TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA KINH TẾ LÊ THỊ HÀ TIỂU LUẬN HỌC PHẦN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG Đ Ề TÀI QUẢN LÝ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Nghệ An, tháng 9 năm 2021 TRƯỜNG ĐẠI HỌC VI[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA KINH TẾ -
LÊ THỊ HÀ
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG
Đ Ề TÀI: QUẢN LÝ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM, THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP
Nghệ An, tháng 9 năm 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA KINH TẾ -
Trang 3MỤC LỤC
CÁC THUẬT NGỮ, TỪ VIẾT TẮT 1
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ QUỸ BHXH 3
1.1 Lý luận chung về BHXH 3
1.1.1 Khái niệm Bảo hiểm xã hội 3
1.1.2 Đối tượng, chức năng và tính chất của Bảo hiểm xã hội 4
1.1.3 Những quan điểm cơ bản về BHXH 6
1.2 Quỹ bảo hiểm xã hội, nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH 7
1 2.1 Nguồn hình thành quỹ BHXH 7
1.2.2 Mục đích sử dụng quỹ BHXH 8
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ QUỸ BHXH VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 9
2.1 Tình hình thu BHXH trong thời gian qua 9
2.2. Mức nợ quỹ BHXH qua các năm 11
2.3 Tình hình chi BHXH trong thời gian qua 12
CHƯƠNG III CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ QUỸ BHXH VIỆT NAM 14
3.1 Giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội theo hướng bền vững 14
3.2 Biện pháp tăng thu BHXH 17
3.2.1 Đối với khoản thu từ người lao động và người sử dụng lao động 17
3.2.2 Với các khoản thu khác 18
3.3 Các biện pháp giảm chi BHXH 19
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 4CÁC THUẬT NGỮ, TỪ VIẾT TẮT
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Bảo hiểm xã hội là một trong những trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội ở mỗiquốc gia Hơn thế nữa, ở Việt Nam, BHXH còn là công cụ chính sách của Đảng, Nhànước nhằm định hướng xã hội chủ nghĩa đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Quỹ BHXH là một bộ phận cốt lõi không thể thiếu được và có thể nói là vai trò quantrọng nhất trong hoạt động BHXH Việc quản lý sử dụng quỹ BHXH, có ảnh hưởng trựctiếp đến sự tồn tại và phát triển của quỹ BHXH, ảnh hưởng tới sự ổn định của chính sáchBHXH
Trong những năm qua BHXH Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng Sốđơn vị sử dụng BHXH và số lao động tham gia BHXH không ngừng tăng lên Nguồn thuBHXH gia tăng liên tục và là điều kiện hết sức quan trọng để thực hiện các chế độ BHXH
hỗ trợ tích cực cho người lao động trước những rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động, mấtsức lao động, giảm thu nhập do hết tuổi lao động Các chế độ BHXH của người lao độngđược thực hiện khá tốt Những thành công đó bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân, trong
đó có nguyên nhân quan trọng từ sự đổi mới quản lý quỹ BHXH , đổi mới quản lý vềcông tác thu , chi của cơ quan BHXH Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những thành côngquan trọng đó, công tác quản lý thu, chi BHXH còn có những hạn chế, cần được khắcphục trong thời gian tới Tình trạng nợ đọng kéo dài với số lượng lớn tiền đóng BHXHcủa các đơn vị sử dụng lao động đã tồn tại trong thời gian dài nhưng vẫn chưa được khắcphục Cơ quan Bảo hiểm xã hội chưa kiểm soát hết số lao động phải tham gia BHXH bắtbuộc Nhiều đơn vị sử dụng lao động vẫn gian lận trong việc đăng ký tham gia BHXHcho người lao động , gian lận trong việc kê khai quỹ lương đóng BHXH, Do đó, quyềnlợi của người lao động bị vi phạm Quản lý chi các chế độ cho người hưởng BHXH vẫncòn nhiều vấn đề phải khắc phục Đây là những khó khăn lớn đối với quản lý quỹ Bảohiểm xã hội trong nhiều năm qua cần được giải quyết, bảo đảm cho người lao động được
Trang 6tham gia BHXH và thụ hưởng các chế độ, chính sách BHXH thuận lợi hơn Thực tế đóđặt ra yêu cầu cần có sự nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện vấn đề quản lý quỹ củaBảo hiểm xã hội Việt Nam, nhằm tìm ra giải pháp hoàn thiện trong quản lý đáp ứngnhững yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam mở cửa vàhội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới nói chung và tôi cũng mongmuốn đóng góp một phần vào quá trình nghiên cứu, góp phần nâng cao hiệu quả quản lýquỹ Bảo hiểm xã hội
Chính vì lẽ đó, tôi đã chọn “ Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng
và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu, phân tích, đánh giá lý luận chung về quản lý quỹBHXH, cũng như thực tiễn ở nước ta trong thời gian qua Trên cơ sở đó đưa ra một sốkiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý quỹ BHXH ở Việt Namtrong giai đoạn sắp tới
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: + Về không gian: Tại Việt Nam
+ Về thời gian: Quản lý quỹ BHXH giai đoạn 2016-2020 ở ViệtNam và đề xuất giải pháp đến năm 2030
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp
4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu
- Thu thập thông tin
- Lấy nguồn từ mạng internet
Trang 7PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ QUỸ BHXH
1.1 Lý luận chung về BHXH.
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm vàngày nay đã được phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới, nó là một trong ba bộ phận củachính sách bảo đảm xã hội ở mỗi quốc gia Bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển nhằm đápứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động trong xã hội Chính vì vậy Bảo hiểm xãhội có những đặc điểm khác biệt về đối tượng, chức năng, tính chất so với các loại hìnhbảo hiểm khác do tính chất của nó quyết định
1.1.1 Khái niệm Bảo hiểm xã hội
BHXH là hệ thống bảo đảm khoản thu nhập thay thế cho người lao động khi ngườilao động bị mất hoặc giảm thu nhập, thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ tài chính
do sự đóng góp của các bên tham gia và có sự ủng hộ của BHXH được chi trả trong cáctrường hợp người lao động bị giảm hoặc mất thu nhập, chỉ trong các trường hợp: ốm đau;thai sản; tai nạn lao động; bệnh nghề nghiệp; thất nghiệp; hết tuổi lao động; hoặc chết
Bản chất của Bảo hiểm xã hội đó là:
– Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, nhất làtrong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuêmướn lao động phát triển tới một mức độ nào đó Kinh tế càng phát triển thì Bảo hiểm xãhội càng đa dạng và hoàn thiện
– Mối quan hệ giữa các bên trong Bảo hiểm xã hội phát sinh trên cơ sở quan hệ laođộng diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH (người lao động và người sử dụng laođộng), bên BHXH (cơ quan nhận nhiệm vụ BHXH), bên được BHXH (người lao động vàgia đình họ)
– Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong Bảohiểm xã hội có thể là rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn của con người như: ốm đau, tai
Trang 8nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Hoặc không hoàn toàn ngẫu nhiên như tuổi già, thaisản… Đồng thời có thể xảy ra ở trong hoặc ngoài quá trình lao động.
– Phần thu nhập bị mất đi bị giảm của người lao động được thay thế, bù đắp từnguồn quỹ BHXH Nguồn này do bên tham gia đóng góp là chủ yếu còn lại do nhà nước
bù thiếu
– Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người laođộng trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm Mục tiêu này được tổchức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau:
+ Đền bù cho người lao động những khoảng thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ
1.1.2 Đối tượng, chức năng và tính chất của Bảo hiểm xã hội.
Đối tượng của Bảo hiểm xã hội
Đối tượng của BHXH chính là thu nhập (có thể coi là số tiền) bị biến động giảmhoặc mất do các trường hợp được quy định trong Luật BHXH của những người lao độngtham gia BHXH BHXH đã lấy số đông bù số ít và thực hiện chức năng phân phối lại thunhập theo cả chiều dọc và chiều ngang giữa những người lao động có thu nhập thấp hơn,giữa những người khoẻ mạnh đang làm việc với những người ốm yếu phải nghỉ việc Nóicách khác, BHXH góp phần bảo đảm sự “thăng bằng” về thu nhập cho người lao động vàgia đình họ Điều này đã góp một phần vào việc thực hiện công bằng xã hội
Trang 9Chức năng của BHXH
– Bảo đảm ổn định đời sống kinh tế cho người lao động và gia đình họ khi ngườilao động gặp khó khăn do mất việc làm, mất hoặc giảm thu nhập Đây là chức năng cơbản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt độngcủa BHXH
– Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham giaBHXH Những người tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH để bù đắp cho nhữngngười lao động gặp rủi ro bị giảm hoặc mất thu nhập, quá trình này đã tiến hành phânphối lại thu nhập giữa người giàu – người nghèo, người khoẻ mạnh – người ốm đau,người trẻ – người già… Thực hiện chức năng này BHXH đã góp phần thực hiện côngbằng xã hội
– Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năngsuất lao động do cuộc sống cuả họ đã được đảm bảo, họ không còn phải lo lắng về cuộcsống của họ khi rủi ro xảy đến với họ bất kỳ lúc nào từ đó khiến họ tập trung vào việc laođộng sản xuất Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người laođộng nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội
– Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người laođộng với nhà nước góp phần đảm bảo an toàn cho xã hội Do giữa người lao động vàngười sử dụng lao động luôn tồn tại mâu thuẫn về tiền lương, thời gian lao động, an toànlao động… BHXH ra đời góp phần điều hoà mâu thuẫn giữa họ Nhà nước thông qua việcchi BHXH ổn định đời sống cho mọi người lao động, ổn định xã hội
Trang 10– BHXH có tính ngẫu nhiên phát sinh không đều theo không gian và và thời gian.Điều này này thể hiện rõ trong nội dung cơ bản của BHXH, từ thời điểm triển khaiBHXH, người tham gia BHXH, mức đóng góp Từ việc rủi ro phát sinh theo không gian,thời gian đến mức trợ cấp cho từng chế độ, từng đối tượng.
– BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội đồng thời có tính dịch vụ, tínhkinh tế được thể hiện qua việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH sao cho hợp lý, có hiệuquả nhất Tính xã hội được thể hiện BHXH được sử dụng nhằm bảo đảm ổn định chonhững người lao động và gia đình họ BHXH thể hiện tính dịch vụ của nó thông qua hoạtđộng dịch vụ tài chính (Thông qua nguồn vốn nhàn rỗi)
1.1.3 Những quan điểm cơ bản về BHXH.
Hiện nay có 5 quan điểm về BHXH như sau:
– BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia, nóthể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý củamỗi quốc gia
– Mọi người lao động trong xã hội đều có quyền bình đẳng trước BHXH khôngphân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp
– Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH đối với người
mà họ sử dụng
+ Họ phải đóng góp vào quỹ BHXH 1 khoản tiền nhất định so với tổng quỹ lương.+ Họ phải thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với những người lao động màmình sử dụng
– Các mức hưởng BHXH phụ thuộc vào 5 yếu tố sau:
+ Tình trạng sức khoẻ, thương tật thông qua giám định y khoa
+ Ngành nghề công tác của người lao động
+ Thời gian công tác và tiền lương của người lao động
+ Mức đóng góp BHXH và thời gian đóng góp
+ Tuổi thọ bình quân của mỗi quốc gia
Trang 11+ Điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước qua từng thời kỳ.
– Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp BHXH từ việc ban hành các chính sách
Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước.Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:
– Nhà nước tham gia đóng góp một phần vào quỹ BHXH trên cương vị của ngườiquản lý xã hội về mọi mặt với mục đích phát triển kinh tế ổn định xã hội Do mối quan hệgiữa chủ – thợ có chứa nhiều mâu thuẫn mà hai bên không thể tự giải quyết được Nhà
Trang 12nước buộc phải tham gia nhằm điều hoà mọi mâu thuẫn của hai bên thông qua hệ thốngcác chính sách, pháp luật Không chỉ có như vậy nhà nước còn hỗ trợ thêm vào quỹBHXH giúp cho hoạt động BHXH được ổn định.
Phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao động hiệnnay vẫn còn tồn tại hai quan điểm
Quan điểm thứ nhất: là phải căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơquan, doanh nghiệp
Quan điểm thứ hai: Phải căn cứ vào thu nhập cơ bản của người lao động được cânđối chung trong toàn bộ nền kinh tế để xác định mức đóng góp BHXH
Mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịutoàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình,các chế độ còn lại do cả người lao động và người sử dụng lao động đóng góp mỗi bên mộtphần như nhau
Một số nước khác lại quy định, chính phủ bù thiếu, cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn
bộ chi phí quản lý BHXH…
1.2.2 Mục đích sử dụng quỹ BHXH.
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho 2 mục đích sau:
– Chi trả vào trợ cấp cho các chế độ BHXH
– Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp các ngành
Trong công ước quốc tế Giơ nevơ số 102 tháng 6 năm 1952 BHXH bao gồm một
Trang 13Trợ cấp sinh đẻ
Trợ cấp khi tàn phế
Trợ cấp cho người còn sống
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu vào việc trợ cấp cho các chế độ trên
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ QUỸ BHXH VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
Ở Việt Nam, chính sách bảo hiểm xã hội luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâmsửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tế theo hướng mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xãhội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện
Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/05/2018 của Bộ Chính trị chỉ rõ: “Cải cáchchính sách bảo hiểm xã hội để bảo hiểm xã hội thực sự là một trụ cột chính của hệ thống
an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ bảo hiểm xã hội, hướng tớimục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân…”
Thực hiện Nghị quyết này, đến hết năm 2020, tổng số người tham gia bảo hiểm xãhội là 16,1 triệu người, đạt 32,6% lực lượng lao động trong độ tuổi Về cơ bản, chỉ tiêu sốngười tham gia bảo hiểm xã hội đã đạt được nhưng để tiến tới bảo hiểm xã hội toàn dân,cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp
2.1 Tình hình thu BHXH trong thời gian qua.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp BHXH cho cơ quan BHXH địaphương Tiền lương làm căn cứ đóng góp là lương theo ngạch bậc, chức vụ thâm niên, hệ
số chênh lệch bảo lưu (nếu có)
Để tăng tính linh hoạt cho thị trường lao động và tạo sự công bằng, bình đẳng giữangười lao động làm việc ở các thành phần kinh tế, đối tượng tham gia BHXH từng bướcđược mở rộng Bên cạnh đó, kinh tế phát triển, thu nhập của người lao động tăng, nhậnthức và nhu cầu của người lao động về an toàn tài chính cũng tăng theo Cùng với sự nỗlực của ngành BHXH Việt Nam trong việc thực hiện các biện pháp quản lý đối tượng
Trang 14tham gia BHXH, số lượng đơn vị sử dụng lao động và số lao động tham gia BHXH tănglên hàng năm cả về số tuyệt đối và số tương đối.
Sau 6 năm thi hành Luật BHXH năm 2014, trong giai đoạn 2016-2020, số lao độngtham gia BHXH bắt buộc tăng thêm 2.181 nghìn người (trung bình mỗi năm tăng 4%);năm 2020, số người lao động tham gia BHXH giảm, do ảnh hưởng của dịch Covid-19; sốngười lao động tham gia mới giảm, trong khi số người lao động hưởng BHXH 01 lầntăng
Năm 2020, mặc dù ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, nhưng số lao động tham giaBHXH tự nguyện tăng 86% so với năm 2019 Kết quả này là do năm 2020, BHXH ViệtNam đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó nổi bật là việc thực hiện chươngtrình truyền thông “Lễ ra quân hưởng ứng Tháng vận động triển khai BHXH toàn dân -Tuyên truyền, vận động người dân tham gia BHXH tự nguyện” trên quy mô toàn quốc
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được trên, việc phát triển đối tượng tham giaBHXH vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau:
- Vẫn còn nhiều người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc chưa tham gia, nóicách khác, việc thực thi pháp luật về trách nhiệm tham gia BHXH chưa đạt hiệu quả cao
So sánh số người lao động đã tham gia BHXH với số lao động làm công hưởng lương(tương đương với số lao động thuộc diện tham gia BHXH), thì mới có gần 60% số laođộng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc
- Số lượng người tham gia BHXH tự nguyện còn thấp, chưa tương xứng với tiềmnăng Sau 13 năm triển khai BHXH tự nguyện, đến hết năm 2020, mới có khoảng 1.068nghìn người tham gia loại hình bảo hiểm này, chiếm 3,7% so với đối tượng thuộc diệntham gia
- Số đối tượng nhận BHXH một lần ở mức cao, mỗi năm có hàng trăm nghìn ngườihưởng BHXH một lần Nếu so sánh giữa số lao động giải quyết hưởng BHXH một lần với
số lao động tham gia BHXH tăng mới, thì tỷ lệ này tương đối cao (từ 2016 - 2019, mỗi