tập huấn về đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn ngữ văn
Trang 1TÀI LIỆU HỌC VIÊN
TẬP HUẤN VỀ ĐỔI MỚI PPDH và KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KQHT MÔN NGỮ VĂN
(Tháng 07 năm 2008) THỜI GIAN : Bạn có 3 ngày để hoàn thành nội dung tập huấn này
- Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về đổi mới kiểm tra đánh giá KQHT mônNgữ văn THCS: định hướng đổi mới, các hình thức đánh giá bằng quan sát, vấnđáp, viết, quy trình và cách thức ra đề kiểm tra
2 Kĩ năng:
- Vận dụng những vấn đề lí luận về PPDH vào thực tiễn dạy học môn Ngữ vănTHCS, biết phân tích, đánh giá một số tiết dạy học Ngữ văn, biết thiết kế vàthực hiện kế hoạch bài học theo định hướng đổi mới PPDH
- Vận dụng những vấn đề lí luận về KTĐG vào thực tiễn dạy học môn Ngữ vănTHCS, biết phân tích, tìm ra và sửa được lỗi của 1 đề kiểm tra, biết thiết kế cácloại đề kiểm tra theo định hướng đổi mới PPDH
- Hướng dẫn cán bộ cốt cán cấp tỉnh về nội dung, phương pháp tập huấn ở địaphương
- Tài liệu Đổi mới PPDH và Đổi mới ĐGKQHT môn Ngữ văn THCS,
- Máy vi tính, máy chiếu, projector
- Đĩa hình
- Giấy A0, A4, bút bi, bút dạ, keo dán
NỘI DUNG
Theo từng ngày
Trang 2Ngày thứ nhất, buổi 1 và 2
Một số vấn đề về đổi mới PPDH môn Ngữ văn
Nhiệm vụ HV:
- Chia sẻ những hiểu biết và kinh nghiệm về đổi mới PPDH môn Ngữ văn THCS.
- Vận dụng những hiểu biết và kinh nghiệm về đổi mới PPDH môn Ngữ văn THCS để làm bài tập theo yêu cầu và trình bày trước tập thể
Chuẩn bị:
- Tài liệu, sách giáo khoa, phiếu học tập, giấy A0, bút dạ
Hướng dẫn thực hiện:
- Mỗi cá nhân đọc phụ lục I.
- Viết lại những ý kiến của cá nhân vào một văn bản.
- Trao đổi kinh nghiệm của mình về những vấn đề trên với đồng nghiệp trong nhóm.
- Thống nhất những vấn đề trên thành 1 văn bản của nhóm và cử đại diện nhóm trình bày trước lớp để các nhóm khác cùng tham gia ý kiến.
- Tham khảo thông tin hỗ trợ cho hoạt động để tự đánh giá câu trả lời của mình và bạn
- Suy nghĩ và thảo luận với các đồng nghiệp theo những gợi ý trong phiếu học tập sau đây:
1 Vì sao phải đổi mới PPDH môn Ngữ văn THCS?
2 Tinh thần cơ bản của đổi mới PPDH trong dạy học môn Ngữ văn là gì?
3 Nêu những kinh nghiệm của anh chị khi vận dụng định hướng ĐMPPDH và PTDH trong dạy học môn Ngữ văn.
Trang 3- Xem băng hình giờ dạy Ca Huế trên sông Hương và thảo luận nhóm về giờ dạy đó.
- Vận dụng những hiểu biết và kinh nghiệm về đổi mới PPDH và phương tiện dạy học vào một giờ dạy văn cụ thể theo sách giáo khoa Ngữ văn THCS
- Thiết kế cùng nhóm 1 minh họa vận dụng đổi mới PPDH và phương tiện DH cho một giờ dạy cụ thể theo sách giáo khoa Ngữ văn THCS.
- Tham khảo thông tin hỗ trợ cho hoạt động để tự đánh giá câu trả lời của mình và bạn
- Hãy viết lại những ý kiến của cá nhân vào một văn bản theo những gợi ý trong phiếu học tập sau đây:
1 Nêu suy nghĩ cá nhân về băng hình vừa xem.
Trang 44 Nêu những kinh nghiệm vận dụng PT DH theo định hướng ĐM trong giờ học phân môn văn của anh chị
- Phiếu học tập, bài soạn và báo cáo thu hoạch của nhóm
Ngày thứ 2, buổi 3: Nhiệm vụ 1
sử dụng PPDH, PTDH và HTTC dạy học phân môn Tiếng Việt và Tập làm văn THCS
Trang 5- Thống nhất những vấn đề (theo yêu cầu của phiếu học tập) theo nhóm, viết lại những ý kiến của nhóm mình vào một văn bản và cử đại diện nhóm trình bày trước lớp để các nhóm khác cùng tham gia ý kiến.
- Thiết kế cùng nhóm 1 minh họa vận dụng đổi mới PPDH và phương tiện DH cho một giờ dạy cụ thể theo sách giáo khoa Ngữ văn THCS.
- Tham khảo thông tin hỗ trợ cho hoạt động để tự đánh giá câu trả lời của mình và bạn
- Hãy viết lại những ý kiến của cá nhân vào một văn bản theo những gợi ý trong phiếu học tập sau đây:
1 Nêu suy nghĩ cá nhân về băng hình vừa xem.
Trang 65 Nêu những kinh nghiệm vận dụng HTTC dạy học theo định hướng ĐM trong giờ học phân môn Tiếng Việt & Tập làm văn của anh chị
Thuận lợi
Khó khăn
Sản phẩm
- Phiếu học tập, bài soạn và báo cáo thu hoạch của nhóm
Ngày thứ hai, buổi 3: Nhiệm vụ 2
Thiết kế kế hoạch bài học Ngữ văn theo định hướng đổi mới PPDH
Nhiệm vụ học viên:
- Chia sẻ những hiểu biết và kinh nghiệm về thiết kế kế hoạch bài học theo định hướng
đổi mới PPDH môn Ngữ văn THCS.
- Vận dụng những hiểu biết và kinh nghiệm về đổi mới PPDH môn Ngữ văn THCS để
thiết kế kế hoạch bài học cho 1 giờ dạy cụ thể và trình bày trước tập thể
Chuẩn bị:
- Băng hình, Tài liệu, sách giáo khoa, phiếu học tập, giấy A0, bút dạ
Hướng dẫn thực hiện:
- Trao đổi kinh nghiệm của mình về những vấn đề trên với đồng nghiệp trong nhóm.
- Thống nhất những vấn đề (theo yêu cầu của phiếu học tập) theo nhóm, viết lại những ý kiến của nhóm mình vào một văn bảnvà cử đại diện nhóm trình bày trước lớp để các nhóm khác cùng tham gia ý kiến.
- Tham khảo thông tin hỗ trợ cho hoạt động 1 để tự đánh giá câu trả lời của mình và bạn
- Hãy viết lại những ý kiến của cá nhân vào một văn bản theo những gợi ý trong phiếu học tập sau đây:
1 Điều quan trọng nhất khi thiết kế kế hoạch bài học là gì?
2 Có cần phải trình bày phần mục tiêu bài học không? Nếu cần thì nên trình bày như
Trang 8Ngày thứ 2, buổi 4:
Chủ đề : đổi mới đánh giá môn Ngữ văn THCS
Nhiệm vụ 1:
Chia sẻ hiểu biết và kinh nghiệm về mục tiêu và thực trạng đổi mới đánh giá hiện nay Từ đó hiểu được những định hướng có tính nguyên tắc về đổi mới đánh giá trong môn Ngữ văn THCS, nội dung và cách thức đánh giá.
Chuẩn bị:
- Băng hình, Tài liệu, sách giáo khoa, phiếu học tập, giấy A0, bút dạ
Hướng dẫn thực hiện: - Học viên đọc tài liệu (Phụ lục 2, mục I, II, III, IV) - Làm việc theo nhóm: trao đổi để thống nhất những định hướng chung về đổi mới đánh giá trong môn học Ngữ văn - Trao đổi, thống nhất giữa các nhóm về những nội dung sau: 1 Phân biệt 1 số khái niệm: Đánh giá Kiểm tra Chuẩn dánh giá 2 Thực trạng đổi mới đánh giá hiện nay Những ưu điểm Những bất cập ………
………
……….
……….
………
………
3 Những định hướng có tính nguyên tắc về đổi mới đánh giá trong môn Ngữ văn THCS: Anh (chị) hãy điền tiếp vào ô trống bên phải để cụ thể hoá các nội dung của cột bên trái:
- Bám sát mục tiêu môn học
Trang 9- Dựa trên nguyên tắc tích hợp
- Phát huy tính tích cực của học sinh
- Coi trọng đánh giá toàn diện
- Đa dạng hoá các hình thức đánh giá
Trang 10Sản phẩm: Phiếu học tập cá nhân, bản A0 và báo cáo thu hoạch của nhóm.
Trang 11Ngày thứ 2 buổi 4:
Xây dựng quy trình thiết kế bộ công cụ đánh giá KQHT
môn Ngữ văn THCS Nhiệm vụ 2:
Chia sẻ hiểu biết và kinh nghiệm về quy trình ra đề kiểm tra môn học Ngữ văn THCS và những yêu cầu cụ thể của các bước thực hiện quy trình
Chuẩn bị:
- Băng hình, Tài liệu, sách giáo khoa, phiếu học tập, giấy A0, bút dạ
Hướng dẫn thực hiện:
HD1: Xây dựng thang đánh giá cho môn học
- Học viên đọc tài liệu (Phụ lục 2, mục V)
- Trao đổi nhóm và hoàn chỉnh bảng sau:
Thang đánh giá thành tích học tập môn học của học sinh
Trang 12HD 2: Xây dựng mục tiêu cần đánh giá của một học phần (kiểm tra 45 phút)
- Học viên đọc phụ lục để hiểu về cách xây dựng mục tiêu cho một đề kiểm tra
- Học viên đọc SGK Ngữ văn, làm việc theo nhóm rồi ghi vào giấy Ao theo mẫu sau:
HD3: Thiết kế ma trận đề kiểm tra
- Học viên đọc tài liệu để tìm hiểu về việc xây dựng ma trận.
- Học viên lập bảng hai chiều: Hàng ngang ghi lĩnh vực nội dung kiến thức kĩ năng cần kiểm tra, hàng dọc ghi mức độ yêu cầu kiểm tra, trong các ô ghi số lượng các câu hỏi (TN hay TL).
Vận dụng cao
Trang 13HD4: Cách viết câu hỏi TNKQ:
+ HV đọc tài liệu phần trình bày về các dạng câu hỏi TNKQ
+ Đại diện nhóm trình bày về cấu trúc của từng dạng câu hỏi TNKQ, phân tích ưu nhược điểm và phạm vi sử dụng của từng dạng trong đề kiểm tra
Trang 14- Học viên làm việc theo nhóm: xây dựng đề kiểm tra 45 phút hoặc học kì (90 phút)
- Mẫu trình bày một đề kiểm tra gồm 12 câu TNKQ và 2 câu TNTL như sau:
Họ và tên học sinh Kiểm tra môn ngữ văn
Lớp ( Thời gian làm bài : 45 phút, không kể thời gian giao đề)
Phần I Trắc nghiệm khách quan (3 điểm mỗi câu 0,25 điểm)
Khoanh tròn chữ cái đứng trước phương án trả lời em cho là đúng.
- HV thảo luận nhóm về đề kiểm tra Trình bày trên giấy khổ lớn bài kiểm tra của
nhóm mình để giới thiệu với lớp.
- Xây dựng đáp án, biểu điểm
- Thảo luận trên lớp về một số đề kiểm tra.
- Thống nhất, kết luận
Sản phẩm
Phiếu học tập cá nhân, bản A0 và báo cáo thu hoạch của nhóm.
Ngày thứ 3 buổi 6: Hướng dẫn triển khai tập huấn tại địa phương.
Trang 15PPDH theo định nghĩa của Từ điển bách khoa Việt Nam (Nxb Từ điển Bách
khoa, HN, 2003) là "cách thức hợp tác của thầy và trò, trong đó thầy truyền đạt tri thức, kĩ năng, thái độ, thầy điều khiển việc học của trò; trò tiếp thu và điều khiển sự học tập của bản thân, học những điều được truyền thụ để phát triển nhân cách PPDH bao gồm PP dạy và PP học Hai PP này trong suốt quá trình dạy học luôn luôn có quan
hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau Dạy và học là một hoạt động mang tính sáng tạo, đa dạng và linh hoạt, nên không thể có PPDH vạn năng, cứng nhắc đơn điệu áp đặt PPDH luôn luôn biến đổi và tuân theo quy luật về sự thống nhất của mục đích, nội dung, PP và phù hợp với đối tượng.” (tr 514 – 515) Đây là định nghĩa khái quát nhất
và được nhiều người chấp nhận nhất về PPDH Tuy nhiên, tính phức tạp của PPDH không nằm ở cách hiểu chung nhất về khái niệm này mà là ở những biểu hiện cụ thể của PPDH trong thực tiễn dạy học và trong chính việc việc sử dụng khái niệm PPDH.
Thí dụ: Sự phân biệt giữa PPDH với các thuật ngữ gần gũi như: PP giáo dục, giải pháp dạy học, phương hướng/định hướng/đường hướng dạy học, nguyên tắc dạy học;
Sự cụ thể hóa PPDH trên các bình diện: quan điểm dạy học, PP dạy học, Kĩ thuật dạy học; Sự nhìn nhận PPDH theo các cấp độ: PP luận dạy học, PP dạy (teaching method)
và PP học (learning method), PP dạy và học bộ môn, PP dạy và học phân môn
Một phương diện khác làm nên sự phức tạp của PPDH chính là tiêu chí để phân loại PPDH Hiện có rất nhiều hệ thống phân loại PPDH khác nhau dựa trên những tiêu chí khác nhau:
- Dựa trên nguồn thông tin có: các PP dùng lời (giảng giải, thuyết trình, đàm thoại, vấn đáp, thảo luận nhóm ), các PP dạy học trực quan (biểu diễn, quan sát, trình bày trực quan, nghe – nhìn ), các PP dạy học thực hành (làm thí nghiệm, luyện tập – mô phỏng, trò chơi đóng vai, thăm quan )…
- Dựa trên tính chất hoạt động nhận thức có các PP: thông báo-tái hiện, các PP tìm tòi khám phá, các PP giải quyết vấn đề, nghiên cứu,
- Dựa trên mục đích dạy học có các PP: nhập đề, PP trình bày tài liệu mới, PP củng cố,
ôn tập, PP đánh giá
- Dựa trên hoạt động của thầy và trò, có thể nêu lên một số PP tiêu biểu: PP phát vấn (đàm thoại - Questioning), PP diễn giảng (cắt nghĩa - Explaining), PP làm theo mẫu (modeling), PP hợp tác (làm việc nhóm- Collaborating), PP thuyết minh (Demonstrating), PP "học bằng dạy" (Learning by teaching)…
Những nội dung vừa nêu tuy chưa nhiều nhưng cũng đủ thấy tính chất phức tạp của vấn đề PPDH.
Theo chúng tôi, từ định nghĩa của Từ điển bách khoa nêu trên có thể hiểu:
Trang 16- PPDH là tổ hợp các cách thức hoạt động của GV và HS ở những cấp độ khác nhau trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của GV, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học và đạt được mục tiêu dạy học đã đề ra
- PPDH có tác dụng tích cực trong việc góp phần thúc đẩy quá trình nhận thức và hành động của HS Dưới tác động tổng hợp của những cách thức hoạt động của GV và của
HS, quá trình dạy học sẽ hoàn thành được các nhiệm vụ dạy học là: Trang bị cho HS
hệ thống những tri thức khoa học, phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước và hình thành hệ thống kỹ năng cần thiết cho việc học tập và phát triển trong tương lai; Phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho HS; Hình thành phẩm chất đạo đức công dân và kỹ năng sống trong cộng đồng của HS.
- Từ góc độ xem xét tác động của PPDH đối với quá trình dạy học, có thể khái quát hàm nghĩa của PPDH ở ba cấp độ chính như sau :
Thứ nhất, PPDH là một hệ thống các nguyên tắc chủ yếu nêu lên phương hướng
xác định mục đích, yêu cầu, nội dung và cách thức dạy học trong những điều kiện cụ thể để đạt được mục đích đã đề ra
Thứ hai, PPDH là cách thức tổ chức hoạt động dạy học nhằm thực hiện các mục
tiêu của môn học
Thứ ba, PPDH là những thủ pháp hay thủ thuật, kỹ thuật tiến hành hoạt động dạy
học nhằm giải quyết nhiệm vụ cụ thể trong quá trình dạy học môn học.
- Theo thực tiễn dạy học, có thể sắp xếp các PPDH thường dùng trong nhà trường phổ thông thành ba nhóm chủ yếu như sau:
(1) Nhóm các PP dùng lời: giảng giải, thuyết trình, đàm thoại, vấn đáp, thảo
- Các nghiên cứu cho thấy mỗi cá nhân có một năng lực sử lý thông tin khác nhau, một
kiểu tư duy và học tập khác nhau, do đó không có một PPDH nào phù hợp với mọi
HS Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học, GV cần phải biết lựa chọn, vận dụng
PP dạy học ở các cấp độ nói trên một cách hợp lý, đúng lúc, phù hợp với đối tượng
HS, với nội dung dạy học và điều kiện dạy học cụ thể.
1.2 Đổi mới PPDH
Tổng hợp các công trình nghiên cứu trong những năm gần đây về đổi mới PPDH, nhóm nghiên cứu quan niệm: “Nội dung và cũng là mục đích của việc đổi mới PP dạy học ở trường phổ thông là tích cực hoá hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS; là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học tương tác; nhằm giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng PP tự học, năng lực hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; có tình cảm nhân văn và niềm vui, hứng thú trong học tập.” (Đổi mới PPDH ở trường phổ thông,
Trang 17Đổi mới PPDH là một định hướng dạy học được đề xuất trong giai đoạn dạy học hiện
tại căn cứ vào những đổi mới của mục tiêu và nội dung giáo dục trong nhà trường Mỗi định hướng dạy học sẽ lựa chọn một số PPDH phù hợp theo yêu cầu đổi mới giáodục phổ thông nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nhân lực cho đất nước trong giaiđoạn những năm đầu thế kỉ 21 Quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục đã được thểhiện rõ trong các văn bản pháp quy của Nhà nước như: Chỉ thị 30/1998/CT-TTg, Chỉ thị 14/2001/CT-TTgcủa Thủ tướng chính phủ, Nghị quyết40/2000/QH10 của Quốc Hội, Chiến lược phát triển giáo dục và Luật giáodục( sửa đổi năm 2005)
Việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục trong đó có giáo dụcphổ thông đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp,phương tiện dạy học đến cách thức đánh giá kết quả dạy học, trong đó khâu độtphá là đổi mới PPDH Những định hướng chung về đổi mới giáo dục và đặcbiệt PPDH đã được cụ thể hoá trong định hướng xây dựng chương trình và biênsoạn sách giáo khoa cho các cấp giáo dục phổ thông nói chung, giáo dục THCS
nói riêng Định hướng đó là: “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho người học”.
Có thể nói cốt lõi của đổi mới PPDH ở các nhà trường hiện nay là đổi mới
cả hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học Cụ thể là:
- Thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều chủ yếu là bắt người học ghinhớ kiến thức để đối phó với thi cử sang lối dạy học tích cực có sự giúp đỡ,hưỡng dẫn, tổ chức của người dạy nhằm giúp người học phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thầnhợp tác, có niềm vui, hứng thú trong học tập
- Chuyển từ hình thức dạy học đồng loạt cả lớp đối diện với người dạysang tổ chức dạy học theo các hình thức tương tác: học cá nhân, học theonhóm…
- Linh hoạt và đa dạng trong vận dụng các hình thức tổ chức dạy học,PPDH , phương tiện dạy học, hình thức đánh giá làm cho việc học trở nênsinh động, lí thú, tránh nhàm chán, đơn điệu, có thể khắc phục điểm yếu, pháthuy điểm mạnh của những đối tượng người học khác nhau
- Làm cho việc học gắn với môi trường thực tế, gắn với kinh nghiệm sốngcủa cá nhân người học, tạo điều kiện cho người học có kĩ năng vận dụng kiến
Trang 18thức đã học vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễncuộc sống.
Đổi mới PPDH không phải là sử dụng PPDH mới hay thay thế các PPDH
truyền thống đã có bằng các PPDH hiện đại mà là đổi mới tính chất và nội dung hoạt động dạy của GV, học của HS; chuyển từ thói quen dạy học truyền thụ một chiều, thói
quen học tập thụ động chủ yếu là ghi nhớ kiến thức để đối phó với thi cử sang lối dạy học tích cực, chủ động, sáng tạo; chú trọng tới việc thay đổi cách thức, PP học tập của
HS dưới sự hướng dẫn, tổ chức của GV, giúp HS hình thành năng lực tự học (học tập tích cực, chủ động, sáng tạo), bồi dưỡng PP tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống; chú trọng đa dạng hóa các HTTCDH làm cho việc học trở nên sinh động, lí thú, hiệu quả, gắn với thực tiễn và dựa trên kinh nghiệm của HS Những gì mà HS nghĩ được, làm được, nói được GV không làm thay mà GV phải là người tạo ra những cơ hội để HS được suy nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn, nói nhiều hơn
Đổi mới PPDH cũng không phải là chỉ sử dụng những PPDH hoàn toàn mới lạ hay
chỉ đề cập đến việc vận dụng một vài PPDH nào đó, mà là hoàn thiện và phát triển thế mạnh của các PPDH truyền thống, tiếp thu và vận dụng có chọn lọc các PPDH hiện đại trên cơ sở tăng cường sử dụng các PTDH và đa dạng hóa các HTTCDH
Đổi mới PPDH có thể diễn ra liên tục, thường xuyên khi có sự chuyển hướng mạnh mẽ trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của GV và HS; có sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa HS với HS, giữa GV với HS trong các hoạt động dạy học; có sự đổi mới
tổ chức lao động của từng GV, của từng HS và của các nhóm HS với những hỗ trợ tích cực của các điều kiện dạy học trong nhà trường
Theo định hướng đổi mới PPDH, hoạt động dạy của GV và học của HS đã có những thay đổi cụ thể như sau:
- Biết phát triển nội dung dạy học dựa
trên những kinh nghiệm, kiến thức đã
có của HS
- Đưa ra những lời hướng dẫn hoạt động
học của HS một cách rõ ràng
- Tạo ra một môi trường học tập công
bằng, hấp dẫn mọi đối tượng HS
- Được thực hiện nhiều hoạt động phong phú, có hứng thú.
- Tự giác, tích cực tham gia các hoạt động học tập
- Biến những điều được học tập thành kiến thức, kĩ năng của bản thân.
Trang 19Đổi mới PPDH Ngữ văn không nằm ngoài những định hướng đổi mới nóitrên.
I Định hướng đổi mới PPDH ở trường phổ thông
ở phổ thông, đổi mới PPDH được quy định rõ ở điều 28, khoản 2, Luật
Giáo dục 2005 "phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặcđiểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS" Đây chính là cơ sở pháp lí của yêu cầu đổi mới PPDH ở trường phổ thông.
Yêu cầu này, một lần nữa được khẳng định trong Chương trình Giáo dục phổthông (ban hành ngày 5- 5 - 2006 theo Quyết định 16/QĐ - Bộ GDĐT) PPDH ở
trường phổ thông "phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo
của HS; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng HS, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tư tưởng, tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm hoc tập cho HS".
Việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông với mục tiêu
"giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ
từ nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học đến cách thức đánh giá kết quảdạy học, trong đó khâu đột phá là đổi mới PPDH Mục đích của việc đổi mớiPPDH ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạyhọc nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, cóthói quen và khả năng tự học, có tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thứcvào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; có niềm vui,hứng thú trong học tập
Đổi mới PPDH ở trường phổ thông nên được thực hiện theo cácđịnh hướng sau:
1 Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông
2 Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể
3 Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh
4 Phù hợp với cơ sở vật chất, các điều kiện dạy học của nhà trường
5 Phù hợp với việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả dạy- học
6 Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả cácPPDH tiên tiến, hiện đại với việc khai thác những yếu tố tích cực của các PPDHtruyền thống
Trang 207 Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học và đặc biệt lưu ý đếnnhững ứng dụng của công nghệ thông tin.
II Yêu cầu đổi mới PPDH ở trường phổ thông
1 Yêu cầu chung
Việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông nên được thực hiện theo các yêucầu sau:
- Dạy học tiến hành thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập của họcsinh
- Dạy học kết hợp giữa học tập cá thể với học tập hợp tác; giữa hình thứchọc cá nhân với hình thức học theo nhóm, theo lớp
- Dạy học thể hiện mối quan hệ tích cực giữa giáo viên và học sinh, giữahọc sinh với học sinh
- Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng, tăng cường thực hành vàgắn nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống
- Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tựhọc, tự nghiên cứu; bồi dưỡng hứng thú, nhu cầu hành động và thái độ tự tintrong học tập cho học sinh
- Dạy học chú trọng đến việc sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy họcđược cung cấp theo danh mục và các thiết bị do giáo viên tự làm, đặc biệt lưu ýđến những ứng dụng của công nghệ thông tin
2 Yêu cầu đối với học sinh
- Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khámphá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúngđắn
- Mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân; tích cực thảoluận, tranh luận, đặt câu hỏi cho bản thân, cho thày, cho bạn; biết tự đánh giá vàđánh giá các ý kiến, quan điểm, các sản phẩm hoạt động học tập của bản thân vàbạn bè
- Tích cực sử dụng thiết bị, đồ dùng học tập; thực hành thí nghiệm; thựchành vận dụng kiến thức đã học để phân tích, đánh giá, giải quyết các tìnhhuống và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn; xây dựng và thực hiện các kế hoạch họctập phù hợp với khả năng và điều kiện
3 Yêu cầu đối với giáo viên
- Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tậpvới các hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bàihọc, với đặc điểm và trình độ học sinh, với điều kiện cụ thể của lớp, trường vàđịa phương
- Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh đượctham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh
Trang 21hội kiến thức; chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của họcsinh; bồi dưỡng hứng thú, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập chohọc sinh; giúp các em phát triển tối đa tiềm năng của bản thân.
- Thiết kế và hướng dẫn học sinh thực hiện các dạng bài tập phát triển tưduy và rèn luyện kĩ năng; hướng dẫn sử dụng các thiết bị, đồ dùng học tập; tổchức có hiệu quả các giờ thực hành; hướng dẫn học sinh có thói quen vận dụngkiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn;
- Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lí,hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học; nội dung, tínhchất của bài học; đặc điểm và trình độ HS; thời lượng dạy học và các điều kiệndạy học cụ thể của trường, địa phương
4 Yêu cầu đối với cán bộ quản lí giáo dục
- Nắm vững chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông thể hiện ở chươngtrình, sách giáo khoa, PPDH , sử dụng phương tiện, hình thức tổ chức dạy học
và đánh giá kết quả giáo dục
- Có biện pháp chỉ đạo đổi mới PPDH trong nhà trường một cách hiệuquả; thường xuyên tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá các hoạt động dạy vàhọc theo định hướng đổi mới PPDH
- Tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên thực hiện đổi mới PPDH
III Quy trình chuẩn bị & thực hiện một giờ học theo định hướng ĐMPPDH
1 Thiết kế kế hoạch bài học
Thiết kế kế hoạch bài học là xây dựng kế hoạch dạy học cho một bài học
cụ thể, thể hiện mối quan hệ tương tác giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinhvới học sinh nhằm giúp học sinh đạt được những mục tiêu của bài học
a Các bước thiết kế một kế hoạch bài học
- Bước 1: Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức kĩ năng và
yêu cầu về thái độ trong chương trình
Bước này được đặt ra bởi việc xác định mục tiêu của bài học là một khâu rấtquan trọng đóng vai trò thứ nhất không thể thiếu của mỗi kế hoạch bài học Mụctiêu (yêu cầu) vừa là cái đích hướng tới, vừa là yêu cầu cần đạt của giờ học haynói khác đi đó là thước đo kết quả quá trình dạy học Nó giúp GV xác định rõcác nhiệm vụ sẽ phải làm (dẫn dắt HS tìm hiểu, vận dụng những KTKN nào;phạm vi, mức độ đến đâu; qua đó giáo dục cho HS những bài học gì)
- Bước 2: Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để:
+ Hiểu chính xác, đầy đủ những nội dung của bài học
+ Xác định những kiến thức, kĩ năng, thái độ cơ bản cần hình thành vàphát triển ở học sinh
+ Xác định trình tự lô gic của bài học
Trang 22Bước này được đặt ra bởi nội dung bài học ngoài phần được trình bàytrong SGK còn có thể đã được trình bày trong các tài liệu khác Kinh nghiệmcủa các GV lâu năm cho thấy trước hết nên đọc kỹ nội dung bài học và hướngdẫn tìm hiểu bài trong SGK để hiểu, đánh giá đúng nội dung bài học rồi mớichọn đọc thêm tư liệu để hiểu sâu, hiểu rộng nội dung bài học Mỗi GV khôngchỉ có kỹ năng tìm đúng, tìm trúng tư liệu cần đọc cho mình mà cần có kỹ năngđịnh hướng cách chọn, đọc tư liệu cho HS Nên chọn những tư liệu đã qua thẩmđịnh, được đông đảo các nhà chuyên môn và giáo viên tin cậy Việc đọc SGK,tài liệu phục vụ cho việc soạn kế hoạch bài học có thể chia thành 3 cấp độ sau:Đọc lướt để tìm nội dung chính xác định những KTKN cơ bản, trọng tâm mức
độ yêu cầu và phạm vi cần đạt; Đọc để tìm những thông tin quan tâm: các mạch,
sự bố cục, trình bày các mạch KTKN và dụng ý của tác giả; Đọc để phát hiện vàphân tích, đánh giá các chi tiết trong từng mạch KTKN
Thực ra khâu khó nhất trong đọc SGK và các tư liệu là đúc kết được phạm
vi, mức độ kiến thức, kỹ năng (KTKN) của từng bài học sao cho phù hợp vớinăng lực của HS và điều kiện dạy học Trong thực tế dạy học nhiều khi chúng tathường đi chưa tới hoặc đi quá những yêu cầu cần đạt về KTKN Nếu nắm vữngnội dung bài học, GVsẽ phác họa những nội dung và trình tự nội dung của bàigiảng cho phù hợp, thậm chí có thể cải tiến cách trình bày các mạch KTKN củaSGK, xây dựng một hệ thống câu hỏi, bài tập giúp HS nhận thức, khám phá, vậndụng các KTKN trong bài một cách thích hợp
- Bước 3: Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của học sinh:
+ Xác định những kiến thức, kĩ năng mà học sinh đã có và cần có
+ Dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các
phương án giải quyết
Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới PPDH,
GV không những phải nắm vững nội dung bài học mà còn phải hiểu HS để lựachọn PPDH, PTDH, các hình thức tổ chức dạy học và đánh giá cho phù hợp.Như vậy trước khi soạn thảo một kế hoạch bài học cho giờ học mới, GV phảilường trước các tình huống, các cách giải quyết nhiệm vụ học tập của HS Haynói khác đi tính khả thi của kế hoạch bài học phụ thuộc vào trình độ, năng lực
học tập (thực lực) của HS, được xuất phát từ : những KTKN mà HS đã có một
cách chắc chắn, vững bền; Những KTKN mà HS chưa có hoặc có thể quên;
Những khó khăn có thể nảy sinh trong quá trình học tập của HS Tất nhiên bản
chất của bước này chỉ là sự dự kiến Trong thực tiễn có nhiều giờ học do không
dự kiến trước, GV đã lúng túng trước những ý kiến không đồng nhất của HS vớinhững biểu hiện rất đa dạng Do vậy, dù mất công nhưng mỗi GV nên dành thờigian để xem qua bài soạn của HS trước giờ học kết hợp với kiểm tra đánh giá
Trang 23thường xuyên để có thể dự kiến trước khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thứccũng như phát huy tích cực vốn KTKN đã có của HS.
- Bước 4: Lựa chọn PPDH , phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và
cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp học sinh học tập tích cực, chủ động,sáng tạo
Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới PPDH,
người GV phải quan tâm tới việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sángtạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụngkiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tácđộng đến tư tưởng và tình cảm để đem lại niềm vui, hứng thú trong học tập chohọc sinh Trong thực tiễn dạy học hiện nay, các GV vẫn quen với lối dạy họcđồng loạt với những nhiệm vụ học tập không có tính phân hoá, ít chú ý tới nănglực học tập của từng đối tượng HS Đổi mới PPDH sẽ chú trọng cải tiến thựctiễn này, phát huy thế mạnh tổng hợp của các PPDH, PTDH, hình thức tổ chứcdạy học và cách thức đánh giá nhằm tăng cường sự tích cực học tập của các đốitượng HS trong giờ học
- Bước 5: Thiết kế kế hoạch bài học: thiết kế nội dung, nhiệm vụ, cách thức hoạt
động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy của giáo viên và hoạtđộng học tập của học sinh
Trong thực tế, có nhiều giáo viên khi thiết kế kế hoạch bài học thường chỉđọc sách giáo khoa, sách giáo viên và bắt tay ngay vào hoạt động thiết kế kếhoạch bài học, thậm chí, có giáo viên chỉ căn cứ vào những gợi y của sách giáoviên để thiết kế kế hoạch bài học bỏ qua các khâu xác định mục tiêu bài học, xácđịnh khả năng đáp ứng nhiệm vụ học tập của học sinh, nghên cứu nội dung dạyhọc, lựa chọn các PPDH , phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học vàcách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp học sinh học tập tích cực, chủ động,sáng tạo Cách làm như vậy không thể giúp người GV có thể có được một kếhoạch bài học tốt và có những điều kiện để thực hiện một giờ dạy học tốt Vềnguyên tắc, cần phải thực hiện qua các bước 1, 2, 3, 4 trên đây rồi hãy bắt tayvào soạn kế hoạch bài học cụ thể
b Cấu trúc của một kế hoạch bài học được thể hiện ở các nội dung sau:
- Mục tiêu bài học:
+ Nêu rõ yêu cầu học sinh cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ
+ Các mục tiêu được biểu đạt bằng động từ cụ thể, có thể lượng hoá được
- Chuẩn bị về phương pháp và phương tiện dạy học
+ Giáo viên chuẩn bị các thiết bị dạy học (tranh ảnh, mô hình, hiện vật,hoá chất ), các phương tiện và tài liệu dạy học cần thiết
Trang 24+ Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài học (soạn bài, làm bài tập,chuẩn bị tài liệu và đồ dùng học tập cần thiết)
- Tổ chức các hoạt động dạy học:
Trình bày rõ cách thức triển khai các hoạt động dạy- học cụ thể Với mỗihoạt động cần chỉ rõ:
+ Tên hoạt động
+ Mục tiêu của hoạt động
+ Cách tiến hành hoạt động của GV và HS
+ Thời lượng để GV, HS thực hiện hoạt động
+ Kết luận của giáo viên về: những kiến thức, kĩ năng, thái độ học sinhcần có sau hoạt động; những tình huống thực tiễn có thể vận dụng kiến thức, kĩnăng, thái độ đã học để giải quyết; những sai sót thường gặp; những hậu quả cóthể xảy ra nếu không có cách giải quyết phù hợp;
- Hướng dẫn các hoạt động tiếp nối: xác định những việc học sinh cần phải tiếp
tục thực hiện sau giờ học để củng cố, khắc sâu, mở rộng bài cũ hoặc để chuẩn bịcho việc học bài mới
2 Thực hiện giờ dạy học
Một giờ dạy học theo định hướng đổi mới PPDH về cơ bản vẫn được thựchiện theo các bước cơ bản sau:
a Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh (có thể thực hiện đầu giờ học hoặc có
thể đan xen trong quá trình dạy bài mới)
- Kiểm tra tình hình nắm vững bài học cũ
- Kiểm tra tình hình chuẩn bị bài mới (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tàiliệu và đồ dùng học tập cần thiết))
b Tổ chức dạy và học bài mới
- Giáo viên giới thiệu bài mới: nêu nhiệm vụ học tập và cách thức thực hiện
để đạt được mục tiêu bài học; tạo động cơ học tập cho học sinh
- Giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh suy nghĩ, tìm hiểu, khám phá vàlĩnh hội nội dung bài học, nhằm đạt được mục tiêu bài học với sự vận dụngPPDH phù hợp
c Luyện tập, củng cố
Giáo viên hướng dẫn học sinh củng cố, khắc sâu những kiến thức, kĩ năng,thái độ đã có thông qua hoạt động thực hành luyện tập có tính tổng hợp, nângcao theo những hình thức khác nhau
d Đánh giá
Trang 25- Trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu bài học, giáo viên dự kiến một số câu
hỏi, bài tập và tổ chức cho học sinh tự đánh giá về kết quả học tập của bản thân
và của bạn
- Giáo viên đánh giá, tổng kết về kết quả giờ học
e Hướng dẫn hoạt động tiếp nối của học sinh( học bài, làm việc ở nhà)
- Giáo viên hướng dẫn học sinh luyện tập, củng cố bài cũ (thông qua làmbài tập, thực hành, thí nghiệm,…)
- Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài học mới
L
ư u ý : Tùy theo đặc trưng môn học, nội dung dạy học, đặc điểm và trình
độ học sinh, điều kiện cơ sở vật chất… giáo viên có thể vận dụng các bước thực hiện một giờ dạy học như trên một cách linh hoạt và sáng tạo, tránh đơn điệu, cứng nhắc.
Trong thực tế dạy học, có một hệ quả nhiều người cùng thừa nhận là khôngphải cứ có nhiều thâm niên trong nghề là có thể được một giờ dạy học tốt, khôngphải là hễ đã là giáo viên dạy giỏi thì giờ nào cũng dạy tốt, không phải có điềukiện dạy học thuận lợi (đầy đủ, hiện đại) thì có giờ dạy học tốt Sự thành côngcủa một giờ dạy theo định hướng đổi mới PPDH phụ thuộc vào rất nhiều yêú tốtrong đó quan trọng nhất là sự chủ động, linh hoạt, sáng tạo của cả người dạy và
cả người học Dù ở điều kiện và hoàn cảnh nào, sự chuẩn bị chu đáo đều đem lạinhững giờ học có hiệu quả, bổ ích và hứng thú đối với cả người dạy, người học
Đổi mới PPDH gắn với đổi mới đồng bộ các thành tố của quá trình dạy học
Để đổi mới thành công PPDH, cần phải đổi mới một cách toàn diện, đồng bộ các thành tố, các bộ phận cấu thành của quá trình dạy học Sự đổi mới cần bắt đầu ở việc lập kế hoạch, thiết kế và triển khai kế hoạch bài học ở trên lớp đến vận dụng linh hoạt, sáng tạo các PPDH , đa dạng hoá các phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy và cuối cùng là đánh giá kết quả dạy học Tham khảo bảng so sánh:
Dạy học theo truyền thống Dạy học theo định hướng đổi mới
rõ trong bản thiết kế bài học
Thiết kế kế hoạch bài học theo hướng tích cực hoá hoạt động của cả người dạy
và người học, chú trọng tới mối quan hệ
giữa các yếu tố: mục tiêu bài học, năng lựcngười học và các điều kiện, phương tiệndạy học hỗ trợ, các quá trình dạy học, và
chất lượng đầu ra của người học
Tổ chức dạy học theo hướng: Tổ chức dạy học theo hướng:
Trang 26- Học tập trong lớp là chủ yếu
- Dạy học theo kiểu liệt kê mô tả
và giải thích- minh họa (GVthông báo, HV tiếp nhận, tái hiệnkiến thức)
- Phát triển dạy học phân hoá (gắn vớihoạt động học tập độc lập của từng đốitượng người học)
- Phát triển hình thức học trong lớp vàngoài lớp
- Tăng cường dạy học hợp tác và tươngtác (làm việc nhóm, thảo luận, dự án,đóng vai), dạy học kiến tạo (dạy học nêu
và giải quyết vấn đề, tự nghiên cứu…)
Đổi mới
kiểm tra,
đánh giá
- Hình thức và phương thức kiểm tra đơn điệu:
+ Chủ yếu là tự luận, trắcnghiệm khách quan và các loạihình thức đánh giá khác rất ít khiđược sử dụng
+ Người dạy độc quyền đánh giá
+ Chú trọng kiến thức bỏ quathực hành vận dụng (đặc biệt làvận dụng vào những tình huốnggắn với đời sống), chú trọng kĩnăng viết, bỏ qua các kĩ năngkhác
- Mức độ: nặng về tái hiện.
- Đa dạng hoá các hình thức và phương
thức kiểm tra, đánh giá:
+ Bên cạnh tự luận, tăng cường trắcnghiệm khách quan và các loại hình thứcđánh giá khác
+ Kết hợp việc đánh giá của người dạyvới việc tự đánh giá của người học
+ Chú trọng cả kiến thức và thực hànhvận dụng (đặc biệt là vận dụng vào nhữngtình huống gắn với đời sống), phát triển
cả 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết
- Mức độ: đánh giá các mức độ nhận
biết, thông hiểu và vận dụng (gồm vậndụng tái tạo và vận dụng sáng tạo)
IV Đổi mới PPDH và quan niệm về sử dụng các phương tiện dạy học
Giá trị lớn nhất của phương tiện dạy học nằm ở sự tác động của chúng tớicác giác quan – đặc biệt là thính giác, thị giác Các nhà nghiên cứu đã tổng kếtmức độ ảnh hưởng của các giác quan tới quá trình tiếp thu tri thức như: 20% qua
những gì nghe được, 30% qua những gì nhìn được, 50% qua nhìn và nghe, 80% qua nói, 90% qua nói và làm Điều này khẳng định sự hỗ trợ của các phương
tiện nghe nhìn mang lại hiệu quả cao cho các giờ học Ngữ văn qua các hoạtđộng như: nêu vấn đề; tìm kiếm thông tin; mở rộng kiến thức; củng cố, ôn tập và
hệ thống hoá kiến thức; kích thích trí tò mò, lòng ham hiểu biết; kích thích hứngthú học tập, Nếu dùng không đúng lúc đúng chỗ, các phương tiện dạy học lại
có tác dụng ngược lại
Trong thực tiễn, sử dụng tích cực các phương tiện dạy học là:
Trang 27– Sử dụng đầy đủ và có hiệu quả các thiết bị dạy học tối thiểu: tranh ảnh,băng, đĩa được cung cấp theo danh mục thiết bị tối thiểu và một số thiết bị dạyhọc chung: đầu DVD kết nối với TV do Bộ Giáo dục và Đào tạo duyệt
– Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin ở những nơi có điều kiện: Đĩa CD– ROM và máy tính, máy chiếu đa năng góp phần tích cực hóa hoạt động củaHS
– Thiết bị dạy học được sử dụng như là phương tiện hỗ trợ, nguồn kiến thức
để HS tìm tòi, nghiên cứu rút ra kiến thức, kiểm tra, vận dụng kiến thức và kĩnăng giúp hiểu sâu, nhớ lâu các kiến thức đã học
– Không sử dụng thiết bị dạy học một cách hình thức, hời hợt thiếu hiệu quả.Với môn Ngữ văn, một đoạn băng hình, một vài mẩu thông tin, vài phútnghe băng, đĩa, vài tranh ảnh, những sơ đồ biểu bảng, những bài tập được in tophóng lớn, cũng có thể có những tác động tích cực hoặc tiêu cực phụ thuộccách sử dụng của GV Tất nhiên, với đặc trưng môn Ngữ văn, những tác độngtới hoạt động nghe, nói, nhìn là rất quan trọng Trong phạm vi tài liệu này,chúng tôi chỉ lưu ý việc sử dụng những phương tiện sau trong giờ học Ngữ văn:
+ Bảng viết: là phương tiện truyền thống, trình bày bảng lại là nghệ thuật sao
cho HS có thể quan sát được, ghi chép được một cách hệ thống, đầy đủ các nộidung theo tiến trình bài học Cần có phần bảng phụ để GV viết, vẽ những gì cóthể xoá được, hoặc để HS làm bài và GV có thể chữa trực quan
+ Máy chiếu: là dụng cụ đã tương đối phổ biến, nếu không có, có thể dùng
bảng phụ hoặc giấy khổ to thay thế Các nội dung cần đưa lên máy chiếu cầnđược chuẩn bị chu đáo, viết rõ ràng, và có thể dùng lại nhiều lần Khi chiếu cần
có thời gian cho HS quan sát, suy nghĩ Có thể dùng cho những nội dung dạyhọc đã được sơ đồ hoá, cho những bài tập, câu hỏi làm trên lớp để chữa mẫunhằm tiết kiệm thời gian, cho những phần tổng kết hoặc lưu ý, nhấn mạnh
+ Phim và các phim dương bản, video, tranh ảnh: được lựa chọn công phu,
phù hợp với nội dung bài học và mục đích của từng hoạt động Kiên quyết dùngphim có chất lượng tốt, tác động tích cực đến thị giác và thính giác Khi chiếunên giải thích nguồn gốc, dừng lâu ở những hình ảnh cần khai thác và chuẩn bịsẵn những câu hỏi, bài tập dành cho khai thác phim, ảnh
+ Vận dụng những thành tựu của công nghệ thông tin là một xu thế thời đại
vì nó phát huy được tính tích cực học tập của người học nhờ quá trình tương tácgiữa GV – HS – Nội dung – Phương tiện – Phương pháp – Hình thức học tập.Trong dạy học Ngữ văn, việc vận dụng những thành tựu của công nghệ thông tin
có nhiều mức độ khác nhau Đơn giản là để chuẩn bị giáo án điện tử và trìnhdiễn bài dạy của GV hoặc chuẩn bị bài tập và trình diễn của HS; tích cực hơn là
để tìm kiếm thông tin trên mạng hay tổ chức các hoạt động học tập theo hình
Trang 28thức Dạy học từ xa (E learning) Hiện nay, trong các giờ học Ngữ văn, những
ứng dụng của công nghệ thông tin đã thực sự đem lại cho GV, HS những giờhọc hứng thú qua các hoạt động thu thập, lưu trữ, xử lí, mô phỏng và trình diễnmột lượng thông tin lớn bằng nhiều dạng văn bản, hình ảnh, âm thanh, môhình, đồ thị, Tuy nhiên để việc dạy và học có hiệu quả, việc thiết kế các nộidung dạy học bằng các ứng dụng của công nghệ thông tin phải có ý tưởng sưphạm, vừa đảm bảo các yêu cầu về chuẩn kiến thức kĩ năng của các bài họcngữ văn vừa đảm bảo các yêu cầu kĩ thuật
Nhìn chung khi sử dụng các thiết bị hỗ trợ việc dạy và học, cần hết sức lưu
ý tới tác dụng tích cực của các kênh chữ, kênh hình, kênh tiếng, đến quá trìnhtiếp nhận và vận dụng các kiến thức kĩ năng văn học, ngôn ngữ học, tạo lập vănbản, của HS Có hiệu quả thực sự thì hãy dùng, nếu không kiên quyết tránhviệc sử dụng chúng một cách hình thức, lấy lệ hay chỉ dùng để minh hoạ
V Đổi mới PPDH và quan niệm mới về tổ chức các hoạt động học tập
Dạy học Ngữ văn thực chất là dạy HS hoạt động học tập theo đặc trưng củamôn học, HS được cuốn hút vào những hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉđạo, thông qua đó, HS tự lực khám phá những điều mình chưa biết chứ khôngphải thụ động tiếp thu những tri thức đã sắp đặt sẵn Nét nổi bật của đổi mớiPPDH Ngữ văn là hoạt động của HS chiếm tỉ trọng cao so với hoạt động của GV
về thời gian cũng như cường độ làm việc Khi soạn bài, những dự kiến của GVphải tập trung chủ yếu vào các hoạt động của HS trên cơ sở đó, GV hình dung sẽ
tổ chức các hoạt động của HS như thế nào và những khả năng diễn biến của cáchoạt động để có thể lường trước những khó khăn HS sẽ gặp phải và dự kiến thờigian, giải pháp điều chỉnh
Mỗi hoạt động học tập là một tình huống gợi động cơ tập học tập, nó thườnggồm nhiều hoạt động thành phần với mục đích riêng Thực hiện xong các hoạtđộng thành phần thì mục đích chung của cả hoạt động cũng được thực hiện
Điều quan trọng trong tổ chức các hoạt động học tập là việc xây dựng hệ thống câu hỏi bài tập, lựa chọn hình thức học tập và cách kiểm tra đánh giá kết quả học tập Xây dựng hệ thống câu hỏi, lựa chọn hình thức học tập và cách kiểm tra
đánh giá là những thao tác tưởng như độc lập nhưng lại liên quan mật thiết vớinhau Mỗi câu hỏi bài tập là một nhiệm vụ nhận thức trong đó có hoạt động củathầy và hoạt động của trò Khó nhất là có được hệ thống câu hỏi, bài tập giúpmọi đối tượng HS chủ động, tích cực học tập Kĩ thuật xây dựng câu hỏi bài tậpthông thường là dựa trên những gợi ý của SGK, SGV, sách bài tập, nhưngcũng không thể bỏ qua việc xem xét năng lực thực có của HS vì cách dạy mớiyêu cầu một câu hỏi, một vấn đề đưa ra phải tác động tới nhiều đối tượng HS,phải có nhiều HS cùng suy nghĩ và được trình bày ra điều mình nghĩ Do vậy
Trang 29trong mỗi giờ học, số câu hỏi không nên quá nhiều, tránh hỏi những gì giản đơn,vụn vặt hoặc đi quá xa yêu cầu KTKN của bài học Trong mỗi câu hỏi, nên phânhoá thành nhiều mức độ yêu cầu để có thể kiểm tra đánh giá được nhiều đốitượng HS.
Để tổ chức các hoạt động học tập của HS, GV có thể dùng các "phiếu học tập"– một trong những công cụ cho phép tiết kiệm thời gian trong việc tổ chức cáchoạt động học tập, đồng thời cùng một lúc có thể kiểm tra được nhiều KTKN,nhiều đối tượng và chữa được những lỗi cơ bản, phổ biến Phiếu học tập là công
cụ hữu hiệu trong việc thu thập và xử lí thông tin ngược Đó là những tờ giấyrời, in sẵn những công việc độc lập hoặc làm theo nhóm, được phát cho HS đểhoàn thành trong thời gian ngắn của tiết học Mỗi phiếu học tập có thể giao cho
HS một vài câu hỏi, bài tập cụ thể nhằm dẫn dắt tới một kiến thức, tập dượt một
kĩ năng, rèn luyện một thao tác tư duy hoặc thăm dò thái độ trước một vấn đề
ở trường phổ thông mỗi tiết học chỉ được thực hiện trong 45 phút do vậyviệc dự kiến thời gian cho mỗi hoạt động học tập trong bài soạn là rất quan
trọng Chẳng hạn, với những giờ học tiếng Việt, GV thường bố trí thời lượng
cho phần tìm hiểu bài và rút ra bài học từ 15 20 phút, 25 30 phút còn lại là đểthực hành, luyện tập Sự phân bố thời gian như vậy là khả thi, cân đối được mốiquan hệ giữa các yêu cầu của bài học với thời lượng cho phép, đảm bảo được
yêu cầu tăng tính thực hành ứng dụng trong dạy và học tiếng Việt Với các giờ
học Văn học, sự phân bổ thời gian lại phải hết sức linh hoạt, tuỳ thuộc vào
những điểm KTKN cần nhấn mạnh hoặc lướt qua trong bài học
Trong trường phổ thông hiện nay, chúng ta vẫn quen với lối dạy học đồngloạt, ít chú ý tới năng lực học tập của từng đối tượng HS, chính vì thế mỗi nhiệm
vụ học tập thường được giao chung cho tất cả các HS Dạy học theo hướng đổimới PPDH sẽ chú trọng cải tiến thực tiễn này, chủ trương phát huy thế mạnhtổng hợp của các hình thức dạy học khác nhau trong giờ học, tăng cường sự tíchcực học tập của các đối tượng HS Chính vì thế trong mỗi giáo án, GV phải biếtlựa chọn hình thức dạy học nào (cho hoạt động học tập nào) là phù hợp, cónhững hoạt động sẽ được dành thời gian để các em suy nghĩ, tranh luận nhưngcũng có những hoạt động sẽ chỉ được giới thiệu lướt qua và giao cho HS về nhà
Trang 30các hình thức tự học, tự nghiên cứu, ), hoạt động ngoài nhà trường (với cáchình thức tham quan, ngoại khoá, ).
– Hình thức tổ chức dạy học đồng loạt: phù hợp với cơ sở vật chất của đa sốcác nhà trường hiện nay, thế mạnh của nó là giữ cho lớp học ổn định (phù hợpvới những câu hỏi bài tập không có tính phân hoá)
– Hình thức dạy học theo nhóm (chia HS thành từng nhóm nhỏ, giao cho mỗinhóm một nhiêm vụ khác nhau) thế mạnh của nó là phân hoá được trình độ HS,kích thích hứng thú học tập, tăng sự hợp tác học tập, tiết kiệm thời gian (trongcùng một lúc giải quyết được nhiều nhiệm vụ học tập)
– Ngoài ra, nên vận dụng linh hoạt các hình thức dạy học: dạy học tự chọn,ngoại khoá, thi sáng tác,
VI Cách tiến hành đổi mới PPDH Ngữ văn có hiệu quả ở nhà tr ường Việt Nam
1 Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các PPDH theo cách phát huy yếu tố tíchcực và những ưu điểm của các PPDH truyền thống và các PPDH hiện đại nhằmtăng cường tính tích cực của HS trong tiếp nhận kiến thức, hình thành kĩ năngNgữ văn, bồi dưỡng kĩ năng tự học Từ đó, GV tạo điều kiện tối ưu để HS suynghĩ, tìm tòi nhiều hơn, thực hành nghe, nói, đọc, viết nhiều hơn trên vốn kiếnthức, kĩ năng văn học, tiếng Việt, tập làm văn mà các em đã có; kết hợp rènluyện tư duy, kĩ năng văn học, kĩ năng ngôn ngữ, kĩ năng giải mã và tạo lậpvăn bản trong giờ ngữ văn
2 Chú trọng vận dụng có hiệu quả các PPDH đặc thù bộ môn (các PPDHtheo định hướng giao tiếp, phân tích ngôn ngữ, rèn luyện theo mẫu trong các giờhọc tiếng Việt, tập làm văn; các phương pháp vấn đáp gợi tìm, dạy đọc sáng tạo,các phương pháp dùng lời có nghệ thuật như thuyết trình nêu vấn đề, bình giảng,khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng, trong dạy học văn)
3 Nắm vững nội dung của từng bài học và năng lực học tập các nội dungvăn, tiếng Việt, tập làm văn của HS để từ đó xây dựng được một hệ thống câuhỏi, bài tập nhằm tổ chức, hướng dẫn HS học tập tích cực, sáng tạo từ đó hìnhthành và phát triển năng lực ngữ văn và bản sắc cá nhân trong tư duy và giaotiếp bằng tiếng mẹ đẻ
4 Dạy học chú trọng đến rèn luyện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, tăng cường thực hành và gắn nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống, tạo điều
kiện để HS được tham gia hoạt động tìm tòi, phát hiện, vận dụng kiến thức để giải quyết một số vấn đề thực tiễn có liên quan đến các nội dung văn học, tiếng Việt, tập làm văn thông qua các dạng câu hỏi, bài tập được xây dựng theo chuẩn kiến thức và kĩ năng.
Trang 315 Hướng dẫn, rèn luyện phương pháp tự học và tính tích cực học tập mônNgữ văn của HS: giúp HS sử dụng SGK, SBT và các tư liệu tham khảo mộtcách có ý thức và hiệu quả; uốn nắn, hướng dẫn cách tự đọc, tự học, tự nghiêncứu phù hợp với năng lực cụ thể của từng HS; bồi dưỡng hứng thú học tập Ngữvăn, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập và giao tiếp bằng ngônngữ cho học sinh.
6 Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức tổ chức học tập kết hợp giữahọc tập cá thể với học tập hợp tác; giữa hình thức học cá nhân với hình thức dạyhọc theo nhóm, theo lớp, dạy học tự chọn, nhằm tạo điều kiện và không khíhọc tập thích hợp để HS có thể tranh luận với nhau, với GV và tự đánh giá kếtquả học tập của mình, của bạn Tuy nhiên sự vận dụng các hình thức dạy họckhông nên gò ép mà phải linh hoạt tuỳ theo điều kiện thực tiễn của giờ học saocho thể hiện được mối quan hệ tích cực giữa giáo viên và học sinh, giữa họcsinh với học sinh
7 Tăng cường sử dụng các thiết bị, đồ dùng và phương tiện dạy học theophương châm phục vụ thiết thực nhất, hiệu quả nhất cho mỗi giờ học với tưcách là phương tiện nhận thức chứ không đơn thuần chỉ là sự minh hoạ Hướngtới việc sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại, các ứng dụng của công nghệthông tin nhằm tăng cường tác động tích cực của kênh hình, kênh tiếng tới các
kĩ năng nghe, đọc, nói, viết và quan sát của HS nhằm thay đổi căn bản tìnhhình "dạy chay" phổ biến hiện nay
8 Không gò bó giờ học trong một quy trình cứng nhắc với những bước đibắt buộc, GV có quyền chủ động sáng tạo thiết kế giờ học căn cứ vào mục tiêu
cụ thể của bài học thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.Điều cơ bản là mỗi giờ học phải thực sự kích thích được hứng thú và sự tích cựchọc tập của HS, có sự "cộng hưởng" giữa HS với HS, giữa GV và HS trongchiếm lĩnh, cảm thụ và vận dụng kiến thức Giờ học có thể "quá" một chút thờigian, GV có thể "cháy" giáo án (tất nhiên là "vạn bất đắc dĩ") nhưng vẫn phảibảo đảm được mục tiêu bài học, khoa học về nội dung, linh hoạt, nghệ thuật vềbiện pháp sư phạm và đọng lại được những ấn tượng sâu sắc ở HS
9 Có ý thức cải tạo môi trường DH: chỗ ngồi, ánh sáng, bàn ghế, nhiệt độ,
âm thanh, thiết bị, hỗ trợ về phương tiện và thiết bị dạy học nhằm tạo ra một môitrường học tập Ngữ văn thân thiện để nâng cao hứng thú và hiệu quả học tậpNgữ văn cho HS
10 Tăng cường cải tiến kiểm tra đánh giá bằng nhiều hình thức khác nhautheo chuẩn kiến thức kĩ năng, coi kiểm tra đánh giá như là một biện pháp kíchthích hứng thú học tập Ngữ văn, giúp HS tìm ra nguyên nhân và cách khắc phụcnhững sai sót, hạn chế (nếu có) trong quá trình tiếp nhận, giải mã và sản sinh
Trang 32văn bản cũng như trong quá trình hình thành các kiến thức ngôn ngữ, văn học,các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết,
VII – vận dụng các PPDH vào thực tiễn dạy học Ngữ văn THCS
Danh mục các PPDH do các nhà khoa học đề xuất hiện nay rất khác nhau doviệc lựa chọn các tiêu chí khác nhau trong phân loại phương pháp Tình hìnhtrên cũng có tính phổ biến với việc phân loại các PPDH bộ môn Ngữ văn Hiệnnay, các giáo trình PPDH Ngữ văn thường phân loại các PPDH theo từng phânmôn độc lập, tách bạch các PPDH văn với PPDH tiếng Việt, tập làm văn do sựtồn tại tương đối độc lập với các đặc thù riêng của các phân môn Văn, TiếngViệt, Tập làm văn
Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một số PPDH – với tính chất là những PPDH thường được các GV sử dụng trong các giờ học Ngữ văn hiện nay ở trường THCS nhằm giúp học sinh tích cực hoá hoạt động học tập
1 Một số PPDH thường được sử dụng trong tất cả các giờ học Ngữ văn
1.1 PPDH nêu và giải quyết vấn đề (phát hiện và giải quyết vấn đề)
Dạy học nêu và giải quyết vấn đề là PPDH trong đó giáo viên tạo ra những tình huống sư phạm có chứa vấn đề; tổ chức, hướng dẫn học sinh phát hiện vấn
đề, hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề; thông qua đó học sinh chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập Đặc trưng cơ bản của dạy học nêu và giải quyết vấn đề là học sinh được đặt vào một "tình huống có vấn đề" Tình huống có vấn đề là một tình huống gợi ra cho HS những khó khăn mà các em thấy cần và có khả năng vượt qua, nhưng không thể ngay lập tức, mà phải trải qua quá trình tích cực suy nghĩ
Ví dụ minh hoạ: Hướng dẫn HS tìm hiểu khổ cuối trong bài thơ Sang thu
(Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, tập 2).
Bước 1: GV tạo tình huống có vấn đề Trong khổ cuối của văn bản Sang thu,
tác giả đã có những câu thơ thể hiện những suy ngẫm cá nhân về mối quan hệgiữa thời gian và sự trưởng thành, giữa sự biến đổi của cuộc đời với sự chínchắn, từng trải của con người HS thắc mắc, nêu ra vấn đề cần giải quyết: những
câu thơ cuối bài thơ Sang thu có thể hiện những suy ngẫm này không? Đó có
phải là điều nhà thơ muốn nói ở khổ cuối bài thơ không? Vì sao?
Bước 2: Vạch kế hoạch giải quyết vấn đề
GV hướng dẫn HS phân tích, tìm hiểu vấn đề, làm rõ mối liên hệ giữa cái
đã biết (bài thơ Sang thu, tác giả Hữu Thỉnh và những cảm nhận tinh tế về
thời điểm sang thu của thiên nhiên, đất trời trong khổ 1, 2) và cái phải tìm (điều nhà thơ muốn nói trong khổ 3) từ đó xác định lược đồ giải quyết vấn đề
Trang 33Bước 3: Tiến hành giải quyết vấn đề, đưa ra lời giải
HS tìm hiểu khổ thơ dưới sự hướng dẫn của GV về hai tầng lớp ý nghĩacủa khổ thơ: thời tiết lúc sang thu nắng dịu dần, mưa rào không còn nữa nênbớt đi những tiếng sấm bất ngờ; và lớp nghĩa ẩn dụ (sấm: những vang độngbất thường của ngoại cảnh, cuộc đời; hàng cây đứng tuổi: con người đã từngtrải vấn đề trong khổ 3: Qua những hình ảnh có giá trị tả thực và nhữngcảm nhận tinh tế về một hiện tượng thiên nhiên (sang thu), nhà thơ muốn gửigắm suy ngẫm của mình – khi con người đã từng trải thì cũng vững vàng hơntrước những tác động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời
Bước 4: Đánh giá kết quả, phân tích, khai thác lời giải
GV hướng dẫn HS kiểm tra tính hợp lí, tối ưu của lời giải (so với những lời giải khác); đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ so sánh, đối chiếu, khái quát hoá, lật ngược vấn đề, và giải quyết nếu có thể
Những tình huống như trên là tương đối tiêu biểu, nhưng không phải ngaylập tức HS đã có thể giải quyết được tình huống vì nó có liên quan tới nhiềumảng kiến thức (văn hoá, văn học, tiếng Việt, tập làm văn, kiến thức cuộcsống, ) HS phải biết sử dụng kiến thức đã có để giải quyết tình huống mới
GV có thể dự kiến sẵn những sự hỗ trợ, gợi ý, dẫn dắt, đánh giá, nhận xét đểgiúp HS giải quyết tình huống
1.2 PPDH hợp tác (phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp cùng
tham gia) cho phép chia HS trong lớp thành nhiều nhóm nhỏ, các thành viên
trong nhóm cùng chia sẻ những suy nghĩ, kinh nghiệm, hiểu biết bản thân về bàihọc qua trao đổi, thảo luận
Dạy học hợp tác là PPDH dựa trên sự tương tác (cùng tham gia) giữa HS –
HS (là chính) và tương tác giữa GV – HS Là PPDH đòi hỏi có sự tham gia vàhợp tác tích cực của các thành viên để tìm kiếm giải pháp cho một vấn đề đượcđưa ra, nhằm đạt được mục tiêu học tập Trong phương pháp này, GV là người
tổ chức, hướng dẫn và có thể tham gia thảo luận giúp cuộc thảo luận đi đúnghướng; HS suy nghĩ, cùng hợp tác, tìm tòi, nghiên cứu, thảo luận, tranh luận(đưa ra các giải pháp, đánh giá) và cùng kết luận khái quát về vấn đề, nâng mìnhlên một trình độ mới qua bài học kinh nghiệm từ sự hợp tác
Ví dụ minh hoạ: Thảo luận tìm hiểu nội dung: Phân biệt nghĩa tường minh và
hàm ý (bài 24, Ngữ văn 9).
Bước 1: Hoạt động chung cả lớp: tổ chức các nhóm (chia nhóm) và giao
nhiệm vụ cho các nhóm đọc đoạn trích và thảo luận câu hỏi trong SGK.
Bước 2: Hoạt động theo nhóm: HS suy nghĩ, trả lời cá nhân về câu nói của
anh thanh niên và cô gái trong đoạn trích rồi trao đổi ý kiến, thảo luận trong
Trang 34nhóm, thống nhất ý kiến; cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm mìnhtrước tập thể
Bước 3: Hoạt động chung cả lớp: GV gọi một đại diện nhóm trình bày kết
luận của nhóm về câu nói của anh thanh niên và cô gái để các HS khác quan sát
và nhận xét đánh giá
Bước 4: Hoạt động chung cả lớp: GV tổ chức chốt lại nhằm xác nhận kiến
thức và đặt vấn đề tiếp theo:
+ Câu "Trời ơi, chỉ còn có năm phút" là hàm ý, anh thanh niên muốn thể hiện
sự tiếc nuối vì cuộc gặp mặt sắp hết, chưa nói được nhiều mà đã đến lúc phải
chia tay với họa sĩ và cô gái Anh không nói thẳng điều không muốn chia tay có
lẽ vì tế nhị và ngại ngùng
+ Câu thứ 2 nói với cô gái có ẩn ý thể hiện tình cảm quý mến và sự nấn nákéo dài thời gian, không muốn chia tay với cô gái
– GV yêu cầu HS rút ra những kết luận thế nào là nghĩa tường minh và hàm
ý sau đó dẫn đến phần Ghi nhớ trong SGK.
Bước 5: Đánh giá và cho điểm một số cá nhân qua đóng góp trong hoạt
động nhóm
2 Một số PPDH đặc thù trong dạy học phân môn Tiếng Việt &Tập làm văn
Dù được hợp nhất trong một cuốn SGK mang tên Ngữ văn nhưng nội dung
phân môn Tiếng Việt, Tập làm văn trong Chương trình THCS cũng có tính hệ thống nội tại, nhằm cung cấp cho HS hệ thống kiến thức của riêng môn Tiếng Việt, Tập làm văn Nói cách khác, Chương trình Ngữ văn THCS vừa đảm bảo tính hệ thống ở trục ngang (tích hợp giữa các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn) vừa đảm bảo tính hệ thống ở trục dọc (trong nội bộ từng phân môn)
Cũng như nội dung môn Ngữ văn nói chung, nội dung của phân môn Tiếng
Việt, Tập làm văn THCS cũng được chia làm hai vòng: vòng 1 gồm lớp 6 và 7, vòng 2 gồm lớp 8 và 9
Với phân môn Tiếng Việt, kết quả cần đạt sau hai vòng là giúp HS nắm được các đơn vị ngôn ngữ của tiếng Việt (từ, câu, các biện pháp tu từ, từ vựng, cú pháp,các kiểu văn bản, ); nắm được khái niệm cơ bản về giao tiếp, v.v.; thực hành đầy
đủ cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết trên cơ sở vận dụng các tri thức lí thuyết một cách chủ động vào các lĩnh vực giao tiếp khác nhau trong đời sống và trong học tập
Với phân môn Tập làm văn, kết quả cần đạt sau hai vòng là HS có đượcnhững hiểu biết về các kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết