVăn Hoè, Nguyễn Đức Anh
Nhà XB: NEU- JICA
Năm: 2001
19. Hoàng Đức Thân, Trần Văn Hoè, Nguyễn Minh Ngọc, Lê Thăng Long, Nguyễn Việt Cường, “ Hoàn thiện hệ thống phân phối thép ở Việt Nam”, NEU- JICA,2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hệ thống phân phối thép ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Đức Thân, Trần Văn Hoè, Nguyễn Minh Ngọc, Lê Thăng Long, Nguyễn Việt Cường
Nhà XB: NEU- JICA
Năm: 2003
16. Thời báo kinh tế Việt Nam : số 125/2002, số 10/2003, số 45/2007 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w