MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong mọi thời đại, nguồn tài nguyên, của cải đích thực và quý giá nhất của mỗi quốc gia chính là con người. Vì vậy, mục đích phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, xét đến cùng, phải vì con người, cho con người, tạo môi trường thuận lợi để con người có cơ hội phát huy mọi năng lực sáng tạo, có cuộc sống hạnh phúc. Trong điều kiện hiện nay Yên Bái nói riêng, Việt Nam nói chung đã là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO xu hướng toàn cầu hoá đang dần chiếm ưu thế, cạnh tranh ngày càng diễn ra gay gắt, vấn đề xây dựng và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao để có thể đáp ứng quá trình hội nhập quốc tế và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội đang là yêu cầu bức thiết đi với nước ta. Đảng và Nhà nước ta đã và đang phát huy và sử dụng nhân tố con người với tư cách là động lực chính của sự phát triển kinh tế xã hội. Thành công của các nước công nghiệp mới (NIC) ở châu Á cho thấy dù tài nguyên không nhiều, dân số lại đông để giảm sức ép giành lợi thế cạnh tranh. Khai thác tốt nguồn lực nội sinh thúc đẩy cho giáo dục và khoa học công nghệ nên đã tạo ra cho mình động lực phát triển toàn diện đất nước họ đặc biệt quan tâm đầu tư cho giáo dục và khoa học công nghệ nên đã tạo cho mình động lực phát triển. Điều này chứng tỏ nhân tố con người luôn có một vai trò to lớn trong sự phát triển bền vững của mọi quốc gia. Đối với một số nước mà tốc độ phát triển còn chậm như nước ta muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hộI thì phải phát huy tiềm năng trí tuệ con người Việt Nam xây dựng nguồn nhân lực Việt Nam ngày càng nâng cao về chất lượng. Muốn thực hiện được điều đó cần có sự quan tâm tới vấn đề“Phát huy vai trò nhân tố con người trong quản lý xã hội ở tỉnh Yên Bái hiện nay” từ trong công tác lãnh đạo, quản lý, trong quá trình đào tạo, sử dụng và phân công lao động xã hội
Trang 1TIỂU LUẬNMÔN: HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VỚI QUẢN LÝ XÃ HỘI
Đề tài:
PHÁT HUY VAI TRÒ NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUẢN LÝ
XÃ HỘI Ở TỈNH YÊN BÁI HIỆN NAY
Trang 2MUC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN TỐ 4
CON NGƯỜI 4
1.1 Lý luận về con người 4
1.2 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về con người và phát huy nhân tố con người 11
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT HUY VAI TRÒ NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUẢN LÝ XÃ HỘI Ở TỈNH YÊN BÁI HIỆN NAY 20
2.1 Phát huy nhân tố con người ở Yên Bái hiện nay 20
2.2 Thực trạng phát huy vai trò nhân tố con người trong quản lý xã hội ở tỉnh Yên Bái hiện nay 20
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO PHÁT HUY VAI TRÒ NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUẢN LÝ XÃ HỘI Ở TỈNH YÊN BÁI TRONG THỜI GIAN TỚI 25
3.1 Giải pháp phát huy nhân tố con người ở Yên Bái hiện nay 25
KẾT LUẬN 27
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong mọi thời đại, nguồn tài nguyên, của cải đích thực và quý giá nhấtcủa mỗi quốc gia chính là con người Vì vậy, mục đích phát triển kinh tế - xãhội của mỗi quốc gia, xét đến cùng, phải vì con người, cho con người, tạo môitrường thuận lợi để con người có cơ hội phát huy mọi năng lực sáng tạo, cócuộc sống hạnh phúc
Trong điều kiện hiện nay Yên Bái nói riêng, Việt Nam nói chung đã làthành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO xu hướng toàn cầu hoá đangdần chiếm ưu thế, cạnh tranh ngày càng diễn ra gay gắt, vấn đề xây dựng vàphát triển nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao để có thể đáp ứng quátrình hội nhập quốc tế và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội đang là yêucầu bức thiết đi với nước ta Đảng và Nhà nước ta đã và đang phát huy và sửdụng nhân tố con người với tư cách là động lực chính của sự phát triển kinh tế
xã hội
Thành công của các nước công nghiệp mới (NIC) ở châu Á cho thấy dùtài nguyên không nhiều, dân số lại đông để giảm sức ép giành lợi thế cạnhtranh Khai thác tốt nguồn lực nội sinh thúc đẩy cho giáo dục và khoa họccông nghệ nên đã tạo ra cho mình động lực phát triển toàn diện đất nước họđặc biệt quan tâm đầu tư cho giáo dục và khoa học công nghệ nên đã tạo chomình động lực phát triển Điều này chứng tỏ nhân tố con người luôn có mộtvai trò to lớn trong sự phát triển bền vững của mọi quốc gia Đối với một sốnước mà tốc độ phát triển còn chậm như nước ta muốn xây dựng thành côngchủ nghĩa xã hộI thì phải phát huy tiềm năng trí tuệ con người Việt Nam xâydựng nguồn nhân lực Việt Nam ngày càng nâng cao về chất lượng Muốn
thực hiện được điều đó cần có sự quan tâm tới vấn đề“Phát huy vai trò nhân
tố con người trong quản lý xã hội ở tỉnh Yên Bái hiện nay” từ trong công
tác lãnh đạo, quản lý, trong quá trình đào tạo, sử dụng và phân công lao động
xã hội
Trang 42 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở về vấn đề phát huy vai trò nhân tố con người trong quản
lý xã hội ở tỉnh Yên Bái hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích và làm sáng tỏ phát huy vai trò nhân tố con người trongquản lý xã hội ở Việt Nam nói chung và tỉnh Yên Bái nói riêng;
- Chỉ ra và đánh giá thực trạng phát huy vai trò nhân tố con người trongquản lý xã hội ở tỉnh Yên Bái hiện nay;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao về phát huy vai trò nhân tốcon người trong quản lý xã hội ở tỉnh Yên Bái trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phát huy vai trò nhân tố con ngườitrong quản lý xã hội ở tỉnh Yên Bái hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu phát huy vai trò nhân
tố con người trong quản lý xã hội ở Việt Nam, ở đây là tỉnh Yên Bái
Về không gian, thời gian: Khảo sát từ năm 2015 đến nay.
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh quan điểm về phát huy vai trò nhân tố con người trongquản lý xã hội ở tỉnh Yên Bái
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu và có sự phối hợp giữachúng khi nghiên cứu, đó là các phương pháp cơ bản sau đây: Phương phápphân tích; lịch sử, so sánh; tổng hợp và khảo cứu tài liệu…
Trang 55 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
5.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần làm phong phú thêm những vấn đề lý luận về phát huyvai trò nhân tố con người trong quản lý xã hội ở Việt Nam nói chung và tỉnhYên Bái nói riêng
5.2 Thực tiễn của đề tài
Đề tài đưa ra những giải pháp, những kiến nghị làm cơ sở thực tiễn vềphát huy vai trò nhân tố con người trong quản lý xã hội ở tỉnh Yên Bái hiệnnay.Từ đó, làm rõ vấn đề phát triển, phát huy nhân tố con người trong quản lý
xã hội ở Việt Nám trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
6 Kết cấu của đề tài
Bài tiểu luận ngoài mục lục, danh mục tài liệu tham khảo thi có baphần: Phần mở đầu, nội dung và kết luận
Phần mở đầu gồm: Lý do chọn đề tài; mục đích và nhiệm vụ nghiêncứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; cơ sở lý luận và phương pháp nghiêncứu; Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài; kết cấu của tiểu luận
Phần nội dung gồm ba phần, cụ thể:
- Chương 1 Một số vấn đề lý luận về nhân tố con người;
- Chương 2 Thực trạng phát huy vai trò nhân tố con người trongquản lý xã hội ở tỉnh Yên Bái hiện nay;
- Chương 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao phát huy vai trònhân tố con người trong quản lý xã hội ở tỉnh Yên Bái trong thời tới
Trang 6NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN TỐ
CON NGƯỜI
1.1 Lý luận về con người
1.1.1 Tư tưởng về con người trong triết học Phương Đông và Phương Tây
Trước hết là quan điểm triết học Ấn Độ cổ đại, từ rất sớm triết học Ấn
Độ cổ đại với nhiều hệ thống, trường phái triết học khác nhau như trườngphái triết học chính thống và trường phái triết học không chính thống đã thểhiện những tư tưởng khác nhau về con người.
Việc lý giải bản chất đời sống tâm linh và con đường giải thoát conngười khỏi “bể khổ” đã trở thành nội dung chính yếu trong toàn bộ hệ thốngquan niệm về con người của tất cả các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại. Quan niệm triết học về con người trong triết học Ấn Độ cổ đại không dừng ở những khái niệm, tín điều khô khan, kinh sách mà phong phú sinh động, đượcthể hiện ở sinh hoạt văn hóa và tín ngưỡng của nhân dân Đối với các nhà triếthọc Ấn Độ cổ đại mọi nguyên lý triết học điều tập trung vào việc tìm conđường “giải thoát” con người khỏi sự ràng buộc của đời sống vật chất. Mụcđích “giải thoát” khiến tất cả các triết học đều coi trọng và đều đặt lên hàngđầu việc giải quyết vấn đề con người Vì vậy, quan niệm về con người, sựphản ánh triết học về con người đã trở nên đa dạng, sâu sắc và có khả năng
mở rộng ra nhiều vấn đề triết học khác Con người là điểm xuất phát, “giảithoát” con người là mục đích cao nhất và cuối cùng của con người Nó chính
là ý nghĩa nhân văn của triết học Ấn Độ cổ đại.
Tư tưởng về con người của triết học Trung Hoa cổ đại, triết học TrungHoa cổ đại luôn luôn xem con người là đối tượng cả về mặt bản thể, quan hệ
xã hội làm trung tâm luận giải, tư tưởng triết học về nhân học, lấy con ngườilàm trung tâm và mục tiêu nhận thức, đề cao tinh thần nhân văn, khẳng định
Trang 7giá trị tồn tại tích cực của con người đối với chính bản thân mình và đối vớithế giới bên ngoài Con người là hạt nhân vũ trụ, nhưng không đồng nhất vớiđộng vật hoặc thần linh mà hòa nhập với trời và đất Nói tới con người tấtphải tìm hiểu bản chất con người, tính chất người Nhìn chung, triết học cổđại Trung Quốc chỉ quan tâm đến “tính người”, “tâm người”, “lí người”, tức
là chỉ bàn đến phẩm chất tinh thần, ý thức tâm lý, tư tưởng của con người, tính người là cái được trời phú, bị quy định bởi ý muốn của Thượng Đế. Dotriết học gắn với những vấn đề đạo đức, chính trị, xem mặt xã hội của con người là trung tâm nghiên cứu, các triết gia cổ đại Trung Quốc đã đặc biệtquan tâm đến vận mệnh con người Quan niệm “thiên mệnh” quyết định nhân
sự con người, cũng từ sự thừa nhận “thiên mệnh”, số phận con người đượcxem như “bất biến” và con người không nên, không thể cưỡng lại “mệnhtrời” Mọi cố gắng con người đều thoát ra khỏi sự an bài, định mệnh đều vôích đều trái lẽ trời.
Nói đến con người và quan hệ xã hội của con người, Triết học cổ đạiTrung Quốc lấy đạo đức - luân lí làm nội dung chủ yếu của luận thuyết Đạođức - luân lí ở đây là thuộc tính đẳng cấp xã hội của con người, một thuộctính quyết định bản chất con người là thiện hay ác Luân thường đạo lí nằm cảtrong vạn vật, trời đất Muốn luân lí được hiện thực hóa, điều căn bản quyếtđịnh là cá nhân phải “tu thân dưỡng tính” Người hiểu thấu luân lí và thựchiện đầy đủ, trung thành đạo đức - luân lí sẽ trở nên con người khuôn mẫu,tấm gương sáng của xã hội, của thời đại.
Triết học Trung Quốc đã xây dựng được một hệ thống triết lí về conngười và xã hội mà nó đang sống, nhưng các khái niệm, phạm trù về conngười và quan hệ xã hội của tồn tại được các nhà triết học cổ đại Trung Quốcđưa ra thường mang tính chất cảm thụ trực tiếp, hiển nhiên, không cần, khôngthể chứng minh, biện giải và bắt buộc phải thừa nhận.
Triết học cổ đại Trung Quốc khi bàn về con người đã đưa ra các quanđiểm rất phong phú, sâu sắc và đa dạng Cái nền tảng suốt quá trình diễn biến
Trang 8của vấn đề “con người” trong triết học này là cuộc đấu tranh giữa quan hệ duyvật vô thần tiến bộ và quan niệm duy tâm tôn giáo Các quan niệm về “nhân”,
“lễ”, “nghĩa”, “chính danh”, “lương tri’, “tính thiện”, “tính ác”, “vô dục”,
“nhân sự” ,… tất cả đều được trình bày, lí giải theo các nội dung chồng chéonhau, xâm nhập vào nhau, lọc bỏ, tiếp thu lẫn nhau; nhiều trường hợp rất khóphân biệt thành trường phái, tông phái, xu hướng khác nhau Tính hòa đồng tếnhị, tinh tế này đã làm cho việc phân biệt tính chất duy tâm hay duy vật, vôthần hay hữu thần của các quan hệ về con người ngày càng trở nên khó khăn. Như vậy, có thể nêu một cách tổng thể rằng về phương diện nghiên cứu con người, triết học cổ đại Trung Quốc đã tạo ra những giá trị và những ảnhhưởng không thống nhất Một mặt, nó đặt cơ sở tư tưởng cho những giá trịtích cực nhất định trên một số lĩnh vực văn hóa truyền thống, mặt khác, nó làmột trong những nguyên nhân chủ yếu tạo ra các độc tố của hệ tư tưởng thốngtrị phong kiến nói riêng và ý thức xã hội trong xã hội phong kiến nói chung. Triết học phương Tây cổ đại đã tập trung nghiên cứu khá toàn diện về con người, trong đó đặt biệt chú ý tới những tính chất khoa học và tự do của conngười. Như chúng ta đã biết Hy lạp cổ đại là xã hội khá tiêu biểu về sự pháttriển nhiều mặt của con người ở phương Tây cổ đại Vấn đề con người trongtriết học Hi Lạp cổ đại đã bộc lộ rõ cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật vàchủ nghĩa duy tâm.
Nhà toán học và cũng là nhà triết học Pitago (khoảng 517 - 347 TCN)thì cho rằng linh hồn con người bất tử, nó cư trú ở thể xác hữu tử và sau khithể xác mất thì linh hồn nhập vào thể xác khác để tái sinh lại mình CònPlatôn (427 - 347 TCN) thì cho rằng tất cả kể cả con người đều bắt nguồn từ
“thế giới ý niệm” đó chính là cái “tồn tại chân chính” Những vật thể cảm tínhchỉ là cái bóng của “thế giới ý niệm” Sau khi thể xác chết, linh hồn bất tửthoát khỏi tù ngục của thân thể về với “thế giới ý niệm”.
Đêmôcrit (khoảng 460 - 370 TCN) cho rằng cuộc sống không phải dothần thánh tạo ra, mà được cấu tạo bởi các nguyên tử Động vật khác thực vật
Trang 9ở chỗ chúng có linh hồn, nhờ đó động vật có thể hoạt động được, linh hồn củacon người được cấu tạo bằng nguyên tử khi kết hợp với thể xác thì tạo nên sựvận động và ông kết luận linh hồn không bất tử, và linh hồn sẽ mất đi cùngvới sự mất đi của thể xác.
Tóm lại, vấn đề con người đã được xem xét, giải quyết theo quan niệmduy tâm hay duy vật trong tư tưởng triết học Hi Lạp cổ đại Các nhà triết học
Hi Lạp đã xây dựng nên nền triết học hết sức phong phú, đa dạng, đã đánhdấu trong lịch sử tư tưởng nhân loại một bước ngoặt nhân bản độc đáo.
1.1.2 Tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người
Theo quan điểm của C.Mác, con người và bản chất con người một cáchthấu đáo C.Mác đã chỉ rõ: “Con người không phải là một sinh vật trừu tượng,
ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới, con người chính là thế giới con người, là Nhànước, là xã hội” Khi nói về bản chất con người, C.Mác đã đưa ra một địnhnghĩa nổi tiếng: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòanhững quan hệ xã hội” Trong luận đề này, C.Mác phê phán L.Phoiơbắc đãcoi con người như những cá nhân trừu tượng, cô lập và bản chất của conngười chỉ là “cái trừu tượng cố hữu của những cá nhân riêng biệt” hoặc “bảnchất con người chỉ có thể được hiểu là “loài”, là tính phổ biến nội tại, gắn bómột cách thuần túy tự nhiên đông đảo cá nhân hợp lại với nhau” Đối với conngười đứng đầu Nhà nước mà Hêghen gọi là “con người đặc thù”, thì bản chấtcủa nó, như C.Mác đã phân tích, cũng “không phải là râu của nó, không phải
là máu của nó, không phải là bản chất thể xác trừu tượng của nó, mà là phẩmchất xã hội của nó” Như vậy, bản chất con người không phải là trừu tượng
mà là cụ thể, không phải là tự nhiên mà là lịch sử, không phải là vốn có trongmỗi cá nhân riêng biệt, cô lập mà là tổng hòa của toàn bộ các mối quan hệ xã
hội Nếu tách con người khỏi các quan hệ xã hội thì không còn là conngười, mà chỉ là một loài sinh vật mang tính bầy đàn sinh vật chứ không phải
là xã hội con người
Trang 10Khi nói con người là tổng hòa các mối quan hệ thì trong các mối quan
hệ xã hội ấy, quan hệ sản xuất đóng vai trò chi phối, quyết định các quan hệ
xã hội khác, vì nó xác định con người thuộc các giai cấp khác nhau Khi nóicon người trong xã hội có giai cấp thì phải nói đến tính giai cấp của nó Cácquan hệ xã hội bao gồm nhiều loại Nếu xét mối quan hệ giữa cá nhân và xãhội, hay giữa cá nhân con người và cộng đồng xã hội thì có quan hệ gia đình,
họ tộc, quan hệ làng xã, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc - đất nước - Tổquốc, quan hệ nhân loại Nếu xét về tính chất các quan hệ xã hội thì có quan
hệ sản xuất và các quan hệ khác, như quan hệ chính trị, đạo đức, quan hệ tôngiáo Như vậy, các quan hệ xã hội rất đa dạng, luôn đan xen lẫn nhau
1.1.3 Tư tưởng của chủ tịch Hồ Minh về con người
Tư tưởng Hồ Chí Minh con người chính là sự kế thừa và phát triểnnhững tinh hoa tư tưởng văn hoá nhân loại và chủ yếu là tiếp thu và sáng tạohọc thuyết Mác - Lênin về con người trong hoàn cảnh Việt Nam
Mặc dù Hồ Chí Minh không đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về conngười, nhưng trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng,Người đã đưa ra một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về con
người. Quan niệm về con người của Hồ Chí Minh có thể khái quát lại như
sau: Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội;con người chủ thể của các mối quan hệ xã hội - lịch sử, là chủ thể sáng tạo vàhưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người là một thực thể mang tính xã
hội Tính xã hội đó được hình thành trong tổng hoà các quan hệ xã hội với
nhiều cấp độ khác nhau Người viết: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh
em, họ hàng, bầu bạn, nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng nữa là cả loàingười” Con người trong quan niệm của Người vừa là mỗi thành viên cụ thể,vừa là những cộng đồng người trong xã hội Trong cộng đồng con người Việt
Nam, rõ ràng quan hệ gia đình, anh em, họ hàng là rất quan trọng Hơn nữa, nét độc đáo trong cộng đồng người Việt Nam là quan hệ "đồng bào"; cộng
Trang 11đồng đó có cùng một nguồn gốc "con Rồng, cháu Tiên" Điều đó cắt nghĩa vìsao Hồ Chí Minh rất coi trọng sức mạnh cộng đồng người Việt Nam, tìm mọicách để bồi dưỡng và phát huy sức mạnh đó trong tiến trình phát triển củacách mạng Việt Nam Đó là một trong những cơ sở lý luận, thực tiễn màĐảng Cộng sản Việt Nam đã dựa vào đó để đề ra chính sách về đại đoàn kếttoàn dân tộc trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam và trong thời kỳđổi mới đất nước hiện nay.
Khi nghiên cứu nguồn gốc, bản chất con người, triết học Mác - Lêninđặt con người trong lịch sử sản xuất vật chất để xem xét và từ quan điểm duyvật lịch sử đã khẳng định, lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự hìnhthành và phát triển của con người, làm biến đổi điều kiện tồn tại tự nhiên củacon người, biến đổi bản chất tự nhiên của con người, đồng thời hình thànhnên và phát triển bản chất xã hội của con người Nhờ lao động mà con ngườikhẳng định mình là chủ thể sáng tạo mọi giá trị vật chất, tinh thần Lao độngsáng tạo là giá trị nhân văn, giá trị cao nhất của con người Tiếp thu quanđiểm đó của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh cho rằng, con người trướchết là người lao động, là nhân dân lao động Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh đềcập đến công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, và coi họ chính là chủ thểsáng tạo xã hội mới
Chính vì xem xét con người trong sản xuất vật chất, nhìn thấy bản chấtsáng tạo, vai trò chủ thể lịch sử và giá trị chân chính của con người mà HồChí Minh cho rằng, "trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân" Ngườidạy cán bộ phải biết ơn những người dân lao động bình thường, vì cơm chúng
ta ăn, áo chúng ta mặc, phương tiện chúng ta sử dụng là do công sức lao độngcủa nhân dân sáng tạo ra
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân dân lao động với tư cách là chủ thể
sáng tạo lịch sử xã hội là một trong những cơ sở lý luận để Đảng Cộng sản
Việt Nam xác định mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam với đặc trưng cơbản hàng đầu là "một xã hội do nhân dân lao động làm chủ" Trong hoạch
Trang 12định đường lối, chính sách, Đảng và Nhà nước đã luôn xuất phát từ lợi ích củanhân dân lao động Mọi chủ trương, chính sách nếu không còn phù hợp vớinguyện vọng, lợi ích của nhân dân đều được Đảng và Nhà nước ta bổ sung,sửa đổi hoặc bãi bỏ.
Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn là sự thống nhất giữa con
người cá nhân và con người xã hội Con người vừa là một chỉnh thể đơn nhất
mang những phẩm chất riêng, vừa là một thực thể xã hội mang những phẩmchất của một hệ thống các quan hệ xã hội trong sự thống nhất biện chứng giữacái chung với cái đặc thù và cái riêng Chính vì vậy, Hồ Chí Minh đã khẳngđịnh chủ nghĩa xã hội không hề phủ nhận cá nhân, chà đạp lên lợi ích cá nhân,
mà ngược lại, hơn hẳn bất kỳ một chế độ xã hội nào trong lịch sử, chủ nghĩa
xã hội luôn tôn trọng lợi ích cá nhân, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển
tự do và toàn diện của cá nhân
Trong khi luôn nhấn mạnh và coi trọng con người tập thể, con người xãhội, Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến con người cá nhân Không chỉ trong
tư tưởng, lý luận, mà cả trong hoạt động thực tiễn, Người thường quan tâmđến mỗi con người cụ thể Người sâu sát, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, chia
sẻ niềm vui và thấu hiểu nhu cầu, lợi ích của các tầng lớp nhân dân từ nôngdân, công nhân, bộ đội, phụ nữ, thanh niên đến các cụ phụ lão, các cháu nhiđồng Trong chỉ đạo thực tiễn, Hồ Chí Minh không chỉ động viên, phát huytinh thần tập thể, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mà còn biết khơi dậy nhữngphẩm chất tốt đẹp trong mỗi con người cụ thể, làm cho những đức tính tốt đẹp
đó "nảy nở như hoa mùa xuân"
Để giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa con người cá nhân và conngười xã hội, Hồ Chí Minh quan tâm giải quyết mối quan hệ lợi ích Người
đã biết kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích gần và lợiích xa, lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần tạo nên động lực nhằm tích cựchoá nhân tố con người Lấy tư tưởng này của Người làm cơ sở nền tảng,trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn quan
Trang 13tâm đến các chính sách xã hội vì lợi ích con người Đây cũng chính là một
cơ sở khoa học để trong thời kỳ mới của cách mạng, Đảng coi trọng việc tậphợp, tổ chức, đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân trong Mặt trận dân tộcthống nhất, tạo sức mạnh tổng hợp để đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước
Theo Người, động lực quan trọng và mang tính quyết định nhất của xâydựng chủ nghĩa xã hội chính là nhân tố con người Người khẳng định: “Vì lợiích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”;
“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có người xã hội chủ nghĩa” Đặc biệt,truyền thống yêu nước, sự cố kết cộng đồng, gắn với sự lao động sáng tạo củanhân dân là sức mạnh tổng hợp tạo nên động lực vô cùng to lớn Chính vìvậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo xây đắp khối đại đoàn kết dântộc Người khẳng định: “Đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân là nguồn sức mạnh
vô địch”.
Quan niệm về con người, coi con người là một thực thể thống nhất của
“cái cá nhân” và “cái xã hội”, con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứnggiữa cá nhân với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; yêu thương conngười, tin tưởng tuyệt đối ở con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa làđộng lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân conngười, đó chính là những luận điểm cơ bản trong tư tưởng về con người của HồChí Minh Xuất phát từ những luận điểm đúng đắn đó, trong khi lãnh đạo nhândân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước,
Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng thương yêu, quý trọng nhân dân, biết tổchức và phát huy sức mạnh của nhân dân Tư tưởng về con người của Ngườithông qua thực tiễn cách mạng đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn và lànhân tố quyết định tháng lợi của chính sự nghiệp cách mạng ấy.
1.2 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về con người và phát huy nhân tố con người
Trong thời đại ngày nay, nguồn tài nguyên, của cải đích thực và quý giánhất của mỗi quốc gia chính là con người Vì vậy, mục đích phát triển kinh tế
Trang 14- xã hội của mỗi quốc gia, xét đến cùng, phải vì con người, cho con người, tạomôi trường thuận lợi để con người có cuộc sống hạnh phúc, có sức khoẻ và có
cơ hội phát huy mọi năng lực sáng tạo Nhận thức được điều đó, trong quátrình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội,Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định vai trò đặc biệt của nhân tố con ngườivới tính cách là động lực của sự phát triển xã hội, của sự nghiệp xây dựng xãhội xã hội chủ nghĩa
Xuất phát từ quan điểm mác-xít về con người cho thấy, khi con người
là một thực thể tự nhiên - xã hội, con người nói chung biểu hiện ra trên nhiềuphương diện Chẳng hạn, con người tồn tại với tư cách là một nguồn tàinguyên đặc biệt - tài nguyên con người; con người tồn tại với tư cách là mộtnguồn lực đặc biệt hay nguồn lực con người, hoặc tồn tại với tư cách là mộtnhân tố thúc đẩy đời sống kinh tế - xã hội gọi là nhân tố con người… Bởi vậy,khái niệm nhân tố con người là sự tiếp tục triển khai quan điểm của triết họcMác - Lênin về con người
Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin trong tiến trình xâydựng xã hội mới, Đảng ta đã khẳng định: nguồn lực quý báu nhất, có vai tròquyết định nhất là con người Việt Nam; nhân tố con người chính là nguồn sứcmạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam Đối với một nước chủ động lựa chọn vàkiên trì con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam,
sự phát triển, tăng trưởng kinh tế, xét đến cùng cũng là vì con người, hướngđến con người Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, Đảng ta xácđịnh một trong những yếu tố quyết định việc chúng ta có tranh thủ tận dụngthành công những thuận lợi, cơ hội và vượt qua thách thức, khó khăn mà quátrình đó đặt ra hay không phụ thuộc đáng kể vào con người
Từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chú trọng đến quyền làmchủ của nhân dân lao động “thực chất là tôn trọng con người, phát huy sứcsáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân, hướng sự sáng tạo đó vào sự nghiệp xâydựng xã hội mới” Với quan điểm này, mọi chủ trương, chính sách của Đảngđều chú trọng đến việc chăm lo bồi dưỡng phát huy nhân tố con người
Trang 15Vấn đề con người được đề cập đầu tiên tại Đại hội lần thứ IV của Đảng
và được đề cập cụ thể, trực tiếp trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thông qua tại Đại hội VII (năm 1991).Trong Cương lĩnh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Xã hội xã hộichủ nghĩa là một xã hội con người được giải phóng, nhân dân làm chủ, có nềnkinh tế phát triển cao và nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, mọingười có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện để phát triển cánhân, công bằng xã hội và dân chủ được đảm bảo Vì vậy, phương hướng,mục tiêu lớn của chính sách xã hội được đề cập trong Cương lĩnh, Đảng ta chỉrõ: “Phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng vềquyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xãhội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầutrước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng
xã hội”
Quan điểm này của Đảng được xây dựng trên những cơ sở khoa họccủa chủ nghĩa Mác - Lênin và xuất phát từ đặc điểm lịch sử cụ thể của đấtnước Do đó, Đảng ta khẳng định phải kết hợp tăng trưởng kinh tế với việcthực hiện các chính sách xã hội nhằm đảm bảo sự phát triển hài hoà trong xãhội, trong đó con người được đặt vào vị trí trung tâm
Đại hội toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta xác định đẩy mạnh hơn nữa sựnghiệp giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu để pháthuy nhân tố con người - động lực trực tiếp của sự phát triển Tại Hội nghị BanChấp hành Trung ương lần thứ 4 khoá VII, Đảng ta nhấn mạnh: “Con người
là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhấtcủa chế độ ta… Chúng ta cần tìm hiểu sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩaquyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn gốccủa cải vật chất và văn hoá, mọi nền văn minh của các quốc gia, phải xuấtphát từ tinh thần nhân văn sâu sắc nhằm phát triển con người toàn diện, xâydựng một xã hội công bằng, nhân ái, thiết lập quan hệ thật sự tốt đẹp và tiến