BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI NGUYỄN VIỆT HÙNG ỨNG DỤNG MÔ HÌNH SWMM NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THOÁT NƯỚC KHU VỰC TRUNG TÂM TP SÓC TRĂNG THEO QUY HOẠCH ĐẾN N[.]
S Ự C Ầ N THI Ế T C ỦA ĐỀ TÀI
Trong quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị, thoát nước, xử lý nước thải và vệ sinh môi trường đóng vai trò vô cùng quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững Các khu vực gặp phải hạ tầng kém phát triển, ô nhiễm nước thải và ngập úng thường xuyên sẽ gặp khó khăn trong hoạt động đô thị, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao hệ thống thoát nước và xử lý nước thải Việc cải thiện các công trình môi trường không những giúp giảm thiểu ô nhiễm mà còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân đô thị.
Những hệ thống thoát nước trong đô thị nước ta hiện nay đang thể hiện nhiều vấn đề bất cập gây lãng phí về kinh tế, khó khăn về công tác quản lý vận hành, cũng như ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái; một số biểu hiện cụ thể như: hệ thống hạ tầng kỹ thuật nói chung chưa hoàn thiện, mạng lưới thu dẫn nước mưa và nước thải sinh hoạt chưa phát huy hết tác dụng, nhiều khu vực đường ống không có nước chảy qua, cũng có khá nhiều nơi bị ngập úng khi xảy ra mưa lớn, tỷ lệ rò rỉ nước và thấm vào đất còn khá cao gây mùi hôi thối, ảnh hưởng mỹ quan đô thị, một số công trình được xây dựng nhưng không thể đi vào hoạt động, nhiều khu vực hệ thống thu gom nước đã xuống cấp không còn khả năng hoạt động,tình trạng nước thải không qua xử lý đổ trực tiếp ra sông hồ còn rất phổ biến… Ngoài ra, do tình hình diễn biến phức tạp của thời tiết hiện nay, lượng mưa bão đổ bộ vào đất liền nước ta ngày càng nhiều cũng gây ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu gom và tiêu thoát nước của đô thị, đặc biệt là các đô thị đang có hệ thống thoát nước chưa hoàn thiện. Đối với các khu đô thị, các điểm dân cư mới, chất lượng hệ thống hạ tầng kỹ thuật, trong đó có thoát nước mưa, nước thải, đa phần quyết định tính văn minh đô thị, góp phần tạo hấp dẫn đối với khách hàng, cũng như quyết định đến sự phát triển bền vững về môi trường của đô thị về lâu dài Vì vậy cần phải đưa ra các giải pháp cụ thể, phải có các giải pháp đồng bộ về các vấn đề hạ tầng kỹ thuật và mang tính khả thi cao để khắc phục được những nhược điểm còn tồn tại nêu trên Đó là các giải pháp về chuẩn bị kỹ thuật, quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, tính toán cải tạo nâng cấp hệ thống hạ tầng nói chung và hệ thống thoát nước nói riêng của các đô thị, hướng đến bảo vệ môi trường
Để đảm bảo phát triển bền vững, cần sử dụng nguồn vốn đầu tư một cách hiệu quả nhất Các giải pháp phát triển đô thị phải dựa trên dự báo ngắn hạn và dài hạn, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của địa phương hiện tại và trong tương lai Việc xây dựng các kế hoạch phù hợp sẽ giúp tối ưu hóa nguồn lực và thúc đẩy sự phát triển đô thị bền vững.
Thành phố Sóc Trăng là trung tâm hành chính và trung tâm kinh tế, văn hóa của tỉnh Sóc Trăng, nằm trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, miền Nam Bộ Dù đã trải qua nhiều lần tách nhập với các tỉnh lân cận qua các thời kỳ, thành phố vẫn giữ vai trò là trung tâm phát triển chính của khu vực Với vị trí địa lý thuận lợi, Sóc Trăng góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại, dịch vụ và văn hóa của vùng Nam Bộ.
Sóc Trăng nằm ở cuối hạ lưu sông Hậu và gần biển, chịu ảnh hưởng của thủy triều bán nhật không đều gây biến đổi mực nước trên các sông chính Thành phố được bao quanh bởi các sông lớn như Sông Maspero, rộng từ 40 – 60 m, dài 7 km, và Sông Đinh, rộng từ 60 – 80 m, dài 17 km, góp phần tạo nên hệ thống thủy lợi đa dạng Trong nội thành, hệ thống kênh rạch dày đặc với mật độ dòng chảy đạt 1,1 km/km², gồm 9 tuyến kênh nhánh có chiều rộng từ 8 – 20 m và nhiều kênh rạch nhỏ rộng từ 2 – 10 m, đảm bảo cân bằng hệ sinh thái và giao thông thủy lợi của thành phố.
Hệ thống thoát nước của thành phố phần lớn được xây dựng trước năm 1975, hiện đã xuống cấp, không đồng bộ và có đường kính quá nhỏ, gây khó khăn trong việc xử lý lượng nước mưa ngày càng gia tăng do dân số đông đúc Dù được chính quyền nâng cấp và mở rộng hàng năm kể từ sau khi tỉnh Sóc Trăng tái lập vào năm 1992, hệ thống vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu thoát nước, dẫn đến tình trạng ngập úng khi mưa lớn và triều cường Các tuyến đường mới đã được xây dựng theo quy hoạch phát triển, với hệ thống cống thoát nước mưa hai bên, tuy nhiên công suất của các cống này còn hạn chế, chủ yếu phục vụ khu vực lân cận và trong phạm vi nhỏ Một số tuyến đường có cống nhỏ, không có điểm xả nước phù hợp, khiến tình trạng ngập úng diễn ra thường xuyên trong mùa mưa Ngoài ra, trong khu vực quy hoạch còn có các kênh hở như Kênh Nhân Lực và Kênh Cô, dễ gây tích tụ nước nếu không được kiểm soát tốt.
Bắc Một số cống thoát xả nước vào các kênh hở này Tuy nhiên các kênh có cao trình đáy cạn và hay bị tắc nghẽn do cây cỏ
Việt Nam nằm trong số năm quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, đặc biệt là do nước biển dâng cao và ngày càng xuất hiện nhiều hơn các hiện tượng thời tiết cực đoan Sự gia tăng cường độ và tần suất các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt đang đe dọa xã hội, kinh tế và môi trường của đất nước Chính sách thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu trở nên cấp thiết để bảo vệ tương lai bền vững cho Việt Nam.
Theo kịch bản BĐKH được công bố năm 2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, khu vực dự án nằm trong phân vùng từ mũi Kê Gà đến mũi Cà Mau, chịu tác động của biến đổi khí hậu theo các kịch bản khác nhau Các kịch bản này dự đoán mức độ gia tăng các hiện tượng khí hậu cực đoan và mực nước biển, cho thấy sự thay đổi rõ rệt so với hiện trạng Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng các giải pháp thích ứng phù hợp để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu đến khu vực dự án.
Bảng 1 Kịch bản nước biển dâng cho khu vực dự án
Kịch bản Các mốc thời gian của thế kỷ 21
Theo dự báo năm 2050, mực nước biển tại Việt Nam sẽ tăng khoảng 25 cm, cùng với đó lượng mưa tăng 5%, trong khi đến năm 2100, mực nước biển có thể tăng tới 73 cm Những biến đổi này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu tác động của nước biển dâng kết hợp với mưa lũ do biến đổi khí hậu đối với hệ thống thoát nước ở các đô thị ven biển.
TP Sóc Trăng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, đặc biệt là các hiện tượng thời tiết bất thường gây ảnh hưởng đến công tác thoát nước của thành phố Vị trí gần sông Hậu và chịu tác động của chế độ bán nhật triều của biển Đông khiến hệ thống thoát nước của thành phố gặp nhiều khó khăn, dẫn đến nguy cơ ngập lụt và ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân.
Biến đổi khí hậu gây ra nhiều tác động tiêu cực đối với hệ thống thoát nước, làm tình hình ngập úng ngày càng nghiêm trọng nếu không có các giải pháp thích ứng Để đảm bảo phát triển bền vững và ổn định, việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp thoát nước cho Thành phố Sóc Trăng nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu và phù hợp với quy hoạch phát triển trong tương lai là rất cần thiết.
Dự án nghiên cứu "Ứng dụng mô hình SWMM để đề xuất giải pháp thoát nước khu vực trung tâm TP Sóc Trăng theo quy hoạch đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050" hiện nay có ý nghĩa thiết thực và cấp thiết Nghiên cứu này giúp xác định các giải pháp thoát nước hiệu quả phù hợp với nhu cầu phát triển của thành phố Áp dụng mô hình SWMM giúp tối ưu hóa hệ thống thoát nước, giảm rủi ro ngập úng và nâng cao chất lượng môi trường đô thị Việc đề xuất các giải pháp dựa trên quy hoạch đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 đảm bảo sự bền vững cho phát triển đô thị Sóc Trăng trong tương lai.
M Ụ C TIÊU NGHIÊN C Ứ U
Nghiên cứu các bài toán liên quan đến hệ thống thoát nước thành phố nhằm đưa ra các giải pháp tối ưu, nâng cao hiệu quả và đảm bảo chức năng thoát nước hiệu quả cho hệ thống Đề xuất các giải pháp thoát nước phù hợp cho thành phố Sóc Trăng nhằm giảm thiểu tình trạng ngập úng và duy trì môi trường sống trong lành Việc phân tích kỹ lưỡng các vấn đề về thoát nước giúp xây dựng các phương án bền vững, phù hợp với đặc điểm địa phương Các giải pháp đề xuất tập trung cải thiện khả năng lưu thoát nước, giảm thiểu tác động của thời tiết và phát triển hệ thống thoát nước bền vững cho thành phố.
N Ộ I DUNG NGHIÊN C Ứ U
Thu thập tài liệu và đánh giá khả năng làm việc của hệ thống thoát nước của thành phố.
Phân tích và tính toán các bài toán liên quan đến hệ thống thoát nước dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm đảm bảo tính chính xác và khả thi của thiết kế Việc này giúp nâng cao khả năng phục vụ của hệ thống hạ tầng kỹ thuật, đảm bảo hiệu quả thoát nước và giảm thiểu các rủi ro môi trường Áp dụng các phương pháp khoa học trong quản lý hệ thống thoát nước góp phần tối ưu hóa hiệu suất vận hành và nâng cao độ bền của công trình Tối ưu hóa các giải pháp kỹ thuật dựa trên phân tích thực tiễn là yếu tố then chốt để phát triển bền vững hệ thống thoát nước, đáp ứng nhu cầu phát triển của đô thị và cộng đồng.
Phân tích và lựa chọn các giải pháp cụ thể nhằm khắc phục và nâng cao tính hiệu quả của hệ thống thoát nước thành phố.
ĐỐI TƯỢ NG VÀ PH Ạ M VI NGHIÊN C Ứ U
Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống thoát nước của thành phố Sóc Trăng
Phạm vi nghiên cứu: Hệ thống thoát nước chính và các công trình quan trọng trong hệ thống thoát nướctại trung tâmthành phố Sóc Trăng.
CÁCH TI Ế P C ẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨ U
Theo quan điểm hệ thống.
Theo quan điểm thực tiễn và tổng hợp đa mục tiêu.
Theo quan điểm bền vững.
Phương pháp thu thập số liệu.
Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa.
Phương pháp kế thừa các đề tài và nghiên cứu về giải pháp thoát nước cho các đô thị Việt Nam.
Phương pháp tính toán tối ưu hóa hệ thống thoát nước đô thị.
Phương pháp thống kê và xử lý dữ liệu.
Phương pháp mô hình toán (sử dụng phần mềm SWMM)
K Ế T QU Ả D Ự KI ẾN ĐẠT ĐƯỢ C
Đánh giá hiệu quả tiêu thoát nước hiện tại của hệ thống thoát nước thành phố Sóc Trăng.
Kiến nghị đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng phục vụ của hệ thống thoát nước thành phố Sóc Trăng, đảm bảo giảm ngập úng và nâng cao chất lượng môi trường đô thị Việc cải thiện hệ thống thoát nước còn tạo tiền đề vững chắc cho việc mở rộng mạng lưới trong tương lai, đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị và nâng cao cuộc sống người dân Các giải pháp này bao gồm nâng cấp hạ tầng, lắp đặt các thiết bị xử lý nước hiện đại, và tăng cường quản lý hệ thống để đảm bảo hoạt động hiệu quả, bền vững.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
GI Ớ I THI Ệ U CHUNG V Ề H Ệ TH ỐNG THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ
Khái niệm về hệ thống thoát nước đô thị
Hệ thống thoát nước đô thị là tổng hợp các công trình, thiết bị và giải pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo nhiệm vụ thoát nước hiệu quả cho khu vực đô thị Hệ thống này giúp giảm ngập úng, hạn chế ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cư dân thành phố Việc xây dựng và duy trì hệ thống thoát nước đô thị đúng tiêu chuẩn không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà còn thúc đẩy phát triển bền vững của đô thị Các giải pháp kỹ thuật tiên tiến đóng vai trò quan trọng trong tối ưu hóa quá trình thoát nước, giảm thiểu rủi ro xảy ra sự cố và nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống.
Các hệ thống thoát nước đô thị:
Hệ thống thoát nước chung là hệ thống tích hợp tất cả các loại nước thải như nước sinh hoạt, nước sản xuất và nước mưa Các dòng nước này được dẫn vào một mạng lưới chung để dễ dàng xử lý và thoát ra môi trường Việc sử dụng hệ thống thoát nước chung giúp tối ưu hoá công trình làm sạch, giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ nguồn nước tự nhiên Đây là giải pháp hiệu quả trong quản lý nước thải đô thị và công nghiệp hiện nay.
Hệ thống thoát nước riêng là hệ thống gồm hai hoặc nhiều mạng lưới đường ống độc lập nhằm dẫn từng loại nước thải khác nhau đến công trình xử lý Các loại hệ thống thoát nước riêng theo cấu tạo gồm có hệ thống hoàn toàn riêng biệt, hệ thống không hoàn toàn riêng biệt và hệ thống riêng một nửa, phù hợp với nhu cầu và điều kiện của dự án Việc sử dụng hệ thống thoát nước riêng giúp tối ưu hóa quá trình xử lý, đảm bảo vệ sinh môi trường và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thoát nước đô thị.
Hệ thống thoát nước hỗn hợp là tổng hợp của các hệ thống thoát nước riêng lẻ, thường xuất hiện ở các thành phố lớn Khi hệ thống thoát nước chung cần được cải tạo hoặc mở rộng, cần xây dựng thêm các công trình phụ trợ để phục vụ mạng lưới thoát nước hiệu quả hơn Việc mở rộng và cải tạo hệ thống thoát nước hỗn hợp giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và đảm bảo an toàn cho đô thị.
Vai trò của hệ thống thoát nước đối với sự phát triển của đô thị
Một đô thị hiện đại cần có hệ thống cơ sở hạ tầng phù hợp để đáp ứng nhu cầu phát triển, trong đó hệ thống thoát nước đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hệ thống kỹ thuật Đặc biệt đối với các đô thị có địa hình phức tạp, khả năng thoát nước tự chảy kém, vai trò của hệ thống thoát nước càng trở nên quan trọng hơn để đảm bảo an toàn và hiệu quả quản lý nước.
Với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng trên nền tảng hệ thống hạ tầng xây dựng không đồng bộ, khả năng thoát nước của hệ thống đô thị ngày càng giảm sút do các công trình chắp vá và thiếu liên kết Điều này đòi hỏi các chuyên gia phải thực hiện nâng cấp và cải tạo hệ thống thoát nước nhằm khắc phục các hạn chế hiện có Việc cải tạo hệ thống thoát nước không chỉ đảm bảo khả năng thoát nước hiệu quả trong điều kiện thời tiết biến đổi mà còn góp phần nâng cao chất lượng môi trường sống của đô thị Tăng cường đầu tư và hiện đại hóa hệ thống thoát nước là giải pháp then chốt để đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị bền vững trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa ngày càng cao.
Yêu cầu đặt ra cho hệ thống thoát nước đô thị
Hệ thống thoát nước đô thị cần đảm bảo khả năng tiêu thoát nhanh chóng trong mọi điều kiện thời tiết, giúp phòng tránh ngập úng tại các khu vực Việc vận hành hiệu quả của hệ thống không những duy trì cảnh quan đô thị sạch đẹp mà còn bảo vệ môi trường khỏi các tác động tiêu cực do ngập úng gây ra.
Ngoài ra, hệ thống phải đảm bảo yêu cầu về kinh tế, không gây lãng phí đầu tư cũng như yêu cầu về công tác quản lý vận hành.
CÁC NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI PHÁP CHO HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ
Nghiên cứu về thoát nước đô thị trên thế giới
Dân số thế giới ngày càng tập trung vào các thành phố lớn, dẫn đến nhu cầu mở rộng diện tích đất đô thị Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng về cấp thoát nước vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển, gây ra tình trạng ngập úng và lũ lụt tại nhiều thành phố lớn trên toàn cầu Điều này làm tăng nguy cơ ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân và an toàn đô thị Các thành phố cần nâng cấp hệ thống thoát nước để giảm thiểu rủi ro và đảm bảo sự phát triển bền vững.
Biến đổi khí hậu, đặc biệt là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, trở thành một trong những thách thức lớn nhất trong thế kỷ 21 Trong vòng 2 thế kỷ qua, số lượng các trận ngập lụt đô thị toàn cầu đã tăng đáng kể, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân và các quốc gia, đặc biệt là các đô thị lớn ven biển.
Tại Vương quốc Anh sau trận ngập lịch sử tại London năm 1953 chính phủ quyết định xây dựnghệ thốngchắnnước Công trình này có tên Thames Barrier, là một đập chắn được xây dựng trên sông Thames Con đập này dài tổng cộng 520m, vắt ngang sông
Thames tại đoạn Woolwich, phía Đông thủ đô London, nổi bật với công trình Thames Barrier gồm 10 cổng chắn bảo vệ thành phố khỏi lũ lụt và thủy triều Mỗi cổng dài 60 mét, cao gần 15 mét, đảm bảo khả năng kiểm soát dòng chảy của sông Thames một cách hiệu quả Trên mỗi cổng có cửa thép có thể xoay ngang hoặc dọc, linh hoạt trong việc điều chỉnh dòng chảy và bảo vệ khu vực xung quanh khỏi tác động của thủy triều cao.
Bình thường, các cổng thép này sẽđược mởđểnước sông tựdo lưu thông cũng như cho phép tàu thuyền qua lại Trong trường hợp cần thiết, các cổng này sẽđược đóng
Commented [A1]: Bổ sung thêm về các giải pháp thoát nước ỏ các đô thị khác trên thế giới
Thames Barrier được xây dựng để tạo ra các hồ chứa nhằm giảm thiểu nguy cơ lũ lụt, bằng cách cho nước sông Thames chảy vào một chỗ trũng để tránh nước dâng cao tràn bờ gây ngập lụt Quá trình đóng cánh cổng này mất khoảng 75-90 phút, bắt đầu từ các cổng ở hai bên rồi đến các cổng trung tâm Ít người biết rằng ban đầu, Thames Barrier không chỉ nhằm ngăn lũ do mưa lớn mà còn được xây dựng để chống lại sự tràn vào của nước biển từ Biển Bắc, sau trận lũ lịch sử năm 1953 khiến London hứng chịu thiệt hại nặng nề Chính phủ Anh nhận thấy hành động phòng ngừa là cần thiết để bảo vệ thành phố trước các đợt lũ trong tương lai, dẫn đến việc xây dựng Thames Barrier như một giải pháp phòng ngừa toàn diện.
Bắt đầu khởi công từ năm 1982 với chi phí 535 triệu bảng Anh, Thames Barrier được coi là một kỳ tích kỹ thuật của các nhà khoa học thời đó Vào hoạt động từ thời điểm đó, đập giúp điều tiết lưu lượng nước sông Thames, bảo vệ London khỏi tình trạng ngập lụt Thames Barrier đóng vai trò quan trọng trong việc chống lũ lụt và đảm bảo an toàn cho thủ đô London.
Hình 1-1 Đập thames Barier (Ảnh: Getty)
Theo các nhà khoa học, Thames Barrier có khả năng bảo vệ London đến năm 2050 với tốc độ nước biển dâng hiện tại Nếu được nâng cấp và cải tạo, công trình này còn có thể giữ vai trò như "vệ sĩ" bảo vệ thành phố đến năm 2070 Thành phố London phát triển mạnh mẽ phần lớn nhờ vào tiện ích quan trọng của Thames Barrier, góp phần đảm bảo an toàn và thúc đẩy sự bền vững của đô thị (Nguồn: Báo Đất Việt, 20/11/2015).
Tại Áo giải pháp để ứng phó với nước lũ dâng của sông là xây một bức tường chắn lũ
Vào năm 2013, thành phố Grein tại Áo bắt đầu chịu ảnh hưởng của trận lũ lụt nghiêm trọng từ sông Danube Các cơ quan chức năng địa phương đã nhanh chóng họp bàn và tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo an toàn cho cư dân Cuối cùng, hệ thống tường chống lũ di động đã được lắp đặt nhằm ứng phó hiệu quả với các nguy cơ lũ lụt trong tương lai.
According to an article published on Elite Readers, Flood Resolution, a UK-based company, has provided an explanation about the structure and functionality of their innovative mobile flood defense system.
Trước tiên, hệ thống gồm 2 phần: phần móng được xây cố định và phần rào chắn có thể di chuyển được Công ty này cho biết "Hệ thống được xây dựng trên một bức tường ngầm, góp phần bảo vệ một khu vực không bị nước ngầm tràn vào.Bức tường có thể dâng lên đồng thời với mực nước lũ Độ sâu của bức tường ngầm phụ thuộc vào nền đá ngầm, và sau đó quyếtđịnh chiều cao của rào chắn."
Bức tường ngầm được gia cố bằng xi măng trước khi các bộ phận của hệ thống được gắn tường chắn nước di động.
Hình 1-2 Những bức tường chắn lũ di động tại sông Danube
Một bài báo được công ty IBS Techcnics đăng tải tiết lộ "Bức tường chống lũ di động cao nhất, ấn tượng nhất được hoàn thành vào tháng 12/2010 ở Grein, với tổng độ cao rào chắn là 3,6 mét được đặt trên một bức tường nền cao 1 mét."
Cũng theo bài báo này, hệ thống giúp bảo vệ khu đất phía sau rào chắn khỏi mực nước lũ cao tới 4,6 mét, tương đương tòa nhà 2 tầng.
Hình 1-3 Bức tường ngăn lũ cao 4,6m dọc sông Danube
Hà Lan được mệnh danh là "phù thủy chống ngập" nhờ những hệ thống công trình đẳng cấp trong quản lý nước Trong nhiều thập kỷ, quốc gia này đã vượt qua những trận ngập lụt và xâm nhập mặn từ Đại Tây Dương, nhờ vào các giải pháp chống ngập tiên tiến và công phu Những kỹ thuật xây dựng đê điều, hệ thống thuỷ lợi và công nghệ kiểm soát nước hiện đại giúp Hà Lan duy trì độ an toàn cao, trở thành biểu tượng của sự chống chọi hiệu quả với thiên tai lũ lụt.
Hà Lan đối mặt với nguy cơ biển dâng cao hơn nhiều quốc gia khác, không chỉ chống lũ từ mưa lớn và sông mà còn phải ngăn chặn nước biển xâm phạm vào đất liền Để bảo vệ đất nước khỏi tình trạng ngập lụt do biển dâng, Hà Lan đã triển khai kế hoạch "Delta Work" – một hệ thống đê kè phòng vệ cực kỳ hiệu quả Đây là một trong những công trình chống ngập lớn nhất thế giới, được xây dựng từ năm 1954 và hoàn thành vào những năm 1991, thể hiện nỗ lực phòng chống thiên tai bền vững của đất nước.
Hình 1-4 Hệ thống đê biển kiên cố tại Hà Lan
(Ngu ồ n Báo điệ n t ử trí th ứ c tr ẻ ngày 27/09/2016)
Tại Hà Lan, có khoảng bảy loại đê, kè chuyên dụng dành cho biển, sông, hồ, kênh đào, cũng như đê khẩn cấp và đê chống bão, được xây dựng phù hợp với từng tính năng sử dụng Các loại đê này đảm bảo bảo vệ an toàn cho các khu vực xung quanh khỏi ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệt và mực nước dâng cao Việc lựa chọn loại đê phù hợp đóng vai trò quan trọng trong công tác phòng chống thiên tai và duy trì ổn định của các vùng đất thấp Hà Lan chú trọng vào thiết kế và xây dựng các loại đê đa dạng nhằm thích ứng linh hoạt với điều kiện tự nhiên và nhu cầu phòng chống môi trường.
Những công trình đê biển trong dự án Delta Works đã bảo vệ vùngđất phía Tây Nam
Nghiên cứu về thoát nước đô thị ở Việt Nam
Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm ướt với lượng mưa trung bình 1000 -
Lượng mưa trung bình hàng năm đạt khoảng 2000 mm, chủ yếu phân bổ trong mùa mưa với cường độ lớn và biến động đáng kể theo không gian Nguyên nhân chính gây ra lượng mưa này là do hoạt động của bão, áp thấp nhiệt đới và dông, ảnh hưởng đến khí hậu và đặc điểm thời tiết của khu vực.
Dưới sự phát triển mạnh mẽ của các đô thị tại Việt Nam sau ngày thống nhất, nhu cầu về nhà ở tăng cao đã dẫn đến hiện tượng cơi nới, mở rộng tự phát, và lấn chiếm đất đai Các hệ thống dẫn nước và thoát nước nhiều đoạn bị thu hẹp, bị san lấp, gây cản trở trong việc lưu thông và thoát nước hiệu quả Quản lý vận hành hệ thống thoát nước yếu kém, thiếu kinh phí bảo trì cũng góp phần làm gia tăng tình trạng ngập úng xảy ra thường xuyên mỗi mùa mưa đến.
Nhờ những thành tựu của công cuộc đổi mới, mạng lưới các đô thị tại Việt Nam ngày càng phát triển và mở rộng, trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Diện mạo đô thị đã thay đổi theo hướng văn minh, hiện đại, tạo ra các không gian đô thị mới đáp ứng nhu cầu về môi trường sống và làm việc chất lượng cao Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển, các đô thị Việt Nam còn đối mặt với nhiều hạn chế về hạ tầng kỹ thuật và vấn đề ô nhiễm môi trường cần được giải quyết để thúc đẩy phát triển bền vững.
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị tại Việt Nam đang đối mặt với tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của đô thị Việc đầu tư xây dựng các công trình mới còn chậm và thiếu đồng bộ, gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả vận hành và phát triển bền vững Đặc biệt, hệ thống thoát nước chung cho nước thải và nước mưa thường được xây dựng qua nhiều thời kỳ khác nhau, chất lượng quy hoạch còn chưa cao và chưa hoàn chỉnh, dẫn đến tình trạng nhiều tuyến cống xuống cấp, khả năng tiêu thoát nước thấp Thêm vào đó, phần lớn nước thải đô thị chưa được xử lý mà xả trực tiếp vào nguồn tiếp nhận, gây nguy cơ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Trong những năm gần đây đặc biệt là các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ… người dân luôn phải đối mặt với tình trạng úng ngập khi gặp những trận mưa lớn, hoặc nước thuỷ triều dâng.
Trong các nghiên cứu về giải pháp thoát nước cho các đô thị của Việt Nam, phần lớn tập trung vào việc phân tích các phương pháp xử lý nước thải hiệu quả và bền vững để giảm thiểu ô nhiễm môi trường Các giải pháp được đề xuất bao gồm hệ thống cống thoát nước thông minh, xây dựng hồ chứa nước tự nhiên và cải thiện hạ tầng thoát nước đô thị Các nghiên cứu còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tích hợp công nghệ mới và quản lý tổng thể hệ thống thoát nước nhằm nâng cao khả năng chống chịu của đô thị trước các tác động của biến đổi khí hậu Một số tài liệu tiêu biểu như nghiên cứu của Nguyễn et al (2020) và Trần et al (2022) đã chỉ ra các chiến lược phù hợp để nâng cao hiệu quả thoát nước, góp phần bảo vệ môi trường đô thị Việt Nam.
Ngập úng đô thị không chỉ xuất phát từ quá trình đô thị hóa mà còn bị tác động mạnh mẽ bởi biến đổi khí hậu Các hiện tượng thiên tai như hạn hán, bão, lũ lụt diễn ra thường xuyên, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đô thị và khu công nghiệp Đa phần các thành phố lớn và khu công nghiệp tập trung ở vùng đồng bằng trũng thấp, ven biển – những khu vực dễ bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu Sự phát triển đô thị ngày càng đối mặt với nhiều thách thức toàn cầu về kinh tế, môi trường và năng lượng, nổi bật là tác động của biến đổi khí hậu gây ra.
Hiện nay, các đô thị Việt Nam đang đối mặt với các tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, như bão, lũ lụt và nước biển dâng, ảnh hưởng đến phát triển hệ thống đô thị ven biển và các vùng đồng bằng lớn Có hơn 128 đô thị trong các tỉnh như ĐBSCL, ĐBSH và Đông Nam Bộ có nguy cơ ngập cao, trong đó 20 đô thị nguy cơ ngập nặng BĐKH còn gây ra mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, tác động tiêu cực đến sự phát triển của các đô thị vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên và miền Trung, ảnh hưởng đến 31 tỉnh thuộc các vùng trung du và miền núi phía Bắc.
Bắc Trung Bộ và DHMT, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ) với khoảng 139 đô thị chịu ảnh hưởng, 15 đô thị có khảnăng chịu tác động mạnh
Theo kịch bản mới nhất về biến đổi khí hậu và nước biển dâng của Nhà xuất bản Tài nguyên Môi trường và Bản đồ Việt Nam năm 2016, Việt Nam là một trong năm quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi mực nước biển dâng cao cùng với tăng cường độ và tần suất của các hiện tượng thời tiết cực đoan Vùng đồng bằng sông Cửu Long đặc biệt chịu tác động lớn nhất, với dự báo đến năm 2050 mực nước biển có thể tăng khoảng 30 cm và lượng mưa tăng khoảng 5%, đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu tác động phối hợp của nước biển dâng và mưa lũ do biến đổi khí hậu đối với hệ thống thoát nước tại các thị trấn ven biển vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Một số dựán thoát nước ở Việt Nam đang được triển khai có xem xét đến biến đổi khí hậu:
Dự án Phát triển thành phố Cần Thơ nhằm nâng cao khả năng thích ứng của đô thị với tổng mức đầu tư khoảng 322 triệu USD Trong đó, nguồn vốn vay từ Ngân hàng Thế giới (WB) chiếm khoảng 250 triệu USD, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững và hiện đại hóa hạ tầng đô thị Cần Thơ Ngoài ra, dự án còn nhận được khoản tài trợ không hoàn lại từ các cơ quan quốc tế, góp phần tăng cường hiệu quả và khả năng thích ứng của đô thị trước biến đổi khí hậu và các thách thức phát triển.
Phát triển Liên bang Thụy Sĩ (gọi tắt là SECO) là 10 triệu USD, còn lại là vốn đối ứng của TP Cần Thơ
Dự án nhằm giảm rủi ro ngập lụt tại trung tâm thành phố Cần Thơ và cải thiện kết nối với các khu vực đô thị mới có rủi ro thấp hơn Đồng thời, dự án cũng tập trung nâng cao năng lực quản lý rủi ro thiên tai của chính quyền thành phố để đảm bảo phát triển bền vững Thời gian thực hiện dự án bắt đầu từ năm 2016 và kéo dài đến nay, góp phần thúc đẩy sự an toàn và phát triển đô thị hiệu quả.
Dựán 3 được chia làm 3 hợp phần:
Hợp phần 1 tập trung vào kiểm soát ngập lụt và vệ sinh môi trường với các công trình chính gồm xây dựng hệ thống kè sông Cần Thơ và bờ kè cho rạch Cái Sơn - Mương Khai nhằm giảm thiểu rủi ro ngập lụt Dự án cũng bao gồm xây dựng các cống ngăn triều, âu thuyền, và các cống kết hợp cầu giao thông để kiểm soát triều cường hiệu quả Ngoài ra, công trình còn cải tạo hệ thống kênh rạch, xây dựng hồ điều hòa và chứa nước nhằm giảm áp lực lên hệ thống thoát nước Việc lắp đặt các trạm bơm và cải tạo hệ thống cống thoát nước giúp nâng cao khả năng thoát nước nhanh chóng, đồng thời hệ thống thiết bị quản lý vận hành được lắp đặt để giám sát và duy trì hiệu quả các công trình này, góp phần đảm bảo môi trường sạch sẽ và giảm thiểu tác động của lụt lội tại khu vực.
Hợp phần 2 tập trung vào phát triển hành lang đô thị thông qua các dự án chủ chốt như xây dựng cầu Quang Trung (đơn nguyên 2), đường và cầu Trần Hoàng Na, cùng đường song hành đến nút giao IC3 Ngoài ra, dự án còn bao gồm xây dựng tuyến đường nối từ Cách Mạng Tháng Tám (quốc lộ 91) đến đường tỉnh 918, phát triển hạ tầng khu tái định cư An Bình, cũng như lắp đặt hệ thống trang thiết bị quản lý vận hành và hỗ trợ quản lý giao thông hiệu quả.
Hợp phần 3 tập trung vào tăng cường quản lý đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua việc thiết lập cơ sở dữ liệu không gian địa lý chính xác và đồng bộ Các hệ thống hỗ trợ phòng chống và khắc phục thiên tai được phát triển nhằm nâng cao khả năng ứng phó và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu đối với đô thị Việc quản lý thống nhất và hiệu quả các yếu tố liên quan giúp đô thị trở nên bền vững hơn trước các thách thức khí hậu ngày càng gia tăng.
Hình 1-11 Phối cảnh cầu Quang Trung của dự án
(Ngu ồ n https://odapmu.cantho.gov.vn/Default.aspx?tabid64)
Thành phố Hồ Chí Minh:
Dự án Giải quyết ngập do triều cường khu vực TP.HCM do Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Trung Nam làm chủ đầu tư, có tổng mức đầu tư gần 10.000 tỷ đồng, xây dựng ven sông Sài Gòn tại các quận 1, 4, 7, 8, huyện Nhà Bè và Bình Chánh Dự án nhằm giải quyết tình trạng ngập do triều cường cho diện tích 570 km² với hơn 6,5 triệu người dân trong khu vực Khi đi vào hoạt động, dự án kỳ vọng sẽ kiểm soát hiệu quả ngập lụt do triều cường, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của TP.HCM.
Để đảm bảo hiệu quả dự án, Công ty Trung Nam đề xuất xây dựng 6 cống kiểm soát triều bao gồm Bến Nghé, Tân Thuận, Phú Xuân, Mương Chuối, Cây Khô và Phú Định, với quy mô mỗi cống rộng từ 40-160m2 Dự án còn bao gồm lắp đặt các trạm bơm tại các cống, trong đó trạm bơm tại cống Bến Nghé có công suất 18m3/s, tại cống Tân Thuận là 24m3/s và tại cống Phú Định là 18m3/s, nhằm đảm bảo thoát nước hiệu quả Khi dự án đi vào hoạt động, tàu thuyền vẫn có thể qua lại bình thường qua khoang cửa van và âu thuyền của các cống Ngoài ra, dự án còn xây dựng đê bao ven sông Sài Gòn dài khoảng 7,8 km từ Vàm Thuật đến Sông Kinh, bao gồm các đoạn đê/kè tại các vị trí xung yếu và các cống nhỏ có khẩu độ từ 1,0m đến 10,0m nhằm bảo vệ an toàn và phòng chống ngập úng hiệu quả.
Vàm Thuật đến Mương Chuối Xây dựng nhà quản lý trung tâm cho toàn dự án và hệ thống Scada
Hình 1-12 Mô hình các cống ngăn triều và kè của dự án chống ngập TP.HCM
(Ngu ồ n Báo đầu tư online ngày 26/62016)
Các nghiên cứu về tác động của BĐKH ở Việt Nam:
Việt nam, đến nay đã có một số nghiên cứu về tác động của BĐKH hoặc quá trình đô thị hóa đến tiêu thoát nước như:
ĐẶC ĐIỂ M VÙNG NGHIÊN C Ứ U
Điều kiện tự nhiên
Sóc Trăng là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nằm ở cuối lưu vực sông Mê Kông, có vị trí địa lý từ 9046’ đến 9048’ vĩ độ Bắc và 105054’ đến 105058’ độ kinh Đông Thành phố Sóc Trăng, trung tâm hành chính của tỉnh, được thành lập theo Nghị định số 22/2007/NĐ-CP ngày 8/2/2007 của Chính phủ, trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính của thị xã Sóc Trăng cũ Tỉnh Sóc Trăng nổi bật với vị trí địa lý chiến lược, nền kinh tế phát triển dựa trên nông nghiệp và đa dạng văn hóa đặc trưng của khu vực ĐBSCL.
Hình 1-16 Bản đồ qui hoạch Thành phố Sóc Trăng
(Nguồn Sở Xây Dựng tỉnh Sóc Trăng) Địa giới hành chính thành phố như sau:
Phía Đông giáp huyện Long Phú;
Phía Tây giáp huyện Mỹ Tú và huyện Châu Thành;
Phía Nam giáp huyện Mỹ Xuyên;
Phía Bắc giáp huyện Long Phú và Mỹ Tú cùng thuộc tỉnh Sóc Trăng.
Thành phố Sóc Trăng nằm ở trung tâm đầu mối giao thông đường bộ, kết nối các tuyến quốc lộ như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 60, Quốc lộ 91C (Nam sông Hậu) và Quản Lộ Phụng Hiệp, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thương mại và vận chuyển hàng hóa Đường thủy của thành phố dễ dàng truy cập các con sông lớn như sông Maspero, sông Santard, giúp lưu thông thuận tiện đến các cảng Cái Côn, Cái Cui ở phía Bắc và cảng biển Trần Đề ở phía Nam Với vị trí trung tâm của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Sóc Trăng đóng vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và là trung tâm giao lưu kinh tế của tỉnh, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững địa phương.
Thành phố Sóc Trăng có địa hình tương đối bằng phẳng, hướng dốc chính từ Tây Bắc xuống Đông Nam, với cao độ nền trung bình là +1,5m Vùng đất phù sa có chiều rộng khoảng 150-500m chạy theo hướng Bắc-Nam dọc theo Quốc lộ 60, có cao độ từ +1,6m đến +2,0m, trong khi các khu vực thấp nhất như đồng ruộng và ao hồ có cao độ từ +0,7m đến +1,0m Cấu trúc bề mặt của thành phố chủ yếu là trầm tích phù sa từ sông và biển, giúp khu vực này rất bền vững, ít gặp hiện tượng trôi, trượt hoặc bị rửa trôi, xói mòn.
Thành phố Sóc Trăng có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, mang đặc điểm nhiệt độ cao quanh năm nhờ điều kiện bức xạ dồi dào và nhiều nắng Nhiệt độ trung bình ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế và sinh hoạt của người dân Thành phố có hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ giữa tháng 5 đến cuối tháng 10, còn mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kéo dài đến tháng 4 năm sau Khí hậu rõ rệt này ảnh hưởng lớn đến đời sống cũng như sản xuất nông nghiệp của địa phương.
Không khí trung bình tại thành phố khá cao khoảng 26 – 27 0 C Nhiệt độ cao vào các tháng mùa khô trung bình từ 27 – 28 0 C, cao nhất là 28,5 0 C vào các tháng 4 và
5 Nhiệt độ cao tuyệt đối là 37,8 0 C Vào các tháng mùa mưa nhiệt độ không khí thấp hơn, nhiệt độ thấp tuyệt đối 16,2 0 C và nhiệt độdao động trong ngày từ 8 – 10 0 C Vào
28 mùa khô, dao động nhiệt độ trong ngày lớn hơn khoảng 15 0 C Biên độ nhiệt dao động giữa các tháng không lớn, chỉ khoảng 2 – 3 0 C
Trong thành phố Sóc Trăng, độ ẩm trung bình hàng năm dao động khoảng 84-85%, phụ thuộc vào mùa mưa và mùa khô Vào mùa mưa, độ ẩm không khí đạt mức cao trung bình khoảng 88-89%, trong khi mùa khô, độ ẩm giảm xuống còn khoảng 79% Độ ẩm tối đa có thể lên đến 92%, còn độ ẩm tối thiểu thấp nhất là 62%, phản ánh sự chênh lệch rõ rệt giữa các mùa trong năm.
Thành phố Sóc Trăng có lượng mưa trung bình khoảng 2.100 – 2.200 mm hàng năm, phân bổ không đều giữa hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 với đỉnh rơi vào các tháng 8, 9, 10, chiếm hơn 90% tổng lượng mưa; và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, chỉ chiếm khoảng 10%, trong đó tháng 1 và 2 gần như không có mưa Lượng bốc hơi trung bình là 25mm/ngày, cao nhất vào các tháng mùa khô với mức 30-40 mm/ngày, còn trong mùa mưa, lượng bốc hơi thấp hơn, khoảng 16-25 mm/ngày, góp phần duy trì cân bằng khí hậu của tỉnh.
Vì nằm ở vị trí gần biển Đông, thành phố Sóc Trăng chịu ảnh hưởng bởi nhiều hệ thống gió mùa Hệ thống gió thịnh hành theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, thổi vào các tháng trong năm, ảnh hưởng lớn đến khí hậu và thời tiết của khu vực.
Hệ thống gió từ tháng 11 đến tháng 12 tạo ra thời tiết không mưa, khô hạn và nóng Từ tháng 1 đến tháng 4, gió chuyển dần từ hướng Đông sang Đông Nam, rồi từ tháng 5 đến tháng 9, gió thay đổi theo hướng Đông Nam sang Tây Nam và Tây, còn sang tháng 10, hướng gió đổi từ Tây Nam sang Tây Bắc và hướng Đông Tốc độ gió trung bình khoảng 3-6m/giây, nhưng trong các trận mưa mạnh, gió có thể đạt tốc độ lên đến 25-35m/giây Thành phố Sóc Trăng ít chịu ảnh hưởng của gió bão, đảm bảo an toàn cho cư dân.
Chế độ thủy văn trong phạm vi thành phố và toàn tỉnh chịu ảnh hưởng chính từ thủy triều biển Đông, đặc trưng bởi dạng bán nhật triều không đều với đỉnh triều cao và chân triều thấp, mực nước trung bình tập trung quanh chân triều Biên độ triều tại Đại Ngãi dao động theo các tháng, với mức cao nhất vào tháng 3 là 2,18 m và thấp nhất vào tháng 6 là -1,03 m, phản ánh sự biến đổi rõ rệt của mực nước trong năm Điều này cho thấy sự ảnh hưởng rõ rệt của thủy triều trong việc xác định chế độ thủy văn tại khu vực, đồng thời ảnh hưởng đến hoạt động và quản lý nguồn nước của địa phương.
Thành phố Sóc Trăng có hai kênh chính là Maspero (còn gọi là kênh Cầu Quay) và Santard, cùng với chín kênh nhánh phụ trợ Các kênh này chủ yếu được xây dựng nhằm phục vụ nhiệm vụ tưới tiêu thủy lợi, thoát nước đô thị và vận chuyển thủy lợi Độ rộng của kênh Maspero và Santard dao động từ 40 đến 60 mét, trong khi các kênh nhánh có chiều rộng từ 8 đến 20 mét, đảm bảo hiệu quả trong quản lý và vận hành hệ thống thủy lợi của thành phố.
Các kênh nội thành Sóc Trăng chịu ảnh hưởng của thủy triều lên xuống hai lần mỗi ngày, khiến mực nước thủy triều dao động trung bình từ 0,4 đến 1,4 mét Thủy triều có tác động rõ rệt đến hoạt động giao thông và sinh hoạt của người dân địa phương, gây biến động về mức nước trong các kênh, rạch Việc nắm bắt chính xác thời điểm thủy triều lên xuống là rất quan trọng để đảm bảo an toàn và tối ưu hóa các hoạt động vận chuyển, đánh bắt thủy sản Thủy triều biến đổi thường xuyên ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực trong cuộc sống của cộng đồng tại thành phố Sóc Trăng.
Hầu hết các kênh rạch trên địa bàn đều có dòng chảy 2 chiều trong phần lớn thời gian trong năm, tạo điều kiện thuận lợi cho hệ sinh thái thủy vực phát triển Đặc điểm thủy văn nổi bật của thành phố là không bị ngập lụt thường xuyên nhờ vào hệ thống thoát nước hiệu quả Ảnh hưởng mạnh của thủy triều cũng góp phần thúc đẩy quá trình trao đổi nước, cải thiện chất lượng môi trường Những yếu tố này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cây trồng và nâng cao hệ số sử dụng đất, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Điều kiện kinh tế xã hội
Thành phố Sóc Trăng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội quan trọng của tỉnh Sóc Trăng, đóng vai trò là đầu mối giao lưu kinh tế của khu vực Năm 2015, dân số trung bình của thành phố đạt 137.899 người, chiếm gần 35% dân số dân số thành phố của toàn tỉnh Với diện tích 76,16km², mật độ dân số trung bình của thành phố là khoảng 1.810 người/km², gấp 5 lần mật độ dân số trung bình của toàn tỉnh (396 người/km²) Dân số của thành phố Sóc Trăng có những biến động qua các năm, phản ánh sự phát triển đô thị và tăng trưởng dân số địa phương.
(Ngu ồ n: Niên giám th ố ng kê t ỉ nh Sóc Trăng năm 2015)
Thành phố Sóc Trăng bao gồm 10 phường với 60 khóm dân cư, dân số trung bình của thành phố phân theo các phường như thống kê bảng sau:
STT Đơn vị hành chính Diện tích
Dân số hiện trạng (người) năm 2015
(Ngu ồ n: Niên giám th ố ng kê t ỉnh Sóc Trăng năm 2015)
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của toàn tỉnh Sóc Trăng trong những năm gần đây (2010 -
Tốc độ giảm dân số từ 0,95% năm 2010 xuống còn 0,59% năm 2014 và 0,63% năm 2015 cho thấy xu hướng giảm dân số liên tục Tuy nhiên, tốc độ tăng dân số thành thị trung bình toàn tỉnh trong giai đoạn 2010-2015 lại có biến động, với mức trung bình khá cao đạt 8,48% mỗi năm Nguyên nhân chính là do quá trình chuyển đổi một số xã vùng ven đô thành phường, góp phần thúc đẩy phát triển đô thị và tăng dân số thành thị.
Năm 2007, thành phố Sóc Trăng chính thức được nâng cấp từ thị xã lên thành phố, tạo đột phá trong phát triển đô thị và thu hút nguồn nhân lực từ các địa phương trong và ngoài tỉnh Sự kiện này đã góp phần thúc đẩy kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và mở ra nhiều cơ hội việc làm mới cho cư dân địa phương Việc nâng cấp thành phố giúp tăng cường cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng, qua đó thu hút ngày càng nhiều nhân lực và đầu tư vào khu vực.
Th ự c tr ạng thoát nướ c c ủ a Thành ph ố Sóc Trăng
1.3.3.1 Hệ thống hoát nước mưa
Trong thành phố, khu trung tâm có hệ thống cống bao chuyên dụng để thu gom nước thải tại các điểm xả ra nguồn, đảm bảo môi trường luôn trong sạch Các khu đô thị mới và khu công nghiệp được trang bị hệ thống thoát nước riêng, phù hợp với quy mô và đặc thù phát triển Trong khi đó, khu vực ngoại thị sử dụng hệ thống thoát nước chung, góp phần duy trì sự vệ sinh và an toàn môi trường toàn khu vực.
Hệ thống nguồn thoát nước của thành phố Sóc Trăng gồm các sông, kênh đảm bảo khả năng thoát nước hiệu quả Ngoài hệ thống sông Maspero, kênh Kinh Xáng và các hệ thống kênh cấp I, cấp II, cấp III góp phần quan trọng vào hệ thống thoát nước Các kênh cấp I có cao trình đáy từ -5,0 đến -1,0 m, rộng từ 20-40 m; kênh cấp II có cao trình từ -2,0 đến -0,5 m, rộng trung bình 6-15 m; kênh cấp III có cao trình từ -0,5 m trở lên, đảm bảo khả năng thoát nước ổn định cho thành phố.
0 m và chiều rộng trung bình từ 2-2,5 m
Các kênh trong thành phố được sử dụng để phục vụ nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp, góp phần duy trì hoạt động sản xuất và tưới tiêu Tuy nhiên, với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, nhiều công ty và cơ sở chế biến thủy sản đã xả thải trực tiếp vào các kênh này, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Thêm vào đó, việc không thường xuyên nạo vét các kênh khiến chất thải tích tụ, làm giảm khả năng tiêu thoát nước và gia tăng ô nhiễm nước Chính vì vậy, cần có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn để bảo vệ hệ sinh thái và nguồn nước trong thành phố.
Hình 1-17 Hiện trạng kênh Hi Tech Hình 1-18 Hiện trạng kênh Trà Men
Hình 1-19 Hiện trạng sông Maspero Hình 1-20 Hiện trạng cửa xả sông
Việc người dân xả rác sinh hoạt xuống các kênh gây áp lực lớn về ô nhiễm môi trường, khiến rác thải và lục bình che phủ mặt nước, cản trở quá trình oxy hóa và phát triển của thực vật phù du Hàm lượng oxy hòa tan (DO) trong nước dao động từ 0,8-2,2 mg/l, thấp hơn mức cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh lành mạnh Thiếu oxy làm phân hủy kị khí các chất hữu cơ trong nước và lớp bùn đáy, sinh ra khí NH3, H2S và Mercaptan gây mùi hôi khó chịu, ảnh hưởng đáng kể đến cuộc sống của người dân sinh sống bên bờ kênh.
Dưới áp lực phát triển kinh tế xã hội, các nguồn gây ô nhiễm sẽ không ngừng gia tăng, dẫn đến ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng hơn Các kênh trong thành phố ngày càng bị ô nhiễm, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân sinh sống hai bên bờ kênh Điều này đặt ra亟需要 các giải pháp bền vững nhằm kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm môi trường đô thị.
1.3.3.2 Hệ thống thoát nước thải sinh hoạt:
Hiện nay, hệ thống thu gom nước mưa và nước thải gồm tuyến cống dài 7,2 km với 160 hố ga và 10 trạm bơm dâng hoạt động hiệu quả trong khu vực Nước thải sau khi được thu gom sẽ chuyển về nhà máy xử lý nước thải thành phố với công suất xử lý là 13.180 m3/ngày đêm, đạt tỷ lệ xử lý khoảng 36,19% Hiện tại, hệ thống ống bao thu gom nước thải chủ yếu tập trung trong nội đô các phường 1, 2, và 6.
4, 8, còn các phường khác nước thải trực tiếp ra các kênh của thành phố gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân
1.3.3.3 Đánh giá về hiện trạng thoát nước và ngâp lụt :
Hiện trạng thoát nước và các nguồn tiếp nhận
Các kênh của thành phố như Trà Men, Hitech, Tám Thước đang bị lấn chiếm bởi rác thải và hoa lục bình, khiến dòng chảy bị tắc nghẽn Sự lấn chiếm trái phép của người dân hai bên bờ kênh đã làm mất chức năng thoát nước, đặc biệt trong mùa mưa, dẫn đến tình trạng ngập úng và ô nhiễm môi trường Rác sinh hoạt trôi nổi trên các kênh là nguồn bệnh tiềm ẩn, gây ra các bệnh ngoài da, hô hấp, vi khuẩn và tả, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân sống gần các kênh Vì vậy, việc nạo vét, cải tạo, khơi thông dòng chảy là cấp thiết để nâng cao điều kiện sống của cộng đồng và đảm bảo hệ thống thoát nước, trong đó sông Maspero và sông Đinh là các nguồn tiếp nhận chính của thành phố.
Hệ thống cống thu thoát nước thải giai đoạn 1 của KFW đã giải quyết vấn đề thoát nước cho khu vực trung tâm đô thị tại các phường 1, 2, 4, 8 với lưu vực phục vụ 320 ha Tuy nhiên, dự án này chưa thể xử lý triệt để thoát nước của toàn thành phố Nhà máy xử lý nước thải giai đoạn 1 có công suất 13.180 m³/ngày, trong khi giai đoạn 2 của dự án KFW sẽ mở rộng phạm vi và nâng công suất nhà máy lên 24.000 m³/ngày để xử lý thoát nước cho các phường 1, 2, 3, 4, 5 với lưu vực 970 ha Khi giai đoạn 2 đi vào hoạt động, dự án sẽ góp phần thu gom và xử lý nước thải hiệu quả hơn, cải thiện môi trường và cảnh quan đô thị.
Sóc Trăng có địa hình tương đối bằng phẳng, hướng dốc chính từ Tây Bắc xuống Đông Nam Cao độ nền trung bình khoảng +1,5m, cao nhất dao động từ +1,6m đến +2,0m, đặc biệt khu vực đất phù sa có chiều rộng từ 150 đến 500m chạy theo hướng Bắc Nam dọc theo Quốc lộ 60 Trong khi đó, các vùng thấp nhất có độ cao từ +0,7m đến +1,0m, chủ yếu là các đồng ruộng, ao hồ, phù hợp cho nông nghiệp và thủy lợi.
Thành phố Sóc Trăng nổi bật với hệ thống kênh rạch dày đặc, đạt mật độ dòng chảy 1,1 km/km², góp phần quan trọng vào hệ sinh thái đô thị Trong số các kênh chính, kênh Maspero có chiều rộng từ 40 đến 60 mét và chiều dài khoảng 7 km, đóng vai trò quan trọng trong giao thông và thoát nước của thành phố Hệ thống kênh rạch này không chỉ nâng cao giá trị cảnh quan mà còn hỗ trợ quản lý nước, hạn chế ngập lụt và phát triển kinh tế đô thị.
Hệ thống các kênh trong thành phố Sóc Trăng gồm 34 kênh Santard (sông Đinh) có độ rộng từ 60-80m dài 17km, cùng với 9 tuyến kênh nhánh có chiều rộng từ 8-20m và nhiều hệ thống các kênh rạch nhỏ rộng từ 2-10m Các kênh này đều chịu ảnh hưởng của thủy triều thay đổi hai lần trong ngày, ảnh hưởng đến hoạt động thoát nước và sinh hoạt của cư dân địa phương.
Mực nước thủy triều tại thành phốdao động trung bình từ0,4 đến 1,4 m
Thành phố Sóc Trăng có lượng mưa trung bình khoảng 2.100 – 2.200 mm hàng năm, phân bố không đều qua các tháng Khí hậu tại đây rõ rệt với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 Mùa mưa tập trung cao nhất vào các tháng 8, 9, 10, gây ảnh hưởng lớn đến các hoạt động giao thông và sinh hoạt của người dân Hiện nay, tuyến đường chính Phú trên địa bàn thành phố Sóc Trăng đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các khu vực nội thành và phát triển kinh tế địa phương.
Các tuyến đường như tuyến đường 1A, đường Trần Hưng Đạo, đường Trần Bình Trọng, đường Lê Hồng Phong và đường Lê Duẩn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống giao thông thành phố Tuy nhiên, vào mùa mưa, các tuyến đường này thường xuyên gặp tình trạng ngập úng cục bộ, với mức ngập từ 0,3 đến 0,4 mét, gây ảnh hưởng đến lưu thông và an toàn giao thông của người dân.
Đánh giá về nguyên nhân ngập lụt
Hiện tượng ngập úng xảy ra do hệ thống cống, rãnh thoát nước có thiết kế nhỏ hoặc xuống cấp, không đủ sức đáp ứng lượng nước vào mùa mưa, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân Để xử lý tình trạng này, cần cải tạo hệ thống thoát nước tại các tuyến đường chính như Phú Lợi, Lê Duẩn, Lê Hồng Phong, đặc biệt là những tuyến đường thường xuyên ngập lụt Ngoài ra, việc làm mới và nâng cấp các hệ thống thoát nước trên các tuyến đường này là giải pháp quan trọng giúp giảm thiểu tình trạng ngập úng mùa mưa và đảm bảo cuộc sống sinh hoạt của cộng đồng.
Hình 1-21 Hình ảnh ngập đường Phú
Lợi Năm 2014 Hình 1-22 Hình ảnh ngập đường
(Ngu ồ n S ở Xây d ự ng t ỉnh Sóc Trăng)
Thành phố Sóc Trăng có hệ thống kênh rạch phong phú, với mật độ dòng chảy đạt 1,1 km trên km², góp phần quan trọng vào hệ sinh thái và đời sống người dân Các kênh chính như kênh Maspero rộng 40-60m, dài 7 km, và kênh Santard (sông Đinh) rộng 60-80m, dài 17 km, đóng vai trò chủ đạo trong mạng lưới thủy lợi của thành phố Hệ thống các kênh nhánh gồm 9 tuyến có widths từ 8-20m, cùng với các kênh rạch nhỏ rộng từ 2-10m, giúp phân phối nước tự nhiên và điều tiết thủy triều Tất cả các kênh rạch trong thành phố đều bị ảnh hưởng bởi thủy triều lên xuống hai lần trong ngày, ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày của cộng đồng và quản lý nguồn nước.
Qui ho ạch thoát nướ c c ủ a Thành ph ố Sóc Trăng có xét đên BĐKH -NBD
Dự án Quy hoạch Thoát nước và Chống ngập úng Khu vực Trung tâm của Thành phố Sóc Trăng được phê duyệt theo quyết định số 1420/QĐ-UBND ngày 10/6/2016 bởi Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng, nhằm ứng phó với ảnh hưởng của Biến đổi Khí hậu đến năm 2030, tầm nhìn 2050 Dự án do IGIP-VIWASE thực hiện với sự tư vấn kỹ thuật từ Dự án Chống ngập úng GIZ, trong đó lượng mưa và mực nước tính toán đều được điều chỉnh để phù hợp với các yếu tố của biến đổi khí hậu.
Dự báo đến năm 2050, mực nước biển sẽ dâng 27 cm và lượng mưa tăng 10%, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống thoát nước đô thị Để đối phó với biến đổi khí hậu, dự án đề xuất mở rộng và cải thiện hệ thống cống thoát nước hiện tại, bao gồm cải tạo 16.688 mét cống tròn có đường kính từ D600 đến D1000, nâng cấp 7.844 mét kênh, mương hở, và xây mới 59.409 mét cống tròn với đường kính từ D600 đến D2000 cùng 17.511 mét cống hộp để tăng khả năng thoát nước Ngoài ra, dự án còn xây dựng 5 trạm bơm nhằm nâng cao hiệu quả thoát nước, đồng thời lựa chọn địa điểm thực hiện thí điểm “Phương thức quản lý hiệu quả BMP” để đảm bảo thích ứng tốt với biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro ngập úng trong đô thị.
Hình 1-23 Bản đồ qui hoạch thoát nước trung tâm TP Sóc Trăng có xét đến
BĐKH đến năm 2030 và tầm nhìn 2050
(Ngu ồ n S ở Xây d ự ng t ỉnh Sóc Trăng)