1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài Tập Nhóm Thực Trạng Phát Triển Dịch Vụ Việt Nam Thời Kì Đổi Mới.pdf

22 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tập Nhóm Thực Trạng Phát Triển Dịch Vụ Việt Nam Thời Kì Đổi Mới
Tác giả Phạm Thị Ngọc Huyền, Phạm Thị Lý, Vũ Thị Hương, Lê Diệp Linh, Nguyễn Thị Bích Ngọc, Nguyễn Thị Thanh Hải
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Dịch Vụ
Thể loại bài tập nhóm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 339,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

STT Họ và tên Mã sinh viên Nôị dung thực hiêṇ 1 Phạm Thị Ngọc Huyền 11162503 Khái niêṃ và các loại hình dịch vụ 2 Phạm Thị Lý 11163257 Vai trò của khu vực kinh tế dịch vụ 3[.]

Trang 1

STT Họ và tên Mã sinh viên Nô ̣i dung thực hiê ̣n

1 Phạm Thị Ngọc Huyền 11162503 Khái niê ̣m và các loại hình dịch vụ

2 Phạm Thị Lý 11163257 Vai trò của khu vực kinh tế dịch vụ

3 Vũ Thị Hương 11162294 Tốc đô ̣ tăng trưởng và cơ cấu

4 Lê Diê ̣p Linh 11162848 Tỷ trọng đóng góp trong GDP, vào

xuất khẩu và giải quyết vấn đề viê ̣c làm, thu nhâ ̣p, môi trường

5 Nguyễn Thị Bích Ngọc 11163744 Công tác xã hô ̣i hóa dịch vụ công

6 Nguyễn Thị Thanh Hải 11161430 Giải pháp phát triển khu vực dịch

vụ

Danh sách sinh viên thực hiê ̣n

Trang 2

Chương 12: Dịch vụ

I.KHÁI NIỆM VÀ CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ

1 Khái niệm dịch vụ:

- Khái niê ̣m: dịch vụ là những hoạt động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm

hàng hóa không tồn tại dưới dạng hình thái vật thể, nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận lợi và hiệu quả hơn các nhu cầu trong sản xuất và đời sống con người.

- Đặc điểm:

Thứ nhất, dịch vụ nhiều khi là vô hình nên khó phát triển

Thứ hai, quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ thường xảy ra đồng thời

Thứ ba, dịch vụ không lưu trữ được

2 Các loại hình dịch vụ:

a Căn cứ theo tính chất thương mại:

- Dịch vụ mang tính chất thương mại: là dịch vụ được thực hiện, cung ứng nhằm mục đích kinh doanh để thu lợi nhuận

- Dịch vụ phi thương mại: là dịch vụ được cung ứng không nhằm mục đích kinhdoanh

b.Căn cứ theo cách tiếp cận :

- Dịch vụ kinh doanh: có tính thị trường, giống tính chất của dịch vụ phi thươngmại

- Dịch vụ sự nghiệp bao gồm các hoạt động cung cấp phúc lợi xã hội chi người dân như: giáo dục, văn hóa, an sinh xã hội

- Dịch vụ hành chính công là loại gắn liền với chức năng quản lý nhà nước như

an ninh, quốc phòng

c Căn cứ vào mục tiêu của dịch vụ:

Trang 3

- Dịch vụ về hàng hóa (DV phân phối, DV sản xuất).

- Dịch vụ tiêu dùng (DV xã hội, DV các nhân)

d Phân loại theo hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) của Viê ̣t Nam Theo nghị định 75/CP ngày 27/10/1993, khu vực dịch vụ được phân cấp thành các ngành dịch vụ cáp I, II, II, IV Mỗi ngành lại được chia thành các phân ngành khác nhau Cụ thể là:

i) Thương nghiệp và sửa chữa xe động cơ và đồ dùng cá nhân, gồm cả hoạt

động xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ

ii) Khách sạn, nhà hàng

iii) Vận tải, thông tin liên lạc, bao gồm: vận tải đường bộ, đường sắt, đường

thủy, đường hàng không, đường ống, băng truyền, bốc vác ; hoạt động bưu chính viễn thông , hoạt động du lịch

iv) Hoạt đô ̣ng tài chính: sổ số tiết kiệm, phát hành tín phiếu, thị trường

chứng khoán, một phần hoạt động của kho bạc Hoạt đô ̣ng ngân hàng: cho vay, đi vay Hoạt đô ̣ng bảo hiểm: tất cả các hoạt động của công ty bảo hiểm trừ bảo hiểm xã hội

v) Hoạt động khoa học công nghệ

vi) Hoạt động quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, bảo hiểm xã hội bắt

buộc từ trung ương đến cơ sở (kể cả Đảng và đoàn thể), nguồn kinh phí

do ngân sách nhà nước cấp

vii) Kinh doanh tài sản, dịch vụ tư vấn

viii) Hoạt động giáo dục và đào tạo

ix) Hoạt đông y tế và cứu trợ xã hội

x) Hoạt động văn hóa thể thao

xi) Hoạt động của các tổ chức tín ngưỡng

xii) Hoạt động dịch vụ cá nhân cộng đồng

xiii) Dịch vụ làm thuê trong hộ gia đình

xiv) Hoạt động của đoàn thể, tổ chức quốc tế tại Viê ̣t Nam

3 Mối quan hệ giữa các ngành, phân ngành dịch vụ:

- Ngành viễn thông là ngành cung ứng đầu vào cho tất cẩ các ngành dịch vụ Các sản phẩm truyền hình, internet, điện thoại… tạo điều kiện phát triển và hiệnđại hóa các ngành dịch vụ khác như y tế, giáo dục, du lịch, ngân hàng…

Trang 4

- Ngành giáo dục và đào tạo trực tiếp hoặc gián tiếp cung ứng nguồn nhân lực cho tất cả các ngành khác của dịch vụ nói chung và cho ngành kinh tế quốc dân nói chung.

- Sản phẩm dịch vụ của ngành y tế - sức khỏe được tất cả các ngành kinh tế sử dụng, đồng thời, ngành y tế cũng sử dụng sản phầm của các ngành khác như: nhân lực của ngành giáo dục, bảo hiểm y tế hỗ trợ người nghèo sử dụng dịch vụ

y tế, các cơ sở y tế muốn phát triển thì cần có vốn đầu tư từ ngành tài chính

- Dịch vụ tài chính đóng vai trò huyết mạch trong việc cung ứng các nguồn lực tài chính và dịch vụ khác chi hoạt động của toàn bộ nền kinh tế cũng như nhu cầu của đời sống xã hội Nguồn vốn - một trong những yếu tố chủ yếu của sản xuất, kinh doanh được cung ứng cho các nhà sản xuất, kinh doanh và người tiêudùng thông qua các dịch vụ tài chính Ngoài ra, dịch vụ tài chính cũng sử dụng dịch vụ của nhiều ngành khác như giáo dục đào tạo, viễn thông, nghiên cứu thị trường, tư vấn quản lý,…

- Giao thông vận tải là một ngành dịch vụ lớn gồm đường biển, sắt, hàng không,

… tất các ngành kinh tế cả an ninh quốc phòng đều phải sử dụng dịch vụ giao thông vâ ̣n tải Và giao thông vâ ̣n tải cũng sử dụng dịch vụ của các ngành khác như: tài chính, viễn thông,…

- Dịch vụ du lịch được sử dụng như đầu vào của một số ít ngành như khách sạn và nhà hàng, văn hóa giải trí, thể thao,… Những ngành này thu hút nhiều vốn đầu vào từ nhiều ngành dịch vụ

Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng có nhiều ngành dịch vụ mới xuất hiện và phát triển như giáo dục qua mạng, khám chữa bệnh qua mạng, hội thảo trực tuyến,… vì vậy có thể nói rằng quy mô của ngành dịch vụ sẽ ngày càng lớn Cùng với quá trình phát triển của khu vực dịch vụ thì mối liên kết giữa các ngành/phân ngành dịch vụ sẽ ngành càng chặt chẽ do tính chất đa ngành của chúng

II VAI TRÒ CỦA KHU VỰC KINH TẾ DỊCH VỤ

Khu dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia Nó ảnh hưởng đến hầu hết các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hộinhư: tăng trưởng kinh tế, cải thiê ̣n đời sống nhân dân, công bằng xã hô ̣i, phát triển văn hóa,…

Trang 5

Ở các nước phát triển,ngành dịch vụ trở thành ngành chiếm tỉ trọng lớn nhất trong GDP và đóng góp nhiều nhất cho tăng trưởng kinh tế

1.Dịch vụ ngày càng có đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh

tế và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Dịch vụ là một khu vực kinh tế có khả năng lớn nhất trong việc huy động, liên kếtvà phát huy mọi nguồn lực để tạo ra giá trị gia tăng mới, bản thân nó cũng có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn

- Khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì khu vực dich vụ được xem là khu vực có nhiều tiềm năng phát triển, do đó nếu được khai thác tốt thì ngành dịch vụ có thể làm cho GDP tăng lên đáng kể

2.Dịch vụ góp phần nâng cao hiệu quả của các khu vực khác trong nền kinh tế

Trong xu thế phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, các ngành dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với các ngành sản xuất vật chất Sự phát triển mạnh mẽ của các dịch vụ như vận tải, viễn thông, thương mại, tài chính ngân hàng, làm tăng giá trị bản thân ngành dịch vụ, đồng thời kích thích các hoạt động khác mở rộng phát triển

Đặc biệt, những ngành dịch vụ cao cấp như: khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo,tài chính, viễn thông đã hỗ trợ các ngành sản xuất vâ ̣t chất và giải quyết đầu racho sản phẩm

Thực tế, nguồn nhân lực chất lượng cao cùng những tiến bộ về mặt khoa học – công nghệ là những nhân tố đặc biệt quan trọng đối với các hoạt động sản xuất khi nền kinh tế ngày càng phát triển cùng với quá trình quốc tế hóa các hoạt động sản xuất và tiêu dùng trên phạm vi toàn thế giới

3.Sự phát triển của các ngành dịch vụ còn góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề xã hội như tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư, cải thiện môi trường

- Khu vực dịch vụ mang lại nhiều cơ hội việc làm và gia tăng thu nhập cho người lao động Với sự phát triển này, ngành dịch vụ đã thu hút ngày càng nhiều lao động Tỷ lệ lao động động làm việc trong khu vực dịch vụ ngày càng tăng do việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm Điều đó góp phần giảm thiểu sự chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm dân cư trong xã hội

- Ngoại trừ nhóm dịch vụ kinh doanh có tính thị trường thì nhóm dịch vụ sự nghiệpvà nhóm dịch vụ quản lý hành chính công ít chứa đựng các nhân tố gây ra sự bất

Trang 6

bình đẳng trong xã hô ̣i về viê ̣c tiếp câ ̣n dịch vụ Nói cách khác, phát triển dịch vụ có tác động tích cực đến đảm bảo công bằng xã hội.

- Một số ngành dịch vụ như giáo dục, y tế, văn hóa, an ninh xã hội, có tác dụng trực tiếp tới chất lượng cuộc sống của nhân dân Nó làm động lực để phát triển kinh tế, xã hội của cá địa phương vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo

- Phát triển khu vực dịch vụ có tác động tích cực rõ rệt đến giữ gìn môi trường Ngành dịch vụ này được coi là những ngành công nghiệp “sạch” giúp tránh hủy hoại và ô nhiễm môi trường Nhiều ngành dịch vụ còn có tác dụng hữu hiệu trong việc cải thiện môi trường như du lịch sinh thái hay dịch vụ vệ sinh môi trường

III THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VIỆT NAM THỜI KÌ ĐỔI MỚI

1.Về tốc độ tăng trưởng và cơ cấu

Tốc độ tăng GDP do nhóm ngành dịch vụ tạo ra ngày càng tăng

Cụ thể:

• Giai đoạn 1991-1995, ngành Dịch vụ có mức tăng trưởng khá nhanh, đạt 8,6%;

• Giai đoạn 1996-2000 tốc độ tuy đã chậm lại song cũng đạt 5,7%;

• Thời kì 2001-2005, tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ đạt 6,97% và chiếm 38,5% GDP;

• Trong 2 năm 2005-2006, GDP do nhóm ngành dịch vụ tạo ra tăng trên 8%, chiếm42,57% GDP;

• Năm 2008 giảm nhẹ xuống còn 7,18% do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế;

• Năm 2010 lên 42,83% GDP;

• Giai đoạn 2011 – 2015, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6,33%/năm;

• Năm 2016 tính tăng 6,98%và chiếm 40,92% GDP cả nước

Trang 7

Nguồn: Tổng cục thống kê

Mấy năm gần đây diễn biến tăng trưởng của các phân ngành dịch vụ thời gian qua cũng có nhiều điểm tương tự như diễn biến tăng trưởng của cả khu vực dịch vụnói chung Phần lớn các phân ngành dịch vụ đều có sự tăng trưởng khá cao trong các giai đoạn 1986-1990 và 1990-1995 (cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP), nhưng trowng giai đoạn 1995-2000, tốc độ tăng trưởng giảm mạnh (thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP) và đạt dấu hiệu hồi phục trong giai đoạn 2000-2005 Trong giai đoạn 2000-2005, một số phân ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao như: dịch vụ thương mại và sửa chữa thiết bị, khách sạn và nhà hàng Một số phân ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng khá cao nhưng có tỷ trọng nhỏ trong GDP như: dịch vụ khoa học và công nghệ có tốc độ tăng trưởng trung bình 8,6%/năm trong giai đoạn 2000-2005 chỉ chiếm 0,6% GDP Dịch vụ tài chính, tín dụng có tốc độ tăng trưởng khá cao trong suốt thời gian đổi mới nhưng cũng mới chỉ chiếm 2,1% GDP năm

2005 Mấy năm gần đây, một số hoạt động dịch vụ cũng có sự phát triển mạnh như: bán lẻ hàng hóa, vận tải - viễn thông

a Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng:

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12 ước tính đạt 320,3 nghìn tỷ đồng, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 241,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,8%và tăng 9,1%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 38,9 nghìn tỷ đồng, tăng 4,2%và tăng 13,8%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 3,3 nghìn tỷ đồng, tăng 3,6% và tăng 26,6%; doanh thu dịch vụ khác đạt 36,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3% và tăng 8,6%

Trang 8

Tính chung cả năm 2016, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 3.527,4 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2% so với năm trước (Năm 2015 tăng 9,8%), nếu loại trừ yếu tố giá thì còn tăng 7,8%, thấp hơn mức tăng 8,5% của năm trước do sức mua không biến động lớn, trong khi giá tiêu dùng năm nay tăng cao hơn so với năm 2015.

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2016 ước tính đạt 2.676,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,9% tổng mức và tăng 10,2% so với năm trước, trong đó: Lương thực, thực phẩm tăng 13%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 11,4%; may mặc tăng 10,6%; phương tiện đi lại tăng 5,7%; vật phẩm vănhoá, giáo dục tăng 1,7%

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống năm 2016 ước tính đạt 413,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,7% tổng mức và tăng 10,7% so với năm 2015, trong đó 6 tháng cuối nămdoanh thu tăng mạnh (quý III tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước; quý IV tăng 16,7%) nhờ chính sách thu hút khách du lịch được cải thiện nên lượng khách quốc tế đến nước ta trong những tháng cuối năm tăng cao Một số địa phương có doanh thu tăng khá: Bình Dương tăng 17,7%; Bình Thuận tăng 17,1%; Hải Phòng tăng 16%; Hà Nội tăng 13,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 8,4% Doanh thu du lịch lữhành ước tính đạt 34,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 1% tổng mức và tăng 12% so với nămtrước, trong đó doanh thu Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 13,8%; Quảng Ninh tăng 13,6%;Kiên Giang tăng 13,1%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 11,6%; Hà Nội tăng 11,1% Doanh thu dịch vụ khác năm nay ước tính đạt 403,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,4% tổng mức và tăng 9,3% so với năm 2015 Một số địa phương có doanh thu tăng: Quảng Ninh tăng 15,7%; Bắc Ninh tăng 13,6%; Hưng Yên tăng 8%; Hà Giang tăng 7,3%; Hải Phòng tăng 2,5% Tuy nhiên có một số địa phương doanh thu giảm

so với năm trước: Lào Cai giảm 1,5%; Hòa Bình giảm 7,1%; Hà Tĩnh giảm 15,1% Nguồn :Tổng cục thống kê

Trang 9

b Vận tải và viễn thông

Vận tải hành khách tháng 12 ước tính đạt 307,5 triệu lượt khách, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước và 14,6 tỷ lượt khách.km, tăng 9% Tính chung cả năm

2016, vận tải hành khách đạt 3.620,5 triệu lượt khách, tăng 9,6% so với năm trước và 171,3 tỷ lượt khách.km, tăng 11%, trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 3.397,6 triệu lượt khách, tăng 9,6% và 114 tỷ lượt khách.km, tăng 8,6%; đường biển đạt 6 triệu lượt khách, tăng 4,3% và 302,5 triệu lượt khách.km, tăng 0,9% Vận tải bằng đường hàng không tăng mạnh, đạt 40,5 triệu lượt khách, tăng 30,3% và 50,7 tỷ lượt khách.km, tăng 20,4% do các hãng hàng không trong nước đã đẩy mạnh khai thác thị trường nội địa đồng thời mở thêm một số đường bay quốc tế Vận tải đường sắt đạt 9,7 triệu lượt khách, giảm 12,6% và 3,4 tỷ lượt khách.km, giảm 17,9% so với năm 2015 do thời gian đi lại và giá vé chưa cạnh tranh được vớihàng không giá rẻ và vận tải đường bộ

Vận tải hàng hóa tháng 12 ước tính đạt 114,9 triệu tấn, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước và 21 tỷ tấn.km, tăng 4,9% Tính chung cả năm 2016, vận tải hàng hóa đạt 1.275,4 triệu tấn, tăng 10,6% so với năm trước và 240,7 tỷ tấn.km, tăng 4,3%, trong đó vận tải trong nước đạt 1.242,6 triệu tấn, tăng 10,8% và 111,8 tỷ tấn.km, tăng 8,8%; vận tải ngoài nước đạt 32,8 triệu tấn, tăng 2,6% và 128,9 tỷ tấn.km, tăng 0,7% Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 991,4 triệu tấn, tăng 12,1% và 60 tỷ tấn.km, tăng 12,9% so với năm trước; đường sông đạt 217,9 triệu tấn, tăng 6,5%và 45,3 tỷ tấn.km, tăng 7,1%; đường biển đạt 60,6 triệu tấn, tăng 5,5% và 131,5 tỷ

Trang 10

tấn.km, tăng 0,6%; đường sắt đạt 5,2 triệu tấn, giảm 22% và 3,2 tỷ tấn.km, giảm 19,4%.

Nguồn: Tổng cục thống kê

Trong năm 2016, doanh thu lĩnh vực viễn thông ước tính đạt 381,7 nghìn tỷ đồng, tăng 6,6% so với năm 2015 Cụ thể: Năm 2016, Việt Nam có tổng cộng 92,8 triệu thuê bao điện thoại di động 2G (năm 2016) Lượng thuê bao này thậm chí đã vượt qua tổng lượng dân số Tỷ lệ thuê bao 2G/100 dân đạt 100,1% Với băng rộng

di động 3G, Việt Nam cố tổng cộng 36,2 triệu thuê bao, chiếm 39% dân số Trong lĩnh vực Tài nguyên Internet, ngành CNTT-TT Việt Nam cũng ghi nhận nhiều kết quả ấn tượng Có tổng cộng 386.751 tên miền “.vn” đã đăng ký Số tên miền tiếng Việt đã đăng ký là 994.161 tên miền Tổng số địa chỉ Internet IPv6 quy đổi theo đơn vị /64 đã cấp đạt hơn 120 tỷ địa chỉ (năm 2016), tăng 33% so với chỉ một năm trước đây Theo thông tin từ Bộ Thông tin & Truyền thông, hiện thị phần viễn

Trang 11

thông di động (2G và 3G) tại Việt Nam là cuộc đua của ba nhà mạng lớn gồm Viettel (46,7%), MobiFone (26,1%) và VNPT (22,2%) Một lượng nhỏ thị phần còn lại thuộc về hai nhà mạng Vietnamobile (2,9%) và Gtel (2,1%).

Bên cạnh đó, thực tế cho thấy sự phát triển mạnh của các dịch vụ chất lượng cao là xu hướng chung hiện nay Ở nước ta hiện nay, các dịch vụ chất lượng cao đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế Tuy nhiên, diễn biến tăng trưởng của các dịch vụ chất lượng cao ở Viê ̣t Nam được đánh giá là dưới mức tiềm năng và chưa tương xứng Hiện cả nước không có nhiều cơ sở giáo dục&đào tạo, ngân hàng, cơ sở viễn thông tiêu chuẩn quốc tế Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức, các dịc vụ GD&ĐT, khoa học công nghê ̣ đóng vai trò then chốt thì ở Viê ̣t Nam các dịch vụ này còn kém phát triển Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chất lượngnguồn nhân lực của Việt Nam đạt mức 3,79 điểm (trong thang điểm 10), xếp hạng thứ 11 trong số 12 quốc gia được khảo sát tại châu Á Trong khi Hàn Quốc đạt 6,91 điểm; Ấn Độ đạt 5,76 điểm; Malaysia đạt 5,59 điểm

Về khoa học công nghê ̣, Viê ̣t Nam được xếp ở thứ hạng trên trung bình về năng lực cạnh tranh trong nghiên cứu và triển khai Trong đó, đáng chú ý là thứ hạng về chất lượng của các tổ nghiên cứu khoa học và mức độ sẵn có của các nhà khoa học và kỹ sư Các nguồn lực này cộng với sự ưu tiên của Chính phủ dành cho lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông (ICT) có thể tạo ra 1 sân chơi tốt cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển Nhưng thưc tế là khả năng ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn cuộc sống ở Việt Nam còn rất hạn chế Thị trường khoa học và công nghệ kém phát triển đã không hỗ trợ cho các hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ

Trong khoảng 1 thập kỉ gần đây, cùng với sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam, các dịch vụ kinh doanh cũng từng bước phát triển, tuy nhiên trình độ phát triển còn ở mức thấp Một số cuộc điều tra về dịch vụ phát triển kinh doanh ở Việt Nam đã cho thấy hầu hết chủ doanh nghiệp ở Việt Nam đều nhận thức rõ tầm quan trọng của các dịch vụ kinh doanh, nhưng mức độ tiếp cận và sử dụng dịch vụ còn rất hạn chế Có thể nêu lên 1 số nguyên nhân chủ yếu sau: Thứ nhất, chủ doanh nghiệp không có các thông tin hoàn thiện và đáng tin cậy về các dịch vụ và về nhà cung ứng dịch vụ Thứ hai, văn hóa kinh doanh ở Việt Nam khuyến khích các chủ doanh nghiệp tự giải quyết khó khan trong nội bộ Nhiều doanh nghiệp không coi dịch vụ kinh doanh là cần thiết đối với khả năng cạnh tranh của họ Thứ ba, các dịch vụ kinh doanh có mặt trên thị trường hiện nay có chất lượng thấp Thứ tư, các nhà cung ứng dịch vụ còn thiếu kỹ năng tiếp thị và không chuyển tải 1 cách có hiệu quả những lợi ích tiềm năng các dịch vụ kinh

Ngày đăng: 01/04/2023, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w