BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN ĐỀ TÀI LÝ LUẬN VỀ SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN VIỆT NAM Họ và tên Nguyễn Thị Mai[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
ĐỀ TÀI: LÝ LUẬN VỀ SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ VẬN DỤNG
VÀO THỰC TIỄN VIỆT NAM
Họ và tên: Nguyễn Thị Mai Hương
Mã số sinh viên: 11212534
Lớp TC: LLNL1106(122)_38
STT: 5
Hà Nội, tháng 09 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………1
NỘI DUNG………2
I Cơ sở lý luận ………2
1 Sản xuất hàng hóa ………2
1.1 Sản xuất hàng hóa và tính tất yếu………2
1.2 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá ………3
1.3 Đặc trưng của sản xuất hàng hóa.………4
1.4 Ưu điểm của sản xuất hàng hóa ………4
2 Nền kinh tế sản xuất hàng hóa ………5
2.1 Khái niệm………5
2.2 Đặc điểm, tính ưu việt của nền kinh tế hàng hóa………5
2.3 Các nhân tố và quy luật vận động trong kinh tế hàng ………6
II Liên hệ thực tiễn………6
1 Thực trạng nền kinh tế Việt Nam và quá trình chuyển đổi sang kinh tế hàng
hóa là vấn đề tất yếu, khách quan ………9
2 Tiềm năng và hạn chế của kinh tế hàng hóa ở Việt Nam … ………11
3 Những thành tựu ………12
4 Điều kiện, giải pháp phát triển kinh tế hàng hóa ở Việt Nam………18
III Kết luận ………19
IV Tài liệu tham khảo………20
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
“Tiền thân là một nền kinh tế phong kiến lạc hậu và trì trệ, cùng với việc phải trải qua hai cuộc chiến tranh giữ nước đầy gam go, khốc liệt, nền kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu lại càng khó để theo kịp xu hướng kinh tế của thế giới hơn Sau khi giành được độc lập, từ nền kinh tế lạc hậu và trì trệ đó, nước ta bắt đầu xây dựng nền sản xuất kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, tiếp tục phát triển kinh tế cũ bất cập đã đẩy đất nước vàotình trạng khủng hoảng kinh tế trầm trọng so với các nền kinh tế khác hàng chục thập kỷ Đến năm 1976, Việt Nam hoàn toàn thống nhất, đất nước từng bước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong thời kỳ này, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng đồng thời cũng gặp không ít khó khăn, thách thức Tháng 12 năm 1986 của VI Quốc hội
đã đưa ra một quyết định quan trọng Đảng và nhà nước ta quyết định xây dựng lại nền kinh tế, thay thế nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp bằng nền kinh tế sản xuất hàng hoá Tiếp đó, sản xuất hàng hóa trở thành nền tảng, động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước, giúp nền kinh tế đất nước từng bước hội nhập với sự đi lên không ngừng của khu vực và thế giới, đạt được nhiều thành tựu quan trọng Trong quá trình đổi mới, đất nước ta luôn nỗ lực hoàn thiện con đường phát triển kinh tế nói chung và sản xuất hàng hóa nói riêng Nhiều tài liệu quan trọng đã được công bố về định hướng chiến lược, cơ chế, chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa Đảng
và nhà nước đã nhanh chóng nhận ra vai trò quan trọng của sản xuất hàng hóa để phát triển kinh tế quốc dân Những bước đầu còn nhiều khó khăn và phức tạp Nền kinh tế cần học hỏi và tiếp thu kinh nghiệm của con người trên cơ sở phản ánh, sáng tạo và lựa chọn phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam Trong quá trình học tập này, lý luận
về sản xuất hàng hóa của Mác đã cho chúng ta thấy vai trò quan trọng của sản xuất và phân phối hàng hóa Lý thuyết của Mác chỉ ra các phạm trù cơ bản của hàng hóa, tiền tệ, giá cả, quy luật giá sản xuất hàng hóa, những cơ sở lý luận về các quan hệ kinh tế trong sản xuất hàng hóa Vì vậy, việc nghiên cứu học thuyết sản xuất hàng hóa của Mác và hiểu
rõ vai trò, ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế nước ta hiện nay là vô cùng quan trọng
và cần thiết Em quyết định các chủ đề sau để thảo luận vì muốn tìm hiểu sâu hơn về bản chất và các mối quan hệ của lý luận sản xuất hàng hóa áp dụng lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin Nền kinh tế sản xuất hàng hoá và ứng dụng của nó trong nền sản xuất hàng hoá hiện nay ở Việt Nam.”
Trang 4NỘI DUNG
1 Sản xuất hàng hóa
1.1.
Sản xuất hàng hóa và tính tất yếu
Sản xuất hàng hoá là thuật ngữ được dùng trong Kinh tế Chính trị Mác - Lênin dùng
để chỉ về hình thức tổ chức kinh tế, mà trong đó, sản phẩm được sản xuất ra không phải để tự phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người sản xuất mà được mua, bán hoặc trao đổi trên thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác Nói cách khác toàn bộ quá trình sản xuất phân phối trao đổi tiêu dùng, thông qua
hệ thống thị trường và được quyết định bởi thị trường để trả lời các câu hỏi: “Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào?”
Sản xuất hàng hoá là một hình thức tổ chức kinh tế khác với sản xuất tự cung tựcấp ở thời kỳ sơ khai của lịch sử loài người Khi đó sản phẩm của sức lao động được tạo
ra chỉ nhằm đáp ứng chính nhu cầu của người sản xuất ra chúng
Sản xuất tự cung tự cấp
(kinh tế tự nhiên)
Sản xuất hàng hóa(kinh tế hàng hóa)
Là loại hình tổ chức kinh tế, trong đó
sản phẩm được sản xuất ra thông qua
lao động nhằm thoả mãn chính nhu
cầu của người sản xuất
Là loại hình tổ chức kinh tế, trong đó sản xuất sảnphẩm nhằm mục đích mua bán hoặc trao đổi trên thị trường, thay vì đáp ứng nhu cầu của người tiêudùng trực tiếp sản xuất sản phẩm
Người sản xuất đồng thời là người
Trang 5Sản xuất tự cung tự cấp: Đây là một loại hình tổ chức kinh tế sản xuất tự nhiên, khép kín trong từng đơn vị nhỏ và không thể mở rộng quan hệ với các đơn vị khác Như vậy,
nó mang tính chất trì trệ bảo thủ và hạn chế trong những nhu cầu hẹp
“Sản xuất tự cung tự cấp phù hợp với thời đại, khi mà lao động chân tay là chủ yếu, lựclượng sản xuất còn kém phát triển Nó tồn tại trong thời kì Công xã Nguyên thủy, chủ yếu là trong thời kì Chiếm hữu Nô lệ Dưới các hình thái kinh tế nông dân gia trưởng, điền trang, thái ấp của địa chủ, sản xuất tự cung tự cấp đã tồn tại trong suốt thời kì phong kiến Trao đổi hàng hóa dần dần xuất hiện khi sự phân công lao động được mở rộng và lực lượng sản xuất trở nên phát triển cao hơn Sản xuất hàng hóa ra đời theo đúng quy luật tất yếu của nó khi trao đổi hàng hóa trở thành mục đích thường xuyên của sản xuất.”
1.2
Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa
“Sản xuất hàng hoá là một phạm trù lịch sử chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội trong những điều kiện nhất định Theo quan điểm của Mác, sự xuất hiện và tồn tại của sản xuất hàng hoá phụ thuộc vào hai điều kiện cơ bản:
Phân công lao động xã hội: Là sự chuyên môn hoá sản xuất, phân công lao động
xã hội thành các lĩnh vực, các ngành sản xuất khác nhau của nền sản xuất xã hội Nhưng, với mỗi cá thể lại có sự khác nhau về mặt nhu cầu, bởi vậy để đáp ứng được những nhu cầu mà bản thân mong muốn, ta cần phải trao đổi sản phẩm mà mình có
Sự phân công lao động xã hội là cơ sở và tiền đề của sản xuất hàng hoá Theo Mác: Sản xuất hàng hoá muốn tồn tại cần điều kiện là phân công lao động xã hội, nhưng ngược lại, phân công lao động xã hội có thể tồn tại mà không cần đến sản xuất hàng hoá Việc sản xuất-trao đổi hàng hoá trở nên phong phú và đa dạng hơn khi sự phân công lao động xã hội ngày càng phát triển
Sự tách biệt tương đối về kinh tế giữa những người sản xuất: Những người sản
xuất trở thành những chủ thể có sự độc lập với nhau do sự tách rời lợi ích Cho nên sản phẩm sản xuất ra thuộc tài sản của các chủ thể kinh tế Khi muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác, họ phải thông qua mua bán, trao đổi hàng hóa
Về mặt lịch sử, sự tách biệt này được xác định bởi quyền sở hữu tư nhân đối với tưliệu sản xuất Trong chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, tư liệu sản xuất thuộc về mỗi cá nhân và do đó họ có quyền sở hữu đối với sản phẩm mà mình làm ra
Trang 6Do đó, sự phân công lao động xã hội làm cho những người sản xuất phụ thuộc vàonhau, nhưng chế độ tư hữu lại tách biệt họ làm cho họ độc lập Đây là một mâu thuẫn Để
có thể giải quyết được mâu thuẫn này chỉ có cách mua bán, trao đổi sản phẩm với nhau Như vậy, sản xuất hàng hóa phát sinh từ nhu cầu thiết yếu của cuộc sống.”
1.3
Đặc trưng của sản xuất hàng hóa
Hai đặc trưng cơ bản của sản xuất hàng hoá :
“Sản xuất hàng hóa là sản xuất để mua bán, trao đổi Trong lịch sử loài người sơ
khai, sản xuất hàng hoá là một hình thức tổ chức kinh tế đối lập với sản xuất tự cung tự cấp Cụ thể trong sản xuất hàng hoá, sản phẩm được tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác thông qua mua bán, trao đổi
“ Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân vừa mang tính xã hội Trên danh nghĩa, đặc tính của sản phẩm do người làm ra nó hoặc người trực tiếp sở
hữu tư liệu sản xuất quyết định, đó là tính tư nhân Việc sản phẩm làm ra nhằm đáp ứng nhu cầu của những người khác trong xã hội, đó là tính xã hội Tính chất tư nhân này có thể phù hợp với tính chất xã hội của sản xuất hàng hóa, hoặc không Đó là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá.”
1.4
Ưu điểm của sản xuất hàng hóa
Tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển: sản xuất hàng hoá phát sinh trên
cơ sở chuyên môn hoá sản xuất, phân công lao động xã hội, tận dụng những lợi thế về tự nhiên, xã hội và kỹ thuật của mọi người, mọi cơ sở sản xuất Không những thế, nền kinh
tế sản xuất hàng hoá phát triển trở lại đã tăng cường chuyên môn hoá lao động và thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội
Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xã hội hoá sản xuất: sản xuất hàng hoá phá
vỡ tính chất tự cung tự cấp, lạc hậu, bảo thủ của nền kinh tế sản xuất tự cung tự cấp Sử dụng các lợi thế về mặt tự nhiên-xã hội và kĩ thuật của từng người, từng địa phương, vùng miền để kích thích sự phát triển của nền kinh tế cả nước
Đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội: Với sự phát triển của xã hội cùng với sự
tăng lên về nhu cầu của con người ngày càng cao cả về lượng và chất Việc tạo ra nhiều sản phẩm mang đến cho người tiêu dùng đa dạng sự lựa chọn hơn để đáp ứng nhu cầu
Trang 7của họ Góp phần cải thiện đời sống xã hội đồng thời làm tăng khả năng lao động của xã hội.
2 Nền kinh tế sản xuất hàng hoá
Trong lịch sử phát triển của xã hội, (theo trình tự kinh tế tự nhiên – kinh tế hàng hóa – kinh tế sản phẩm), kinh tế hàng hóa là một giai đoạn phát triển nhất định Trong bất
kỳ chế độ xã hội nào, sự tồn tại của các hình thái thị trường và giá trị luôn là đặc điểm chung của kinh tế hàng hóa
tệ, quy luật cung cầu, quy luật trao đổi hàng hóa theo nguyên tắc giá cả tương đương
2.2.2 Tính ưu việt
Một là, kích thích tính năng động của chủ thể hàng hóa
Hai là, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất
Ba là, mở rộng giao lưu kinh tế, xã hội hoá nền kinh tế
Bốn là, tự phát thúc đẩy lực lượng sản xuất
Trang 8 Chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị trường:
Hai nền kinh tế trên chỉ khác nhau về trình độ phát triển Kinh tế thị trường là hìnhthức phát triển cao nhất của kinh tế hàng hoá Nền kinh tế hàng hoá phát triển tức là các loại hàng hoá, tiền tệ và thị trường được mở rộng, phát triển
Hàng hóa bao gồm cả yếu tố đầu vào sản xuất cũng như sản phẩm đầu ra của sản xuất Dung lượng thị trường và cấu trúc thị trường sẽ được mở rộng và hoàn thiện Mọi quan hệ kinh tế trong xã hội đều được tiền tệ hoá Khi đó, kinh tế hàng hóa được gọi là kinh tế thị trường
2.3 Các nhân tố và quy luật vận động trong kinh tế hàng hóa
2.3.1 Các nhân tố kinh tế sản xuất hàng hóa:
ai thuộc tính của hàng hóa:
Thuộc tính hàng hoá: Trong mỗi hình thái kinh-tế xã hội khác nhau, sản xuất hàng hoá có những đặc điểm khác nhau, nhưng khi một vật phẩm được sản xuất ra dưới dạng hàng hoá thì đều mang hai thuộc tính cơ bản: giá trị và giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng: là công dụng của vật phẩm làm thoả mãn một nhu cầu cụ thể nào
đó của con người được thể hiện dưới hình thức sử dụng và tiêu dùng Giá trị sử dụng hay tính hữu dụng của hàng hóa được xác định chủ yếu bởi các đặc tính tự nhiên của hàng hóa đó Do đó, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn Sản phẩm đã là hàng hóa thì phải có giá trị sử dụng Nhưng không phải bất cứ sản phẩm nào có giá trị sử dụng cũng được gọi là hàng hoá Bởi lẽ hàng hoá phải là sản phẩm do lao động con người tạo ra Trong kinh tế hàng hóa, vật mang giá trị trao đổi là giá trị sử dụng
Trang 9Giá trị: Theo Mác, để hiểu được giá trị của hàng hóa, người ta phải bắt đầu từ giá trị trao đổi Có thể nói rằng trao đổi hàng hóa phải dựa trên giá trị, tức là hai hàng hóa được trao đổi phải tương đương về mặt giá trị Giá trị của hàng hoá được định nghĩa là thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó Nói cách khác, giá trị là lao động
xã hội của người sản xuất hàng hóa được kết tinh thành hàng hóa Giá trị trao đổi cũng thay đổi nếu giá trị thay đổi và giá trị trao đổi là một hình thức biểu hiện của giá trị Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hoá
Hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính, giá trị và giá trị sử dụng Nhưng đây
là sự thống nhất của hai thuộc tính trái ngược nhau
TIỀN TỆ:
Nguồn gốc và lịch sử ra đời của tiền :
Giá trị của hàng hoá rất trừu tượng chỉ thể hiện qua giá trị trao đổi, giá trị của hàng hoá biểu hiện bằng tiền được gọi là giá cả Tiền xuất hiện là kết quả của quá trình lâu dài sản xuất và trao đổi hàng hoá: hình thái giá trị đơn giản hoặc ngẫu nhiên; hình thái giá trị
mở rộng hoặc toàn bộ; hình thái giá trị chung; tiền tệ ra đời
Bản
chất của tiền tệ :
Vật ngang giá chung, là hàng hoá đặc biệt thể hiện mối quan hệ giữa những người sảnxuất ra hàng hoá
Chức năng của tiền tệ :
Một là, tiền tệ là phương tiện thanh toán
Hai là, tiền tệ là phương tiện cất trữ
Ba là, tiền tệ là phương tiện lưu thông
Bốn là, tiền tệ là là thước đo giá trịNăm là, tiền tệ là tiền tệ thế giới
2.3.2 Quy luật vận động của hàng hóa là quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh
QUY LUẬT GIÁ TRỊ
Nội
dung:
- Sản xuất và trao đổi hàng hoá dựa trên thời gian lao động cần thiết của xã hội
Trang 10- Trong sản xuất, quy luật giá trị buộc người sản xuất, để tồn tại, phải cân bằng giữa hao phí lao động cá biệt với hao phí lao động xã hội cần thiết.
- Trong trao đổi hay lưu thông đều phải tuân theo nguyên tắc ngang giá Có nghĩa là, hai hàng hoá được trao đổi cho nhau nếu cùng kết tinh một khối lượng lao động như nhau hoặc mua bán, trao đổi hàng hoá phải được thực hiện với giá trị bằng giá cả
Tác động:
Thứ nhất, điều tiết sản xuất và lưu thông
Thứ hai, phân hoá sản xuất: Phân chia người sản xuất hàng hoá thành người giàu và người nghèo
Thứ ba, kích thích cải tiến: Kích thích sự phát triển tự phát của khoa học và công nghệ, lực lượng sản xuất, hiệu quả lao động xã hội và năng suất làm cho giá trị cá cá biệt thấp hơn giá trị xã hội
QUY LUẬT CẠNH TRANH
Nội
dung:
- Trong sản xuất hàng hoá, cạnh tranh giữa người sản xuất và người tiêu dùng, giữa những người sản xuất hàng hoá, là một tất yếu khách quan, và là một tất yếu thường xuyên của những người sản xuất hàng hoá
- Quy luật cạnh tranh nảy sinh từ bản chất của sản xuất hàng hóa và quy luật giá trị
Tác động :
Một là, buộc phải luôn chủ động, nhạy bén với nhà sản xuất, không ngừng cải tiến công nghệ, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nâng cao tay nghề hoàn thiện tổ chức quản lý
để nâng cao năng suất, hiệu quả và chất lượng kinh tế
Hai là, độc quyền hay thiếu cạnh tranh vốn thường cho thấy sự bảo thủ, trì trệ và kém phát triển Cạnh tranh có cả mặt tích cực và tiêu cực Cạnh tranh tiêu cực ổ chỗ: có thể dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh như buôn lậu sản phẩm, làm hàng giả, trốn thuế, ăn cắp bản quyền, tung tin làm tổn hại uy tín của đối thủ, cạnh tranh làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo, gây tổn hại môi trường sinh thái), Đó là những thủ đoạn vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật nhằm thu được lợi ích nhất cho bản thân, gây tổn hại đến lợi ích của tập thể, xã hội
Trang 11II LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM
Theo Mác, kinh tế hàng hóa không phải là một phương thức sản xuất độc lập, mà
là một hình thức tổ chức kinh tế tồn tại trong phương thức xã hội Với phạm vi và mức độkhác nhau, tuy cùng là nền kinh tế hàng hóa, nhưng bản chất của xã hội quy định đặc điểm của kinh tế hàng hóa xã hội đó Nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa nên vai trò chủ đạo của nhà nước là định hướng, điều phối nền kinh tế hàng hoá theo chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam
1 Thực trạng nền kinh tế Việt Nam và quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hóa là
“Trong thời kỳ bao cấp trước đổi mới, nền kinh tế hàng hóa đồng thời là nền kinh
tế kế hoạch Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp kìm hãm sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa Biến hình thức tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực sản xuất, thủ tiêu cạnh tranh và lưu thông thị trường Sự nhận thức sai lầm của nước ta thời kỳ này đã khiến nền kinh tế suy sụp, sức sản xuất hàng hóa xuống dốc không phanh
Từ năm 1976 đến năm 1980, thu nhập quốc dân tăng rất chậm và sau đó giảm dần sau một vài năm: tăng 2,8% năm 1997, tăng 2,3% năm 1978, giảm 2% năm 1979, giảm 1,4% năm 1980 Bình quân giai đoạn 1997 – 1980, chỉ tăng 0,4%/năm, thấp xa so với tốc độ tăng trưởng dân số, thu nhập quốc dân bình quân đầu người bị sụt giảm 14%.”
1.2 Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hóa
“Xuất phát từ thực trạng có thể nói là tiêu điều của nền kinh tế nước ta sau nhiều năm chiến tranh khiến lượng hàng hóa trên thị trường thay đổi rất chậm chạp, khả năng cạnh tranh thấp Từ sự thật không mấy sáng sủa, kinh tế thị trường là điều kiện vô cùng quan trọng để đưa nền kinh tế nước ta thoát khỏi khủng hoảng, phục hồi sản xuất, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, bắt kịp thời đại.”