1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận Văn Thạc Sĩ) Quyền Tự Do Ngôn Luận Trên Báo Chí Của Công Dân Ở Việt Nam Hiện Nay.pdf

72 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Văn Phú Niệm
Người hướng dẫn GS.TS. Võ Khánh Vinh
Trường học Học Viện Khoa Học Xã Hội
Chuyên ngành Luật Hiến Pháp và Luật Hành Chính
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 710,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 NH Ữ NG V ẤN ĐỀ LÝ LU Ậ N V Ề QUY Ề N T Ự DO NGÔN (14)
    • 1.1. Khái ni ệm, đặc điể m c ủ a quy ề n t ự do ngôn lu ậ n trên báo chí c ủ a công dân (14)
    • 1.2. Trách nhi ệ m b ảo đả m quy ề n t ự do ngôn lu ậ n trên báo chí c ủ a công dân (19)
    • 1.3. Các y ế u t ố tác động đế n b ảo đả m quy ề n t ự do ngôn lu ậ n trên báo chí (22)
  • Chương 2 PHÁP LU Ậ T VÀ TH Ự C TR Ạ NG V Ề QUY Ề N T Ự DO NGÔN LU Ậ N TRÊN BÁO CHÍ C Ủ A CÔNG DÂN (26)
    • 2.1. Pháp lu ậ t Vi ệ t Nam v ề quy ề n t ự do ngôn lu ậ n trên báo chí c ủ a công dân (26)
    • 2.2. Th ự c tr ạ ng th ự c hi ệ n quy ề n t ự do ngôn lu ậ n trên báo chí c ủ a công dân ở Vi ệ t Nam (33)
    • 2.3. Pháp lu ậ t qu ố c t ế và m ộ t s ố qu ố c gia v ề quy ề n t ự do ngôn lu ậ n trên báo chí c ủ a công dân (39)
  • Chương 3 QUAN ĐIỂ M VÀ CÁC GI ẢI PHÁP TĂNG CƯỜ NG B Ả O ĐẢ M QUY Ề N T Ự DO NGÔN LU Ậ N TRÊN BÁO CHÍ C Ủ A CÔNG DÂN (46)
    • 3.1. Quan điể m v ề quy ề n t ự do ngôn lu ậ n trên báo chí c ủ a công dân ở Vi ệ t (46)
    • 3.2. Gi ải pháp tăng cườ ng b ảo đả m quy ề n t ự do ngôn lu ậ n trên báo chí c ủ a công dân ở Việt Nam (50)
    • 3.3. Điề u ki ệ n c ần có để b ảo đả m quy ề n t ự do ngôn lu ậ n, quy ề n t ự do báo chí của công dân ......................................... Error! Bookmark not defined. 3.4. Đả m b ả o quy ề n t ự do ngôn lu ậ n c ủ a công dân trên n ề n báo chí cách (56)

Nội dung

Untitled VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VĂN PHÚ NIỆM QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN BÁO CHÍ CỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CH[.]

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

H ỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VĂN PHÚ NIỆM

QUY ỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN BÁO CHÍ

C ỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LU ẬN VĂN THẠC SĨ

LU ẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ N ỘI, NĂM 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

H ỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VĂN PHÚ NIỆM

QUY ỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN BÁO CHÍ

C ỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của

được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và khảo sát tình hình thực tiễn dưới sự hướng dẫn Khoa học của GS.TS Võ Khánh Vinh

Tôi cũng xin cam đoan: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn

trong Luận văn đều được ghi rõ nguồn

TÁC GI Ả LUẬN VĂN

Văn Phú Niệm

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Niên khoá 2018 - 2020

Đặc biệt, tôi chân thành cảm ơn GS.TS Võ Khánh Vinh, đã dành thời

Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn đối với những người thân, các bạn học

hoàn thành Luận văn này

TÁC GI Ả LUẬN VĂN

Văn Phú Niệm

Trang 5

M ỤC LỤC

M Ở ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO NGÔN

LU ẬN TRÊN BÁO CHÍ CỦA CÔNG DÂN 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm của quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân 8 1.2 Trách nhiệm bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân 13 1.3 Các yếu tố tác động đến bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí

của công dân 16

Chương 2: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG VỀ QUYỀN TỰ DO NGÔN LU ẬN TRÊN BÁO CHÍ CỦA CÔNG DÂN 20

2.1 Pháp luật Việt Nam về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân 20 2.2 Thực trạng thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

ở Việt Nam 27 2.3 Pháp luật quốc tế và một số quốc gia về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân 33

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN BÁO CHÍ CỦA CÔNG DÂN 40

3.1 Quan điểm về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam 40 3.2 Giải pháp tăng cường bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam 44 3.3 Điều kiện cần có để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí của công dân Error! Bookmark not defined 3.4 Đảm bảo quyền tự do ngôn luận của công dân trên nền báo chí cách

mạng Việt Nam trong tình hình mới ……… 52

K ẾT LUẬN 58 DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNTT : Công nghệ thông tin

KT - VH – XH : Kinh tế - Văn hoá - Xã hội

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính c ấp thiết của đề tài

Nền báo chí Cách mạng Việt Nam ta đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước đây, cũng như trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ngày nay Chủ trương đổi mới do Đảng khởi xướng cùng với những thành tựu vĩ đại của công nghệ thông tin (CNTT) đã làm cho nền báo chí nước ta ngày nay phát triển nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng Chính vì vậy công tác quản lý nhà nước về báo chí cần được tăng cường mà vẫn tạo được quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân hiện nay

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí có mối liên hệ chặt chẽ với các quyền khác, đó chính là quyền bất khả xâm phạm về nhân thân và đời tư; quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tham gia quản lý nhà nước (QLNN) và xã hội

Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do ngôn luận là một xu thế tiến bộ và mang tính chất tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội loài người Quyền

tự do ngôn luận là một kênh đánh giá mức độ dân chủ của một quốc gia cũng như phản ánh tính công khai, minh bạch trong hoạt động của một nhà nước Quyền tự do ngôn luận được tôn trọng giúp người dân của một quốc gia hiểu

biết và giám sát một cách chặt chẽ những việc mà Chính phủ, nhà nước làm,

giảm thiểu những hành vi lạm quyền, tham nhũng và những hành vi khác đi ngược lại lợi ích của công dân

Pháp luật về quyền tự do ngôn luận có vai trò quan trọng trong việc quy định về quyền của công dân khi tiếp cận những thông tin trên báo chí, đảm

bảo cho mỗi công dân thực hiện quyền này một cách nhanh nhất, hiệu quả

nhất Pháp luật về quyền tự do ngôn luận, tiếp cận thông tin cũng quy định

Trang 8

2

một cách hạn chế, cụ thể những trường hợp thông tin bị giới hạn tiếp cận và các cơ chế để đảm bảo cho quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

Những chủ trương, chính sách của Đảng và những văn bản QPPL được

thể chế hoá của nhà nước về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân trong những năm qua đã từng bước làm dân chủ hoá, minh bạch hoá hoạt động của cơ quan nhà nước, giúp người dân tiếp cận ngày một dễ dàng và thuận lợi hơn đối với các thông tin do các cơ quan nhà nước nắm giữ Hoạt động của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là những cơ quan có nhiệm vụ đáp ứng những yêu cầu về thủ tục hành chính hằng ngày đã công khai và thuận

tiện hơn cho người dân Các hành vi quan liêu, hách dịch, của quyền trong công việc của cán bộ, cơ quan nhà nước đã tận tình, chu đáo hơn Ngược lại,

nhận thức của người dân về quyền tự do ngôn luận, tự do tiếp cận và phản ánh thông tin liên quan đến chủ trương, chính sách quan trọng hoặc có mối liên hệ

trực tiếp đến lợi ích người dân của các cơ quan Đảng và nhà nước từ Trung ương đến địa phương cũng ngày một tôn trọng và nâng cao

Tuy nhiên trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cũng như triển khai thực hiện chủ trương, chính sách về quyền tự do ngôn

luận, quyền tiếp cận thông tin, Đảng và nhà nước ta cũng đã và đang bộc lộ

những hạn chế, chưa phù hợp với tình hình thực tế

Những tồn tại như thế một phần là do hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực hoạt động báo chí còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa kịp bổ sung, sửa đổi

kịp thời phù hợp với thực tiễn của hoạt động báo chí Cần phát triển báo chí

phải đi đôi với quản lý tốt, phải có sự nghiên cứu để bổ sung và hoàn thiện hơn nữa pháp luật về QLNN đối với hoạt động báo chí ngày nay, báo chí của

thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong quá trình hội nhập quốc tế sâu

rộng và nhất là Việt Nam ta đã chính thức trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế gới (WTO), đang đặt ra những yêu cầu và thách thức mới

Trang 9

3

Nếu không nắm bắt được tình hình, báo chí khó có thể đảm đương được nhiệm vụ và giữ vững được bản lĩnh của mình Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, khi các phương tiện thông tin kỹ thuật hiện đại ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, hoạt động báo chí và việc xây

dựng hành lang pháp lý trong lĩnh vực báo chí cần được tăng cường và củng

cố nhiều mặt mới đáp ứng được yêu cầu đặt ra Bởi vậy, nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về QLNN đối với báo chí trong tình hình mới hiện nay là vấn

đề cấp thiết

Trong bối cảnh và tinh thần đó Học viên quyết định chọn vấn đề về

“Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam hiện nay” để

thực hiện Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, với mong muốn góp phần giải quyết những tồn tại, vướng mắc, thúc đẩy sự bảo đảm hơn về quyền này ở nước ta trong thời gian tới, đặc biệt ứng

dụng đồng bộ và tương thích hơn với quốc tế

2 Tình hình nghiên c ứu đề tài

Đến nay đã có một số công trình khoa học nghiên cứu ở những phạm vi khác nhau được đề cập trong nhiều đề tài, bài viết, Luận văn thạc sĩ, Luận án

tiến sĩ tiêu biểu,…: Giáo trình sau đại học “Quyền con người” Chủ biên

GS.TS Võ Khánh Vinh, Học viện Khoa học xã hội, Xb 2015, Nxb KHXH;

Cuốn sách “Hỏi đáp về quyền con người”, xb 2011, Nxb Hồng Đức; ThS Vũ

Thị Thuỳ Dung; Tạp chí quản lý Nhà nước - Số 209 (T6/2013); “Việt Nam

luận”, Chu Thị Thuý Hằng, Tạp chí khoa học ĐH Quốc gia Hà Nội: Luật

trường báo chí Việt Nam”, Nguyễn Khắc Giang, Tạp chí Khoa học ĐH Quốc

gia Hà Nội: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 1 (2015); Hiến pháp

Nước Việt Nam qua các thời kỳ, (các bản hiến pháp năm 1946, 1959,1980,

Trang 10

4

quản lý nhà nước về báo chí luôn được đề cấp tới trong các cuốn sách nghiên

cứu nghiệp vụ của các cơ sở đào tạo báo chí, trong các tác phẩm của các tác

giả nghiên cứu về lý luận báo chí, về quyền tự do ngôn luận…

Năm 2020 là năm có nhiều thách thức đối với công tác báo chí, nhất là khi sự phát triển của internet, mạng xã hội hay các phương tiện truyền thông khác tiếp tục ảnh hưởng lớn đến hoạt động của cơ quan báo chí; Việc thực hiện Quy hoạch báo chí cũng đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi những nỗ lực, quyết tâm lớn để hoàn thành nhiệm vụ này trong thời gian tới

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí cần tiếp tục làm tốt nhiệm vụ tham mưu cho Đảng, nhà nước những vấn đề trong chỉ đạo, định hướng, quản lý báo chí Các cơ quan chủ quản báo chí đẩy mạnh các biện pháp, hình thức thực hiện tốt cơ chế kiểm tra, giám sát cơ quan báo chí Các cơ quan báo chí tiếp tục tuân thủ, thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của nhà nước về báo chí; thông tin, tuyên truyền kịp thời, đầy

đủ các diễn biến trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội, đặc biệt là các hoạt động kỷ niệm những ngày lễ lớn, sự kiện quan trọng trong năm 2020

Các công trình tiêu biểu nêu trên đã cung cấp một lượng lớn kiến thức, thông tin về đề tài Luận văn Mặc dù vậy, các công trình trên mới tập trung đề

cập đến cơ sở lý luận chung về ngôn luận, quyền tự do ngôn luận, quyền con người của mỗi công dân được thể hiện tự do trên báo chí trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ như thế này là chưa đầy đủ, chưa rõ nét

Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này vẫn có tính rất cấp thiết và có ý nghĩa cả về thực tiễn lẫn lý luận

3 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 11

5

Luận văn nghiên cứu tổng quát về tình hình thực hiện quyền tự do ngôn

luận ở Việt Nam, đánh giá lại hệ thống chính sách, pháp luật liên quan, làm rõ các vấn đề lý luận và thực trạng bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí

của công dân ở Việt Nam Qua đó kiến nghị, đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật, cơ chế để nâng cao hiệu quả và đi vào cuộc sống

hiện đại ngày nay, bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của mỗi công dân được bảo vệ theo pháp luật

Từ mục đích nghiên cứu, Luận văn đề ra những những nhiệm vụ:

- Hệ thống hoá và làm rõ các vấn đề nhận thức, lý luận về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân và sự cần thiết QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực báo chí, vai trò của pháp luật về QLNN trong lĩnh vực báo chí Quan điểm, chính sách, pháp luật liên quan đến việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí , từ đó đối chiếu, so sánh pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền tự do ngôn luận với các chuẩn mực của pháp luật quốc tế

- Phân tích pháp luật hiện hành liên quan đến quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam Đánh giá về tính tương thích với các tiêu chuẩn của Luật nhân quyền quốc tế và thực trạng bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí ở Việt Nam hiện nay Từ đó rút ra nguyên nhân của

những bất cập, hạn chế trong việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam

- Kiến nghị, đề xuất phương hướng, giải pháp đẩy mạnh và hoàn thiện hành lang pháp lý, nhằm đảm bảo và tăng cường khả năng thực hiện quyền tự

do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam trong tình hình mới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Trang 12

6

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý luận, pháp lý và

thực trạng bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở nước

ta hiện nay

con người khác, mà chỉ đi sâu nghiên cứu về vấn đề lý luận, pháp luật hiện hành và thực trạng bảo đảm về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt nam

đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam, không mở

rộng đến các quốc gia khác

luật và thực trạng đảm bảo quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

từ năm 1997 đến nay Đồng thời đảm bảo quền tự do ngôn luận của công dân trên nền báo chí cách mạng Việt Nam trong tình hình mới

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận: Quan điểm của

cộng đồng quốc tế về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin; Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước Việt Nam về bảo đảm thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn áp dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng

hợp, thông kê, lôgíc, so sánh, đối chiếu, khoa học dự báo để hình thành các khái niệm khoa học, đánh giá pháp luật, thực hiện pháp luật về QLNN trong

Trang 13

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn cung cấp nhiều kiến thức, luận điểm, thông tin và đề xuất mới

có giá trị tham khảo trong việc nêu cao quyền tự do ngôn luận trên báo chí

của công dân ở nước ta trong thời gian tới

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn có thể còn được sử dụng làm nguồn tham khảo trong việc

giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành về quyền con người, quyền tự do báo chí

ở Học viện Khoa học xã hội và các cơ sở đào tạo khác có liên quan ở Việt Nam ta

7 K ết cấu của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền tự do ngôn luận trên báo

chí của công dân

Chương 2: Pháp luật và thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo

chí của công dân

Chương 3: Quan điểm và các giải pháp tăng cường bảo đảm quyền tự

do ngôn luận trên báo chí của công dân

Trang 14

8

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN

BÁO CHÍ CỦA CÔNG DÂN 1.1 Khái ni ệm, đặc điểm của quyền tự do ngôn luận trên báo chí

c ủa công dân

Ngày nay trên thế giới, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là yếu tố

hết sức quan trọng đối với sự ổn định, phát triển của mỗi đất nước, đồng thời còn là biểu hiện trực tiếp về quan niệm, chính sách nhân quyền ở đất nước đó Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyên dân sự và chính trị của Liên hợp quốc đều khẳng định về các quyền cơ bản này và nhà nước ta luôn nghiêm túc tuân thủ các cam kết

Tự do ngôn luận trên báo chí thuộc các quyền cơ bản của con người trong một xã hội phát triển Song thực hiện quyền tự do trên báo chí như thế nào lại là vấn đề cần đề cập một cách cự thể, căn cứ vào sự lựa chọn với tình hình phát triển của mỗi quốc gia và hệ thống pháp luật của quốc gia đó, cùng

với tiêu chí các tiêu chí của nền văn hoá mà trực tiếp là đạo đức Nên dù thực

hiện các quyền này theo pháp luật để phù hợp với truyền thống văn hoá, phục

vụ lợi ích quốc gia, của dân tộc, của cộng đồng Vì vậy, báo chí không thể lợi

dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí mà xâm phạm

tới quyền và lợi ích của mọi tổ chức, cá nhân, của đất nước

Đó là những vấn đề tất yếu mà chỉ từ vấn đề nhận thức đầy đủ, nghiêm túc thì mỗi công dân, mỗi cơ quan báo chí, mỗi người làm báo mới có thể sử

dụng quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí một cách thiết thực, hiệu quả, có ý nghĩa tích cực với xã hội và con người, qua đó thể

hiện tinh thần “sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật” Chúng ta luôn tin tưởng rằng, từ quan điểm, chính sách đúng đắn của nhà nước Việt Nam về

Trang 15

9

tự do ngôn luận, tự do báo chí hiện nay và lâu dài, mọi người dân Việt Nam

sẽ được hưởng các quyền này mày một đầy đủ hơn, được tạo các điều kiện để phát triển toàn diện và hài hoà, từ đó có những đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của đất nước

Quyền tự do ngôn luận trên báo chí đã được C.Mác nêu với cung bậc là đỉnh cao của tự do: “báo chí là nơi để con người thực hiện quyền tự do ngôn

luận của mình, bởi một nền báo chí tự do là hiện thân trí tuệ của nhân dân” Ở

Việt Nam trong Luật Báo chí Điều 4, Chương 1 đã ghi rõ “báo chí là diễn đàn

thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân”

Như vậy, tự do báo chí và tự do ngôn luận có phần đồng nhất Đó là quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, là quyền được tự do tìm

kiếm thông tin, chia sẻ thông tin hoặc ý kiến của mình trên váo chí

Với tính chất mở và liên kết rất rộng của báo chí nói chung, mạng xã

hội… nói riêng là nơi ít có và khó kiểm soát chặt chẽ hết của nhà nước Đây

là vấn đề rất dễ bị lợi dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí Không có quốc gia nào trên thế giới coi quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí là vô hạn, hay nói cách khác, quyền tự do báo chí, tự

do ngôn luận trên báo chí là có giới hạn

Tự do ngôn luận trên báo chí chỉ được bảo vệ khi những phát ngôn, bình luận, chia sẻ… trên báo chí khi không bị xâm phạm lợi ích hợp pháp chính đáng của quốc gia và cộng đồng, hay không xâm phạm những quyền, tự

do chính đáng của người khác Đây là điều phù hợp với các quy định trong Tuyên ngôn quốc tế và Nhân quyền

Trong tất cả các văn kiện pháp luật của quốc tế và Việt Nam, khái niệm

“quyền” luôn bao gồm: Quyền và nghĩa vụ Trong đó, tự do ngôn luận, báo

Trang 16

10

chí, tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản được ghi nhận trong bản Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền (1948) và được thể chế trong “Công ước Quốc tế

về các Quyền Dân sự và Chính trị” 1966, đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ

của người hưởng thụ quyền tự do ngôn luận, báo chí Theo đó người dân có quyền tự do ngôn luận, quyền được sử dụng các phương tiện báo chí, thông tin, mạng internet, các trang mạng xã hội không trái với quy định của pháp luật Tuy nhiên, người sử dụng quyền này có nghĩa vụ phải tuân thủ quy định

của pháp luật và chấp nhận những hạn chế quyền Việc thực hiện những quyền này phải kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, và việc này

có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác như: Bảo vệ An ninh Quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ

hoặc đạo đức của xã hội

Ở Việt Nam, “quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin,

hội họp, lập hội, biểu tình” đã được quy định trong Hiến pháp Nước Cộng hoà XHCN Việt nam (2013) và được cụ thể hoá trong nhiều đạo luật, Nghị định như: Luật Báo chí (2016), Luật tiếp cận thông tin (2016), Nghị định 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử

dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng,… và thực thi nghiêm túc, tạo không khí dân chủ trong xã hội Điều đó khẳng định và thể chế hoá quan điểm

nhất quán của Đảng và nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền sáng tạo tác phẩm báo chí, cung cấp thông tin cho báo chí, phản hồi thông tin trên báo chí, tiếp cận thông tin báo chí, v.v Quyền tiếp cận thông tin của công dân được quy định rộng rãi hơn, đó không chỉ là một quyền thụ động do cơ quan nhà nước công khai thông tin theo nhận thức của mình, mà còn là quyền chủ động, được đòi hỏi các cơ quan, tổ chức nhà nước đáp ứng Trên không gian mạng nhà nước ta đã

có những quy định về quyền tự do ngôn luận, báo chí, Tiếp cận thông tin Vì

Trang 17

11

vậy, công dân có quyền được sử dụng các dịch vụ trên internet, trừ các dịch

vụ bị cấm theo quy định của pháp luật và có nghĩa vụ tuân thủ các quy định

về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin Phải chịu trách nhiệm về

những nội dung thông tin do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa trên mạng xã

hội…

Tuy nhiên, cũng như các quyền con người khác, việc thực hiện quyền

tự do ngôn luận, tự do báo chí phải do pháp luật quy định và trong khuôn khổ pháp luật Quy định rõ mối quan hệ giữa quyền với nghĩa vụ công dân:

“Không được xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp

của người khác” Việc hạn chế các quyền này theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do: Quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn

xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ cộng đồng là một tất yếu Những hành vi đăng, phát thông tin xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách

mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, xuyên tạc,

vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm cá nhân… đều bị pháp luật xử lý Việc tiếp cận thông tin là những quy định về phân loại những thông tin mà người dân được tiếp cận và những thông tin cơ quan, tổ chức không được pháp cung cấp Do vậy, “quyền công dân không

tương thích, phù hợp với Luật quốc tế về Quyền con người

Hiện nay, quyền tự do ngôn luận trên báo chí ở Việt Nam không những được bảo đảm tốt mà còn là nhân tố tích cực trong cuộc đấu tranh chống

những biểu hiện tiêu cực trong xã hội Nhiều vụ tham nhũng lớn được người dân phản ánh, báo chí phanh phui, trước khi cơ quan chức năng phát hiện

Những năm gần đây, các tổ chức đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc tham gia tích

Trang 18

12

cực việc giám sát, phản biện đối với chính sách của nhà nước “Quyền phát

của cá nhân, tổ chức được Đảng, nhà nước ta tôn trọng, khuyến khích Tuy nhiên, vấn đề là phản biện ra sao và động cơ phản biện như thế nào để đảm

bảo tính khách quan, tránh hiện tượng “bôi đen” xã hội, bị kẻ xấu lợi dụng gây tổn hại cho người dân, xã hội và đất nước

Tự do ngôn luận và quyền tự do ngôn luận có mối liên hệ mật thiết với các quyền như: Quyền tự do biểu đạt, tự do thông tin… Thuật ngữ tự do biểu

đạt (Freedom of expression) đôi khi còn được dùng để đề cập đến cả hành

động tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ thông tin hoặc quan niệm, bất kể bằng cách sử dụng phương tiện truyền thông nào

Ở một góc độ khác, tự do ngôn luận thể hiện ở sự tự do phát biểu mà không bị kiểm duyệt hoặc hạn chế Quyền này có thể bị hạn chế, chẳng hạn

như sự hạn chế với những phát ngôn reo rắc sự hận thù (Hate speech), hay

phân biệt đối xử về chủng tộc, dân tộc, giới, tôn giáo, tín ngưỡng… Trong

thực tiễn cũng không tồn tại quyền tự do ngôn luận tuyệt đối trong các hệ

thống pháp luật và các xã hội trên thế giới

Theo Điều 25, Hiến pháp (2013): “Công dân có quyền tự do ngôn luận,

với tự do ngôn luận phải được luật pháp quy định và chỉ được quy định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã

hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ của cộng đồng

Như vậy, Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, là quyền

mà công dân được tự do thể hiện ý kiến, quan điểm trên báo chí mà không trái

với pháp luật quốc gia và quốc tế Đó là quyền của công dân thông qua báo chí, mạng xã hội,… được thực hiện thông qua việc phát ngôn tự do trên

Trang 19

13

phương tiện báo chí, truyền thông đại chúng, cung cấp phục vụ cho công dân,

mà không bị kiểm duyệt

Năm 2020 là năm có nhiều thách thức đối với công tác báo chí, nhất là khi sự phát triển của internet, mạng xã hội hay các phương tiện truyền thông khác tiếp tục ảnh hưởng lớn đến hoạt động của cơ quan báo chí; việc thực

hiện quy hoạch báo chí cũng đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi những nỗ lực, quyết tâm lớn để hoàn thành nhiệm vụ này trong thời gian tới Đến nay, việc triển khai đã đạt được một số kết quả ban đầu, nhận thức của cơ quan chủ

quản, cơ quan báo chí thực hiện quy hoạch đã được nâng lên

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí cần

tiếp tục làm tốt nhiệm vụ tham mưu cho Đảng, nhà nước những vấn đề trong

chỉ đạo, định hướng, quản lý báo chí Các cơ quan chủ quản báo chí đẩy mạnh các biện pháp, hình thức thực hiện tốt cơ chế kiểm tra, giám sát cơ quan báo chí Các cơ quan báo chí tiếp tục tuân thủ, thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của nhà nước về báo chí; thông tin, tuyên truyền kịp thời, đầy

đủ các diễn biến trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội, đặc biệt là các hoạt động kỷ niệm những ngày lễ lớn, sự kiện quan trọng trong năm 2020

Đồng thời người làm báo tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị, trách nhiệm người công dân, sứ mệnh người làm báo nhằm tạo sự đồng thuận xã

hội, giữ vững niềm tin vào nhân dân, vào sự lãnh đạo của Đảng

1.2 Trách nhi ệm bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và Chiến lược phòng chống tham nhũng đến năm 2020 đã đề

Trang 20

14

ra nhiệm vụ nghiên cứu và ban hành Luật đảm bảo quyền tự do ngôn luận của công dân, coi đây là một biện pháp quan trọng trong công tác phòng chống tham nhũng của Đảng và nhà nước

Việt Nam là quốc gia thực sự có tự do báo chí, tự do ngôn luận: Để quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ngày càng được đảm bảo trong thực tiễn cuộc sống, năm 2016, Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Tiếp cận thông tin

và Luật Báo chí Tại Điều 10 của Luật này cũng quy định công dân có quyền

tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai, đồng thời được yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin

Về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 Luật báo chí năm 2016 thì:

Điều 10: Quyền tự do báo chí của công dân:

- Sáng tạo tác phẩm báo chí

- Cung cấp thông tin cho báo chí

- Phản hồi thông tin trên báo chí

- Tiếp cận thông tin báo chí

- Liên kết với các cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí

- In, phát hành báo in

Điều 11:Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân:

- Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới

- Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước

- Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác

Trang 21

15

1.2.2 Trách nhiệm của nhà nước, của cơ quan báo chí đối với quyền tự

Luật báo chí 2016 cũng quy định rõ trách nhiệm của nhà nước, của cơ quan báo chí đối với quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của công dân:

Trách nhiệm của cơ quan báo chí đối với quyền tự do báo chí, quyền tự

do ngôn luận trên báo chí của công dân, theo Điều 12 của Luật báo chí 2016:

- Đăng, phát kiến nghị, phê bình, tin, bài, ảnh và tác phầm báo chí khác

của công dân phù hợp với tôn chỉ, mục đích và không có nội dung quy định

tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 9 của luật này; trong trường

hợp không đăng, phát phải trả lời và nêu rõ lý do khi có yêu cầu

- Trả lời hoặc yêu cầu tổ chức, người có thẩm quyền trả lời bằng văn

bản hoặc trả lời trên báo chí về kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến

Theo Điều 13 của Luật Báo chí 2016: Trách nhiệm của nhà nước đối

với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân:

- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình

- Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được nhà nước bảo hộ Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn

luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích chủa nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân

- Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng Như vậy, về mặt pháp lý, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam đã được quy định toàn

diện, đầy đủ, với những nội dung cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng, dễ thực hiện trong cuộc sống

Trang 22

16

1.3 Các y ếu tố tác động đến bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí c ủa công dân

1.3.1 Tâm lý con người

Con người là chủ thể quan trọng trong sáng tạo và thông tin, trên đó con người thực hiện các hành vi mang bản chất xã hội như trao đổi, học tập, lao động, giao tiếp, sáng tạo, tiêu dùng… đây là hành vi có ý thức, phục vụ nhu câu cuộc sống cũng như sự phát triển của xã hội loài người Đồng thời là

kết quả của sự tương tác của con người phương tiện như báo chí và các dich

vụ khác diễn ra trên không gian mạng, trên phương tiện truyền thông đại chúng Nếu như thiếu sự tương tác của con người, sẽ không có thông tin trao đổi thì mọi việc lại không tồn tại, sự phát triển và tồn tại của phương tiện thông tin hoàn toàn do ý muốn của con người và vì con người Vì vậy, tâm

lý con người tác động rất lớn đến quyền tự do ngôn luận trên báo chí cũng như trên mạng xã hội hiện đại ngày nay

Với thời đại công nghiệp 4.0 ngày nay, việc sử dụng Internet là phổ

biến, Việt Nam có trên 30 triệu người sử dụng Facebook hàng ngày, đó là chưa kể số người sử dụng các mạng xã hội khác Với bản chất chất phát, thật thà, cởi mở của người Việt, họ không ngần ngại chia sẻ những thông tin ngày

một nhiều hơn trên các báo chí, diễn đàn xã hội, nếu không tuân thủ các quy định pháp luật dẫn đến trao đổi, lưu trữ hoặc công khai các thông tin, tài liệu

bí mật nhà nước, bí mật nội bộ hay vô tình tham gia vào việc tạo ra, lưu hành, tuyền bá các thông tin xấu, bịa đặt, xuyên tạc sai sự thật sẽ rất nguy hại đến đất nước

Cho nên việc trang bị cho con người những kiến thức, kỹ năng về công nghệ là cần thiết, nhưng quan trọng hơn vẫn là xây dựng ý thức và văn hoá ứng xử trong thời đại kết nối toàn cầu ngày nay

Trang 23

17

1.3.2 Tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội

Trong khi tình hình thế giới biến động phức tạp, khó lường về nhiều

mặt thì sự phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

của Việt Nam vẫn luôn đạt mức tăng trưởng khả quan so với các nước trong khu vực và trên thế giới Đặc biệt, trong 9 tháng đầu năm 2019, GDP tăng 6,98% - mức tăng cao nhất trong vòng 9 năm qua Lạm phát tiếp tục được

kiểm soát ở mức thấp, bình quân 9 tháng tăng 2,5% - mức tăng thấp nhất trong 3 năm qua Vốn FDI thực hiện cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, ước đạt 14,2 tỷ USD, tăng 7,3% Thu ngân sách nhà nước tăng cao (10,1%), bội chi còn 3,4% GDP, nợ công còn dưới 57% GDP Đó là những số liệu minh

chứng một cách thuyết phục về sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, cũng như môi trường đầu tư thuận lợi, an toàn, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là sự xuất hiện của ngày càng nhiều các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới…

Thực tế, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, để phù hợp

với tình hình thực tiễn, trong bối cảnh “thế giới phẳng” toàn cầu hóa, hội nhập

quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam đã điều chỉnh, bổ sung, xây dựng nhiều đạo luật mới, đề cao, tôn trọng các quyền cơ bản, chính đáng của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do Internet

Như vậy, trước sự tương tác đa chiều thì ngôn luận có trách nhiệm mỗi công dân trên internet là tiếng nói quan trọng nhằm đạt tới sự đồng thuận xã

hội cũng như góp phần phát hiện tình hình, giúp cho sự điều chỉnh các chủ trương, chính sách và kinh tế, văn hoá - xã hội của các cấp có thẩm quyền

Công ước quốc tế về các quyền Dân sự - chính trị (1966) đã ghi nhận

về quyền tự do ngôn luận là một quyền con người quan trọng, mà Việt Nam là thành viên của Công ước này từ năm 1982 Việc nội luật hoá các quy định của Công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia được Việt Nam thực hiện theo

Trang 24

18

những lộ trình nhất định Quá trình đó thể hiện đòi hỏi nội tại về phát triển tự

do của con người Việt Nam và thể hiện cam kết của nước ta khi tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người

Là thành viên của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị,

việc nội luật các quy định của Công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia được Việt Nam thực hiện theo những lộ trình nhất định Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền quan trọng của con người, do vậy quyền này được bảo vệ không chỉ ở cấp độ đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất của quốc gia là Hiến pháp mà còn được chi tiết hoá trong các văn bản luật của Việt Nam

Trang 25

Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân là quyền được phát

biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và

thực hiện đường lối , chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác

Trong thời gian qua, nhà nước ta đã rất chú trọng đến quyền tự do ngôn

luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin của công dân, điều này được thể hiện trong chủ trương, chính sách của nhà nước Tuy nhiên, việc thực hiện quyền

tự do ngôn luận này của người dân vẫn còn khó khăn Vì vậy, nhà nước ta cần chú trọng hơn nữa bằng cách cần thay đổi cơ chế pháp lý hữu hiệu, thực tế

nhằm đáp ứng, phù hợp hơn với tình hình mới của thời đại công nghệ 4.0, để

mỗi công dân thực hiện quyền của mình vào quá trình QLNN một cách chủ động, thực chất và hiệu quả hơn

Trang 26

20

Chương 2 PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG VỀ QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN

TRÊN BÁO CHÍ CỦA CÔNG DÂN 2.1 Pháp lu ật Việt Nam về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

Ở Việt Nam, trong các văn kiện chính thức của Đảng và nhà nước, cũng như trong hệ thống pháp luật không dùng khái niệm “quyền tự do biểu đạt” mà sử dụng khái niệm “quyền tự do ngôn luận”, là một trong những quyền cơ bản của công dân, quyền tự do ngôn luận lần đầu tiên được quy định

tại Điều 9 Hiến pháp năm 1946 cùng với quyền tự do xuất bản, tự do tổ chức

và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài

Tiếp đến, trong Hiến pháp năm 1959, quyền tự do ngôn luận được quy định

tại Điều 25, cùng với tự do báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình của công dân Cần thấy rằng, trong bối cảnh chính quyền non trẻ phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức, tiếp đến là trải qua hai cuộc kháng chiến chốn

thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1946 - 1975) mà nhà nước ta vẫn nỗ lực ghi

nhận trong Hiến pháp các quyền tự do dân chủ, trong đó có quyền tự do ngôn

luận, mới thấy hết ý nghĩa lịch sử trọng đại của vấn đề này

Khi nước nhà thống nhất, Quốc hội khoá VI đã thông qua Hiến pháp năm 1980, trong đó quyền tự do ngôn luận của công dân tiếp tục được quy định tại Điều 67 cùng với quyền tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự

do biểu tình “phù hợp với lợi ích của CNXH và của nhân dân”

Bước vào thời kỳ đổi mới, trong Hiến pháp năm 1992, chế định Quyền

và nghĩa vụ cơ bản của công dân (chương V) có một số thay đổi quyền tự do ngôn luận được quy định tại Điều 69, bên cạnh một quyền mới - “quyền được thông tin”

Trang 27

21

Sau hơn 20 năm tổ chức thực hiện Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi,

bổ sung thành Hiến pháp năm 2013 Trong đó, chế định Quyền và nghĩa vụ

cơ bản của công dân được đổi tên thành “Quyền con người, quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân” (chương II) và quyền tự do ngôn luận được quy định

tại Điều 25, gắn với các quyền có liên quan: tự do báo chí, hội họp, lập hội,

biểu tình và quyền tiếp cận thông tin thay cho quyền được thông tin

Quá trình hiến định quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam cho thấy, do hoàn cảnh lịch sử nên Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 không có quy định về điều kiện thực hiện (hoặc hạn chế) đối với quyền tự do ngôn luận

của công dân Tuy nhiên, từ Hiến pháp năm 1980 về sau, việc thực hiền quyền tự do ngôn luận đều kèm theo điều kiện: “Theo quy định của pháp luật, phù hợp với lợi ích nhà nước và xã hội” Nhìn tổng thể, quyền tự do ngôn

luận của công dân và những điều kiện thực hiện quyền này đã sớm được nhà nước ta tôn trọng, ghi nhận trong Hiến pháp và cụ thể hoá thành Luật, Nghị định, Thông tư theo các nguyên tắc, quy định của pháp luật và thông lệ quốc

tế

Tôn trọng pháp luật và đảm bảo thực thi quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân nói riêng Trong đó, quy định rõ quyền, nghĩa vụ và việc

hạn chế quyền này của công dân trong trường hợp cụ thể, nhằm bảo vệ lợi ích

quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

Thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phù hợp với điều kiện

quốc gia: Trên thực tế, không riêng ở Việt Nam, mà hầu hết các quốc gia tuy

có cách tiếp cận không giống nhau về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, nhưng đều có một nguyên tắc cơ bản là việc thực thi quyền tự do ngôn luận,

tự do báo chí phải phù hợp với tình hình, điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ

Trang 28

22

dân trí, thể chế chính trị của mỗi nước và không được phép lợi dụng quyền cơ

bản này để xâm hại lợi ích quốc gia - dân tộc, làm phương hại danh dự, nhân

phẩm người khác và ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức cộng đồng, trật tự xã

hội

Ngày 17 - 10 - 1997, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng

khoá VIII đã có Chỉ thị 22/CT-TƯ về Tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh

đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản Cùng với những quan điểm chỉ đạo

quan trọng về hoạt động báo chí, quan điểm “Phát triển đi đôi với quản lý tốt”

là một nguyên tắc cơ bản định hướng cho nội dung QLNN về báo chí trong tình hình mới Đây cũng là điều kiện mới để báo chí Việt Nam phát triển, hội

nhập với báo chí khu vực và trên thế giới

Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới, báo chí nước ta đã chuyển hướng và hội

nhập kịp thời, không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu quan

trọng Chưa thời điểm nào mà mặt trận báo chí phát triển mạnh, phong phú,

đa dạng, đúng hướng, tiến bộ cả về số lượng lẫn chất lượng như hiện nay

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, nhà nước Việt Nam luôn xác định việc bảo đảm, thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam là một trong những giải pháp quan trọng để khơi dậy, phát huy ý chí, nguyện vọng, trí tuệ, sức mạnh tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân

nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đã và đang được đảm bảo trên thực tế Hơn thế nữa, trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn có tinh thần cầu thị, tích cực tiếp thu, học hỏi, tham khảo những kinh nghiệm tiến bộ của các quốc gia khác để thực hiện ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí cho đại đa số người dân

Trang 29

23

2.1.3 Nhận thức đúng về quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận

- Quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin là một quyền cơ

bản, quan trọng của cá nhân được quy định trong nhiều công ước quốc tế về quyền con người và đã được quy định trong các Hiến pháp nước ta, đặc biệt là

Hiến pháp 2013

Để phản đối Luật An ninh mạng, một số bài viết trên các trang mạng

của một số phần tử cơ hội chính trị, chống phá Đảng, nhà nước đưa ra luận điệu rằng luật này không hề mang lại lợi ích gì cho nước, cho dân, cả chính trị

và kinh tế, mà chỉ giúp cho bọn tham nhũng đang bị truy đuổi bao năm qua có

khả năng “lật cờ” trỗi dậy Một số bài viết của các đối tượng này còn đòi huỷ

bỏ nhiều điều luật trong Bộ luật Hình sự, như Chương 9 - về các tội phạm an ninh quốc gia, Điều 79 (tội lật đổ chính quyền nhân dân)… Đây thực chất là thủ đoạn chính trị, xuyên tạc đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và

nhà nước; xuyên tạc lịch sử cách mạng, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo; phá hoại mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; kích động hận thù dân tộc; phá

hoại quan hệ quốc tế của nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Pháp luật nước ta cũng như các quốc gia đều quy định, quyền bao giờ cũng đi đôi với nghĩa vụ Hiến pháp và nhiều bộ luật nước ta đã quy định rõ các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, kể cả quyền sử dụng mạng xã hội và quyền tiếp cận thông tin Bởi vây, hơn lúc nào hết, cán bộ, đảng viên, người dân cần hiểu rõ

và nắm vững các quy định của pháp luật về quyền tự do ngôn luận, quyền tự

do báo chí, quyền tiếp cận thông tin

Đặc biệt, Internet được nhà nước khuyến khích sử dụng, bao gồm báo

và tạp chí điện tử, mạng xã hội, các trang thông tin điện tử… được cấp phép

hoạt động Năm 2016, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua Luật tiếp cận thông tin, đây là một văn kiện pháp luật cụ thể hoá về quyền

tự do ngôn luận, tự do báo chí của Hiến pháp năm 2013.Theo quy định của

Trang 30

24

Luật Tiếp cận thông tin thì quyền Tiếp cận thông tin là một quyền có thể bị

hạn chế hoặc là quyền có điều kiện: “Thông tin thuộc bí mật nhà nước, bao

gồm những thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc

gây nguy hại đến lợi ích của nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng - an ninh quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ cộng đồng…” (Điều 6) Những thông tin được tiếp cận có điều kiện,

chẳng hạn: “Thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh được tiếp cận nếu chủ

quyền và nghĩa vụ của công dân (trong việc Tiếp cận thông tin), đó là những quyền: “Được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời; khiếu nại, khởi

bảo vệ lợi ích nhân dân

Tự do ngôn luận, tự do báo chí là một trong những mục tiêu phấn đấu

cơ bản của con người nhằm giành cho mình quyền được thông tin, trao đổi, giao tiếp thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình công khai thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng

Tự do báo chí, tự do ngôn luận luôn là vấn đề mang tính toàn cầu, đây không chỉ là sự quan tâm của chính quyền ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ mà còn là một đòi hỏi cơ bản về quyền con người Là nhu cầu tinh thần trao đổi thông tin trong quá trình tồn tại, phát triển của mỗi cộng đồng quốc gia, dân tộc nhất là trong thời đại phát triển CNTT hiện nay

Thực tế, những năm qua báo chí Việt Nam đã có sự phát triển nhanh về

số lượng, đa dạng về loại hình ấn phẩm, đội ngũ những người làm báo, số

lượng độc giả, cơ sở vật chất - Kỹ thuật công nghệ, năng lực tài chính của các

cơ quan báo chí, truyền thông đều được tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ

Trang 31

25

Hầu hết các bộ, ban, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, các giới, ngành, các tổ chức tôn giáo lớn đều được xuất bản các tờ báo riêng của mình Đồng thời, mọi người dân đều

có quyền đề đạt nguyện vọng, phát biểu và đóng góp ý kiến của mình trên tất

cả lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua các phương tiện thông tin đại chúng

Tính đến tháng 10 năm 2019, cả nước hiện có 844 cơ quan báo chí in, với 184 báo in, 660 tạp chí in; 24 cơ quan báo chí điện tử độc lập; 189 giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp được cấp cho các cơ quan báo chí in, phát thanh truyền hình Có 67 đài phát thanh - Truyền hình Trung ương và địa phương, 05 đơn vị hoạt động truyền hình Hội Nhà báo Việt Nam quản lý hơn 22.000 hội viên, trong đó gần 18.000 nhà báo đã được cấp thẻ hành nghề đang làm việc tại hàng trăm cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương, Đảng và nhà nước ta luôn khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để

mọi nhà báo hoạt động tự do, sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật

Công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, vấn đề tự do công khai, minh bạch thông tin càng được Đảng và nhà nước quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho các phương tiện truyền thông đại chúng phát triển Một trong những hoạt động được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao là hơn ba thập kỷ qua, các đài phát thanh, truyền hình đã thường xuyên truyền hình trực tiếp các buổi chất vấn của đại biểu Quốc hội dành cho các thành viên Chính phủ, kể cả Thủ tướng Chính phủ Báo chí đã tường thuật trực tiếp các kỳ họp của Quốc hội, những kỳ họp của Hội đồng Nhân dân các tỉnh, thành phố trên cả nước Tất cả các Bộ trưởng đều nghiêm túc thực hiện nhiệm

vụ “Dân hỏi - Bộ trưởng trả lời” trong những buổi giao lưu trực tuyến thường xuyên Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành cử “người phát ngôn báo chí”, có

trách nhiệm cung cấp thông tin kịp thời về những sự việc nhân dân đang quan

Trang 32

26

tâm đối với từng ngành, nghề cụ thể, các cuộc trả lời phỏng vấn về các vụ việc đang diễn ra gây bức xúc trong xã hội do các báo, đài đưa tin về các sự kiện, vụ việc tiêu cực nghiêm trọng được báo chí đề cập đã đáp ứng đòi hỏi của nhân dân về tăng cường tính công khai, minh bạch thông tin

Có thể nói, với vai trò phản ánh và tham gia phản biện xã hội, báo chí

là một kênh quan trọng để các cơ quan chức năng tham khảo nhằm bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước sao cho phù hợp với đời sống của người dân Cùng với việc phát hiện, biểu dương nhân tố mới báo chí tích cực tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, chống tham nhũng, quan liêu và các tệ nạn xã hội khác được

nhân dân đồng tình ủng hộ Trong bất kỳ thể chế chính trị xã hội nào thì tự do ngôn luận, tự do báo chí chỉ mang tính tương đối, bởi tự do báo chí phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, được pháp luật điều hành và quản lý cho phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của từng nước Chúng ta ngày nay đã và đang hội nhập sâu rộng toàn cầu, luôn xây dựng và phát triển một nền báo chí

tự do Trong đó nhà báo được tự do hành nghề, tự do sáng tạo để phục vụ công chúng theo đúng đạo đức và trách nhiệm của người làm báo chân chính

vì mục đích cao cả là “phục vụ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đem lại sự tin tưởng cho người dân Ngoài sự chi phối của

pháp luật, còn có sự chi phối của đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm và sự giác

ngộ chính trị của mỗi người Không thể có “tự do báo chí tuyệt đối”, tự do

sáng tạo trong báo chí, trước hết phải được thể hiện ở việc nhà báo cần tự tin, bản lĩnh chọn lọc thông tin cung cấp trung thực, mang đến cho người đọc thông tin có chất lượng tốt, từ đó mang lại nhận thức tốt cho người đọc

Vấn đề nữa cần quan tâm là, ngoài các qui định về pháp luật, mỗi nhà báo khi tác nghiệp, đều cần cân nhắc kỹ việc xử lý thông tin; một sự việc, một hiện tượng đang diễn ra đều phải suy nghĩ, cân nhắc để tự trả lời câu hỏi: có

Trang 33

27

nên phản ánh sự kiện đó lên mặt báo hay không? nếu sự việc đó làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc mình thì cần kiên quyết loại bỏ

Các thế lực cơ hội, thù địch từng la lối “Việt Nam đàn áp những người bất

đồng chính kiến” đây là sự vu cáo, chụp mũ trắng trợn, trong thực tế có một

số tờ báo đã bị xử phạt hành chính, bị nhắc nhở, hoặc bị đình chỉ xuất bản Vì

họ đã sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng đưa tin xuyên tạc, bịa đặt, kích động chống lại Đảng, nhà nước ta Thực tiễn cho thấy ở nước ta đã thực sự có tự do ngôn luận, tự do báo chí trên cơ sở mỗi nhà báo, người làm công tác báo chí, truyền thông đều thực hiện đúng pháp luật, nêu cao tinh thần trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc XHCN Nếu ai đó cố tình lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí để công khai công kích chống Đảng, nhà nước đi ngược lại lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc đều bị xử lý nghiêm minh bằng pháp luật Đây là sự nghiêm minh, bình đẳng trong pháp luật để bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc mà không có một thế lực thù địch nào có thể dùng lời lẽ để chống phá, công đích được

2.2 Th ực trạng thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam

Theo như quy định của Hiến pháp, quyền tự do ngôn luận của mọi công dân là quyền được tự do có quan điểm và giữ vững quan điểm của mình, cũng như được tự do tìm kiếm và tiếp nhận, chia sẻ thông tin nhưng phải nằm trong

giới hạn mà pháp luật quy định, không phải tuỳ tiện, vu khống, bôi nhọ, lừa

bịp, làm lộ bí mật quốc gia, xâm hại quyền tự do của người khác

Trước tình hình mạng xã hội, báo điện tử phát triển như ngày nay thì đang đặt ra vấn đề rất thời sự, cấp thiết, đó là hiểu thế nào và làm sao để thực

Trang 34

28

hiện quyền tự do ngôn luận phù hợp với mọi “diễn đàn cộng đồng không biên

giới”, cho phép mọi người dễ dàng và nhanh chóng thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí Với tính năng “siêu văn bản” cập nhật thông tin tức

thời, báo mạng điện tử đã trở thành phương tiện thông tin thời sự nhanh nhất, ngày một thoả mãn nhu cầu nắm bắt thông tin của công chúng Ở đó công dân

có thể tìm kiếm thông tin cần quan tâm cho cuộc sống riêng, hoặc nắm bắt diễn đàn của thời cuộc nhằm hoà nhập với xã hội và thể hiện quan điểm của mình trước những thông tin đó

Là một mơi trường mở, không có giới hạn về không gian và thời gian nên mỗi sự tương tác, mỗi dòng bình luận, mỗi ý kiến nêu ra trên không gian

mạng thì cả thế giới đều biết và do đó hiệu quả tích cực hoặc tiêu cực đều có

thể xuất hiện đồng thời và tác động tức thời Khi quyền tự do ngôn luận không còn là hoạt động riêng của cá nhân, tổ chức, mà đó là hoạt động báo chí truyền thông Vì thế, mà mỗi cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do ngôn

luận trên báo chí, không gian mạng không được vượt quá giới hạn mà pháp

luật cho phép, vô tình quyền tự do ngôn luận này bị lợi dụng để phục vụ cho

lợi ích của một hay một nhóm người, thậm chí trở thành phương tiện để

những kẻ chống phá lợi dụng, bôi nhọ, nói xấu, gây chia rẽ làm nguy hại đến

sự ổn định chính trị Cho nên người tương tác trên cộng đồng mạng khi thấy

có dấu hiệu bất thường cần hết sức cảnh giác và kịp thời phản bác

Trong đại dịch Covid-19, một số thành phần muốn lợi dụng quyền tự

do ngôn luận, tự do báo chí đưa nhiều thông tin sai lệch đã đăng tải trên mạng

xã hội Có thể nói cho đên nay, Việt Nam ta làm rất tốt phòng chống dịch và điều trị hiệu quả, nhưng không ít thông tin tuyên truyền sai lệch, xuyên tạc, gây ảnh hưởng đến uy tín, đối ngoại, và nhiều vấn đề kinh tế, chính trị của nước ta

Trang 35

29

Như vậy, vấn đề đặt ra là trước tình hình phát triển nhanh và đa dạng

của báo công nghệ mạng xã hội, báo điện tử… các cơ quan quản lý cần hết

sức quan tâm để làm sao vừa bảo đảm được quyền tự do ngôn luận nhưng cũng cần kịp thời định hướng, hướng dẫn và quản lý dòng “ngôn luận đa chiều” đó Cần làm cho mọi người hiểu rằng, trong một xã hội dân chủ, nhà nước pháp quyền “tự do ngôn luận” không có nghĩa là tuỳ tiện mà phải nằm trong giới hạn của luật pháp, phải theo đạo đức xã hội, truyền thống văn hoá dân tộc, vì lợi ích cộng đồng… Cần phải có những cơ quan có trách nhiệm

nắm bắt những thông tin để kịp thời hướng dư luận, hoặc đấu tranh phản bác

lại các thông tin sai trái, thông tin không chính xác bằng chính quyền tự do ngôn luận của mình Điều này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “làm sao dân biết hưởng quyền tự do của mình, biết dùng quyền tự do ngôn luận, dám nói, dám làm Muốn vậy phải giáo dục cho người dân ý thức về quyền tự

do ngôn luận, để hiểu được cần ngôn luận cái gì, ngôn luận làm sao cho đúng lúc, đúng chỗ” Ghi nhớ lời của Người mỗi công dân đang sống trong đất nước thực thi sự nghiệp đổi mới với mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước

mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, cần trau dồi kiến thức và có trách nhiệm

để nâng cao năng lực và ý thức làm chủ bản thân Cần nắm vững luật pháp để

hiểu được quyền tự do và nghĩa vụ của mình đối với đất nước, đối với xã hội,

với bản thân, từ đó biết ngôn luận đúng với “quyền tự do ngôn luận”

Mạng xã hội, báo điện tử… đã là một diễn đàn của xã hội, của công dân thị mọi người cần hiểu và thực hiện quyền tự do ngôn luận sao cho thật

hiệu quả, thật có ích và xem đây là một phương tiện tìm kiếm thông tin bổ ích, đa dạng, đa chiều, nhưng cũng phải luôn cảnh giác và kiên quyết đấu tranh kiệp thời với những luận điệu “diễn biến hoà bình”, truyền bá những quan điểm sai trái gây kích động thù địch, vu cáo, xuyên tạc tình hình làm tổn

Trang 36

30

hại đến lợi ích cộng đồng, xã hội và đất nước nhất là trong giai đoạn chúng ta đang tiến hành Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng

Vì Quyền tự do ngôn luận trên báo chí ngày nay, đa số sử dụng trên không gian mạng Internet nên người sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam cũng

phải tuân thủ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng Internet

Theo Điều 10, Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/07/2013 của Chính

phủ quy định vế quyền và nghĩa vụ của người sử dụng internet:

- Được sử dụng các dịch vụ trên internet trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật

- Tuân thủ thời gian hoạt động của điểm truy nhập internet công cộng

- Không được kinh doanh lại các dịch vụ internet dưới bất kỳ hình thức nào

- Tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin

và các quy định khác có liên quan tại Nghị định này

Ngoài quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 10 Nghị định này, người sử

dụng dịch vụ mạng xã hội còn có quyền và nghĩa vụ tại điều 26 của Nghị định này sau đây:

- Được sử dụng dịch vụ của mạng xã hội trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật

- Được bảo vệ bí mật thông tin riêng và thông tin cá nhân theo quy định

của pháp luật

- Tuân thủ quy chế quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội

Ngày đăng: 31/03/2023, 14:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2007), Tăng cường lãnh đạ o, qu ả n lý t ạo điề u ki ện để báo chí nướ c ta phát tri ể n m ạ nh m ẽ , v ữ ng ch ắ c trong th ờ i gian t ớ i, Nhà xuất bản lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường lãnh đạo, quản lý tạo điều kiện để báo chí nước ta phát triển mạnh mẽ, vững chắc trong thời gian tới
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nhà xuất bản lý luận chính trị
Năm: 2007
2. Ban Tuyên giáo Trung ương; Công văn số 7515-CV/BTGTW v ề“tuyên truy ề n trong n ộ i b ộ và định hướng đấ u tranh v ớ i nh ữ ng lu ận điệ u sai trái, thù địch trên Internet” Sách, tạp chí
Tiêu đề: tuyên truyền trong nội bộ và định hướng đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù địch trên Internet
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
3. Bộ Thông tin – Truyền thông; Báo cáo: Gi ải pháp ngăn chặ n c ủ a một số nước đối với các luồng thông tin xấu, xuyên tác trên không gian mạng và ki ế n ngh ị đố i v ớ i Vi ệ t Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp ngăn chặn cử a một số nước đối với các luồng thông tin xấu, xuyên tác trên không gian mạng và kiến nghị đối vơi Việt Nam
Tác giả: Bộ Thông tin – Truyền thông
4. Nguy ễn Đăng Dung (2011), pháp lu ậ t Vi ệ t Nam v ề đả m b ả o quy ề n đượ c thông tin c ủ a công dân, ti ế p c ậ n thông tin: Pháp lu ậ t và th ự c ti ễ n trên th ế gi ớ i và ở Vi ệt Nam, Nxb Đạ i h ọ c Qu ố c gia Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: pháp luật Việt Nam về đảm bảo quyền được thông tin của công dân, tiếp cận thông tin: Pháp luật và thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Dũng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
5. Nguy ễ n Kh ắ c Giang “Ảnh hưở ng c ủ a truy ề n thông xã h ội đế n môi trường báo chí Việt Nam” , T ạ p chí Khoa h ọc ĐH Quố c gia Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến môi trường báo chí Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Khắc Giang
Nhà XB: Tạp chí Khoa học ĐH Quốc gia Hà Nội
7. Giáo trình sau đạ i h ọ c “Quyền con người” Ch ủ biên GS.TS. Võ Khánh Vinh, H ọ c vi ệ n Khoa h ọ c xã h ộ i, Xb 2015, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sau đại học “Quyền con người”
Tác giả: GS.TS. Võ Khánh Vinh
Nhà XB: Học viện Khoa học xã hội
Năm: 2015
8. GS.TS. Võ Khánh Vinh “Các cơ quan bảo vệ pháp luật”, Nxb Công an Nhân dân 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cơ quan bảo vệ pháp luật
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Nhà XB: Nxb Công an Nhân dân
Năm: 2012
9. GS.TS Võ Khánh Vinh “Luật học so sánh” , Nxb Công an Nhân dân 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật học so sánh
Tác giả: GS.TS Võ Khánh Vinh
Nhà XB: Nxb Công an Nhân dân
Năm: 2013
10. GS.TS. Võ Khánh Vinh “Xã hội học pháp luật những vấn đề cơ bản”, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học pháp luật những vấn đề cơ bản
Tác giả: GS.TS. Võ Khánh Vinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 2015
11. Chu Th ị Thuý H ằ ng “Việ t Nam v ớ i vi ệ c n ộ i lu ật hoá quy đị nh c ủ a pháp lu ậ t qu ố c t ế v ề quy ề n t ự do ngôn lu ận” , T ạ p chí Khoa h ọc ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam với việc nội luật hóa quy định của pháp luật quốc tế về quyền tự do ngôn luận
Tác giả: Chu Thị Thuý Hằng
Nhà XB: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN
12. Chu Th ị Thuý H ằ ng “Việt Nam với việc nội luật hoá quy định của pháp lu ậ t qu ố c t ế v ề quy ề n t ự do ngôn lu ận”, T ạ p chí khoa h ọc ĐH Quố c gia Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam với việc nội luật hoá quy định của pháp luật quốc tế về quyền tự do ngôn luận
Tác giả: Chu Thị Thuý Hằng
Nhà XB: Tạp chí Khoa học ĐH Quốc gia Hà Nội
14. H ọ c vi ệ n Chính tr ị qu ố c gia H ồ Chí Minh, Trung tâm Nghiên c ứ u quy ền con ngườ i, Các văn kiệ n pháp lý qu ố c t ế v ề quy ền con ngườ i, Nxb Chính tr ị qu ố c gia, Hà N ộ i, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn kiệ n pháp lý qu ố c t ế v ề quy ền con ng ư ơ i
Tác giả: Trung tâm Nghiên cứu quyền con người, H ọ c vi ệ n Chính tr ị qu ố c gia H ồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
15. Hi ến pháp nướ c Vi ệ t Nam qua các th ờ i k ỳ (các b ả n Hi ến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013), Nhà xu ấ t b ả n Chính tr ị Qu ố c gia s ự th ậ t, Hà N ộ i 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Việt Nam qua các thời kỳ (các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013)
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật
Năm: 2017
16. Nguyễn Linh Khiếu “Trách nhiệ m xã h ộ i c ủ a báo chí Vi ệ t Nam hi ện nay”, T ạ p Chí Tri ế t H ọ c s ố 6 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm xã hội của báo chí Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Linh Khiếu
Nhà XB: Tập Chí Triết Học
Năm: 2009
17. Khoa lu ật ĐH QGHN; Nxb Hồng Đức năm 2015 “Giớ i h ạ n chính đáng đố i v ớ i các quy ền con ngườ i, quy ề n công dân trong pháp lu ậ t qu ố c t ế và pháp lu ậ t Vi ệt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giới hạn chính đáng đối với các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
Nhà XB: Nxb Hồng Đức năm 2015 "“Giới hạn chính đáng đối với các quyền con người
18. Luật Báo chí (1989), Nhà xu ấ t b ả n Chính tr ị Qu ố c gia, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Báo chí
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1989
19. Lu ậ t Báo chí (đã đượ c s ửa đổ i, b ổ sung năm 1999), Nhà xuấ t b ả n Chính tr ị Qu ố c gia, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Báo chí (đã được sửa đổi, bổ sung năm 1999)
Tác giả: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
20. Luật học, Tập 31, Số 3 (2015); “Giớ i h ạn chính đáng đố i v ớ i các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” , Khoa lu ậ t ĐH Quố c gia Hà N ộ i, xb 2011, Nxb H ồng Đứ c Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật học, Tập 31, Số 3 (2015)
Năm: 2015
21. Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, chủ biên PGS.TS. Võ Khánh Vinh, Nxb Công an Nhân dân 2010, Hà Nội năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Tác giả: PGS.TS. Võ Khánh Vinh
Nhà XB: Nxb Công an Nhân dân
Năm: 2010
22. PGS.TS Vũ Công Giao; “Cơ chế và vi ệ c hoàn thi ện cơ chế b ả o đả m quy ề n ti ế p c ậ n thông tin c ủa các cơ quan nhà nướ c ở Vi ệt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ chế và việc hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm