Untitled VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VĂN PHÚ NIỆM QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN BÁO CHÍ CỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CH[.]
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
H ỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VĂN PHÚ NIỆM
QUY ỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN BÁO CHÍ
C ỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LU ẬN VĂN THẠC SĨ
LU ẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ N ỘI, NĂM 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
H ỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VĂN PHÚ NIỆM
QUY ỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN BÁO CHÍ
C ỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của
được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và khảo sát tình hình thực tiễn dưới sự hướng dẫn Khoa học của GS.TS Võ Khánh Vinh
Tôi cũng xin cam đoan: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn
trong Luận văn đều được ghi rõ nguồn
TÁC GI Ả LUẬN VĂN
Văn Phú Niệm
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Niên khoá 2018 - 2020
Đặc biệt, tôi chân thành cảm ơn GS.TS Võ Khánh Vinh, đã dành thời
Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn đối với những người thân, các bạn học
hoàn thành Luận văn này
TÁC GI Ả LUẬN VĂN
Văn Phú Niệm
Trang 5M ỤC LỤC
M Ở ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO NGÔN
LU ẬN TRÊN BÁO CHÍ CỦA CÔNG DÂN 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm của quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân 8 1.2 Trách nhiệm bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân 13 1.3 Các yếu tố tác động đến bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí
của công dân 16
Chương 2: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG VỀ QUYỀN TỰ DO NGÔN LU ẬN TRÊN BÁO CHÍ CỦA CÔNG DÂN 20
2.1 Pháp luật Việt Nam về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân 20 2.2 Thực trạng thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
ở Việt Nam 27 2.3 Pháp luật quốc tế và một số quốc gia về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân 33
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN BÁO CHÍ CỦA CÔNG DÂN 40
3.1 Quan điểm về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam 40 3.2 Giải pháp tăng cường bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam 44 3.3 Điều kiện cần có để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí của công dân Error! Bookmark not defined 3.4 Đảm bảo quyền tự do ngôn luận của công dân trên nền báo chí cách
mạng Việt Nam trong tình hình mới ……… 52
K ẾT LUẬN 58 DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNTT : Công nghệ thông tin
KT - VH – XH : Kinh tế - Văn hoá - Xã hội
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Nền báo chí Cách mạng Việt Nam ta đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước đây, cũng như trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ngày nay Chủ trương đổi mới do Đảng khởi xướng cùng với những thành tựu vĩ đại của công nghệ thông tin (CNTT) đã làm cho nền báo chí nước ta ngày nay phát triển nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng Chính vì vậy công tác quản lý nhà nước về báo chí cần được tăng cường mà vẫn tạo được quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân hiện nay
Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí có mối liên hệ chặt chẽ với các quyền khác, đó chính là quyền bất khả xâm phạm về nhân thân và đời tư; quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tham gia quản lý nhà nước (QLNN) và xã hội
Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do ngôn luận là một xu thế tiến bộ và mang tính chất tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội loài người Quyền
tự do ngôn luận là một kênh đánh giá mức độ dân chủ của một quốc gia cũng như phản ánh tính công khai, minh bạch trong hoạt động của một nhà nước Quyền tự do ngôn luận được tôn trọng giúp người dân của một quốc gia hiểu
biết và giám sát một cách chặt chẽ những việc mà Chính phủ, nhà nước làm,
giảm thiểu những hành vi lạm quyền, tham nhũng và những hành vi khác đi ngược lại lợi ích của công dân
Pháp luật về quyền tự do ngôn luận có vai trò quan trọng trong việc quy định về quyền của công dân khi tiếp cận những thông tin trên báo chí, đảm
bảo cho mỗi công dân thực hiện quyền này một cách nhanh nhất, hiệu quả
nhất Pháp luật về quyền tự do ngôn luận, tiếp cận thông tin cũng quy định
Trang 82
một cách hạn chế, cụ thể những trường hợp thông tin bị giới hạn tiếp cận và các cơ chế để đảm bảo cho quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
Những chủ trương, chính sách của Đảng và những văn bản QPPL được
thể chế hoá của nhà nước về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân trong những năm qua đã từng bước làm dân chủ hoá, minh bạch hoá hoạt động của cơ quan nhà nước, giúp người dân tiếp cận ngày một dễ dàng và thuận lợi hơn đối với các thông tin do các cơ quan nhà nước nắm giữ Hoạt động của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là những cơ quan có nhiệm vụ đáp ứng những yêu cầu về thủ tục hành chính hằng ngày đã công khai và thuận
tiện hơn cho người dân Các hành vi quan liêu, hách dịch, của quyền trong công việc của cán bộ, cơ quan nhà nước đã tận tình, chu đáo hơn Ngược lại,
nhận thức của người dân về quyền tự do ngôn luận, tự do tiếp cận và phản ánh thông tin liên quan đến chủ trương, chính sách quan trọng hoặc có mối liên hệ
trực tiếp đến lợi ích người dân của các cơ quan Đảng và nhà nước từ Trung ương đến địa phương cũng ngày một tôn trọng và nâng cao
Tuy nhiên trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cũng như triển khai thực hiện chủ trương, chính sách về quyền tự do ngôn
luận, quyền tiếp cận thông tin, Đảng và nhà nước ta cũng đã và đang bộc lộ
những hạn chế, chưa phù hợp với tình hình thực tế
Những tồn tại như thế một phần là do hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực hoạt động báo chí còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa kịp bổ sung, sửa đổi
kịp thời phù hợp với thực tiễn của hoạt động báo chí Cần phát triển báo chí
phải đi đôi với quản lý tốt, phải có sự nghiên cứu để bổ sung và hoàn thiện hơn nữa pháp luật về QLNN đối với hoạt động báo chí ngày nay, báo chí của
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong quá trình hội nhập quốc tế sâu
rộng và nhất là Việt Nam ta đã chính thức trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế gới (WTO), đang đặt ra những yêu cầu và thách thức mới
Trang 93
Nếu không nắm bắt được tình hình, báo chí khó có thể đảm đương được nhiệm vụ và giữ vững được bản lĩnh của mình Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, khi các phương tiện thông tin kỹ thuật hiện đại ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, hoạt động báo chí và việc xây
dựng hành lang pháp lý trong lĩnh vực báo chí cần được tăng cường và củng
cố nhiều mặt mới đáp ứng được yêu cầu đặt ra Bởi vậy, nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về QLNN đối với báo chí trong tình hình mới hiện nay là vấn
đề cấp thiết
Trong bối cảnh và tinh thần đó Học viên quyết định chọn vấn đề về
“Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam hiện nay” để
thực hiện Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, với mong muốn góp phần giải quyết những tồn tại, vướng mắc, thúc đẩy sự bảo đảm hơn về quyền này ở nước ta trong thời gian tới, đặc biệt ứng
dụng đồng bộ và tương thích hơn với quốc tế
2 Tình hình nghiên c ứu đề tài
Đến nay đã có một số công trình khoa học nghiên cứu ở những phạm vi khác nhau được đề cập trong nhiều đề tài, bài viết, Luận văn thạc sĩ, Luận án
tiến sĩ tiêu biểu,…: Giáo trình sau đại học “Quyền con người” Chủ biên
GS.TS Võ Khánh Vinh, Học viện Khoa học xã hội, Xb 2015, Nxb KHXH;
Cuốn sách “Hỏi đáp về quyền con người”, xb 2011, Nxb Hồng Đức; ThS Vũ
Thị Thuỳ Dung; Tạp chí quản lý Nhà nước - Số 209 (T6/2013); “Việt Nam
luận”, Chu Thị Thuý Hằng, Tạp chí khoa học ĐH Quốc gia Hà Nội: Luật
trường báo chí Việt Nam”, Nguyễn Khắc Giang, Tạp chí Khoa học ĐH Quốc
gia Hà Nội: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 1 (2015); Hiến pháp
Nước Việt Nam qua các thời kỳ, (các bản hiến pháp năm 1946, 1959,1980,
Trang 104
quản lý nhà nước về báo chí luôn được đề cấp tới trong các cuốn sách nghiên
cứu nghiệp vụ của các cơ sở đào tạo báo chí, trong các tác phẩm của các tác
giả nghiên cứu về lý luận báo chí, về quyền tự do ngôn luận…
Năm 2020 là năm có nhiều thách thức đối với công tác báo chí, nhất là khi sự phát triển của internet, mạng xã hội hay các phương tiện truyền thông khác tiếp tục ảnh hưởng lớn đến hoạt động của cơ quan báo chí; Việc thực hiện Quy hoạch báo chí cũng đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi những nỗ lực, quyết tâm lớn để hoàn thành nhiệm vụ này trong thời gian tới
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí cần tiếp tục làm tốt nhiệm vụ tham mưu cho Đảng, nhà nước những vấn đề trong chỉ đạo, định hướng, quản lý báo chí Các cơ quan chủ quản báo chí đẩy mạnh các biện pháp, hình thức thực hiện tốt cơ chế kiểm tra, giám sát cơ quan báo chí Các cơ quan báo chí tiếp tục tuân thủ, thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của nhà nước về báo chí; thông tin, tuyên truyền kịp thời, đầy
đủ các diễn biến trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội, đặc biệt là các hoạt động kỷ niệm những ngày lễ lớn, sự kiện quan trọng trong năm 2020
Các công trình tiêu biểu nêu trên đã cung cấp một lượng lớn kiến thức, thông tin về đề tài Luận văn Mặc dù vậy, các công trình trên mới tập trung đề
cập đến cơ sở lý luận chung về ngôn luận, quyền tự do ngôn luận, quyền con người của mỗi công dân được thể hiện tự do trên báo chí trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ như thế này là chưa đầy đủ, chưa rõ nét
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này vẫn có tính rất cấp thiết và có ý nghĩa cả về thực tiễn lẫn lý luận
3 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 115
Luận văn nghiên cứu tổng quát về tình hình thực hiện quyền tự do ngôn
luận ở Việt Nam, đánh giá lại hệ thống chính sách, pháp luật liên quan, làm rõ các vấn đề lý luận và thực trạng bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí
của công dân ở Việt Nam Qua đó kiến nghị, đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật, cơ chế để nâng cao hiệu quả và đi vào cuộc sống
hiện đại ngày nay, bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của mỗi công dân được bảo vệ theo pháp luật
Từ mục đích nghiên cứu, Luận văn đề ra những những nhiệm vụ:
- Hệ thống hoá và làm rõ các vấn đề nhận thức, lý luận về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân và sự cần thiết QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực báo chí, vai trò của pháp luật về QLNN trong lĩnh vực báo chí Quan điểm, chính sách, pháp luật liên quan đến việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí , từ đó đối chiếu, so sánh pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền tự do ngôn luận với các chuẩn mực của pháp luật quốc tế
- Phân tích pháp luật hiện hành liên quan đến quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam Đánh giá về tính tương thích với các tiêu chuẩn của Luật nhân quyền quốc tế và thực trạng bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí ở Việt Nam hiện nay Từ đó rút ra nguyên nhân của
những bất cập, hạn chế trong việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam
- Kiến nghị, đề xuất phương hướng, giải pháp đẩy mạnh và hoàn thiện hành lang pháp lý, nhằm đảm bảo và tăng cường khả năng thực hiện quyền tự
do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam trong tình hình mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Trang 126
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý luận, pháp lý và
thực trạng bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở nước
ta hiện nay
con người khác, mà chỉ đi sâu nghiên cứu về vấn đề lý luận, pháp luật hiện hành và thực trạng bảo đảm về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt nam
đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam, không mở
rộng đến các quốc gia khác
luật và thực trạng đảm bảo quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
từ năm 1997 đến nay Đồng thời đảm bảo quền tự do ngôn luận của công dân trên nền báo chí cách mạng Việt Nam trong tình hình mới
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận: Quan điểm của
cộng đồng quốc tế về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin; Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước Việt Nam về bảo đảm thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn áp dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng
hợp, thông kê, lôgíc, so sánh, đối chiếu, khoa học dự báo để hình thành các khái niệm khoa học, đánh giá pháp luật, thực hiện pháp luật về QLNN trong
Trang 136 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn cung cấp nhiều kiến thức, luận điểm, thông tin và đề xuất mới
có giá trị tham khảo trong việc nêu cao quyền tự do ngôn luận trên báo chí
của công dân ở nước ta trong thời gian tới
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể còn được sử dụng làm nguồn tham khảo trong việc
giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành về quyền con người, quyền tự do báo chí
ở Học viện Khoa học xã hội và các cơ sở đào tạo khác có liên quan ở Việt Nam ta
7 K ết cấu của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền tự do ngôn luận trên báo
chí của công dân
Chương 2: Pháp luật và thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo
chí của công dân
Chương 3: Quan điểm và các giải pháp tăng cường bảo đảm quyền tự
do ngôn luận trên báo chí của công dân
Trang 148
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN
BÁO CHÍ CỦA CÔNG DÂN 1.1 Khái ni ệm, đặc điểm của quyền tự do ngôn luận trên báo chí
c ủa công dân
Ngày nay trên thế giới, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là yếu tố
hết sức quan trọng đối với sự ổn định, phát triển của mỗi đất nước, đồng thời còn là biểu hiện trực tiếp về quan niệm, chính sách nhân quyền ở đất nước đó Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyên dân sự và chính trị của Liên hợp quốc đều khẳng định về các quyền cơ bản này và nhà nước ta luôn nghiêm túc tuân thủ các cam kết
Tự do ngôn luận trên báo chí thuộc các quyền cơ bản của con người trong một xã hội phát triển Song thực hiện quyền tự do trên báo chí như thế nào lại là vấn đề cần đề cập một cách cự thể, căn cứ vào sự lựa chọn với tình hình phát triển của mỗi quốc gia và hệ thống pháp luật của quốc gia đó, cùng
với tiêu chí các tiêu chí của nền văn hoá mà trực tiếp là đạo đức Nên dù thực
hiện các quyền này theo pháp luật để phù hợp với truyền thống văn hoá, phục
vụ lợi ích quốc gia, của dân tộc, của cộng đồng Vì vậy, báo chí không thể lợi
dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí mà xâm phạm
tới quyền và lợi ích của mọi tổ chức, cá nhân, của đất nước
Đó là những vấn đề tất yếu mà chỉ từ vấn đề nhận thức đầy đủ, nghiêm túc thì mỗi công dân, mỗi cơ quan báo chí, mỗi người làm báo mới có thể sử
dụng quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí một cách thiết thực, hiệu quả, có ý nghĩa tích cực với xã hội và con người, qua đó thể
hiện tinh thần “sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật” Chúng ta luôn tin tưởng rằng, từ quan điểm, chính sách đúng đắn của nhà nước Việt Nam về
Trang 159
tự do ngôn luận, tự do báo chí hiện nay và lâu dài, mọi người dân Việt Nam
sẽ được hưởng các quyền này mày một đầy đủ hơn, được tạo các điều kiện để phát triển toàn diện và hài hoà, từ đó có những đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của đất nước
Quyền tự do ngôn luận trên báo chí đã được C.Mác nêu với cung bậc là đỉnh cao của tự do: “báo chí là nơi để con người thực hiện quyền tự do ngôn
luận của mình, bởi một nền báo chí tự do là hiện thân trí tuệ của nhân dân” Ở
Việt Nam trong Luật Báo chí Điều 4, Chương 1 đã ghi rõ “báo chí là diễn đàn
thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân”
Như vậy, tự do báo chí và tự do ngôn luận có phần đồng nhất Đó là quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, là quyền được tự do tìm
kiếm thông tin, chia sẻ thông tin hoặc ý kiến của mình trên váo chí
Với tính chất mở và liên kết rất rộng của báo chí nói chung, mạng xã
hội… nói riêng là nơi ít có và khó kiểm soát chặt chẽ hết của nhà nước Đây
là vấn đề rất dễ bị lợi dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí Không có quốc gia nào trên thế giới coi quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí là vô hạn, hay nói cách khác, quyền tự do báo chí, tự
do ngôn luận trên báo chí là có giới hạn
Tự do ngôn luận trên báo chí chỉ được bảo vệ khi những phát ngôn, bình luận, chia sẻ… trên báo chí khi không bị xâm phạm lợi ích hợp pháp chính đáng của quốc gia và cộng đồng, hay không xâm phạm những quyền, tự
do chính đáng của người khác Đây là điều phù hợp với các quy định trong Tuyên ngôn quốc tế và Nhân quyền
Trong tất cả các văn kiện pháp luật của quốc tế và Việt Nam, khái niệm
“quyền” luôn bao gồm: Quyền và nghĩa vụ Trong đó, tự do ngôn luận, báo
Trang 1610
chí, tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản được ghi nhận trong bản Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền (1948) và được thể chế trong “Công ước Quốc tế
về các Quyền Dân sự và Chính trị” 1966, đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ
của người hưởng thụ quyền tự do ngôn luận, báo chí Theo đó người dân có quyền tự do ngôn luận, quyền được sử dụng các phương tiện báo chí, thông tin, mạng internet, các trang mạng xã hội không trái với quy định của pháp luật Tuy nhiên, người sử dụng quyền này có nghĩa vụ phải tuân thủ quy định
của pháp luật và chấp nhận những hạn chế quyền Việc thực hiện những quyền này phải kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, và việc này
có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác như: Bảo vệ An ninh Quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ
hoặc đạo đức của xã hội
Ở Việt Nam, “quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin,
hội họp, lập hội, biểu tình” đã được quy định trong Hiến pháp Nước Cộng hoà XHCN Việt nam (2013) và được cụ thể hoá trong nhiều đạo luật, Nghị định như: Luật Báo chí (2016), Luật tiếp cận thông tin (2016), Nghị định 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử
dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng,… và thực thi nghiêm túc, tạo không khí dân chủ trong xã hội Điều đó khẳng định và thể chế hoá quan điểm
nhất quán của Đảng và nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền sáng tạo tác phẩm báo chí, cung cấp thông tin cho báo chí, phản hồi thông tin trên báo chí, tiếp cận thông tin báo chí, v.v Quyền tiếp cận thông tin của công dân được quy định rộng rãi hơn, đó không chỉ là một quyền thụ động do cơ quan nhà nước công khai thông tin theo nhận thức của mình, mà còn là quyền chủ động, được đòi hỏi các cơ quan, tổ chức nhà nước đáp ứng Trên không gian mạng nhà nước ta đã
có những quy định về quyền tự do ngôn luận, báo chí, Tiếp cận thông tin Vì
Trang 1711
vậy, công dân có quyền được sử dụng các dịch vụ trên internet, trừ các dịch
vụ bị cấm theo quy định của pháp luật và có nghĩa vụ tuân thủ các quy định
về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin Phải chịu trách nhiệm về
những nội dung thông tin do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa trên mạng xã
hội…
Tuy nhiên, cũng như các quyền con người khác, việc thực hiện quyền
tự do ngôn luận, tự do báo chí phải do pháp luật quy định và trong khuôn khổ pháp luật Quy định rõ mối quan hệ giữa quyền với nghĩa vụ công dân:
“Không được xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp
của người khác” Việc hạn chế các quyền này theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do: Quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn
xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ cộng đồng là một tất yếu Những hành vi đăng, phát thông tin xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách
mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, xuyên tạc,
vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm cá nhân… đều bị pháp luật xử lý Việc tiếp cận thông tin là những quy định về phân loại những thông tin mà người dân được tiếp cận và những thông tin cơ quan, tổ chức không được pháp cung cấp Do vậy, “quyền công dân không
tương thích, phù hợp với Luật quốc tế về Quyền con người
Hiện nay, quyền tự do ngôn luận trên báo chí ở Việt Nam không những được bảo đảm tốt mà còn là nhân tố tích cực trong cuộc đấu tranh chống
những biểu hiện tiêu cực trong xã hội Nhiều vụ tham nhũng lớn được người dân phản ánh, báo chí phanh phui, trước khi cơ quan chức năng phát hiện
Những năm gần đây, các tổ chức đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc tham gia tích
Trang 1812
cực việc giám sát, phản biện đối với chính sách của nhà nước “Quyền phát
của cá nhân, tổ chức được Đảng, nhà nước ta tôn trọng, khuyến khích Tuy nhiên, vấn đề là phản biện ra sao và động cơ phản biện như thế nào để đảm
bảo tính khách quan, tránh hiện tượng “bôi đen” xã hội, bị kẻ xấu lợi dụng gây tổn hại cho người dân, xã hội và đất nước
Tự do ngôn luận và quyền tự do ngôn luận có mối liên hệ mật thiết với các quyền như: Quyền tự do biểu đạt, tự do thông tin… Thuật ngữ tự do biểu
đạt (Freedom of expression) đôi khi còn được dùng để đề cập đến cả hành
động tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ thông tin hoặc quan niệm, bất kể bằng cách sử dụng phương tiện truyền thông nào
Ở một góc độ khác, tự do ngôn luận thể hiện ở sự tự do phát biểu mà không bị kiểm duyệt hoặc hạn chế Quyền này có thể bị hạn chế, chẳng hạn
như sự hạn chế với những phát ngôn reo rắc sự hận thù (Hate speech), hay
phân biệt đối xử về chủng tộc, dân tộc, giới, tôn giáo, tín ngưỡng… Trong
thực tiễn cũng không tồn tại quyền tự do ngôn luận tuyệt đối trong các hệ
thống pháp luật và các xã hội trên thế giới
Theo Điều 25, Hiến pháp (2013): “Công dân có quyền tự do ngôn luận,
với tự do ngôn luận phải được luật pháp quy định và chỉ được quy định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã
hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ của cộng đồng
Như vậy, Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, là quyền
mà công dân được tự do thể hiện ý kiến, quan điểm trên báo chí mà không trái
với pháp luật quốc gia và quốc tế Đó là quyền của công dân thông qua báo chí, mạng xã hội,… được thực hiện thông qua việc phát ngôn tự do trên
Trang 1913
phương tiện báo chí, truyền thông đại chúng, cung cấp phục vụ cho công dân,
mà không bị kiểm duyệt
Năm 2020 là năm có nhiều thách thức đối với công tác báo chí, nhất là khi sự phát triển của internet, mạng xã hội hay các phương tiện truyền thông khác tiếp tục ảnh hưởng lớn đến hoạt động của cơ quan báo chí; việc thực
hiện quy hoạch báo chí cũng đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi những nỗ lực, quyết tâm lớn để hoàn thành nhiệm vụ này trong thời gian tới Đến nay, việc triển khai đã đạt được một số kết quả ban đầu, nhận thức của cơ quan chủ
quản, cơ quan báo chí thực hiện quy hoạch đã được nâng lên
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí cần
tiếp tục làm tốt nhiệm vụ tham mưu cho Đảng, nhà nước những vấn đề trong
chỉ đạo, định hướng, quản lý báo chí Các cơ quan chủ quản báo chí đẩy mạnh các biện pháp, hình thức thực hiện tốt cơ chế kiểm tra, giám sát cơ quan báo chí Các cơ quan báo chí tiếp tục tuân thủ, thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của nhà nước về báo chí; thông tin, tuyên truyền kịp thời, đầy
đủ các diễn biến trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội, đặc biệt là các hoạt động kỷ niệm những ngày lễ lớn, sự kiện quan trọng trong năm 2020
Đồng thời người làm báo tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị, trách nhiệm người công dân, sứ mệnh người làm báo nhằm tạo sự đồng thuận xã
hội, giữ vững niềm tin vào nhân dân, vào sự lãnh đạo của Đảng
1.2 Trách nhi ệm bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và Chiến lược phòng chống tham nhũng đến năm 2020 đã đề
Trang 2014
ra nhiệm vụ nghiên cứu và ban hành Luật đảm bảo quyền tự do ngôn luận của công dân, coi đây là một biện pháp quan trọng trong công tác phòng chống tham nhũng của Đảng và nhà nước
Việt Nam là quốc gia thực sự có tự do báo chí, tự do ngôn luận: Để quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ngày càng được đảm bảo trong thực tiễn cuộc sống, năm 2016, Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Tiếp cận thông tin
và Luật Báo chí Tại Điều 10 của Luật này cũng quy định công dân có quyền
tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai, đồng thời được yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin
Về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 Luật báo chí năm 2016 thì:
Điều 10: Quyền tự do báo chí của công dân:
- Sáng tạo tác phẩm báo chí
- Cung cấp thông tin cho báo chí
- Phản hồi thông tin trên báo chí
- Tiếp cận thông tin báo chí
- Liên kết với các cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí
- In, phát hành báo in
Điều 11:Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân:
- Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới
- Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước
- Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác
Trang 2115
1.2.2 Trách nhiệm của nhà nước, của cơ quan báo chí đối với quyền tự
Luật báo chí 2016 cũng quy định rõ trách nhiệm của nhà nước, của cơ quan báo chí đối với quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của công dân:
Trách nhiệm của cơ quan báo chí đối với quyền tự do báo chí, quyền tự
do ngôn luận trên báo chí của công dân, theo Điều 12 của Luật báo chí 2016:
- Đăng, phát kiến nghị, phê bình, tin, bài, ảnh và tác phầm báo chí khác
của công dân phù hợp với tôn chỉ, mục đích và không có nội dung quy định
tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 9 của luật này; trong trường
hợp không đăng, phát phải trả lời và nêu rõ lý do khi có yêu cầu
- Trả lời hoặc yêu cầu tổ chức, người có thẩm quyền trả lời bằng văn
bản hoặc trả lời trên báo chí về kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến
Theo Điều 13 của Luật Báo chí 2016: Trách nhiệm của nhà nước đối
với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân:
- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình
- Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được nhà nước bảo hộ Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn
luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích chủa nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân
- Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng Như vậy, về mặt pháp lý, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam đã được quy định toàn
diện, đầy đủ, với những nội dung cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng, dễ thực hiện trong cuộc sống
Trang 2216
1.3 Các y ếu tố tác động đến bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí c ủa công dân
1.3.1 Tâm lý con người
Con người là chủ thể quan trọng trong sáng tạo và thông tin, trên đó con người thực hiện các hành vi mang bản chất xã hội như trao đổi, học tập, lao động, giao tiếp, sáng tạo, tiêu dùng… đây là hành vi có ý thức, phục vụ nhu câu cuộc sống cũng như sự phát triển của xã hội loài người Đồng thời là
kết quả của sự tương tác của con người phương tiện như báo chí và các dich
vụ khác diễn ra trên không gian mạng, trên phương tiện truyền thông đại chúng Nếu như thiếu sự tương tác của con người, sẽ không có thông tin trao đổi thì mọi việc lại không tồn tại, sự phát triển và tồn tại của phương tiện thông tin hoàn toàn do ý muốn của con người và vì con người Vì vậy, tâm
lý con người tác động rất lớn đến quyền tự do ngôn luận trên báo chí cũng như trên mạng xã hội hiện đại ngày nay
Với thời đại công nghiệp 4.0 ngày nay, việc sử dụng Internet là phổ
biến, Việt Nam có trên 30 triệu người sử dụng Facebook hàng ngày, đó là chưa kể số người sử dụng các mạng xã hội khác Với bản chất chất phát, thật thà, cởi mở của người Việt, họ không ngần ngại chia sẻ những thông tin ngày
một nhiều hơn trên các báo chí, diễn đàn xã hội, nếu không tuân thủ các quy định pháp luật dẫn đến trao đổi, lưu trữ hoặc công khai các thông tin, tài liệu
bí mật nhà nước, bí mật nội bộ hay vô tình tham gia vào việc tạo ra, lưu hành, tuyền bá các thông tin xấu, bịa đặt, xuyên tạc sai sự thật sẽ rất nguy hại đến đất nước
Cho nên việc trang bị cho con người những kiến thức, kỹ năng về công nghệ là cần thiết, nhưng quan trọng hơn vẫn là xây dựng ý thức và văn hoá ứng xử trong thời đại kết nối toàn cầu ngày nay
Trang 2317
1.3.2 Tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội
Trong khi tình hình thế giới biến động phức tạp, khó lường về nhiều
mặt thì sự phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
của Việt Nam vẫn luôn đạt mức tăng trưởng khả quan so với các nước trong khu vực và trên thế giới Đặc biệt, trong 9 tháng đầu năm 2019, GDP tăng 6,98% - mức tăng cao nhất trong vòng 9 năm qua Lạm phát tiếp tục được
kiểm soát ở mức thấp, bình quân 9 tháng tăng 2,5% - mức tăng thấp nhất trong 3 năm qua Vốn FDI thực hiện cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, ước đạt 14,2 tỷ USD, tăng 7,3% Thu ngân sách nhà nước tăng cao (10,1%), bội chi còn 3,4% GDP, nợ công còn dưới 57% GDP Đó là những số liệu minh
chứng một cách thuyết phục về sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, cũng như môi trường đầu tư thuận lợi, an toàn, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là sự xuất hiện của ngày càng nhiều các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới…
Thực tế, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, để phù hợp
với tình hình thực tiễn, trong bối cảnh “thế giới phẳng” toàn cầu hóa, hội nhập
quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam đã điều chỉnh, bổ sung, xây dựng nhiều đạo luật mới, đề cao, tôn trọng các quyền cơ bản, chính đáng của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do Internet
Như vậy, trước sự tương tác đa chiều thì ngôn luận có trách nhiệm mỗi công dân trên internet là tiếng nói quan trọng nhằm đạt tới sự đồng thuận xã
hội cũng như góp phần phát hiện tình hình, giúp cho sự điều chỉnh các chủ trương, chính sách và kinh tế, văn hoá - xã hội của các cấp có thẩm quyền
Công ước quốc tế về các quyền Dân sự - chính trị (1966) đã ghi nhận
về quyền tự do ngôn luận là một quyền con người quan trọng, mà Việt Nam là thành viên của Công ước này từ năm 1982 Việc nội luật hoá các quy định của Công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia được Việt Nam thực hiện theo
Trang 2418
những lộ trình nhất định Quá trình đó thể hiện đòi hỏi nội tại về phát triển tự
do của con người Việt Nam và thể hiện cam kết của nước ta khi tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người
Là thành viên của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị,
việc nội luật các quy định của Công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia được Việt Nam thực hiện theo những lộ trình nhất định Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền quan trọng của con người, do vậy quyền này được bảo vệ không chỉ ở cấp độ đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất của quốc gia là Hiến pháp mà còn được chi tiết hoá trong các văn bản luật của Việt Nam
Trang 25Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân là quyền được phát
biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và
thực hiện đường lối , chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác
Trong thời gian qua, nhà nước ta đã rất chú trọng đến quyền tự do ngôn
luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin của công dân, điều này được thể hiện trong chủ trương, chính sách của nhà nước Tuy nhiên, việc thực hiện quyền
tự do ngôn luận này của người dân vẫn còn khó khăn Vì vậy, nhà nước ta cần chú trọng hơn nữa bằng cách cần thay đổi cơ chế pháp lý hữu hiệu, thực tế
nhằm đáp ứng, phù hợp hơn với tình hình mới của thời đại công nghệ 4.0, để
mỗi công dân thực hiện quyền của mình vào quá trình QLNN một cách chủ động, thực chất và hiệu quả hơn
Trang 2620
Chương 2 PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG VỀ QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN
TRÊN BÁO CHÍ CỦA CÔNG DÂN 2.1 Pháp lu ật Việt Nam về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
Ở Việt Nam, trong các văn kiện chính thức của Đảng và nhà nước, cũng như trong hệ thống pháp luật không dùng khái niệm “quyền tự do biểu đạt” mà sử dụng khái niệm “quyền tự do ngôn luận”, là một trong những quyền cơ bản của công dân, quyền tự do ngôn luận lần đầu tiên được quy định
tại Điều 9 Hiến pháp năm 1946 cùng với quyền tự do xuất bản, tự do tổ chức
và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài
Tiếp đến, trong Hiến pháp năm 1959, quyền tự do ngôn luận được quy định
tại Điều 25, cùng với tự do báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình của công dân Cần thấy rằng, trong bối cảnh chính quyền non trẻ phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức, tiếp đến là trải qua hai cuộc kháng chiến chốn
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1946 - 1975) mà nhà nước ta vẫn nỗ lực ghi
nhận trong Hiến pháp các quyền tự do dân chủ, trong đó có quyền tự do ngôn
luận, mới thấy hết ý nghĩa lịch sử trọng đại của vấn đề này
Khi nước nhà thống nhất, Quốc hội khoá VI đã thông qua Hiến pháp năm 1980, trong đó quyền tự do ngôn luận của công dân tiếp tục được quy định tại Điều 67 cùng với quyền tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự
do biểu tình “phù hợp với lợi ích của CNXH và của nhân dân”
Bước vào thời kỳ đổi mới, trong Hiến pháp năm 1992, chế định Quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân (chương V) có một số thay đổi quyền tự do ngôn luận được quy định tại Điều 69, bên cạnh một quyền mới - “quyền được thông tin”
Trang 2721
Sau hơn 20 năm tổ chức thực hiện Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi,
bổ sung thành Hiến pháp năm 2013 Trong đó, chế định Quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân được đổi tên thành “Quyền con người, quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân” (chương II) và quyền tự do ngôn luận được quy định
tại Điều 25, gắn với các quyền có liên quan: tự do báo chí, hội họp, lập hội,
biểu tình và quyền tiếp cận thông tin thay cho quyền được thông tin
Quá trình hiến định quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam cho thấy, do hoàn cảnh lịch sử nên Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 không có quy định về điều kiện thực hiện (hoặc hạn chế) đối với quyền tự do ngôn luận
của công dân Tuy nhiên, từ Hiến pháp năm 1980 về sau, việc thực hiền quyền tự do ngôn luận đều kèm theo điều kiện: “Theo quy định của pháp luật, phù hợp với lợi ích nhà nước và xã hội” Nhìn tổng thể, quyền tự do ngôn
luận của công dân và những điều kiện thực hiện quyền này đã sớm được nhà nước ta tôn trọng, ghi nhận trong Hiến pháp và cụ thể hoá thành Luật, Nghị định, Thông tư theo các nguyên tắc, quy định của pháp luật và thông lệ quốc
tế
Tôn trọng pháp luật và đảm bảo thực thi quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân nói riêng Trong đó, quy định rõ quyền, nghĩa vụ và việc
hạn chế quyền này của công dân trong trường hợp cụ thể, nhằm bảo vệ lợi ích
quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
Thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phù hợp với điều kiện
quốc gia: Trên thực tế, không riêng ở Việt Nam, mà hầu hết các quốc gia tuy
có cách tiếp cận không giống nhau về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, nhưng đều có một nguyên tắc cơ bản là việc thực thi quyền tự do ngôn luận,
tự do báo chí phải phù hợp với tình hình, điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ
Trang 2822
dân trí, thể chế chính trị của mỗi nước và không được phép lợi dụng quyền cơ
bản này để xâm hại lợi ích quốc gia - dân tộc, làm phương hại danh dự, nhân
phẩm người khác và ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức cộng đồng, trật tự xã
hội
Ngày 17 - 10 - 1997, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá VIII đã có Chỉ thị 22/CT-TƯ về Tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh
đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản Cùng với những quan điểm chỉ đạo
quan trọng về hoạt động báo chí, quan điểm “Phát triển đi đôi với quản lý tốt”
là một nguyên tắc cơ bản định hướng cho nội dung QLNN về báo chí trong tình hình mới Đây cũng là điều kiện mới để báo chí Việt Nam phát triển, hội
nhập với báo chí khu vực và trên thế giới
Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới, báo chí nước ta đã chuyển hướng và hội
nhập kịp thời, không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu quan
trọng Chưa thời điểm nào mà mặt trận báo chí phát triển mạnh, phong phú,
đa dạng, đúng hướng, tiến bộ cả về số lượng lẫn chất lượng như hiện nay
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, nhà nước Việt Nam luôn xác định việc bảo đảm, thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam là một trong những giải pháp quan trọng để khơi dậy, phát huy ý chí, nguyện vọng, trí tuệ, sức mạnh tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân
nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đã và đang được đảm bảo trên thực tế Hơn thế nữa, trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn có tinh thần cầu thị, tích cực tiếp thu, học hỏi, tham khảo những kinh nghiệm tiến bộ của các quốc gia khác để thực hiện ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí cho đại đa số người dân
Trang 2923
2.1.3 Nhận thức đúng về quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận
- Quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin là một quyền cơ
bản, quan trọng của cá nhân được quy định trong nhiều công ước quốc tế về quyền con người và đã được quy định trong các Hiến pháp nước ta, đặc biệt là
Hiến pháp 2013
Để phản đối Luật An ninh mạng, một số bài viết trên các trang mạng
của một số phần tử cơ hội chính trị, chống phá Đảng, nhà nước đưa ra luận điệu rằng luật này không hề mang lại lợi ích gì cho nước, cho dân, cả chính trị
và kinh tế, mà chỉ giúp cho bọn tham nhũng đang bị truy đuổi bao năm qua có
khả năng “lật cờ” trỗi dậy Một số bài viết của các đối tượng này còn đòi huỷ
bỏ nhiều điều luật trong Bộ luật Hình sự, như Chương 9 - về các tội phạm an ninh quốc gia, Điều 79 (tội lật đổ chính quyền nhân dân)… Đây thực chất là thủ đoạn chính trị, xuyên tạc đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và
nhà nước; xuyên tạc lịch sử cách mạng, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo; phá hoại mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; kích động hận thù dân tộc; phá
hoại quan hệ quốc tế của nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Pháp luật nước ta cũng như các quốc gia đều quy định, quyền bao giờ cũng đi đôi với nghĩa vụ Hiến pháp và nhiều bộ luật nước ta đã quy định rõ các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, kể cả quyền sử dụng mạng xã hội và quyền tiếp cận thông tin Bởi vây, hơn lúc nào hết, cán bộ, đảng viên, người dân cần hiểu rõ
và nắm vững các quy định của pháp luật về quyền tự do ngôn luận, quyền tự
do báo chí, quyền tiếp cận thông tin
Đặc biệt, Internet được nhà nước khuyến khích sử dụng, bao gồm báo
và tạp chí điện tử, mạng xã hội, các trang thông tin điện tử… được cấp phép
hoạt động Năm 2016, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua Luật tiếp cận thông tin, đây là một văn kiện pháp luật cụ thể hoá về quyền
tự do ngôn luận, tự do báo chí của Hiến pháp năm 2013.Theo quy định của
Trang 3024
Luật Tiếp cận thông tin thì quyền Tiếp cận thông tin là một quyền có thể bị
hạn chế hoặc là quyền có điều kiện: “Thông tin thuộc bí mật nhà nước, bao
gồm những thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc
gây nguy hại đến lợi ích của nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng - an ninh quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ cộng đồng…” (Điều 6) Những thông tin được tiếp cận có điều kiện,
chẳng hạn: “Thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh được tiếp cận nếu chủ
quyền và nghĩa vụ của công dân (trong việc Tiếp cận thông tin), đó là những quyền: “Được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời; khiếu nại, khởi
bảo vệ lợi ích nhân dân
Tự do ngôn luận, tự do báo chí là một trong những mục tiêu phấn đấu
cơ bản của con người nhằm giành cho mình quyền được thông tin, trao đổi, giao tiếp thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình công khai thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng
Tự do báo chí, tự do ngôn luận luôn là vấn đề mang tính toàn cầu, đây không chỉ là sự quan tâm của chính quyền ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ mà còn là một đòi hỏi cơ bản về quyền con người Là nhu cầu tinh thần trao đổi thông tin trong quá trình tồn tại, phát triển của mỗi cộng đồng quốc gia, dân tộc nhất là trong thời đại phát triển CNTT hiện nay
Thực tế, những năm qua báo chí Việt Nam đã có sự phát triển nhanh về
số lượng, đa dạng về loại hình ấn phẩm, đội ngũ những người làm báo, số
lượng độc giả, cơ sở vật chất - Kỹ thuật công nghệ, năng lực tài chính của các
cơ quan báo chí, truyền thông đều được tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ
Trang 3125
Hầu hết các bộ, ban, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, các giới, ngành, các tổ chức tôn giáo lớn đều được xuất bản các tờ báo riêng của mình Đồng thời, mọi người dân đều
có quyền đề đạt nguyện vọng, phát biểu và đóng góp ý kiến của mình trên tất
cả lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
Tính đến tháng 10 năm 2019, cả nước hiện có 844 cơ quan báo chí in, với 184 báo in, 660 tạp chí in; 24 cơ quan báo chí điện tử độc lập; 189 giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp được cấp cho các cơ quan báo chí in, phát thanh truyền hình Có 67 đài phát thanh - Truyền hình Trung ương và địa phương, 05 đơn vị hoạt động truyền hình Hội Nhà báo Việt Nam quản lý hơn 22.000 hội viên, trong đó gần 18.000 nhà báo đã được cấp thẻ hành nghề đang làm việc tại hàng trăm cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương, Đảng và nhà nước ta luôn khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để
mọi nhà báo hoạt động tự do, sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật
Công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, vấn đề tự do công khai, minh bạch thông tin càng được Đảng và nhà nước quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho các phương tiện truyền thông đại chúng phát triển Một trong những hoạt động được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao là hơn ba thập kỷ qua, các đài phát thanh, truyền hình đã thường xuyên truyền hình trực tiếp các buổi chất vấn của đại biểu Quốc hội dành cho các thành viên Chính phủ, kể cả Thủ tướng Chính phủ Báo chí đã tường thuật trực tiếp các kỳ họp của Quốc hội, những kỳ họp của Hội đồng Nhân dân các tỉnh, thành phố trên cả nước Tất cả các Bộ trưởng đều nghiêm túc thực hiện nhiệm
vụ “Dân hỏi - Bộ trưởng trả lời” trong những buổi giao lưu trực tuyến thường xuyên Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành cử “người phát ngôn báo chí”, có
trách nhiệm cung cấp thông tin kịp thời về những sự việc nhân dân đang quan
Trang 3226
tâm đối với từng ngành, nghề cụ thể, các cuộc trả lời phỏng vấn về các vụ việc đang diễn ra gây bức xúc trong xã hội do các báo, đài đưa tin về các sự kiện, vụ việc tiêu cực nghiêm trọng được báo chí đề cập đã đáp ứng đòi hỏi của nhân dân về tăng cường tính công khai, minh bạch thông tin
Có thể nói, với vai trò phản ánh và tham gia phản biện xã hội, báo chí
là một kênh quan trọng để các cơ quan chức năng tham khảo nhằm bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước sao cho phù hợp với đời sống của người dân Cùng với việc phát hiện, biểu dương nhân tố mới báo chí tích cực tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, chống tham nhũng, quan liêu và các tệ nạn xã hội khác được
nhân dân đồng tình ủng hộ Trong bất kỳ thể chế chính trị xã hội nào thì tự do ngôn luận, tự do báo chí chỉ mang tính tương đối, bởi tự do báo chí phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, được pháp luật điều hành và quản lý cho phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của từng nước Chúng ta ngày nay đã và đang hội nhập sâu rộng toàn cầu, luôn xây dựng và phát triển một nền báo chí
tự do Trong đó nhà báo được tự do hành nghề, tự do sáng tạo để phục vụ công chúng theo đúng đạo đức và trách nhiệm của người làm báo chân chính
vì mục đích cao cả là “phục vụ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đem lại sự tin tưởng cho người dân Ngoài sự chi phối của
pháp luật, còn có sự chi phối của đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm và sự giác
ngộ chính trị của mỗi người Không thể có “tự do báo chí tuyệt đối”, tự do
sáng tạo trong báo chí, trước hết phải được thể hiện ở việc nhà báo cần tự tin, bản lĩnh chọn lọc thông tin cung cấp trung thực, mang đến cho người đọc thông tin có chất lượng tốt, từ đó mang lại nhận thức tốt cho người đọc
Vấn đề nữa cần quan tâm là, ngoài các qui định về pháp luật, mỗi nhà báo khi tác nghiệp, đều cần cân nhắc kỹ việc xử lý thông tin; một sự việc, một hiện tượng đang diễn ra đều phải suy nghĩ, cân nhắc để tự trả lời câu hỏi: có
Trang 3327
nên phản ánh sự kiện đó lên mặt báo hay không? nếu sự việc đó làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc mình thì cần kiên quyết loại bỏ
Các thế lực cơ hội, thù địch từng la lối “Việt Nam đàn áp những người bất
đồng chính kiến” đây là sự vu cáo, chụp mũ trắng trợn, trong thực tế có một
số tờ báo đã bị xử phạt hành chính, bị nhắc nhở, hoặc bị đình chỉ xuất bản Vì
họ đã sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng đưa tin xuyên tạc, bịa đặt, kích động chống lại Đảng, nhà nước ta Thực tiễn cho thấy ở nước ta đã thực sự có tự do ngôn luận, tự do báo chí trên cơ sở mỗi nhà báo, người làm công tác báo chí, truyền thông đều thực hiện đúng pháp luật, nêu cao tinh thần trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc XHCN Nếu ai đó cố tình lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí để công khai công kích chống Đảng, nhà nước đi ngược lại lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc đều bị xử lý nghiêm minh bằng pháp luật Đây là sự nghiêm minh, bình đẳng trong pháp luật để bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc mà không có một thế lực thù địch nào có thể dùng lời lẽ để chống phá, công đích được
2.2 Th ực trạng thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam
Theo như quy định của Hiến pháp, quyền tự do ngôn luận của mọi công dân là quyền được tự do có quan điểm và giữ vững quan điểm của mình, cũng như được tự do tìm kiếm và tiếp nhận, chia sẻ thông tin nhưng phải nằm trong
giới hạn mà pháp luật quy định, không phải tuỳ tiện, vu khống, bôi nhọ, lừa
bịp, làm lộ bí mật quốc gia, xâm hại quyền tự do của người khác
Trước tình hình mạng xã hội, báo điện tử phát triển như ngày nay thì đang đặt ra vấn đề rất thời sự, cấp thiết, đó là hiểu thế nào và làm sao để thực
Trang 3428
hiện quyền tự do ngôn luận phù hợp với mọi “diễn đàn cộng đồng không biên
giới”, cho phép mọi người dễ dàng và nhanh chóng thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí Với tính năng “siêu văn bản” cập nhật thông tin tức
thời, báo mạng điện tử đã trở thành phương tiện thông tin thời sự nhanh nhất, ngày một thoả mãn nhu cầu nắm bắt thông tin của công chúng Ở đó công dân
có thể tìm kiếm thông tin cần quan tâm cho cuộc sống riêng, hoặc nắm bắt diễn đàn của thời cuộc nhằm hoà nhập với xã hội và thể hiện quan điểm của mình trước những thông tin đó
Là một mơi trường mở, không có giới hạn về không gian và thời gian nên mỗi sự tương tác, mỗi dòng bình luận, mỗi ý kiến nêu ra trên không gian
mạng thì cả thế giới đều biết và do đó hiệu quả tích cực hoặc tiêu cực đều có
thể xuất hiện đồng thời và tác động tức thời Khi quyền tự do ngôn luận không còn là hoạt động riêng của cá nhân, tổ chức, mà đó là hoạt động báo chí truyền thông Vì thế, mà mỗi cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do ngôn
luận trên báo chí, không gian mạng không được vượt quá giới hạn mà pháp
luật cho phép, vô tình quyền tự do ngôn luận này bị lợi dụng để phục vụ cho
lợi ích của một hay một nhóm người, thậm chí trở thành phương tiện để
những kẻ chống phá lợi dụng, bôi nhọ, nói xấu, gây chia rẽ làm nguy hại đến
sự ổn định chính trị Cho nên người tương tác trên cộng đồng mạng khi thấy
có dấu hiệu bất thường cần hết sức cảnh giác và kịp thời phản bác
Trong đại dịch Covid-19, một số thành phần muốn lợi dụng quyền tự
do ngôn luận, tự do báo chí đưa nhiều thông tin sai lệch đã đăng tải trên mạng
xã hội Có thể nói cho đên nay, Việt Nam ta làm rất tốt phòng chống dịch và điều trị hiệu quả, nhưng không ít thông tin tuyên truyền sai lệch, xuyên tạc, gây ảnh hưởng đến uy tín, đối ngoại, và nhiều vấn đề kinh tế, chính trị của nước ta
Trang 3529
Như vậy, vấn đề đặt ra là trước tình hình phát triển nhanh và đa dạng
của báo công nghệ mạng xã hội, báo điện tử… các cơ quan quản lý cần hết
sức quan tâm để làm sao vừa bảo đảm được quyền tự do ngôn luận nhưng cũng cần kịp thời định hướng, hướng dẫn và quản lý dòng “ngôn luận đa chiều” đó Cần làm cho mọi người hiểu rằng, trong một xã hội dân chủ, nhà nước pháp quyền “tự do ngôn luận” không có nghĩa là tuỳ tiện mà phải nằm trong giới hạn của luật pháp, phải theo đạo đức xã hội, truyền thống văn hoá dân tộc, vì lợi ích cộng đồng… Cần phải có những cơ quan có trách nhiệm
nắm bắt những thông tin để kịp thời hướng dư luận, hoặc đấu tranh phản bác
lại các thông tin sai trái, thông tin không chính xác bằng chính quyền tự do ngôn luận của mình Điều này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “làm sao dân biết hưởng quyền tự do của mình, biết dùng quyền tự do ngôn luận, dám nói, dám làm Muốn vậy phải giáo dục cho người dân ý thức về quyền tự
do ngôn luận, để hiểu được cần ngôn luận cái gì, ngôn luận làm sao cho đúng lúc, đúng chỗ” Ghi nhớ lời của Người mỗi công dân đang sống trong đất nước thực thi sự nghiệp đổi mới với mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước
mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, cần trau dồi kiến thức và có trách nhiệm
để nâng cao năng lực và ý thức làm chủ bản thân Cần nắm vững luật pháp để
hiểu được quyền tự do và nghĩa vụ của mình đối với đất nước, đối với xã hội,
với bản thân, từ đó biết ngôn luận đúng với “quyền tự do ngôn luận”
Mạng xã hội, báo điện tử… đã là một diễn đàn của xã hội, của công dân thị mọi người cần hiểu và thực hiện quyền tự do ngôn luận sao cho thật
hiệu quả, thật có ích và xem đây là một phương tiện tìm kiếm thông tin bổ ích, đa dạng, đa chiều, nhưng cũng phải luôn cảnh giác và kiên quyết đấu tranh kiệp thời với những luận điệu “diễn biến hoà bình”, truyền bá những quan điểm sai trái gây kích động thù địch, vu cáo, xuyên tạc tình hình làm tổn
Trang 3630
hại đến lợi ích cộng đồng, xã hội và đất nước nhất là trong giai đoạn chúng ta đang tiến hành Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng
Vì Quyền tự do ngôn luận trên báo chí ngày nay, đa số sử dụng trên không gian mạng Internet nên người sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam cũng
phải tuân thủ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng Internet
Theo Điều 10, Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/07/2013 của Chính
phủ quy định vế quyền và nghĩa vụ của người sử dụng internet:
- Được sử dụng các dịch vụ trên internet trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật
- Tuân thủ thời gian hoạt động của điểm truy nhập internet công cộng
- Không được kinh doanh lại các dịch vụ internet dưới bất kỳ hình thức nào
- Tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin
và các quy định khác có liên quan tại Nghị định này
Ngoài quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 10 Nghị định này, người sử
dụng dịch vụ mạng xã hội còn có quyền và nghĩa vụ tại điều 26 của Nghị định này sau đây:
- Được sử dụng dịch vụ của mạng xã hội trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật
- Được bảo vệ bí mật thông tin riêng và thông tin cá nhân theo quy định
của pháp luật
- Tuân thủ quy chế quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội