Sinh Viên Lương Minh Tuấn LỜI MỞ ĐẦU Vào cuối thế kỷ XX, sự phát triển và hoàn thiện của kỹ thuật số đã được áp dụng trước hết vào máy tính điện tử, tiếp đó sang các lĩnh vực khác (điện thoại di động,[.]
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Vào cuối thế kỷ XX, sự phát triển và hoàn thiện của kỹ thuật số đãđược áp dụng trước hết vào máy tính điện tử, tiếp đó sang các lĩnh vựckhác (điện thoại di động, thẻ tín dụng ) Số hoá và mạng hoá đã là tiền đềcho sự ra đời của nền kinh tế mới - nền kinh tế số (còn gọi là nền kinh tế trithức, nền kinh tế dựa trên tri thức, ) Việc mua bán hàng hóa và dịch vụthông qua các phương tiện điện tử, Internet và các mạng viễn thông khác đãxuất hiện, đó chính là “Thương mại điện tử” (TMĐT)
Thương mại Điện tử là toàn bộ chu trình và các hoạt động kinhdoanh liên quan đến các tổ chức hay cá nhân tiến hành hoạt động thươngmại có sử dụng các phương tiện điện tử và công nghệ xử lý thông tin sốhoá, bao gồm cả sản xuất, phân phối, marketing, mua – bán, giao hàng hoá
và dịch vụ bằng các phương tiện điện tử
Tuy mới xuất hiện và chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong thương mạisong TMĐT đã mang lại những lợi ích to lớn cho doanh nghiệp, chính phủ,người tiêu dùng và xã hội Thương mại điện tử đã vượt ra khỏi lĩnh vựcthương mại, ngày càng tác động đến các lĩnh vực khác và hứa hẹn mang lạinhững thay đổi to lớn và sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội loài người.Thương mại điện tử ngày càng được sự quan tâm của Chính phủ, Doanhnghiệp và người tiêu dùng và đang trở thành một công cụ hữu hiệu trongquá trình toàn cầu hoá và trong xây dựng nền kinh tế số Thât khó mà hìnhdung ra xã hội tương lai nếu không có TMĐT
Bên cạnh đó, TMĐT cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết đểkhai thác các lợi ích của TMĐT như vấn đề an toàn, an ninh cho các giaodịch trên mạng, các vấn đề về bảo vệ bí mật, tính riêng tư, các vấn đề vềCNTT và truyền thông, cơ sở hạ tầng, các vấn đề về nhân lực, chuyển đổi
Trang 2mô hình kinh doanh, các vấn đề về quản lý, thay đổi tập quán, thói quentrong kinh doanh…
Phát triển TMĐT đang là vấn đề đặt ra cho nước ta khi tham gia Tổchức thương mại thế giới WTO TMĐT vừa là cơ hội, vừa là công cụ hữuhiệu bảo đảm sự bình đẳng và bứt phá của Doanh nghiệp VN trong tiếntrình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 3Phần 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI VÀ
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1 Khái niệm cơ bản
công tác thương mại hay pháp lý sẽ hiểu nó tương đương với multilateral trade, còn thương mại song phương tương đương với bilateral trade, còn
khi nói về giao dịch buôn bán giữa hai thể nhân (hay pháp nhân) thì người
ta dùng cụm từ commerce Hiểu một cách nôm na thì Trade gắn với kháiniệm thương mại ở tầm vĩ mô, còn commerce gắn với khái niệm thươngmại ở tầm vi mô Ở tầm vĩ mô thì có thương mại song phương (giữa haichủ thể luật quốc tế) hay thương mại đa phương (giữa nhiều chủ thể luậtquốc tế), còn khi nói đến thương mại giữa hai thể nhân A và B hay haipháp nhân C và D hoặc giữa thể nhân A với pháp nhân C chẳng hạn thìkhông có khái niệm thương mại song phương mà nó chỉ là hành động(action) đúng với ý nghĩa của commerce
Các bài Commerce và Trade trong tiếng Anh viết khá đúng khi cho
rằng Commerce is the trading of something of value between two (legal) entities (tôi thêm từ legal), dịch nôm na là Thương mại là hoạt động mua bán những cái gì đó có giá trị giữa hai thực thể pháp lý (thương mại ở đây
Trang 4là tầm vi mô) và Trade is the voluntary exchange of goods, services, or both, dịch nôm na là Thương mại là sự trao đổi tự nguyện của hàng hóa, dịch vụ, hoặc cả hai (không nói gì đến là hai hay nhiều thực thể pháp lý và
nó là thương mại tầm vĩ mô)
Điều này rất quan trọng khi hội nhập quốc tế, do nếu hiểu sai mộtvăn bản có hiệu lực quốc tế thì ảnh hưởng của nó rất lớn Cho nên trong cáchiệp định hay công ước mà Việt Nam ký với các tổ chức quốc tế hay cácquốc gia khác về vấn đề thương mại bao giờ cũng phải giải thích thươngmại ở đây là tương đương với trade
1.2 Thương mại điện tử
1.2.1 Hiểu theo nghĩa hẹp
Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử chỉ đơn thuần bó hẹp thươngmại điện tử trong việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phươngtiện điện tử, nhất là qua Internet và các mạng liên thông khác
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet".
Theo Uỷ ban Thương mại điện tử của Tổ chức hợp tác kinh tế châu
Á-Thái Bình Dương (APEC), "Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số".
Trang 51.2.2 Hiểu theo nghĩa rộng
Thương mại điện tử là hình thức mua bán hàng hoá và dịch vụ thôngqua mạng máy tính toàn cầu Thương mại điện tử theo nghĩa rộng đượcđịnh nghĩa trong Luật mẫu về Thương mại điện tử của Uỷ ban Liên hợpquốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa:
"Thuật ngữ thương mại [commerce] cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng Các quan hệ mang tính thương mại [commercial] bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, uỷ thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn, kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ".
Theo Uỷ ban châu Âu: "Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử Nó dựa trên việc
xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh".
Thương mại điện tử trong định nghĩa này gồm nhiều hành vi trongđó: hoạt động mua bán hàng hoá; dịch vụ; giao nhận các nội dung kỹ thuật
số trên mạng; chuyển tiền điện tử; mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điệntử; đấu giá thương mại; hợp tác thiết kế; tài nguyên trên mạng; mua sắmcông cộng; tiếp thị trực tiếp với người tiêu dùng và các dịch vụ sau bánhàng; đối với thương mại hàng hoá (như hàng tiêu dùng, thiết bị y tếchuyên dụng) và thương mại dịch vụ (như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch
Trang 6vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khoẻ,giáo dục) và các hoạt động mới (như siêu thị ảo)
Ngày nay người ta hiểu khái niệm thương mại điện tử thông thường
là tất cả các phương pháp tiến hành kinh doanh và các quy trình quản trịthông qua các kênh điện tử mà trong đó Internet hay ít nhất là các kỹ thuật
và giao thức được sử dụng trong Internet đóng một vai trò cơ bản và côngnghệ thông tin được coi là điều kiện tiên quyết Một khía cạnh quan trọngkhác là không còn phải thay đổi phương tiện truyền thông, một đặc trưngcho việc tiến hành kinh doanh truyền thống Thêm vào đó là tác động củacon người vào quy trình kinh doanh được giảm xuống đến mức tối thiểu
Trong trường hợp này người ta gọi đó là Thẳng đến gia công (Straight Through Processing) Để làm được điều này đòi hỏi phải tích hợp rộng lớn
các các tính năng kinh doanh
Nếu liên kết các hệ thống ứng dụng từ các lãnh vực có tính năngkhác nhau hay liên kết vượt qua ranh giới của doanh nghiệp cho mục đíchnày thì đây là một lãnh vực ứng dụng truyền thống của tích hợp ứng dụng
doanh nghiệp Quản lý nội dung doanh nghiệp (Enterprise Content Management – ECM) được xem như là một trong những công nghệ cơ bản
cho kinh doanh điện Tử
1.3 Các đặc trưng của thương mại điện tử:
So với các hoạt động của thương mại truyền thống, thương mại điện
tử có một số điểm khác biệt cơ bản sau:
1.3.1 Các bên tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử không tiếp xúc với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước
Trong thương mại truyền thông, các bên thường gặp gỡ nhau trựctiếp để tiến hành giao dịch Các giao dịch được thực hiện chủ yếu theo
Trang 7nguyên tắc vật lý như chuyển tiền, séc, hoá đơn, gửi báo cáo Các phươngtiện viễn thông như fax, telex,… chỉ được sử dụng để trao đổi số liệu kinhdoanh Tuy nhiên, việc sử dụng các phương tiện điện tử trong thương mạitruyền thống chỉ để chuyển tải thông tin một cách trực tiếp giữa hai đối táccủa cùng một giao dịch
Thương mại điện tử cho phép mọi người cùng tham gia từ các vùng
xa xôi hẻo lánh đến những đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọi người ởkhắp mọi nơi đều có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịchtoàn cầu và không đòi hỏi nhất thiết phải có mối quen biết nhau
1.3.2: Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của khái niệm biên giới quốc gia, còn thương mại điện tử được thực hiện trong một môi trường không có biên giới ( thị trường thống nhất toàn cầu ) Thương mại điện tử trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu
Thương mại điện tử ngày càng phát triển, thì máy tính cá nhân trởthành cửa sổ cho doanh nghiệp hướng ra thị trường khắp thế giới Vớithương mại điện tử, một doanh nhân dù mới thành lập cũng có thể kinhdoanh tại Nhật Bản, Đức, Anh…., mà không phải bước ra khỏi nhà, mộtcông việc mà trước kia phải mất nhiều năm
1.3.3 Trong hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được là nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực
Trong Thương mại điện tử, ngoài các chủ thể tham gia quan hệ giaodịch giống như giao dịch thương mại truyền thống, đã xuất hiện một bênthứ 3, đó là nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực… lànhững người tạo môi trường cho các giao dịch thương mại điện tử Nhàcung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực có nhiệm vụ chuyển đi, lưugiữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử, đồng
Trang 8thời họ cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch thươngmại điện tử.
1.3.4 Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện trao đổi giữ liệu, còn đối với Thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin chính là thị trường
Thông qua thương mại điện tử, nhiều loại hình kinh doanh được hìnhthành Các trang web khá nổi tiếng như Yahoo!, America Online, hayGoogle đóng vai trò quan trọng cung cấp thông tin trên mạng, các trangweb này đã trở thành “khu chợ” khổng lồ trên internet Với mỗi lần kickchuột, khách hàng có thể vào hàng ngàn cửa hàng ảo khác nhau, và tỉ lệkhách hàng vào thăm rồi mua hàng là rất cao
Các chủ cửa hàng thông thường ngày nay cũng đua nhau đưa thông tinlên web để tiến tới khai thác mảng thị trường rộng lớn trên web bằng cách
để đảm bảo số người dung internet phải lớn
2.2 Hạ tầng pháp lý
Phải có luật về Thương mại điện tử, công nhận tính pháp lí của cácchứng từ điện tử, các hợp đồng điện tử kí qua mạng; phải có luật sở hữu trítuệ, bảo vệ sự riêng tư, bảo vệ người tiêu dùng để điều chỉnh các giaodịch qua mạng
Trang 92.3 Cơ sở thanh toán điện tử an toàn, bảo mật
Phải có cơ sở thanh toán điện tử an toàn, bảo mật Thanh toán điện tửqua thẻ, qua tiền điện tử, qua EDI Các ngân hàng phải triển khai hệ thốngthanh toán điện tử rộng khắp
2.4 Hệ thống an toàn bảo mật cho các giao dịch
Phải có hệ thống an toàn bảo mật cho các giao dịch, chống xâm nhậptrái phép, chống virus, chống thoái thác
Phải có hệ thống cơ sở chuyển phát hàng nhanh chóng, kịp thời vàtin cậy
3 Các loại hình giao dịch Thương mại điện tử
Trong thương mại điện tử có ba chủ thể tham gia:
Doanh nghiệp (B) giữ vai trò động lực phát triển thương mại điện tử Người tiêu dùng (C) Giữ vai trò quyết định sự thành công của
Thương mại điện tử
Chính phủ (G) Giữ vai trò định hướng, điều tiết, quản lí
Từ các mối quan hệ giữa các loại giao dich trên ta có các loại giao dịchthương mại điện tử:
Trang 10 Doanh nghiệp
o B2C (Business-To-Consumer) Doanh nghiệp với người tiêudùng
o B2B (Business-To-Business) Doanh nghiệp với doanh nghiệp
o B2G (Business-To-Government) Doanh nghiệp với chính phủ
o B2E (Business-To-Employee) Doanh nghiệp với nhân viên
sử dụng các loại giao dịch: Govement – to – Business (G2B) là mô hìnhTMĐT giữa doanh nghiệp với cơ quan chính phủ, Govement – to – citizens(G2C) là mô hình TMĐT giữa cơ quan chính phủ và công dân, gọi là chínhphủ điện tử, Consumer – to – Consumer (C2C) là mô hình TMĐT giữanhững người tiêu dùng và mobile commerce ( m – commerce) là TMĐTthực hiện qua điện thoại di động
4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển thương mại điện tử
4.1 Nghiên cứu thị trường thương mại điện tử
Nghiên cứu thị trường là việc thu thập thông tin về: kinh tế, côngnghiệp, công ty, sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối, xúc tiến thương mại,
Trang 11hành vi mua hàng của thị trường mục tiêu.
Mục đích nghiên cứu thị trường là tìm ra thông tin và kiến thức vềcác mối quan hệ giữa người tiêu dung, sản phẩm, phương pháp tiếp thị, vàcách tiếp thị Từ đó:
- Tìm ra cơ hội để tiếp thị
- Thiết lập kế hoạch tiếp thị
- Hiểu rõ quá trình đặt hàng
- Đánh giá được chất lượng tiếp thịKhi nghiên cứu thị trường, người ta phải phân khúc thị trường, tức làchia thị trường ra thành nhiều nhóm để tiến hành tiếp thị, quảng cáo và bánhàng Có thể sử dụng nhiều công cụ: điều tra, hỏi…
Nghiên cứu thị trường TMĐT online là công cụ mạnh để nghiên cứuhành vi của khách hàng, phát hiện ra thị trường mới và tìm ra lợi ích ngườitiêu dùng trong sản phẩm mới
Nghiên cứu thị trường trên internet có đặc trưng là khả năng tươngtác với khách hàng thông qua giao tiếp trực tuyến, làm cho hiểu rõ hơnkhách hàng, thị trường, và cạnh tranh Nó giúp:
- Xác định đặc điểm mua hàng của cá nhân và nhóm
- Tìm ra được các yếu tố khuyến khích mua hàng
- biết được thế nào là trang web tối ưu
- Khách hàng đi mua hàng ra sao
- Cách xác định người mua thật
- Xu hướng tiếp thị và sản phẩm mà thị trường cần
4.2 Kỹ năng marketing trực tuyến
Nhiều nhà marketing đặt ra những mục tiêu cụ thể hơn trong chiếnlược marketing trên mạng là sử dụng Internet thực hiện marketing trực tiếp.Internet tiết kiệm tối thiểu chi phí và đem lại hiệu quả lớn hơn nhiều so vớiphương pháp gửi quảng cáo bằng thư truyền thống: không tem, khôngphong bì, không tốn giấy và các chi phí khác Trên cơ sở dữ liệu về người
Trang 12tiêu dùng, nhà marketing có thể gửi hàng triệu e-mail bằng một lần nhấnchuột, hoặc có thể sử dụng chương trình tự động gửi e-mail cho từng nhómkhách hàng hoặc từng khách hàng những nội dung phù hợp với đặc điểmnhóm này
Bán hàng trên mạng: Người tiêu dùng có thể tìm thấy mọi thứ mìnhcần trên mạng từ chocolate đến ô-tô Amazon.com từng có doanh số bánsách 32 triệu USD trong năm đầu khai trương cửa hàng trên mạng
4.3 Vấn đề bảo mật an ninh mạng
Vấn đề bảo mật an ninh mạng là một trong những vấn đề nóng hổitrong hoạt động thực tiễn của thương mại điện tử Liệu khách hàng có tintưởng khi thực hiện các giao dịch trên mạng không? Và liệu những nhàcung cấp dịch vụ giao dịch trực tuyến cũng như các ISP có đảm bảo đượcnhững thông tin của khách hàng giao dịch trên mạng được an toàn không?
Các vấn đề an toàn bảo mật cơ bản đặt ra trong TMĐT:
Từ góc độ người sử dụng: Làm sao biết được web sever được sở hữu
bởi một doanh nghiệp hợp pháp? Làm sao biết trang web này không chứanhững nội dung hay mã chương trình nguy hiểm? Làm sao biết được Websever không lấy thông tin của mình cung cấp cho bên thứ 3?
Từ góc độ doanh nghiệp: Làm sao biết được người sử dụng không có
ý định thay đổi hay phá hoại nội dung của trang web hoặc webside? Làmsao biết được gián đoạn hoạt động của sever
Từ cả hai phía: Làm sao biết được không bị nghe trộm trên mạng?
Làm sao biết được thông tin từ máy chủ đến user không bị thay đổi
Một số khái niệm về an toàn bảo mật hay được dùng trong TMĐT:
Quyền được phép (Authorization): Quá trình đảm bảo cho người có
quyền này được truy cập vào một số tài nguyên của mạng
Xác thực (Authentication): Quá trình xác thực một thực thể xem họ
khai báo với cơ quan xác thực họ là ai
Trang 13Auditing: Quá trình thu thập thông tin về các ý đồ muốn truy cập vào
một tài nguyên nào đó trong mạng bằng cách sử dụng quyền ưu tiên và cáchành động ATBM khác
Sự riêng tư (Confidentiality/privacy): là bảo vệ thông tin mua bán
của người tiêu dung
Tính toàn vẹn: (Integrity): Khả năng bảo vệ dữ liệu không bị thay đổi Không thoái thác (Nonrepudiation): khả năng không thể từ chối các
giao dịch đã thực hiện
4.4. Vấn đề thanh toán trong thương mại điện tử
Theo đánh giá của các doanh nghiệp tham gia điều tra thì thanh toánđiện tử liên tục là trở ngại lớn thứ hai đối với sự phát triển của thương mạiđiện tử trong giai đoạn từ năm 2005 tới 2007 Vấn đề quan trọng của hệthống thương mại điện tử là có một cách nào đó đê người mua kick vàophím mua hàng và chấp nhận thanh toán Thực tế đang dung 3 cách thanhtoán bằng tiền mặt, séc, và thẻ tín dụng Các cơ chế tương tự cũng được sửdụng cho kinh doanh trực tuyến
5 Sự cần thiết phải phát triển thương mại điện tử
TMĐT giúp cho các Doanh nghiệp nắm được thông tin phongphú về thị trường và đối tác
TMĐT giúp giảm chi phí sản xuất
TMĐT giúp giảm chi phí bán hàng và tiếp thị
TMĐT qua INTERNET giúp người tiêu dùng và các doanhnghiệp giảm đáng kể thời gian và chí phí giao dịch
TMĐT tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệgiữa các thành phần tham gia vào quá trình thương mại
Tạo điều kiện sớm tiếp cận nền kinh tế số hoá
Trang 14Mục đích của một doanh nghiệp khi biến đổi đến thương mại điện
tử là giảm thiểu chi phí trong doanh nghiệp Các biện pháp nhằm để giảmthiểu chi phí trước tiên là bao gồm việc tối ưu hóa các quy trình kinh doanhđang tồn tại và thành lập các quy trình mới dựa trên nền tảng của các côngnghệ Internet Thông qua việc tích hợp này của các tính năng doanh nghiệpdọc theo chuỗi giá trị, việc tiến hành kinh doanh có hiệu quả cao hơn Cáclợi thế cho doanh nghiệp có thể là:
Khả năng giao tiếp mới với khách hàng
Khách hàng hài lòng hơn
Nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp
Khai thác các kênh bán hàng mới
Có thêm khách hàng mới
Tăng doanh thu
Tăng hiệu quả
Trang 15Phần 2.
THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CHO CÁC DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM
Thống kê số liệu phát triển internet Việt Nam và thế giới:
Thống kê số liệu phát triển Internet Việt Nam: Tính đến tháng 05 năm 2008
Tháng 05 năm Số người dùng % dân số sử dụng Số tên miền vn đã đăng ký
Trang 16Thống kê số liệu phát triển Internet Thế Giới:
% người dùng thế giới
Dân số 2008 (ước tính)
Tăng trưởng (2000 - 2008) United States 218.302.574 71,9 % 15,5 % 303.824.646 128,9 %
Trang 17Total World –
Users 1.407.724.920 21,1 % 100,0 % 6.676.120.288 290,0 %
Nguồn: Trung Tâm Internet Việt Nam
Trong bảng xếp hạng của Miniwatts Marketing Group, tính đến hết tháng 3 năm 2008, Việt Nam đứng thứ 17 trong top các quốc gia có nhiều người sử dụng Internet nhất thế giới Một điểm khá thú vị là Việt Nam có tốc độ tăng trưởng số người dùng internet nhanh số 1 thế giới (giai đoạn 2000-2008), tăng 9.561,5 %, gấp 7,8 lần so với quốc gia đứng thứ hai.
So với các quốc gia trong khu vực Châu Á, tính đến hết năm 2007,Việt Nam chúng ta hiện có số người sử dụng internet nhiều thứ năm, sauTrung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Indonexia Tuy nhiên, về thời gian truy cập internet, kể cả ở những nước vàvùng lãnh thổ đứng đầu về tiêu chí này ở Châu Á như Hongkong, HànQuốc, Singapore và Đài Loan cũng vẫn thấp hơn mức trung bình của thếgiới
Dưới mắt bạn bè thế giới, Việt Nam đang được đánh giá là nơi cótiềm năng cho phát triển TMĐT Tốc độ tăng trưởng sử dụng Internet caonhất trong khu vực ASEAN là: 123,4% và trên 19 triệu thuê bao Internet là
Trang 18thuận lợi cho sự phát triển TMĐT Tập đoàn IDG đánh giá về tăng trưởngthị trường CNTT Việt Nam đến năm 2008 đạt mức chi tiêu nằm trongtopten các nước tăng trưởng hàng đầu thế giới, với tỷ lệ tăng trưởng đạt16%
Thương mại điện tử Việt Nam đang khởi sắc Cách đây 5 năm,
TMĐT vẫn còn là một khái niệm khá mới mẻ đối với các doanh nghiệp
VN Nhưng đến bây giờ, bức tranh TMĐT VN hiện tại đã có rất nhiều thayđổi theo chiều hướng tích cực và đã thể hiện rõ qua những con số thống kêcủa Bộ Công Thương
Từ tháng 4 năm 2008, Bộ Công Thương đã hoàn thành báo cáo vềthương mại điện tử năm 2007 Bộ đã điều tra trên quy mô lớn về tình hìnhứng dụng thương mại điện tử của các doanh nghiệp trong nước và kết quảthu được khá khả quan
Thứ nhất, gần 40 % doanh nghiệp có doanh thu từ thương mại điện
tử, và mức doanh thu ấy chiếm 15% tổng doanh thu Đây là một con số rất
là đáng khích lệ cho thấy thương mại điện tử đã thực sự đem lại những cáilợi ích cụ thể cho các doanh nghiệp bằng những giá trị cụ thể Thứ hai, một nửa số doanh nghiệp cho biết đã đầu tư cho những ứngdụng thương mại điện tử trong đơn vị mình Hơn 60% doanh nghiệp tinrằng doanh thu của họ nhờ thương mại điện tử sẽ còn tăng hơn nữa trongthời gian tới chứng tỏ niềm tin và sự lạc quan của doanh nghiệp đối vớiviệc ứng dụng thương mại điện tử để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh.Nhằm tăng cường khả năng tiếp cận với thị trường, hơn 40% doanh nghiệp
đã lập website riêng và khoảng 15% doanh nghiệp có các hoạt động marketing
e-Vậy bằng những con số cụ thể, chúng ta có thể đưa ra một cái kếtluận là hiệu quả ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp rất là rõràng và cái xu hướng ấy ngày càng tăng Như vậy, có thể thấy rằng cácdoanh nghiệp bây giờ rất quan tâm tới việc ứng dụng thương mại điện tử,
Trang 19đặc biệt là trong cái bối cảnh kinh doanh hiện tại rất khó khăn và nhiều sựcạnh tranh
Phần lớn doanh nghiệp đã sử dụng thư điện tử: Năm 2007, có tới
86% doanh nghiệp sử dụng email thường xuyên trong giao dịch với đối tác
Đã xuất hiện một số doanh nghiệp sử dụng chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử(EDI) trong giao dịch
Số Webside tăng nhanh: Số doanh nghiệp có webside vào cuối năm
2004 ước tính vào khoảng 17.500, chiếm khoảng 19% tổng số doanhnghiệp và 35% số webside này đựơc thiết lập từ sau năm 2002 Trong 3năm 2005-2007, số doanh nghiệp đã xây dựng webside tăng mạnh, đưa tỉ lệdoanh nghiệp có webside lên 38% vào cuối năm 2007 Tỷ lệ webside tănggấp đôi trong vòng 3 năm cho thấy doanh nghiệp đã thực sự bước vào giaiđoạn phát triển khai thác các ứng dụng thực tế mà thương mại điện tử đemlại để cải tiến phương thức kinh doanh của mình
Tăng trưởng tên miền vn qua các năm
Thời điểm 12/2003 12/2004 12/2005 12/2006 12/2007Tổng số tên miền.vn được
đăng kí
5.478 9.307 14.345 34.924 60.604
(Nguồn: Thống kê của trung tâm internet Việt Nam www.vnnic.vn)
Doanh nghiệp tích cực tham gia các sàn TMĐT: Bên cạnh việc thiết
lập webside, việc tham gia các sàn TMĐT là một chỉ tiêu quan trọng phảnánh mức độ ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp trong bốicảnh nguồn nhân lực triển khai thương mại điện tử của doanh nghiệp còn ít
và nguồn tài chính khiêm tốn, tham gia các sàn TMĐT là một giải phápmang tính chiến lược và hiệu quả cao Năm 2007, đã có 10% các doanh
Trang 20nghiệp tham gia các sàn TMĐT của Việt Nam và nước ngoài với hơn mộtnửa số doanh nghiệp này tham gia nhiều hơn một sàn
Nhiều doanh nghiệp bắt đầu ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử trong quản trị doanh nghiệp: Kết quả khảo sát trình độ
ứng dụng CNTT và TMĐT trong quản lý doanh nghiệp cho thấy doanhnghiệp sử dụng các phần mềm quản trị hiện đại ngày càng tăng Bên cạnhphần mềm kế toán đã được phổ biến gần chục năm nay, hai phần mềmđang được sử dụng và đạt hiệu quả cao là phần mềm quản lý cơ sở dữ liệukhách hàng (31%) và phần mềm quản lý nguồn nhân lực doanh nghiệp(11%) Việc kết nối với các đối tác cũng bắt đầu được doanh nghiệp quantâm Năm 2007, 14% doanh nghiệp được khảo sát cho biết bước đầu có kếtnối để tiến hành trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) với đối tác kinh doanh Đây
là tiền đề phát triển phương thức thương mại điện tử B2Bi (giao dịch trựctuyến doanh nghiệp với doanh nghiệp trên quy mô lớn) trong tương lai
Xuất hiện nhiều doanh nghiệp kinh doanh TMĐT chuyên nghiệp:
Hình thức kinh doanh TMĐT phổ biến nhất của các doanh nghiệp hiện nay
là xây dựng và vận hành các sàn TMĐT theo các mô hình B2B, B2C, vàC2C Phần lớn các sàn này là do các doanh nhân trẻ, năng động, chấp nhậnmạo hiểm đầu tư kinh doanh với tính toán chưa có lãi trong những nămđầu, nhưng sẽ có lợi nhuận cao khi thị trường bùng nổ, đặc biệt là khi ViệtNam đã trở thành thành viên của WTO
Bắt đầu xuất hiện vào năm 2003, đến cuối năm 2007, Việt Nam cókhoảng 40 sàn thương mại điện tử B2B 70% các đơn vị quản lý sàn chưathu phí thành viên tham gia giao dịch, nguồn thu chủ yếu là hoạt độngquảng cáo trực tuyến, xúc tiến thương mại và dịch vụ ngoại tuyến cung cấpcho một số đối tác trọng điểm
Tính đến cuối năm 2007, Việt nam có khoảng 100 doanh nghiệpkinh doanh sàn B2C Trong khi một số sàn B2B do các tổ chức phi lợinhuận xây dựng và vận hành với mục đích hỗ trợ doanh nghiệp làm quen
Trang 21với thương mại điện tử thì hầu như tất cả những sàn B2C đều do các doanhnghiệp kinh doanh với mục tiêu thu lợi nhuận Phần lớn những sàn B2Cnày đều hoạt động theo dạng siêu thị điện tử, kinh doanh tổng hợp nhiềumặt hàng
Mô hình sàn thương mại điện tử B2C xuất hiện rầm rộ nhất trong hainăm 2004 và 2005 Năm 2006-2007, số lượng sàn tăng lên chậm hơnnhưng đi vào cải tiến chất lượng theo chiều sâu Mô hình C2C có sức lantoả cao, góp phần đưa ứng dụng thương mại điện tử tới người dân, tạo thóiquen mua bán hiện đại cho xã hội
1.1 Hiệu quả ứng dụng TMĐT tại các doanh nghiệp đã rõ ràng và
có xu hướng ngày càng tăng
Mảng sáng nhất trong năm 2007 là hiệu quả đầu tư cho thương mạiđiện tử khá cao và có xu hướng tiếp tục tăng Kết quả điều tra cho thấy trênmột phần ba doanh nghiệp có doanh thu nhờ các đơn đặt hàng qua phươngtiện điện tử ở mức 15% trở lên so với tổng doanh thu Nếu so sánh tỷ lệ nàyvới tỷ lệ tương ứng 8% của năm 2005 thì có thể thấy rõ các doanh nghiệp
đã thực sự quan tâm tới thương mại điện tử và đã biết cách biến những lợiích tiềm tàng của nó thành hiện thực Tín hiệu lạc quan nhất là có tới 63%doanh nghiệp tin tưởng rằng doanh thu có được từ các đơn đặt hàng sửdụng phương tiện điện tử sẽ tiếp tục tăng
Kết quả trên có mối tương quan mật thiết với tỷ trọng cũng như cơcấu đầu tư cho thương mại điện tử Một mặt, chi phí đầu tư cho thương mạiđiện tử tăng mạnh, năm 2007 có tới 50% số doanh nghiệp tham gia điều tra(cao gấp ba lần tỷ lệ 18% của năm 2005) cho biết đã dành trên 5% tổng chiphí hoạt động để đầu tư cho thương mại điện tử Mặt khác, cơ cấu đầu tưtrở nên hợp lý hơn với khoảng một nửa chi phí dành cho phần cứng và mộtphần năm dành cho đào tạo Cơ cấu đầu tư này cho thấy đã có sự chuyển