bài tiểu luận về khái quát thị trường chứng khoán
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trang 3
MỤC LUC:
LỜI NÓI ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TTCK 3
1. Thị trường chứng khoán là gì? 3
2. Chức năng năng của thị trường chứng khoán 3
3. Phân loại thị trường chứng khoán 4
4. Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán 5
5. Các thành phần tham gia thị trường chứng khoán 7
CHƯƠNG 2 : CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÁT HÀNH VÀ MUA BÁN CK 8
1. Các phương pháp phát hánh chứng khoán 8
1.1Phát hành riêng lẻ 8
1.2Phát hành ra công chúng 8
2. Cách thức mua bán chứng khoán 9
2.1Mua chứng khoán của tổ chức phát hành 9
2.2Mua bán chứng khoán niêm yết trên thị trường chứng khoán 10
CHƯƠNG 3 : NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ: 11
1. Thực trạng của thị trường chứng khoán hiện nay 11
2. Những thách thức đối với thị trường chứng khoán trong thời điểm hiện nay 12
3. Các giải pháp và kiến nghị 13
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU:
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội trong những năm qua ở Việt Nam, thị trường chứng khoán cũng chuyển mình và có những bước phát triển vược bậc
và là một trong những kênh cung cấp vốn cho nền kinh tế.Chứng khoán giờ đây đã là
sự lựa chọn của nhiều người với mong muốn làm giàu Nhu cầu này càng tăng đối với công nghệ giao dịch trong nền kinh tế thị trường thời mở cửa Và bây giờ thì hầu như bất kì ai đều có thể sở hữu chứng khoán.
Tuy nhiên, mặc dù chứng khoán thông dụng như vậy nhưng hầu hết mọi người trong chúng ta đều không hoàn toàn hiểu hết về chúng Chứng khoán có thể tạo ra những lợi nhuận khổng lồ nhưng chúng không phải là không có rủi ro Giải pháp duy nhất cho những hiểu biết sai lầm này là tìm hiểu về chứng khoán Cách hữu hiệu bảo
vệ người sở hữu chứng khoán khỏi những rủi ro của chứng khoán là hiểu một cách chính xác bạn đang đầu tư vào cái gì?
Để tìm hiểu vấn đề này, chúng ta hãy đi tìm hiểu đề tài: “thị trường chứng khoán” Một đề tài nóng bỏng và cấp thiết trong thời kì nền kinh tế mở.
Trang 5CHƯƠNG 1: Một số vấn đề về thị trường chứng khoán:
1. Thị trường chứng khoán là gì?
− Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời Tuy nhiên, đó có thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung Tính tập trung ở đây là muốn nói đến việc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất.
− Hình thái điển hình của TTCK tập trung là Sở giao dịch chứng khoán ( Stock exchange) Tại Sở giao dịch chứng khoán(SGDCK), các giao dịch được tập trung tại một địa điểm, các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch.
2.1 Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế:
− Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của
họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
2.2 Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
− TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.
2.3 Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
− Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư.
− Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao.
2.4 Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Trang 6− Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
2.5 Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
− Các chỉ số báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng, ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.
3. phân loại thị trường chứng khoán:
3.1 Xét về phương diện pháp lý thị trường chứng khoán được chia thành
thị trường tập trung và thị trường phi tập trung
− Thị trường chứng khoán tập trung: là thị trường hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật, là nơi mua bán các loại chứng khoán đã được đăng biểu hay đặc biệt được biệt lệ
+ Chứng khoán đăng biểu là chứng khoán đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép bảo đảm, phân phối và mua bán qua trung gian các kinh kỷ và công ty kinh kỷ, tứ là
đã hội đủ tiêu chuẩn quy định
+ Chứng khoán biệt lệ là chứng khoán do chính phủ hoặc các cơ quan công quyền phát hành và bảo đảm Loại chứng khoán này được miễn giấp phép của cơ quan có thẩm quyền
− Thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC): Là thị trường mua bán chứng khoán nằm ngoài sở giao dịch, không có địa điểm tập trung những nhà môi giới, những người kinh doanh chứng khoán như tại sở giao dịch các giao dịch ở đây chủ yếu là
Trang 7dựa vào sự thoả thuận giữa người mua và người bán, không có sự kiểm soát từ Hội đồng Chứng khoán Các loại chứng khoán mua bán ở đây thường những chứng
khoán không được đăng biểu, ít người biết đến hoặc ít được mua bán
3.2 Xét về quá trình luân chuyển chứng khoán thì thị trường chứng khoán được
chia làm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
− Thị trường sơ cấp: Còn gọi là thị trường cấp một hay thị trường phát hành, hàm ý chỉ nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán mới phát hành lần đầu Thị trường
sơ cấp là thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành
− Thị trường thứ cấp: còn gọi là thị trường cấp hai hay thị trường lưu thông, là nói đến nơi diễn ra các giao dịch mua bán chứng khoán sau khi đã phát hành lần đầu Nói cách khác thị trường thứ cấp là thị trường mua đi bán lại các loại chứng khoán đã phát hành qua thị trường sơ cấp
3.3 Nếu xét về phương thức giao dịch thì thị trường chứng khoán được chia là thị
trường giao ngay và thị trường giao sau
− Thị trường giao ngay: là thị trường mua bán chứng khoán theo giá tại thời điểm giao dịch nhưng việc thực hiện thanh toán và giao hàng có thể diễn ra sau dó một vài ngày theo thoả thuận
− Thị trường giao sau: Là thị trường mua bán chứng khoán theo một loại hợp đồng định sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngày giao dịch , nhưng việc thanh toán và giao hàng xảy ra trong một thời hạn ở tương lai
− Ngoài ra, nếu căn cứ vào đặc điểm hàng hoá lưu hành thì thị trường chứng khoán còn chia thành thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ phái sinh.
4. Các nguyên tắc hoạt động của TTCK:
4.1 Nguyên tắc cạnh tranh:
− Theo nguyên tắc này, giá cả trên TTCK phản ánh quan hệ cung cầu về chứng khoán
và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty Trên thị trường sơ cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bán chứng khoán của mình cho các nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo các mục tiêu của mình Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất, và giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá.
4.2 Nguyên tắc công bằng:
Trang 8− Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ những qui định chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và trong việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những qui định đó.
4.3 Nguyên tắc công khai:
− Chứng khoán là loại hàng hoá trừu tượng nên TTCK phải được xây dựng trên cơ sở
hệ thống công bố thông tin tốt Theo luật định, các tổ chức phát hành có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin đầy đủ theo chế độ thường xuyên và đột xuất thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, sở giao dịch, các công ty chứng khoán và các tổ chức có liên quan.
4.4 Nguyên tắc trung gian:
− Nguyên tắc này có nghĩa là các giao dịch chứng khoán được thực hiện thông qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành Trên thị
trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh, các công ty Chứng Khoán mua, bán Chứng Khoán giúp các khách hàng, hoặc kết nối các khách hàng với nhau qua việc thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán trên tài khoản của mình.
4.5 Nguyên tắc tập trung:
− Các giao dịch Chứng Khoán chỉ diễn ra trên sở giao dịch và trên thị trường OTC dưới
sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tự quản.
5. Các thành phần tham gia TTCK:
5.1 Nhà phát hành:
− Là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK dưới hình thức phát hành các chứng khoán.
5.2 Nhà đầu tư:
− Là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại:
+ Nhà đầu tư cá nhân: là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua bán
trên TTCK với mục đích kiếm lời.
Trang 9+ Nhà đầu tư có tổ chức: là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán chứng khoán
với số lượng lớn trên thị trường.Các định chế này có thể tồn tại dưới các hình thức sau: công ty đầu tư, công ty bảo hiểm, quỹ lương hưu, công ty tài chính, ngân hàng thương mại và các công ty Chứng Khoán.
5.3 Các công ty Chứng Khoán:
− Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là môi giới, quản lý quỹ đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và tự doanh.
5.4 Các tổ chức có liên quan đến TTCK:
− Uỷ ban chứng khoán nhà nước: là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với TTCK ở Việt nam.
− Sở giao dịch chứng khoán: là cơ quan thực hiện vận hành thị trường và ban hành những quyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên cơ sở phù hợp với các quy định của luật pháp và UBCK.
− Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán: là tổ chức phụ trợ, phục vụ các giao dịch chứng khoán.
− Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và theo những điều khoản đã cam kết của công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể.
CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÁT HÀNH VÀ MUA BÁN CHỨNG KHOÁN
− Có 2 phương pháp phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp Đó là phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng.
1.1 Phát hành riêng lẻ:
− Phát hành riêng lẻ là quá trình trong đó chứng khoán được bán trong phạm vi một
số người nhất định (thông thường là cho các nhà đầu tư có tổ chức), với những điều kiện (khối lượng phát hành) hạn chế.
− Việc phát hành chứng khoán riêng lẻ thông thường chịu sự điều chỉnh của Luật công
ty Chứng khoán phát hành theo phương thức này không phải là đối tượng giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán.
1.2 Phát hành ra công chúng:
− Phát hành ra công chúng là quá trình trong đó chứng khoán được bán rộng rãi ra công chúng, cho một số lượng lớn người đầu tư, trong tổng lượng phát hành phải
Trang 10giành một tỷ lệ nhất định cho các nhà đầu tư nhỏ và khối lượng phát hành phải đạt được một mức nhất định.
− Những công ty phát hành chứng khoán ra công chúng được gọi là các công ty đại chúng.
− Có sự khác nhau giữa phát hành cổ phiếu và phát hành trái phiếu ra công chúng:
thức sau:
− Phát hành lần đầu ra công chúng (IPO): là việc phát hành trong đó cổ phiếu của công
ty lần đầu tiên được bán rộng rãi cho công chúng đầu tư.
− Chào bán sơ cấp (phân phối sơ cấp): là đợt phát hành cổ phiếu bổ sung của công ty đại chúng cho rộng rãi công chúng đầu tư.
nhất, đó là chào bán sơ cấp (phân phối sơ cấp).
− Việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải chịu sự chi phối của pháp luật về chứng khoán và phải được cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán cấp phép Những công ty phát hành chứng khoán ra công chúng phải thực hiện một chế độ báo cáo, công bố thông tin công khai và chịu sự giám sát riêng theo qui định của pháp luật chứng khoán.
− Ở Việt Nam, việc phát hành chứng khoán ra công chúng để niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán phải tuân theo các qui định tại Nghị định 48/1998/NĐCP ngày 11/7/1998 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
− Nghị định này qui định việc phát hành chứng khoán ra công chúng để niêm yết tại thị trường giao dịch tập trung phải được Uỷ ban chứng khoán cấp phép trừ việc phát hành trái phiếu Chính phủ Các chứng khoán này sau khi được phát hành ra công chúng sẽ được niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán.
− Mục đích của việc phân biệt hai hình thức phát hành (phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng như trên là nhằm có các biện pháp bảo vệ cho công chúng đầu
tư, nhất là những nhà đầu tư nhỏ không hiểu biết nhiều về lĩnh vực chứng khoán Nhằm mục đích này, để được phép phát hành ra công chúng, tổ chức phát hành phải
là những công ty làm ăn có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đáp ứng được các điều kiện do cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán (Uỷ ban chứng khoán nhà nước) qui định.
Trên thị trường chứng khoán, nhà đầu tư có thể:
Trang 112.1 Mua chứng khoán của tổ chức phát hành
− Mua trực tiếp tại tổ chức phát hành: Nhà đầu tư phải đăng ký mua và nộp tiền
trực tiếp tại tổ chức phát hành chứng khoán Hình thức này rất bất cập, nhất là về
mặt địa lý.
− Mua thông qua trung gian: Trung gian ở đây là các nhà đại lý hoặc các nhà bảo
lãnh phát hành, thông thường là các công ty chứng khoán và các ngân hàng thương mại Nếu bạn mua chứng khoán của tổ chức phát hành chưa niêm yết trên Trung tâm
GDCK thì việc chuyển nhượng hoặc bán lại chứng khoán đó cho người khác hiện nay
gặp nhiều khó khăn vì không dễ tìm được người mua Hơn nữa, bên bán phải trực tiếp đến công ty (hoặc uỷ quyền) để thực hiện chuyển nhượng cho người mua.
2.2 Mua bán chứng khoán niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán
mua bán tại
được công bố công khai cho mọi người biết.
Trang 12− Quy trình giao dịch chứng khoán niêm yết tại TTGDCK đã được mô tả theo các bước sau:
Bước l: Nhà đầu tư đến mở tài khoản và đặt lệnh mua hay bán chứng khoán tại
một công ty chứng khoán.
Bước 2: Công ty chuyển lệnh mua hoặc bán chứng khoán cho đại diện của công ty
tại TTGDCK Người đại diện này sẽ nhập lệnh vào hệ thống của TTGDCK.
Bước 3: Trung tâm gian dịch chứng khoán thực hiện ghép lệnh và thông báo kết
quả giao dịch cho công ty chứng khoán.
Bước 4: Công ty chứng khoán thông báo kết quả giao dịch cho nhà đầu tư.
Bước 5: Nhà đầu tư nhận được chứng khoán (nếu là người mua) hoặc tiền (nếu là
người bán) trên tài khoản của mình tại công ty chứng khoán sau 3 ngày làm việc kể
từ ngày mua bán.
CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ:
1. Thực trạng của các công ty chứng khoán hiện nay:
− TTCK Việt Nam hiện nay chịu ảnh hưởng không nhỏ từ những động thái của các Nhà Đầu Tư Nước Ngoài(NĐTNN) Theo thống kê của Trung tâm lưu ký chứng khoán, tính đến ngày 1/10/2010 Trung tâm đã cấp mã giao dịch CK cho 7.677 NĐTNN, trong đó
có 468 NĐT tổ chức và 7.209 NĐT cá nhân Với tiềm lực tài chính lớn, kinh nghiệm đầu tư ở nước ngoài thì động thái giao dịch của các NĐTNN sẽ tác động không nhỏ đến tâm lý của các NĐT cá nhân Việt Nam.
− Trước khi có quyết định của FED(quỹ dự trữ liên bang) thì các NĐTNN giao dịch rất
ít Thậm chí liên tục trong các phiên, họ bán ra nhiều hơn mua vào Bởi lẽ, phần lớn số vốn của họ hiện đang trên thị trường tài chính lớn của thế giới Đặc biệt là các tổ chức tài chính, các quỹ đầu tư Do vậy, đứng trước sự biến động của TTCK thế giới thì
họ buộc phải cân nhắc lại kênh đầu tư của mình.
− Thứ hai, NĐT cho rằng: Việc FED cắt giảm lãi suất cơ bản làm cho đồng USD yếu đi Đồng USD yếu đồng nghĩa với đồng Việt Nam sẽ mạnh lên, như vậy hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sẽ gặp khó khăn Do hàng hoá của Việt Nam trở nên đắt đỏ hơn khi xuất khẩu ra nước ngoài nên doanh thu của những doanh nghiệp có sản phẩm xuất khẩu niêm yết trên TTCK sẽ giảm Và hệ quả tất yếu là giá cổ phiếu của công ty
sẽ giảm xuống.