Lời mở đầu Trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa,tiền tệ đã lần lượt tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau nhằmđáp ứng nhu cầu của nền kinh tế,đặc biệt là của hoạt động sản xuất,lưu thô[.]
Trang 1Lời mở đầu
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa,tiền tệ đã lần lượt tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau nhằmđáp ứng nhu cầu của nền kinh tế,đặc biệt là của hoạt động sản xuất,lưu thôn,trao đổi hàng hóa.Nó có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình sản xuấtvà phát triển kinh tế xã hộicủa mỗi quốc gia cũng như trên toàn thế giới;đặc biệt trong nền kinh tếthị trường- nền kinh tế được tiền tệ hóa cao độ
Cùng với sự phát triển năng động của nền kinh tế thị trườngđã làm nảy sinh nhu cầu thường xuyên và to lớn về nguồn tài chính để đầu tư và tạo lập vốn kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong xã hội.Kinh tế càng phát triển thì cung cầu nguồn tài chính lại càng tăng Việc nghiên cứu và tìm hiểu về hình thái,chức năng và vị trí của tiền tệ sẽ
đi sâu hơn vào chi tiết của việc vận hành tiền tệ.Chính vì thế em chon đề tài “tiền tệ” nhằm có một cái nhìn tốt hơn về một trong những phát minh vĩ đại của loài người này
Nội dung
I Tiền tệ là gì ?
Theo Mác, tiền là một loại hàng hóa đặc biệt được tách ra trong thế giới hàng hóa
để làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hóa, tiền đo lường và biểu thị giá trị của hàng hóa và biểu thị mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa
Theo A.Smith coi tiền là “bánh xe vĩ đại của lưu thông” là “công cụ đặc biệt của trao đổi và thương mại”
Theo các nhà kinh tế học hiện đại: Tiền được định nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ
Tiền tệ là một phạm trù kinh tế và cũng là một phạm trù lịch sử Sự xuất hiện của tiền là một phát minh vĩ đại của loài người, nó làm thay đổi bộ mặt của nền KT – XH
Bản chất của tiền tệ
Tiền là kết quả của quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa, là sản phẩm của sự phát triển các hình thái giá trị từ thấp đến cao
Bản chất của tiền tệ được thể hiện rõ hơn qua hai thuộc tính sau:
Trang 2 Giá trị sử dụng của tiền tệ là khả năng thoả mãn nhu cầu trao đổi của xã hội, nhu cầu sử dụng làm vật trung gian trong trao đổi Như vậy người ta sẽ chỉ cần nắm giữ tiền khi có nhu cầu trao đổi Giá trị sử dụng của một loại tiền tệ là do xã hội qui định: chừng nào xã hội còn thừa nhận nó thực hiện tốt vai trò tiền tệ (tức là vai trò vật trung gian môi giới trong trao đổi) thì chừng đó giá trị sử dụng của nó với
tư cách là tiền tệ còn tồn tại Đây chính là lời giải thích cho sự xuất hiện cũng như biến mất của các dạng tiền tệ trong lịch sử
Giá trị của tiền được thể hiện qua khái niệm "sức mua tiền tệ", đó là khả năng đổi được nhiều hay ít hàng hóa khác trong trao đổi Tuy nhiên khái niệm sức mua tiền
tệ không được xem xét dưới góc độ sức mua đối với từng hàng hóa nhất định mà xét trên phương diện toàn thể các hàng hóa trên thị trường
II Nguồn gốc của tiền tệ
Hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị Về mặt giá trị sử dụng, tức hình thái tự nhiên của hàng hóa, ta có thể nhận biết trực tiếp được bằng các giác quan Nhưng về mặt giá trị, tức hình thái xã hội của hàng hóa, nó không có một nguyên tử vật chất nào nên đủ cho người ta có lật đi lật lại mãi một hàng hóa, thì cũng không thể sờ thấy, nhìn thấy giá trị của nó Giá trị chỉ có một tính hiện thực thuần túy xã hội, và nó chỉ biểu hiện ra cho người ta thấy được trong hành vi trao đổi, nghĩa là trong mối quan hệ giữa các hảng hóa với nhau
Tiền tệ là một hình thái giá trị của hàng hóa vậy nên nguồn gốc của tiền tệ có thể được nghiên cứu dựa trên sự phát triển của các hình thái giá trị trong nền kinh tế hàng hóa, cụ thể thông qua bốn loại hình thái chính:
1 Hình thái giá trị giản đơn (ngẫu nhiên):
Đây là hình thái đầu tiên, đơn giản và thô sơ nhất của xã hội loài người Đơn giản vì
nó xuất hiện vào thời kì đầu, thời kì sơ khai của con người khi xã hội bắt đầu có sự phân hóa về lao động hay dư thừa của cải Bấy giờ, sự trao đổi hàng hóa mang tính ngẫu nhiên, trao đổi hàng hóa qua lại giữa vật được coi là ngang giá tùy vào nhu cầu và mong muốn của người trao đổi K.Marx nói rằng: “Bí mật của mọi hình thái giá trị đều nằm trong
hình thái đơn giản đó.” Bản thân hình thái giá trị này bao gồm hình thái tương đối và
hình thái ngang giá Hai hình thái này là hai mặt liên quan, không thể tách rời nhau
nhưng cũng là hai cực đối lập của một phương trình giá trị
Ví dụ: 1m vải = 10 kg thóc
Trang 3Ở đây, giá trị của vải được biểu hiện ở thóc Còn thóc là cái được dùng làm phương tiện
để biểu hiện giá trị của vải Với thuộc tính tự nhiên của mình, thóc trở thành hiện thân giá trị của vải Sở dĩ như vậy vì bản thân thóc cũng có giá trị
Sau đó, cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa thì ngày càng có nhiều các mặt hàng tham gia vào trao đổi, đòi hỏi giá trị của một hàng hóa phải biểu hiện ở nhiều hàng hóa khác Do đó hình thái giá trị giản đơn tự chuyển sang hình thái mới của giá trị
2 Hình thái giá trị đầy đủ (mở rộng):
Thời kì tiếp sau sự phân công xã hội lần thứ nhất chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, lường hàng hóa tăng vọt dẫn đến sự trao đổi thường xuyên hơn Một hàng hóa có thể trao đổi với rất nhiều hàng hóa khác, tương ứng với đó là hình thái giá trị đầy đủ Thực chất đây là sự mở rộng của hình thái giá trị giản đơn vì trên thực tế vẫn là sự trao đổi trực tiếp giữa hàng hóa và hàng hóa
Ví dụ: 1 con gà = 10 kg thóc / 1 cái rìu/1m vải / 0,1 chỉ vàng (chưa cố định)
Sự phức tạp khi lượng hàng hóa ngày càng nhiều hơn và đa dạng hơn đã đẩy sự phát triển của tiền tệ đến với giai đoạn có sự xuất hiện của vật ngang giá chung làm thước đo giá trị hàng hóa chính Cơ sở cho sự ra đời của tiền
3 Hình thái chung của giá trị:
Sự phát triển của lưc lượng sản xuất, phân công lao động xã hội cùng với hàng hóa ngày càng nhiều hơn và đa dạng làm cho trao đổi hàng hóa trở nên phức tạp Khi đó muốn dễ dàng hơn, mọi người phải trao đổi hàng hóa mình có với loại hàng hóa được ưa chuộng dễ trao đổi lại Sản xuất hàng hóa phát triển thì hình thức trao đổi trực tiếp bộc lộ những nhược điểm của nó, đòi hỏi phải có một loại hàng hoá đặc biệt giữ vai trò vật ngang giá chung của quá trình trao đổi Đây là bước đầu cho sự hình thành tiền tệ ngày nay
Ví dụ: 10 kg thóc
Hoặc 2 con gà = 1 m vải (vật ngang giá nhưng chưa cố định)
Hoặc 0,1 chỉ vàng
Tuy nhiên, các mặt hàng được ưa chuộng trên chỉ nằm trong giới hạn các khu vực Khi quá trình sản xuất phát triển hơn và quy mô trao đổi được mở rộng giữa các vùng, sự
Trang 4khác biệt hàng hóa mang giá trị chung giữa các vùng đã trở thành trở ngại lớn, đòi hỏi một bước phát triển mới của hình thái giá trị
4 Hình thái tiền tệ:
Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển hơn nữa, sản xuất hàng hoá và thị trường ngày càng mở rộng, thì tình trạng có nhiều vật ngang giá chung làm cho trao đổi giữa các địa phương vấp phải khó khăn do đó dẫn đến đòi hỏi khách quan phải hình thành vật ngang giá chung thống nhất Khi vật ngang giá chung được cố định lại ở một vật độc tôn và phổ biến thì xuất hiện hình thái tiền tệ của giá trị
Ví dụ: 10 kg thóc
Hoặc 2 con gà = 0,1 chỉ vàng (vàng trở thành tiền tệ)
Hoặc 1m vải
Trong lịch sử, lúc đầu có nhiều kim loại đóng vai trò tiền tệ, nhưng về sau được cố định lại ở kim loại quý: vàng, bạc và cuối cùng là vàng Sở dĩ bạc và vàng đóng vai trò tiền tệ là do những ưu điểm của nó như: thuần nhất về chất, dễ chia nhỏ, không hư hỏng, với một lượng và thể tích nhỏ nhưng chứa đựng một lượng giá trị lớn
Tiền tệ xuất hiện là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hoá, khi tiền tệ ra đời thì thế giới hàng hoá được phân thành hai cực: một cực là các hàng hoá thông thường; còn một cực là hàng hoá (vàng; đóng vai trò tiền tệ, đại biểu cho giá trị Đến đây giá trị các hàng hoá đã có một phương tiện biểu hiện thống nhất Tỷ lệ trao đổi được cố định lại
Tuy nhiên, quy mô kinh tế ngày càng rộng cùng với sự lo lắng về trữ lượng vàng khổng
đủ đáp ứng nhau cầu vô hạn của nền kinh tế thì tiền mặt được nhà nước in ấn ra đời Nếu như trước kia tiền thường được liên kết với các phương tiện trao đổi hiện thực có giá trị
ví dụ như đồng tiền bằng vàng thì tiền ngày nay thông thường là từ vật liệu mà chính nó không có giá trị (tiền giấy) Điều đó đồng nghĩa là bản thân tiền không có giá trị gì cả nếu xét về vật liệu làm ra nhưng nó mang giá trị bởi giá trị của tiền hình thành từ trị giá đối ứng mà tiền đại diện cho chúng
III Chức năng của tiền tệ
1 Thước đo giá trị:
Trang 5Khi thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền được dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của tất cả các hàng hóa khác nhau Để đo lường giá trị của các hàng hóa, tiền cũng phải có giá trị Vì vậy, để thực hiện chức năng thước đo giá trị người ta ngầm hiểu đó là tiền vàng Sở dĩ như vậy đó là vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hóa trong thực
tế đã phản ánh lượng lao động xã hội hao phí nhất định
Giá cả hàng hóa do các yếu tố sau quyết định:
Giá trị hàng hóa
Ảnh hưởng của quan hệ cung cầu hàng hóa
Cạnh tranh
Giá trị của tiền
Tiền tệ thực hiện được chức năng đo giá trị khi tiền tệ đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác Để thấy vì sao chức năng này lại quan trọng, chúng ta nhìn vào nền kinh tế đổi chác, trong đó tiền không thực hiện chức năng này
K.Marx đã cho rằng để thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền tệ phải là tiền thực - tiền có đủ giá trị nội tại Để đo lường và biểu hiện giá trị các hàng hóa, có thể sử dụng tiền trong niệm và cần phải có tiêu chuẩn giá cả, tiêu chuẩn giá cả là đơn vị đo lường tiền tệ mỗi quốc gia bao gồm hai yếu tố: tên gọi của đơn vị tiền tệ và hàm lượng kim loại trong một đơn vị tiền tệ
2) Phương tiện lưu thông:
Khi thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền được dùng làm môi giới cho
quá trình trao đổi hàng hóa Để phục vụ lưu thông hàng hóa, ban đầu nhà nước đúc vàng
thành những đơn vị tiền tệ nhất định, sau đó là đúc tiền bằng kim loại Dần dần, xã hội nhận thấy, để thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, không nhất thiết phải dùng tiền vàng, mà chỉ cần tiền ký hiệu giá trị Từ đó tiền giấy ra đời và sau này là các loại tiền ký hiệu khác nhau như tiền kế toán, tiền séc, tiền điện tử, gần đây với sự phát triển của thương mại điện tử, các loại tiền ảo xuất hiện (bitcoin) và đã có quốc gia chấp nhận bitcoin là phương tiện thanh toán Trong tương lai có thể nhân loại sẽ phát hiện ra những loại tiền khác nữa để giúp cho việc thanh toán lưu thông trở nên thuận lợi
Tiền giấy ra đời giúp trao đổi hàng hóa được tiến hành dễ dàng, thuận lợi và ít tốn kém hơn tiền vàng, tiền kim loại Tuy nhiên, tiền giấy chỉ là ký hiệu giá trị, bản thân chúng không có giá trị thực hiện nên Nhà nước phải in và phát hành số lượng tiền giấy theo yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ, không thể phát sinh tùy tiện Nếu in và phát
Trang 6hành quá nhiều tiền giấy sẽ làm cho giá trị đồng tiền giảm xuống, kéo theo lạm phát xuất hiện
3) Phương tiện cất trữ:
Tiền là đại diện cho giá trị, đại diện cho của cải nên khi tiền xuất hiện, thay vì cất trữ hàng hóa, người dân có thể cất trữ bằng tiền Lúc này tiền được rút ra khỏi lưu thông,
đi vào cất trữ dưới hình thái vàng, bạc và sẵn sàng lưu thông khi cần thiết
Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì tiền là đại diện cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải
Khi tiền tệ chưa xuất hiện, người ta thường thực hiện tích lũy dưới hình thái hiện vật, hình thái này không tiện lợi vì nó đòi hỏi phải có chỗ rộng rãi, phải tốn nhiều chi phí bảo quản, dễ hư hỏng, khó lưu thông và ít sinh lời Khi tiền tệ xuất hiện, người ta dần dần thay thế tích lũy dưới hình thái hiện vật bằng hình thái tích lũy dưới dạng tiền tệ
Một nhà kinh tế học đã đưa ra ví dụ một người nông dân thu hoạch được rất nhiều cà chua và thị trường chấp nhận trao đổi cà chua lấy hàng hóa khác, tuy nhiên cà chua không thể lưu trữ lâu dài nên giá trị trao đổi của chúng rất thấp và trong thời gian ngắn, bởi vậy người nông dân đã phải bán cà chua lấy tiền Bởi số tiền bán cà chua có giá trị tương đương cà chua và có thời gian sử dụng lâu hơn rất nhiều nên thể hiện được chức năng cất trữ giá trị của tiền
Hình thái tích lũy dưới dạng tiền tệ có nhiều ưu điểm như dễ lưu thông và thanh khoản tuy nhiên có nhược điểm là dễ mất giá khi kinh tế có lạm phát Do vậy, để tiền tệ thực hiện được chức năng này đòi hỏi hệ thống tiền tệ quốc gia phải đảm bảo được sức mua
4 Phương tiện thanh toán :
Khi làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng,…
Khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền tệ không còn là môi giới của trao đổi hàng hóa, mà là khâu bổ sung cho quá trình trao đổi, tức là tiền tệ vận động tách rời
sự vận động của hàng hóa
Tiền tệ khi thực hiện chức năng làm phương tiện chi trả đã tạo ra khả năng làm cho số lượng tiền mặt cần thiết cho lưu thông giảm đi tương đối vì sự mua bán chịu, thực hiện thanh toán khấu trừ lẫn nhau Trong hình thức giao dịch này, trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ
Trang 7hạn, tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán Đến kì thanh toán, nếu một khâu nào đó không được thanh toán sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, trường hợp xấu sẽ dẫn đến khủng hoảng kinh tế
Muốn được chấp nhận làm phương tiện thanh toán, tiền tệ phải có sức mua ổn định, tương đối bền vững theo thời gian, chính sức mua ổn định đã tạo cho người ta niềm tin và
sự tín nhiệm tiền tệ
Trong quá trình thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, ngày càng xuất hiện nhiều hơn các hình thức thanh toán mới không cần tiền mặt như ký sổ, séc, chuyển khoản, thẻ điện tử v.v
5 Tiền tệ thế giới :
Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền thế giới Tiền thế giới cũng thực hiện các chức năng thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán
Trong giai đoạn đầu sự hình thành quan hệ kinh tế quốc tế, tiền đóng vai trò là tiền thế giới phải là tiền thật (vàng, bạc) Sau này, song song với chế độ thanh toán bằng tiền thật, tiền giấy được bảo lãnh bằng vàng, gọi là tiền giấy bản vị cũng được dùng làm phương tiện thanh toán quốc tế Dần dần do sự phát triển của quan hệ kinh tế - chính trị thế giới, chế độ tiền giấy bản vị vàng bị xoá bỏ nên một số đồng tiền quốc gia mạnh được công nhận là phương tiện thanh toán, trao đổi quốc tế, mặc dù phạm vi và mức độ thông dụng có khác nhau Nền kinh tế của một nước càng phát triển, đặc biệt trong quan hệ kinh
tế đối ngoại, thì khả năng chuyển đổi của đồng tiền quốc gia đó càng cao
Những đồng tiền được sử dụng làm phương tiện thanh toán quốc tế ở phạm vi và mức độ thông dụng nhất định gọi là những đồng tiền có khả năng chuyển đổi
Việc chuyển đổi tiền của nước này ra tiền của nước khác được tiến hành theo tỷ giá hối đoái Đó là giá trị đồng tiền của nước này được tính bằng đồng tiền của nước khác
Ví dụ: Trước khi đi du lịch đến một địa điểm nằm ngoài lãnh thổ quốc gia mình, chúng ta cần phải đổi tiền tệ từ nước mình sang nước bạn thì mới có thể chi tiêu, mua sắm,…
IV Sự ra đời và phát triển của tiền tệ
Sự ra đời của tiền tệ là một quá trình phát triển xuất phát từ sự phát triển không ngừng các hoạt động kinh tế dưới những hình thức khác nhau của sản xuất và trao đổi sản phẩm Việc trao đổi sản phẩm xuất hiện ngay trong lòng xã hội cộng đồng nguyên thủy, vào giai
Trang 8đoạn cuối của chế độ công xã nguyên thủy Và khi đó, lịch sử tiền tệ đi liền với các giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội con người
Giai đoạn 1: BARTER – Hàng hóa trao đổi hàng hóa
Hình thức trao đổi ban đầu là trao đổi trực tiếp: hàng – hàng Giá trị của một hàng hóa không thể trực tiếp biểu hiện mà phải biểu hiện thông qua một hàng hóa khác, hàng hóa kia sẽ lấy một số lượng (giá trị sử dụng) nhất định của bản thân nó để phản ánh giá trị của hàng hóa này Quan hệ trao đổi sơ khai này đã đánh dấu một bước tiến lớn khi xã hội công xã thoát khỏi tình trạng tự cung – tự cấp
Điều kiện xảy ra trao đổi là phải có sự phù hợp về nhu cầu giữa những người tham gia trao đổi: phù hợp về thời gian, địa điểm, phù hợp về giá trị sử dụng của sản phẩm trao đổi nên khả năng thực hiện các quan hệ này rất hạn chế
Ví dụ: A có quả cam, B có quả ổi, đúng lúc B muốn ăn cam còn A thì muốn ăn ổi Thế là
B đưa trái ổi cho A còn A đưa B quả cam và giao dịch được xác lập
Giai đoạn 2: Vật ngang giá – Hóa tệ
Tuy nhiên, sản xuất và trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển, làm cho số lượng
và chủng loại hàng hóa ngày càng nhiều và đa dạng Do đó, nhu cầu trao đổi ngày càng trở nên bức thiết hơn Vì vậy, trao đổi trực tiếp hàng – hàng không còn phù hợp nữa, đòi hỏi phải được thay thế bằng hình thức hoàn thiện hơn: trao đổi gián tiếp thông qua một vật trung gian Sự xuất hiện của vật trung gian trong trao đổi đã khắc phục những hạn chế của trao đổi trực tiếp, góp phần đẩy nhanh quá trình trao đổi hàng hóa, tiết kiệm chi phí trao đổi hàng hóa nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội
Do sự thỏa thuận của công chúng, mỗi địa phương dùng một thứ hàng làm trung gian trao đổi (hóa tệ) Thứ hàng hóa được chọn có khả năng đáp ứng các điều kiện như phải thông dụng, giản dị khiến mọi người chấp nhận được, hàng phải có giá trị để mọi người ưa chuộng, có thể giữ được lâu ngày
Ví dụ: Thời cổ đại Trung Quốc đã từng dùng lúc thì da, vỏ trai, châu ngọc, vàng, bạc, gạo, vải làm tiền tệ Ở Bắc Mỹ có nơi dùng thuốc lá, có nơi dùng ngô làm tiền tệ
Hóa tệ là hình thái đầu tiên của tiền tệ và tính đến ngày nay nó là hình thái tiền tệ được áp dụng trong thời gian khá dài so với các hình thái tiền tệ khác
Giai đoạn 3: Tiền mặt
a) Tiền kim loại – Kim tệ:
Trang 9Dù được áp dụng trong thời gian dài, nhìn chung, hóa tệ vẫn có rất nhiều bất tiện: chỉ được địa phương này công nhận mà không lưu thông được ở địa phương khác; mau
hư hỏng, khó phân chia thành những đơn vị nhỏ hay lớn hơn Vì những thuộc tính tự nhiên của nó phù hợp nhất với việc phát huy tác dụng xã hội của tiền tệ, nên trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, các hàng hóa khác dần dần bị đào thải, kim loại dần dần được chọn làm tiền tệ, thay cho các hàng hóa thông thường khác (kim tệ)
Đầu tiên kim loại được sử dụng làm phương tiện trao đổi dưới dạng thỏi, sau đó
nó được đúc dưới dạng “tiền đúc” và được đưa vào sử dụng từ rất sớm Ban đầu các kim loại sắt, kẽm, thiếc, đồng được sử dụng để đúc tiền Kim loại, nhất là đồng, đã được sử dụng làm tiền ở hầu hết các quốc gia trên thế giới trong một giai đoạn lịch sử rất dài Thực thế, đồng đã được ghi chép trong các tư liệu của một số nền văn minh cổ đại và nó
có lịch sử sử dụng ít nhất là 10000 năm trước công nguyên Người Ai Cập đã phát hiện ra rằng: nếu thêm một lượng nhỏ thiếc vào, sẽ làm cho kim loại trở nên dễ đúc hơn Vì thế, các hợp kim đồng thau đã được tìm thấy ở Ai Cập, gần như là đồng thời cùng với đồng
Dần dần, những kim loại trên bị đào thải, thay thế bằng các kim loại quý là vàng
và bạc Hai kim loại này có các chất lượng đáp ứng được nhiều nhất những gì mà một đồng tiền hàng hóa cần có Chúng không bị phá hủy, hoàn toàn đồng nhất về mặt vật chất
và kinh tế, đều có thể chia nhỏ được, chúng tương đối hiếm, dế dàng nhận biết, lưu giữ thuyên chuyển Từ đó, vàng và bạc đã loại dần các kim loại kém giá, dễ bị rỉ sét để trở thành tiền kim loại phổ biến trong khoảng thế kỉ 18 – 19
Trong thời kì đầu, tiền kim loại ở dạng tùy ý hoặc thành thỏi hoặc những chiếc vòng, về sau những phát triển đã tiêu chuẩn hóa tiền tệ về trọng lượng chất lượng kim loại và nhãn mác Những đồng xu mang những dấu hiệu về giá trị thao trọng lượng và chất lượng của các đồng xu được quốc gia bảo hộ Do đó, hệ thống tiền đúc (tiền xu) đã tạo điều kiện cho các giao dịch và giúp những nhà buôn tiết kiệm được thời gian cho việc nhận dạng, định lượng và đánh giá chất lượng kim loại
Mặc dù tiền xu được đúc theo dấu hiệu riêng của từng quốc gia làm bằng chứng bảo đảm về nội dung và chất lượng kim loại, nhưng trong thực tế các quốc gia thường đúc những đồng xu hỗn hợp kim loại có giá trị thấp hơn Các quốc gia ngày càng thường xuyên giảm tỉ trọng của vàng (hay bạc) trong các đồng xu làm cho các đồng xu mất giá trị dần trong lưu thông
b) Tiền giấy:
Kinh tế và các vấn đề xã hội khác càng phát triển, các câu hỏi và yêu cầu đặt ra càng cao hơn, người ta bắt đầu tìm kiếm những phương tiện tiện lợi hơn để dùng làm
Trang 10tiền Thêm nữa, xã hội ngày càng trở nên thiếu tài nguyên do dân số trở nên đông đúc hơn và vì mọi nguồn lực không phải là vô hạn, sự tiết kiệm các dạng như kim loại là rất cần thiết Đó là một trong số những lí do giúp tiền giấy ra đời và phát triển nhanh chóng
từ cuối những năm 1600 cho đến tận bây giờ
Đầu tiên giai đoạn của tiền giấy khả hoán, nghĩa là tiền giấy có thể đổi ra vàng và bạc bất cứ lúc nào Với chế độ tiền giấy khả hoán, thế giới từ bỏ thời kì hóa tệ chuyển sang thời kì tiền kí hiệu Đặc trưng cơ bản của thời kì tiền kí hiệu là tiền tệ không có giá trị nội tại, giá trị của nó nằm trong số vàng nó đại diện, uy tín của ngân hàng phát hành ra
nó Để kiểm soát việc phát hành tiền giấy, Nhà nước dần dần trao cho một ngân hàng duy nhất việc phát hành tiền giấy Ngân hàng có đặc quyền phát hành tiền giấy trở thành ngân hàng trung ương Do đó, tiền giấy còn được gọi là tiền trung ương
Giai đoạn 4: Tiền ghi sổ - Tiền tín dụng
Việc giao dịch bằng vật thể vật lý trao đổi hoặc tiền mặt khá tốn thời gian và xảy
ra những rủi ro (lạm phát, chi phí, khó khăn trong việc quản lý của Nhà nước, không đảm bảo tính kịp thời trong trao đổi ) Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngân hàng, thanh toán bằng tiền mặt giảm dần, quá trình thanh toán, trao đổi tiền tệ được tập trung đại bộ phận qua ngân hàng thông qua các bút toán chuyển khoản hoặc thanh toán bù trừ trên tài khoản kí thác Những hình thức đó được thực hiện thông qua loại một hình tiền tệ khác tiền ghi sổ - bút tệ
Bút tệ hay còn gọi là tiền ghi sổ được tạo ra khi phát tín dụng thông qua tài khoản tại ngân hàng, do vậy, bút tệ không có hình thái vật chất, nó chỉ là những con số trả tiền hay chuyển tiền thể hiện trên tài khoản ngân hàng Thực chất, bút tệ là tiền phi vật chất, nhưng nó cũng có những tính chất giống như tiền giấy là được sử dụng trong thanh toán qua những công cụ thanh toán của ngân hàng như: séc, lệnh chuyển tiền…mà còn có những ưu điểm hơn hẳn tiền giấy, đó là: an toàn hơn, chuyển đổi ra tiền giấy dễ dàng, thanh toán rất thuận tiện, kiểm nhận nhanh Việc sử dụng đồng tiền ghi sổ được thực hiện bằng các bút toán ghi Nợ và Có trên các tài khoản tiền gửi tại ngân hàng Người ta cho rằng bút tệ ra đời vào giữa thế kỉ 19 khi Ngân hàng Anh quốc tìm cách né tránh các thể lệ phát hành tiền giấy quá cứng nhắc nên đã sáng chế ra hệ thống thanh toán bằng cách ghi trên sổ sách ngân hàng Ngày nay, bút tệ được sử dụng rộng rãi ở hầu hết các nước, nhưng ở các nước phát triển, dân chúng có thói quen sử dụng bút tệ hơn ở các nước kém phát triển, do hệ thống ngân hàng ở các nước phát triển hoạt động tốt hơn
Sự ra đời của bút tệ đã làm cho tiền tệ nói chung trở nên mềm dẻo và đa dạng hơn
vì nó có thể tồn tại dưới dạng phi vật chất, đồng thời tạo điều kiện đa dạng các hình thức