Xuất phát từ những thực tiễn trên, để góp phần phát triển các dòng ngô raucho công tác chọn tạo ra những giống ngô rau mới có năng suất cao, phẩm chất tốt đưa vào áp dụng trong sản xuất
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
CHOUNLAMOUNTRY Thisadee
KHẢO SÁT CÁC DÒNG NGÔ TỰ PHỐI - ĐÁNH GIÁ ƯU THẾ LAI VỀ TÍNH TRẠNG NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG NGÔ RAU
TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN VIỆT LONG
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày ….Tháng … năm 2015
Tác giả luận văn
CHOUNLAMOUNTRY Thisadee
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu săc tới:
Thầy hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Việt Long đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ và đóng góp những ý kiến quý báu trong suất quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn cây lương thực - Khoa nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi phương diện trong quá trình thực hiện luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè đặc biệt là Alphedo và Huyền, đồng nghiệp và người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Một lần nữa cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả các thành viên với sự giúp đỡ quý báu này
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2015
Tác giả luận văn
CHOUNLAMOUNTRY Thisadee
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
1.1 Tình hình sản xuất ngô rau trên thế giới và Việt Nam 3
1.1.1 Tình hình sản xuất ngô và ngô rau trên thế giới 3
1.1.2 Tình hình sản xuất ngô và ngô rau tại Việt Nam 8
1.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng giốngngô rau trên thế giới và Việt Nam 13
1.2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô rau trên thế giới 13
1.2.2 Nghiên cứu và sử dụng giống ngô rau tại việt Nam 18
1.3 Ưu thế lai và ứng dụng trong sản xuất 19
1.3.1 Khái niệm dòng tự phối và ƯTL 19
1.3.2 Ứng dụng ƯTL trong sản xuất ngô 21
1.3.3 Đánh giá ƯTL về năng suất, chất lượng ngô rau 22
1.4 Chọn tạo dòng bố mẹ ngô rau 26
Chương2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 31
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu 31
2.1.2 Địa điểm thực hiện thí nghiệm 33
2.1.3 Điều kiện đất làm thí nghiệm 33
Trang 62.1.4 Thời gian tiến hành 33
2.2 Nội dung nghiên cứu 33
2.3 Phương pháp nghiên cứu 34
2.3.1 Sơ đồ thí nghiệm và phương pháp bố trí thí nghiệm 34
2.4 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm 35
2.4.1 Phân bón 35
2.4.2 Thời vụ và mật độ gieo trồng 36
2.4.3 Kỹ thuật làm đất và trồng 36
2.4.4 Chăm sóc 36
2.5 Các chỉ tiêu theo dõi 37
2.5.1 Vụ Xuân 2014 (Thí nghiệm 1)và vụ Thu đông 2014 (Thí nghiệm 2) 37
2.6 Phương pháp theo dõi 43
2.7 Phương pháp xử lý số liệu 43
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
3.1 Kết quả nghiên cứu các dòng ngô rau vụ xuân 2014 44
3.1.1 Đặc điểm thời gian sinh trưởngcủa các dòng ngô rau 44
3.1.2 Các chỉ tiêu sinh lý của các dòng ngô rau 47
3.1.3 Chỉ số SPAD của các dòng ngô rau 50
3.1.4 Đặc trưng hình thái cây của các dòng ngô rau 52
3.1.5 Các đặc trưng hình thái bắp của các dòng ngô rau 54
3.1.6 Đặc tính chống chịu của các dòng ngô rau 57
3.1.7 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng ngô rau 59
3.2 Đánh giá ƯTL của các THL và dòng ngô rau Vụ thu đông2014 62
3.2.1 Đặc điểm thời gian sinh trưởng của các tổ hợp lai ngô rau 62
3.2.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai ngô rau 64
3.2.3 Động thái tăng trưởng số lá của các tổ hợp lai ngô rau 66
3.2.4 Diện tích lá (LA) và chỉ số diện tích lá (LAI) của các THL ngô rau 68
3.2.5 Chỉ số SPAD của các THL ngô rau 72
Trang 73.2.6 Khối lượng tươi, khô và chất khô tích luỹ của các THL ngô rau 74
3.2.7 Đặc trưng hình thái cây của các THL ngô rau 78
3.2.8 Một số đặc tính chống chịu của các THL ngô rau 81
3.2.9 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các THL ngô rau 83
3.2.10 Năng suất bắp của các THL ngô rau 87
3.2.11 Ưu thế lai về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 90
3.2.12 Một số chỉ tiêu về chất lượng bắp bao tử của các THL ngô rau lai 94
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 96
1 Kết luận 96
2 Đề nghị 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 104
Trang 8NSBBT Năng suất bắp bao tử NSLT Năng suất lí thuyết NSTP Năng suất thương phẩm NSTT Năng suất thực thu
SD Độ lệch chuẩn THL Tổng hợp lai
OPV Open pollinated variety
CIMMYT Trung tâm cải lương ngô và lúa mỳ quốc tế (Centro Internacional de Mejoramiento de Maiz y Trigo)
BC Backcross populations
QPM Quality protein maize
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô rau ở Thái Lan
(2000-2004) 5
Bảng 1.2 Giá trị xuất khẩu ngô rau ở Thái Lan (triệu bath) 6
Bảng 1.3 Xuất khẩu ngô rau của Thái Lan trong thời gian 2002-2004 7
Bảng 1.4 Các nước chính nhập khẩu ngô rau của Thái Lan năm 2004 8
Bảng 1.5 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô Việt Nam từ năm 2010-2013 9
Bảng 1.6 So sánh chất lượng ngô rau đóng hộp của Thái Lan và Việt Nam 11
Bảng 1.7 Sản phẩm thu được từ việc trồng ngô rau ở một số vùng trồng trong vài năm gần đây 11
Bảng 1.8 So sánh các giống ngô rau được trồng phổ biến tại Thái Lan 17
Bảng 1.9 Giá trị dinh dưỡng của ngô rau từ phân tích 100 gram so với các loại rau khác 25
Bảng 2.1 Các dòng tự phối ngô rau tham gia thí nghiệm trong vụ Xuân 2014 31
Bảng 2.2 Danh sách các THL và dòng bố mẹ trong Vụ thu đông 2014 32
Bảng 3.1 Thời gian sinh trưởng của các dòng ngô rau trong vụ Xuân 2014 45
Bảng 3.2 Diện tích lá và chỉ số diện tích lá của các dòng ngô rau trong vụ Xuân 2014 47
Bảng 3.3 Chỉ số SPAD của các dòng ngô rau trong vụ Xuân 2014 50
Bảng 3.4 Đặc trưng hình thái cây của các dòng ngô rau trong vụ Xuân 2014 52
Bảng 3.5 Các đặc trưng hình thái bắp của các dòng ngô rau trong vụ Xuân 2014 55
Trang 10Bảng 3.6 Một số đặc tính chống chịu của các dòng ngô rau trong vụ
Xuân 2014 57
Bảng 3.7 Các yếu tố cấu thành NS hạt và NSLT của các dòng ngô rau
trong vụ Xuân 2014 59
Bảng 3.8 Đặc điểm thời gian sinh trưởng của một số tổ hợp lai ngô
rau trong Vụ thu đông 2014 63
Bảng 3.9 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các THL ngô rau
Vụ thu đông 2014 65
Bảng 3.10 Động thái tăng trưởng số lá của các THL Vụ thu đông 2014 67
Bảng 3.11 Diện tích lá và chỉ số diện tích lá của các THL ngô rau trong
Vụ thu đông 2014 69
Bảng 3.12 Chỉ số SPAD của các THL ngô rau Vụ thu đông 2014 72
Bảng 3.13 Khối lượng chứa tươi và khô của các THL ngô rau Vụ thu
đông 2014 75
Bảng 3.14 Đặc trưng hình thái cây của các THL ngô rau trong Vụ thu
đông 2014 79
Bảng 3.15 Một số đặc tính chống chịu sâu bệnh hại và khả năng chống
đổ của các THL ngô rau Vụ thu đông 2014 82
Bảng 3.16 Khả năng ra bắp, số bắp thực thu và số bắp thương phẩm
của các THL ngô rau Vụ thu đông 2014 85
Bảng 3.17 Năng suất bắp bao tử của các THL ngô rau Vụ thu đông
2014 88
Bảng 3.18 Ưu thế lai về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
của các THL ngô rau Vụ thu đông 2014 93
Bảng 3.19 Chỉ tiêu về chất lượng bắp bao tử của các THL ngô rau
trong Vụ thu đông 2014 94
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1 Biểu đồ năng suất của các dòng ngô rau tham gia thí nghiệm 62
Hình 3.2 Biểu đồ động thái tăng trưởng chiều cao cây của các THL
ngô rau 66
Hình 3.3 Biểu đồ động thái tăng trưởng số lá của các THL 68
Hình 3.4 Biểu đồ diện tích lá của các THL ngô rau 70
Hình 3.5 Biểu đồ chỉ số diện tích lá của các THL ngô rau 70
Hình 3.6 Biểu đồ chỉ số SPAD của các THL ngô rau 74
Hình 3.7 Biểu đồ tăng trưởng khối lượng chất khô của các THL ngô rau 77
Hình 3.8 Biểu đồ chiều cao cây cuối cùng, số lá cuối cùng, chiều cao đóng bắp của các THL ngô rau 81
Hình 3.9 Biểu đồ khả năng ra bắp, số bắp thực thu và số bắp thương phẩm của các THL ngô rau lai (nghìn bắp/ha) 86
Hình 3.10 Biểu đồ năng suất của các THL ngô rau lai 90
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cây ngô (Zea mays L.) là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn
cầu Ngô có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết vấn đề an ninh lương thực ở mỗi quốc gia trên thế giới nhất là ở các nước kém phát triển (Kham Tom, 2009) Ngô có nguồn gốc từ Mexico thuộc Trung Mỹ, sau đó được phát triển và trồng khắp châu Mỹ Theo thời gian, từ khi người châu Âu tìm ra châu Mỹ thì cây ngô được lan tỏa ra khắp thế giới(José Antonio , 2009)
Ngô được coi là một trong ba cây lương thực quan trọng nhất thế giới sau lúa mỳ và lúa nước Tuy nhiên nếu xét về tiềm năng cho năng suất thì cây ngô đứng hàng đầu Từ cuối thế kỷ XVIII đến trước những năm 40, năng suất ngô trung bình chỉ đạt từ 1,2-1,8 tấn/ha Nhưng trong hơn 40 năm trở lại đây tốc độ tăng trưởng về năng suất cũng như sản lượng của ngô đạt ở mức rất cao và sản xuất ngô đã giữ một vị trí đặc biệt trong nền nông nghiệp thế giới (Trương Vĩnh Hải, 2013) Ở một số nước thuộc Nam Mỹ và Châu Phi thì ngô còn là nguồn lương thực chính và không thể thiếu trong các bữa ăn hàng ngày Ngoài
ra ngô còn được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, làm nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất thức ăn giá súc, cho công nghiệp sản xuất cồn, tinh bột, dầu, glucôza, bánh kẹo
Trong những năm gần đây, ngô dùng làm thực phẩm phổ biến như ngô đường vàbắp ngô rau làm thức ăn cao cấp Ngô rau hay ngôbao tử (baby corn)
là ngô dùng bắptươi hoặc đóng hộp cung cấp cho nội địa hoặc xuất khẩu Ngô rau là một loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng như vitamin E, các khoáng chất và Protein Ngô rau được trồng rộng rãi và phổ biến ở Thái Lan, Đài Loan và mang lại hiệu quả kinh tế cao Ngô rau thu hoạch vào giai đoạn bắt đầu phun râu, khi sự tích lũy các chất đồng hóa ở mức cao nhất lúc bắp ngô non có hàm lượng dinh dưỡng cao nhất Mặt khác, ngô rau là một loại rau ít bị
ô nhiễm vì nó không cần hoặc ít sử dụng thuốc trừ sâu và bắp non được bọc kín trong lá bi dày Ngoài ra, cây ngô còn có một lượng thân lá rất lớn trên một
Trang 13đơn vị gieo trồng, đây là một khối lượng thức ăn xanh cao cấp cho đại gia súc đặc biệt là bò sữa và có thể ủ chua làm thức ăn dự trữ cho Vụ thu đông hiếm cỏ xanh (Nguyễn Phùng Dương, 2007)
Hiện nay, ngô rau rất được thế giới ưa chuộng vì là thức ăn bổ dưỡng và sạch Ở Việt Nam, diện tích trồng ngô rau không nhiều, chủ yếu tập chung ở các đồng bằng (ĐB) ven đô thị lớn như ĐB sông Hồng và ĐB sông Cửu Long, tại vùng miền trung cũng đã trồng thí nghiệm ở một số nơi (Nguyễn Bá Lộc và Nguyễn Thị Quỳnh Trang, 2009) Nguồn ngô rau tươi cũng như đóng hộp mới chỉ đáp ứng một phần tiêu thụ trong nước ở một số thành phố lớn đặc biệt trong các khách sạn, nhà hàng Lượng ngô rau tiêu thụ trong nước phần lớn vẫn qua con đường nhập khẩu Tuy nhiên những năm gần đây việc sản xuất ngô rau phục
vụ cho nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu đã được nhiều cơ sở nghiên cứu, sản xuất và chế biến quan tâm(Nguyễn Phùng Dương, 2007) Các giống ngô rau được trồng ở Việt Nam hiện nay đều được nhập nội từ Thái Lan, Trung Quốc với giá hạt giống rất cao Những nghiên cứu về chọn tạo giống ngô rau chưa được quan tâm và đầu tư nhiều Tại Lào mặc dù nhu cầu sử dụng giống ngô rau cao nhưng không có cơ quan nào nghiên cứu và nguồn giống, chủ yếu dùng giống ngô thông thường và giống nhập nội từ Thái Lan
Xuất phát từ những thực tiễn trên, để góp phần phát triển các dòng ngô raucho công tác chọn tạo ra những giống ngô rau mới có năng suất cao, phẩm chất tốt đưa vào áp dụng trong sản xuất đại trà; chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài“ Khảo sát các dòng ngô tự phối – đánh giá ưu thế lai về tính trạng năng
suất và chất lượng ngô rautại Gia Lâm, Hà Nội”
Trang 14Chương1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1Tình hình sản xuất ngô rau trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình sản xuất ngô và ngô rau trên thế giới
Sản xuất và tiêu thụngô rau trên thế giới
Sản xuất ngô raucàng ngày càng được mở rộng trên toàn thế giới Trong đó, Châu Á là nơi có nhu cầu sử dụng ngô rau cao nhất, bắp non được thu hoạch và sản phẩm bắp bao tử sử dụng ngay trong nước Ngô rau không chỉ dùng làm sản phẩm tươi mà còn được đóng hộp và bảo quản đông lạnh dùng trong nước mà còn được đem xuất khẩu ra các nước khác trên thế giới Các nước xuất khẩu bắp non chính bao gồm Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Zimbabwe, Zambia, Indonesia, Nam Phi, Nicaragua, Costa Rica, Guatemala,Honduras và thị trường nhập khẩu ngô rau chủ yếu của các nước trên là Anh, Mỹ, Malaysia, Đài Loan, Nhật Bản và Úc (Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam, 2014).Tình hình thị trường thế giới của ngô rau trong từng khu vực trong 10 năm trở lại đây được tóm tắt như sau:
Bắc Mỹ:
Bắc Mỹ là thị trường nhập khẩu ngô rau lớn nhất thế giới Các quốc gia thuộc Bắc Mỹ thường nhập khẩu sản phẩm ngô rau và tiêu thụ trong nước Bắp non thường được sử dụng trong các nhà hàng cao cấp và hiếm gặp trong các siêu thị hay các nhà bán buôn, bán lẻ Có hai sản phẩm ngô rau được nhập khẩu chủ yếu
là sản phẩm ngô rau đóng hộp (bắp non được ngâm muối trong lọ thuỷ tinh) và sản phẩm ngô rau đông lạnh nhanh (IQF) Sản phẩm ngô rau đóng hộp và sản phẩm ngô rau đông lạnh nhanh được Mỹ nhập khẩu từ các nước của Châu Á như Thái Lan, Đài Loan và Indonesia, tuy nhiên sản phẩm ngô rau đông lạnh nhanh (IQF) giá cao nên được nhập khẩu ít hơn
Trang 15Châu Âu:
Châu Âu là thị trường nhập khẩu ngô rau lớn hơn Bắc Mỹ Sản phẩm ngô rau chưa đóng gói và đã được đóng gói được nhập khẩu từ một số nước thuộc Châu Á và Châu Phi vào thị trường Châu Âu ngày càng nhiều Trong các quốc gia thuộc Châu Âu, thị trường tiêu thụ sản phẩm lớn nhất là Vương Quốc Anh Anh và các nước trong khu vực nhập khẩu sản phẩm ngô rau sau đó cung cấp, phân phối tại các siêu thị và được bán buôn, bán lẻ bởi các doanh nghiệp và tư nhân trên toàn quốc chứ không tập chung chủ yếu tại các nhà hàng như tại Bắc
Mỹ Ngoài cung cấp cho thị trường trong nước, việc nhập khẩu ngô rau ở dạng đơn giản (chưa qua đóng gói) sẽ trải qua giai đoạn chế biến và được đem xuất khẩu sang các nước khác Tuy nhiên chỉ có một vài nước của Châu Âu xuất khẩu sản phẩm ngô rau, điển hình là Hà Lan
Trung Đông:
Trung Đông nhập khẩu ngô rau chủ yếu từ Hà Lan và một số nước thuộc Châu Âu ở dạng đóng gói sẵn Nhưng trên thực tế các sản phẩm ngô rau đó có nguồn gốc từ Châu Á Và Châu Phi Trong các nước thuộc khu vực Trung Đông,
Ả Rập Xê Út là nước nhập khẩu lớn nhất sản phẩm ngô rau ở dạng đóng hộp
Châu Á:
Châu Á là thị trường sản xuất và cung cấp sản phẩm ngô rau lớn nhất Hầu hết các nước ở Châu Á sản xuất ngô rau và xuất khẩu sang các khu vực khác Một số nước nhập khẩu các hộp bắp non để phục vụ cho việc đóng gói và bảo quản ngô rau như Thái Lan, Nhật Bản, Malaysia
Thái Lan:
Thái Lan là nước đã có đóng góp lớn trong việc sản xuất và sử dụng ngô rau
Trang 16Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô rau ở Thái Lan (2000-2004)
37179,52 8,2 177,142
37380,8
7 255,221
34858,24 7,2 249,303
* Năng suất bắp non cả lá bi
Nguồn: Volkerkleinhenz và Anonymous, 2006
Thông qua bảng số liệu trong 4 năm (2000-2004) ta thấy diện tích, năng suất và sản lượng ngô rau ở Thái Lan có sự biến động và không ổn định cụ thể là:
Diện tích trồng ngô rau biến động và tăng mạnh trong 4 giai đoạn:
Giai đoạn 2000 - 2001 là 24623,2 ha, giai đoạn 2001-2002 là 37179,52 ha, tăng 12556,32 ha Giai đoạn 2003-2004, diện tích còn 34858,24 ha, giảm 2321,38 ha so với giai đoạn 2001-2002 Diện tích đạt nhỏ nhất là giai đoạn 2000-2001 Giai đoạn 2002-2003, diện tích đạt lớn nhất là 37380,8 ha
Năng suất ngô rau biến động nhỏ và không đều qua các năm
Giai đoạn 2000-2001 đạt 8 tấn/ha, giai đoạn 2001-2002 đạt 8,2 tấn/ha, tăng gần 0,2 tấn/ha Giai đoạn 2002-2003 năng suất đạt 7 tấn/ha, giảm 1,2 tấn/ha so với giai đoạn 2001-2002 Giai đoạn 2003-2004, năng suất đạt 7,2 tấn/ha, tăng 0,2 tấn/ha so với giai đoạn 2002-2003 Giai đoạn đạt năng suất nhỏ nhất là giai đoạn 2002-2003 và đạt năng suất cao nhất giai đoạn 2001-2002
Sản lượng ngô rau từ năm 1987-1991 tăng từ 64.190-129,647 tấn Trong
đó, giai đoạn 1989-1990 sản lượng đạt cao nhất 163,501 tấn và giai đoạn
1987-1988 đạt thấp nhất 64,190 tấn
Ngay từ những năm đầu của thập kỉ 70 Thái Lan là một trong những nước của Châu Á đề xuất việc dùng ngô non làm rau và xuất khẩu sang nhiều nước của Châu Âu và châu Á.Thời gian đầu Thái Lan xuất khẩu ngô rau tươi Thời gian sau Thái Lan xuất khẩu sản phẩm ngô rau bằng cách đóng hộp do
Trang 17xuất khẩu tươi gặp không ít khó khăn Sản lượng ngô rau xuất khẩu tăng nhanh chóng và đã mang lại một lượng ngoại tệ đáng kể cho đất nước này thông qua số liệu bảng 1.2
Bảng 1.2 Giá trị xuất khẩu ngô rau ở Thái Lan (triệu bath)
* Ngô rau tươi ** Ngô rau đóng hộp
Nguồn: Pradit Suthipong, 1996
Qua bảng cho thấy:
Từ năm 1975-1992 Thái Lan đạt 4.505,6 triệu bath khi xuất khẩu ngô ra thị trường bên ngoài, điển hình là Mĩ, Nhật, Úc Trong đó thị trường cho doanh thu lớn nhất trong tổng doanh thu là Mỹ (1.661,6 triệu bath), sản phẩm chủ yếu là sản phẩm ngô rau đóng hộp
Trong những thập niên gần đây, ngô rau tiêu thụ trong nước và nước ngoài
đã trở thành một đóng góp đáng kể cho nền kinh tế Thái Lan.Bắp non tươi, đông lạnh và đóng hộp càng trở nên phổ biến hơn cả ở Thái Lan và ở nước ngoài được trình bày tại bảng 1.3
Trang 18Bảng 1.3 Xuất khẩu ngô rau của Thái Lan trong thời gian 2002-2004
đóng hộp (tấn)
Giá trị (triệu bath) *
Ngô rau tươi (tấn)
Giá trị (triệu bath)
2002
2003
2004
61.41362.83063.473
164316451675
395484443853
173197244
*
1 USD = 39Bath
Nguồn: Volkerkleinhenz và Anonymous, 2006
Trong năm từ 2002 đến 2004, Thái Lan đã thu được hơn 1.700 triệu bath mỗi năm.Trong số hai sản phẩm, sản phẩm ngô rauđóng hộp được xuất khẩu với số lượng cao và rõ rệt hơn so với ngô rautươi trong suốt ba năm qua
Từ sau quá trình sản xuất và chế biến trong nước, sản phẩm ngô rau của Thái Lan đã xuất khẩu đến nhiều thị trường lớn mạnh trên thế giới Đã có nhiều nước nhập khẩu ngô rau từ Thái Lan, điển hình là Hoa kỳ.Năm 2004, Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩungô rau lớn nhất của Thái Lan, chiếm 31,23 % tổng số lượng xuất khẩu của Thái Lan (Bảng 1.4) Mỹ thích mua ngô rauđóng hộp trong khi các nước trong khu vực châu Âu thích các sản phẩmngô rau tươi.Khác với Mỹ,Anh là nước nhập khẩu ngô rautươi lớn nhất của Thái Lan Tuy nhiên, Thái Lan cũng có những đối thủ cạnh tranh cao về xuất khẩu ngô rau mà chủ yếu là các nước thuộc châu Phi như Zimbabwe, Zambia, Kenya vài Sri Lanka thuộc châu Âu.Điều này đã dẫn đến sự sụt giảm lượng sản phẩm xuất khẩu của Thái Lan Trong các nước châu Á, Malaysia là nước nhập khẩu lớn nhất sau đó là Nhật Bản, Hồng Kông và Singapore.Nhật Bản và Singapore nhập khẩu bắp non tươi nhiều hơn bắp non đóng hộp, trong khi Hồng Kông thì ngược lại
Trang 19Bảng 1.4 Các nước chính nhập khẩu ngô rau của Thái Lan năm 2004 Nước nhập
khẩu
Khối lượng nhập khẩu (tấn)
Tỉ trọng khối lượng nhập khẩu của
31,237,206,286,245,565,204,87633,42
Nguồn: Volkerkleinhenz và Anonymous, 2006
1.1.2 Tình hình sản xuất ngô và ngô rautạiViệt Nam
Sản xuất ngô tại Việt Nam
Trước đây, sản xuất ngô của Việt Nam còn lẻ tẻ, phân tán và mang tính tự cung, tự cấp Các giống ngô được trồng hầu hết là các giống địa phương, giống
do người nông dân để lại sau mỗi vụ thu hoạch nên năng suất thấp và công chăm sóc lại cao Vào thập niên 60 của thế kỉ XX, diện tích trồng ngô của Việt Nam không nhiều (>300 nghìn ha), năng suất chỉ đạt trên 1 tấn/ha, đến đầu những năm 1980 cũng không có sự dịch chuyển lớn và ở mức 1,1 tấn /ha Theo các nhà nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Ngô cho biết, từ năm 2006 trở đi, năng suất
và sản lượng ngô của Việt Nam đã có những bước tiến nhảy vọt lớn và biểu hiện
rõ rệt trong 4 năm gần đây nhất (2010-2013) được trình bày tại bảng 1.5 (Thông tin xã hội Việt Nam, 2013)
Trong 4 năm (2010-2013) diện tích và sản lượng ngô cả nước tương đối ổn định và đạt năng suất cao Năm 2010, diện tích đạt 1.126.400 ha, tổng sản lượng lên tới trên 4.606.800 tấn Năm 2011, diện tích giảm nhẹ còn 1.121.300 ha, nhưng tổng sản lượng tăng và lên tới trên 4.835.700 tấn Năm 2012, diện tích
Trang 20vẫn giảm và đạt 1.118.200 ha, tổng sản lượng lên tới trên 4.803.200 tấn Năm
2013, diện tích tăng lên tới 1.172.700 ha, nhưng tổng sản lượng cao nhất trong 3 năm và đạt 5.193.500 tấn (bảng 1.5)
Bảng 1.5 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô Việt Nam từ năm 2010-2013
Năm Diện tích
(1000 ha)
Năng suất (tấn/ha)
sản lượng (1000 tân)
Có thể nhận thấy trong vòng 20 năm qua diện tích trồng ngô của Việt Nam
có sự thay đổi nhanh về diện tích, năng suất và cơ cấu bộ giống, tuy nhiên diện tích trồng nhóm ngô thực phẩm chất lượng cao nói chung và ngô rau hay ngô bao tử nói riêng vẫn còn hạn chế
Sản xuất ngô rau tại Việt Nam
Tại Việt Nam, sản xuất ngô rautại một số vùng cũng đang phát triển khá mạnh, ngô raukhông chỉ cung cấp cho thị trường trong nước mà còn cho cả thị trường xuất khẩu ra bên ngoài Tuy nhiên, sản xuất ngô rau, đặc biệt là
Trang 21ngô rau lai vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, chưa phổ biến rộng rãi, sản phẩm của ngô rau chủ yếu cung cấp trong nước Cách sử dụng phổ biến của ngô rau là
ăn tươi và được chế biến thành các món ăn dùng trong các bữa ăn hàng ngày Vậy nên các số liệu về diện tích, năng suất, và sản lượng ngô rau trong nước không được tổng hợp thường xuyên hay không có số liệu thống kê cụ thể như sản phẩm ngô lấy hạt
Ngô rau là một trong những cây trồng lý tưởng cho sản phẩm nông nghiệp sạch Đây là một loại rau cao cấp đang được thị trường quốc tế ưa chuộng Nhiều khách hàng quốc tế đã quan tâm và đặt mua sản phẩm đồ hộp ngô raucủa Việt Nam Kết quả nghiên cứu trong nước cho thấy so với đồ hộp ngô rau của Thái Lan và Trung Quốc sản xuất được nhập khẩu vào Việt Nam năm 1995, đồ hộp ngô rau sản xuất theo quy trình công nghệ của Việt Nam hoàn toàn đảm bảo mọi yêu cầu về chất lượng và cảm quan Giá thành sản xuất trong nước lại rẻ hơn Sản phẩm ngô rau cũng đã được sử dụng nhiều ở trong nước, chủ yếu ở các
đô thị và các khu du lịch(Mai Thị Phương Anh, 1999)
Từ bảng 1.6 cho thấy sản phẩm ngô rau của Việt Nam gần giống với sản phẩm ngô rau của Thái Lan, chỉ khác nhau ở một số đặc điểm như tổng bắp bao
tử trong hộp của Việt Nam có khối lượng 220(g)/hộp trong khi ở Thái Lan là 225(g)/hộp, độ ăn mòn khác nhẹ và giá bán của ngô rau sản xuất trong nước rẻ hơn(Mai Thị Phương Anh, 1999)
Trong những năm gần đây, sản xuất ngô rau tại một số nơi với quy mô không hề nhỏ đã cho thấy tầm quan trọng của việc trồng ngô rauđược tổng hợp
và thể hiện thông qua bảng 1.6
Trang 22Bảng 1.6 So sánh chất lượng ngô rau đóng hộp của Thái Lan và Việt Nam
425
225 Tráng thiếc
6 tháng
Ăn mòn nhẹ Vàng sáng Đẹp đều Dòn Hơi có vị ngô, ngon
6 tháng
Ăn mòn không rõ Vàng sáng
Đẹp đều Dòn Hơi có vị ngô, ngon 7.500đ
Nguồn: Lê Ngọc Sáu và Nguyễn Công Hoan, 1995
Bảng 1.7 Sản phẩm thu được từ việc trồng ngô rau ở một số vùng trồng
trong vài năm gần đây
Vụ trồng Địa điểm Diện tích
trồng
Sản phẩm chính Sản phẩm phụ
Hè-2008 Thừa Thiên-
Huế
2000m2 Bắp bao tử Lá bi, thân lá
xanh: 1,25 tấn/ha Xuân-2010 Thừa Thiên-
Nguồn: Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam, 2014
Trang 23Tại Thừa Thiên-Huế, các nhà khoa học đã tiến hành trồng thử nghiệm ngô rau xen với dưa chuột bao tử Ngô rau được đem trồng tại vụ này là giống lai F1 như SG 22 và LVN 23 Với mật độ 120000 cây/ha với 4 điểm thuộc 3 xã: Phú
Ốc, Hương Hồ (Hương trà), Thuỷ Thanh (Hương Thuỷ) và Hương Long (thành phố Huế) Kết quả cho thấy, giống SG 22 đạt 2,4-2,72 tấn/ha, LVN đạt1,28-1,84 tấn/ha còn cho 1,25 tấn thân lá và 0,2 tấn lá bi sử dụng làm thức ăn cho gia súc(Pradit Suthipong, 1996)
Trong Vụ thu đông xuân 2012-2013 và vụ Xuân 2013, tỉnh An Giang đãtrồng được 3350 ha cả rau đậu nành và ngô rau hợp đồng với công ty cổ phần Rau quả thực phẩm An Giang (Thu Trang, 2013)và vụ xuân 2013 đã trồng với tổng diện tích lên đến 30 ha, với năng suất bắp đạt bình quân 1,8 tấn/ha Với lợi nhuận từ 11-12 triệu đồng/ha, cao gấp đôi so với trồng lúa Đây là một hướng đi mới và hữu ích cho người nông dân (Sharma và Saikia, 2000)
Sau khi thu hoạch, sản phẩm được chế biến từ bắp non rất đa dạng.khi thu hoạch xong chủ yếu được dùng tươi, nộm, xào nấu.Ăn ngô rau cung cấp cho cơ thể vitamin giúp cơ thể tăng sức để kháng và phòng chống một số bệnh do thiếu vitamin gây ra Bên cạnh đó, hàm lượng chất xơ cao trong bắp non cũng giúp chống lại các vấn đề về tiêu hóa như táo bón Chính vì vậy, dùng ngô rau hàng ngày rất tốt cho cơ thể trên mọi lứa tuổi Ngoài ra sau khi thu hoạch ngô non, phần thân lá còn lại là khối lượng thức ăn xanh cung cấp cho gia súc, đặc biệt ở những vùng nuôi bò sữa Trong trường hợp thân lá nhiều, gia súc không ăn hết
có thể đem ủ xanh làm thức ăn dự trữ cho gia súc vào mùa đông khi thức ăn khan hiếm, ủ xanh thân lá giúp chuyển hoá một số chất khó tiêu thành dễ tiêu giúp gia súc tiêu hoá tốt mà lượng chất dinh dưỡng cung cấp vào cơ thể tăng hơn
so với thức ăn không ủ xanh Ngoài ra ở những vùng trồng cây công nghiệp ngô cũng là cây trồng xen, gối rất tốt vừa mang lại lợi ích kinh tế vừa góp phần chống xói mòn,…(Mai Thị Phương Anh, 1999)
Trang 24Do thấy được lợi nhuận cao do ngô rau mang lại, một số tỉnh đã đưa ra các quy trình trồng ngô rau như Bắc Giang, Hà Nam, Gia Lâm-Hà Nội Thực tế đã
có các công ty sản xuất chế biến với mô hình trang trại khép kín nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế, mà chủ yếu là thị trường khó tính nhưng nhiều tiềm năng như Châu Âu, Bắc Mỹ, Châu Á, ngô rau đang dần chiếm tỉ trọng trong nước và thế giới trong một tương lai không xa
1.2Tình hình nghiên cứu và sử dụng giốngngô rautrên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô rau trên thế giới
Trên thế giới, ngô là cây trồng được nghiên cứu tế bào học nhiều nhất Ngô
có bộ nhiễm sắc thể là 2n=20 (n=10) Các loại đột biến thành tam bột, tứ bội, lục bội… là do con người lai tạo ra nhưng lại không được dùng cho mục đích thương mại Trong đó, sự đột biến làm tăng lượng đường và giảm lượng tinh bột
là yếu tố rất cần thiết trong quá trình tạo ra các giốngngô rau Khác với các loại ngô khác, ngô rau không lấy hạt mà lấy phần đã tách lá bi để sử dụng Phần này
có vị ngọt do có chứa một lượng đường cao Do vậy, các nhà khoa học đã nghiên cứu và thấy tại hạt ngô rau có chứa gen quy định đường trong nội nhũ (allen sugary hay còn được gọi tắt là Su nằm trên nhiễm sắc thể thứ tư) Những năm sau đó, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra nhiều gen tổng hợp đường và dùng ít nhất 7 gen để tổng hợp đường trong nội nhũ hạt ngô Trong đó điển hình
là gen shrunken-2 (sh2) Ngoài đặc điểm về gen quy định lượng đường, một vài kiểu gen khác đa chức năng vừa là gen chính, vừa là gen phụ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình sinh trưởng, phát triển của cây ngô Những gen này ảnh hưởng đến tính trạng số lượng như ngoại hình bắp, hình dáng cây và sức sống, sức nảy mầm của hạt giống Về tính trạng chất lượng được quy định bởi gen hương vị và
độ mềm của bắp non Hương vị được xác định bằng độ ngọt, hương thơm và được đánh giá qua cảm quan trong quá trình chọn giống(Mai Thị Phương Anh, 1999)
Trang 25Với sự đa dạng về kiểu gen, các gen được liên kết lại với nhau, sau đó được đánh giá và chọn lọc cho ra giống ngô rau ưu tú để sản xuất Có hai giống ngô rau được tạo ra trong sản xuất ngô rau là giống tự thụ phấn và giống thụ phấn tự
do Giống thụ phấn tự do có sức sống cao, sinh sản nhiều, chống chịu sâu bệnh tốt và khả năng thoái hoá giống ít hơn giống tự thụ phấn Trong quá trình theo dõi khi nghiên cứu, các nhà khoa học quan tâm nhiều nhất đến sự đa dạng các kiểu gen và tần số xuất hiện của chúng Tần số xuất hiện gen được đặc biệt chú
ý tại ba đặc điểm: Chỉ tiêu số lượng, chỉ tiêu chất lượng và chỉ tiêu khả năng chống chịu sâu bệnh
Giống lai là giống hoàn hảo nhất trong chọn giống Nó được tạo ra do sự kết hợp của quá trình tự thụ phấn và thụ phấn tự do theo ý muốn của con người Giống lai đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của con người về các tính trạng số lượng, chất lượng và khả năng chống chịu sâu bệnh Lai giúp cho năng suất ngô rau tăng do sự sinh sản nhiều bắp trên một quy mô diện tích không đổi Sự sinh sản nhiều bắp do gen thuộc tính trạng số lượng quy định và có thể bị giảm nếu như các nhà khoa học lai tạo ít, nguồn gen ít phong phú và chất lượng thấp hoặc trong khâu đánh giá chất lượng rất tốn kém
Đối với các giống ngô rau có tiềm năng năng suất tốt, khử đực là khâu rất quan trọng để năng suất ngô rau đạt tối đa Trong thời gian trồng đến thu hoạch, cắt cờ được thực hiện khi cây sắp trỗ và chưa nở hoa tung phấn Tuy nhiên, công đoạn rút cờ hay cắt cờ rất tốn công và còn làm mất một số lá phía trên làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng bắp Để nâng cao chất lượng bắp và giảm chi phí đầu tư ban đầu, các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu tế bào chất và nhân hạt phấn trong hệ thống vô trùng để sản xuất hạt ngô lai Nghiên cứu được tiến hành với một bên sử dụng các tế bào chất hạt phấn bất dục, một bên không
sử dụng tế bào chất hạt phấn bất dục Giả thuyết các mẫu không được khử đực
và mẫu được khử đực khác nhau không có ý nghĩa Trong thời gian nghiên cứu luôn tiến hành so sánh giữa cây không được khử đực và cây được khử đực của cùng một giống Kết quả cho thấy các mẫu không được khử đực có số bắp và
Trang 26trọng lượng bắp lớn hơn đáng kể so với các mẫu được khử đực Như vậy, giống
có hạt phấn bất dục có lợi thế hơn và các hệ thống này sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất bắp non Giống bất dục đực (MS), đây là giống có chỉ tiêu đáng kể như trọng lượng bắp lớn, số bắp mỗi cây nhiều, và tỷ lệ bắp non lớn hơn hơn so với bắp của cây có khử đực (theo fetile Suwan-2)(Hallauer, 1932) Tóm lại, ngô rau
đã được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới từ rất lâu Các nước xuất khẩu ngô có
sự nghiên cứu về các giống ngô rau mạnh mẽ hơn các nước nhập khẩu, điển hình là Ấn Độ và Thái Lan Sau đây là những nội dung được tóm tắt như sau:
Nghiên cứu ngô rau tại Ấn Độ:
Ấn Độ là một trong những nước sản xuất ngô rau của Châu Á Các nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên Cứu Nông Nghiệp Ấn Độ cho rằng ngô lai là phù hợp trong sản xuất Tuy nhiên để tạo ra một giống ngô rau lai triển vọng đáp ứng mọi nhu cầu của các nhà nghiên cứu và nhà sản xuất không dễ dàng vì việc lai tạo rất tốn kém và mất thời gian Để khắc phục được các khó khăn trên mà vẫn cho ra giống ngô rau tốt phục vụ sản xuất, các nhà khoa học đã sử dụng ưu thế lai của các giống sẵn có từ các nguồn gốc khác nhau Các đặc điểm nổi bật của các giống được tổng hợp là thời gian sinh trưởng ngắn, sự sinh sản nhiều bắp, xuất hiện bắp nhiều trong thời gian ngắn và màu sắcbắp bao tử vàng đẹp (Kumarvà Kalloo, 2000) Trong thời gian nghiên cứu, họ đã tìm ra bốn giống ngô rau nổi trội nhất là Ganga-11, FH-3104, CHH-72 và HKH-1075 và cho lai các giống này với nhau tạo ra ngô lai bốn đúng với mong muốn Giống mới có tên gọi PEHM-2,3,5 đã được trồng rộng rãi trong sản xuất(Sulahshit, 2006)
Nghiên cứu ngô rau tại Thái Lan:
Nghiên cứu ngô rau tại Thái Lan được thực hiện bởi tổ chức nhà nước và các tổ chức tư nhân Các tổ chức này liên kết với nhau để cùng phát triển Ngoài
ra các tổ chức quốc tế cũng sẵn sàng cung cấp các tài liệu cộng thêm nguồn nhân lực dồi dào trong nước đã đẩy mạnh nghiên cứu bền vững với ngô rau Tại Thái Lan, cải thiện giốngbắp non đã được bắt đầu từ năm 1976 mà ban đầu với phát triển thụ phấn mở (OPV) Các giống thụ phấn mở có sức đề kháng cao hơn
Trang 27giống tự thụ phấn Tuy nhiên, hiện nay giống lai phổ biến hơn Các giống lai cho dạng bắp bao tử, cao cây, nở hoa, tung phấn đồng đều và thời gian thu hoạch tập chung hơn Ngô lai là khởi điểm ban đầu phù hợp nhất để sản xuất bắp non có chất lượng tốt Các nhà nghiên cứu tại đại học Kasetsart của Thái Lan đã nghiên cứu và tạo ra nhiều giống ngô rau có chất lượng, điển hình là giống lai Rangsit-1 (năm 1981) Giống Rangsit-1 là giống đầu tiên cho năng suất bắp bao tử lớn, bắp vàng, các hoa cái được sắp xếp thẳng đều, kháng bệnh sương mai tốt và có khả băng thích ứng rộng Ngoài ra, giống Rangsit-1 được đánh giá cao bởi hương vị tốt Sau đó đã có nhiều giống lai ra đời và có các đặc điểm nổi bật Đặc điểm quan trọng của các giống được trồng phổ biến tại Thái Lan được lựa chọn
và trình bày tại bảng 1.8
Trong bảng có tất cả 8 giống, trong đó có 6 giống lai gồm G 5414, SG 18
do công ty hạt giống Syngenta sản xuất; pacific 116, pacific 283 do công ty TNHH hạt giống Thái Bình Dương sản xuất; Uniseeds B-65 của công ty Unissed; và Kasetsart2 được tạo ra bởi trường đại học Kasetsart Hai giống thụ phấn tự do gồm Chiengmai 90 của Bộ Nông Nghiệp Thái Lan và giống Suwan2 của trường đại học Kasetsart Quan sát các đặc điểm thấy được các giống lai có nhiều ưu điểm và vượt trội hơn giống thụ phấn tự do, điển hình là giống Pacific
283 cho năng suất cao (năng suất cả lá bi 13,75-15,00 tấn/ha, năng suất bắp bao
tử 2,187-2,5 tấn/ha), chất lượng tốt và khả năng chống sâu bệnh cũng như đổ gẫy vượt trội
Trang 2817
Bảng1.8 So sánh các giống ngô rau được trồng phổ biến tại Thái Lan
Đặc điểm
Các giống ngô rau trồng phổ biến tại Thái Lan
Năng suất cả lá bi (tấn/ha) 11,25-12,50 10,63-15,63 9,38-10,00 13,75-15,00 11,25-11,88 10,00-11,25 5,44-7,50 4,66 Năng suất bắp bao tử (tấn/ha) 1,687-2,375 1,875-2,687 1,687-1,812 2,187-2,500 1,875-2,187 1,750-1,875 0,937-1,250 0,750
Thời gian thu hoạch lần đầu
Công ty Hạt giống Syngenta
Công ty TNHH Hạt giống Thái Bình Dương
Công ty TNHH Hạt giống Thái Bình Dương
Công
ty Uniseed
Đại học Kasetsart Bộ Nông nghiệp Kasetsart Đại học
1 / Không khử đực mà đã được tiệt trùng;
2 / Tỷ lệ sản lượng và năng suất với bắp non đã bỏ lá bi
Nguồn: Volkerkleinhenz và Anonymous, 2006
Trang 291.2.2 Nghiên cứu và sử dụng giốngngô rau tại việt Nam
Ngô rau là cây trồng mới xuất hiện và được nghiên cứu tại Việt Nam từ năm 1992 Trong khoảng 20 năm nay, các giống ngô rau có mặt tại nước ta rất ít, chủ yếu là các giống nhập nội như giống Pacific 116, Pacific 283 Ban đầu, việc nghiên cứu ngô rau được tiến hành từ các giống ngô được thụ phấn
tự do và các giống ngô nhập nội Sau một thời gian trồng và thu hái cho thấy: Giống thụ phấn tự do chỉ duy trì các tính trạng hiện có, ít nổi trội, các giống nhập nội tuy chất lượng tốt hơn nhưng giá hạt giống cao Chính vì muốn cải thiện giống cho năng suất cao, chất lượng tốt và giá hạt giống rẻ, ngô rau lai
đã được nghiên cứu và chọn tạo tại nước nhà Sau một thời gian nghiên cứu, các nhà khoa học đã trồng thử nghiệm và chọn ra rất nhiều giống ngô rau có năng suất, chất lượng tốt, đặc biệt là bốn giống mới gồm TSB-2, 9088, DH-49
và LVN23 TSB-2 và 9088 là hai giống thụ phấn tự do của Viện Nghiên Cứu Ngô, giống có tiềm năng năng suất khá, có tỉ lệ hai bắp cao, chống chịu tốt với sâu bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh bất thuận và có kích thước, dạng lõi,
độ mịn tốt, màu vàng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng ở dạng tươi và đóng hộp DH-49 có nhiều đặc điểm tốt hơn hai giống đầu, đây là giống lai được nhập nội vào Việt Nam nên giá bán đắt(Mai Thị Phương Anh, 1999) Giống ngô rau LVN23 là giống ngô rau lai đơn từ 2 dòng tự phối 244/2649 và LV2D Giống ngô rau này có nhiều ưu điểm như thời gian sinh trởng ngắn, chịu được mật độ trồng dày, có tỉ lệ 2-3 bắp/cây, cho năng suất không thua kém giống nước ngoài Đây là giống được tạo ra tại Viện nghiên cứu ngô năm
1998 và được trồng rộng rãi trong cả nước trong thời gian dài Đến nay giống ngô rau LVN23 vẫn được sản xuất tại một số vùng trong cả nước(Nguyễn Phùng Dương, 2007)
Trong những năm trở lại đây, với mong muốn chọn tạo ra ưu thế lai ngô rau mới cho sản xuất Tại vụ xuân 2007, Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội (nay là Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam) đã tiến hành nghiên cứu 8
Trang 30dòng ngô rau và cho lai giữa các dòng với nhau được 28 tổ hợp lai và so sánh với giống đối chứng Pacific 421 của Thái Lan Kết quả cho thấy trong
vụ xuân năm 2007 tại Gia Lâm- Hà Nội, năng suất bắp bao tử của các tổ hợp lai dao động trong khoảng 0,38- 2,54 tấn/ha Tổ hợp có năng suất bắp bao tử cao nhất là R1 x R4 với 2,54 tấn/ha vượt giống đối chứng Pacific 432 (1,5 tấn/ha) và tổ hợp có năng suất bắp bao tử thấp nhất là R2 x R3 với 0,38 tấn/ha Một số tổ hợp lai khác cũng cho năng suất bắp bao tử khá cao như: R1 x R6 (2,12 tấn/ha), R1 x R8 (2,38 tấn/ha), R4 x R6 (2,07 tấn/ha), R5 x R6 (2,06 tấn/ha)(Nguyễn Việt Long và cs., 2008)
Qua những thống kê về giống trên cho thấy ngô rau rất có triển vọng trồng tại Việt Nam và trở thành mặt hàng chiếm tỉ trọng lớn trong xuất khẩu ngành nông nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, cần phải chú trọng đầu tư và giúp
đỡ của các cấp các ngành, đặc biệt trong nghiên cứu, nhằm đưa ra các giống tốt và phù hợp với thực tiễn, nhằm nâng cao năng suất và chất lượng của sản phẩm để đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của thị trường xuất khẩu cũng như thị trường của người tiêu dùng
1.3Ưu thế lai và ứng dụng trong sản xuất
1.3.1Khái niệm dòng tự phối và ƯTL
* Dòng tự phối
Dòng tự phối là dòng có kiểu gen đồng hợp tử ở nhiều đặc trưng di truyền, đây là khái niệm tương đối để chỉ các dòng tự phối đã đạt tới sự đồng đều và ổn định cao ở nhiều tính trạng như: cao cây, cao đóng bắp, năng suất,
và màu hạt Dòng tự phối được tạo ra bằng phương pháp tự phối cưỡng bức, theo Charles Darwin (Ngô Hữu Tình và Nguyễn Đình Hiền, 1996), tự phối sẽ làm giảm sức sống của cây Theo Shull, khi thụ phấn cưỡng bức ở ngô để thu dòng thuần, ông đã kết luận năng suất ở cây ngô đã giảm đi nhanh chóng và ngay ở thế hệ thứ ba của tự phối năng suất trung bình giảm đi hai lần Quá trình tự phối liên tục quần thể sẽ bị phân ly thành nhiều dòng với các kiểu gen
Trang 31và kiểu hình khác nhau Như vậy, dòng tự phối là dòng có kiểu gen đồng hợp
tử với tỷ lệ cao ở nhiều đặc trưng di truyền Qua nghiên cứu cho thấy đến thế
hệ thứ năm chiều cao cây sẽ ổn định, đến thế hệ thứ hai mươi thì năng suất mới ổn định (Trần Tú Ngà, 1990) Dòng tự phối được tạo bằng phương pháp
tự phối cưỡng bức (Shull, 1904), năm 1974 Stringfield đề nghị phương pháp tạo dòng rộng còn gọi là phương pháp tạo dòng fullsib , nhằm làm giảm mức
độ suy thoái do tự phối gây ra và kéo dài thời gian chọn lọc dòng
Các nghiên cứu của Shullđã chỉ rằng: khi tiến hành qua trình tự tung phấn ở ngô để tạo dòng tự phối thì xảy ra sự suy giảm sức sống và năng suất, nhưng sự suy giảm này được phục hồi hoàn toàn khi lai hai dòng với nhau Về sau phương pháp này trở thành phương pháp chuẩn trong quá trình chọn tạo giống ngô lai (Crow, 1998) Hiện nay phương pháp tự phối là một trong những phương pháp chủ yếu được rất nhiều nước trên thế giới sử dụng vì các dòng tạo ra được lai thành những giống ngô lai cho năng suất cao hơn các giống hiện trồng Mặt khác dòng tự phối có khả năng kết hợp cao hơn so với các phương pháp khác, nó thể hiện ở ưu thế lai cao ở các tổ hợp lai
tự thụ và giao phối đã đi tới kết luận: chiều cao cây ở dạng ngô giao phối cao hơn 19% và chín sớm hơn 9% so với dạng ngô tự phối (Hallauer và Miranda, 1988), trong khi đó William James Beal đã thực hiện lai có kiểm soát giữa các giống ngô, ông thu được năng suất cao vượt so với bố mẹ 15%
Trang 32Ưu thế lai biểu hiện ở tổ hợp lai trên các tính trạng có thể chia thành các dạng biểu hiện chính sau:
- Ưu thế lai về hình thái: biểu hiện qua sức mạnh phát triển trong thời gian sinh trưởng như tầm vóc của cây Con lai F1 của ngô có độ lớn hạt tăng hơn bố mẹ 11,1%, đường kính tăng 48%, chiều cao cây tăng 30-50% … ngoài
ra diện tích lá, chiều dài cờ, số nhánh cờ ở các tổ hợp lai thường lớn hơn so với bố mẹ
- Ưu thế lai về năng suất: được biểu hiện thông qua các yếu tố cấu thành năng suất như khối lượng hạt, số hạt trên bắp, tỷ lệ hạt trên bắp Ưu thế lai về năng suất ở các giống lai đơn giữa dòng có thể đạt 193%-263% so với năng suất trung bình của bố mẹ (Trần Hồng Uy, 1985)
- Ưu thế lai về tính thích ứng: biểu hiện qua khả năng chống chịu với điều kiện môi trường bất thuận như: sâu, bệnh, khả năng chịu hạn, chịu úng…
- Ưu thế lai về tính chín sớm: thể hiện thông qua con lai chín sớm hơn bố
mẹ do sự biến đổi quá trình sinh lý, sinh hóa, trao đổi trong cơ thể
1.3.2 Ứng dụng ƯTL trong sản xuất ngô
Ưu thế lai đóng vai trò to lớn trong sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng Năm 1876, Charles Darwin là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về ưu thế lai nhưng đến năm 1909, H Shull mới bắt đầu công tác chọn tạo giống lai Ưu thế lai thể hiện qua con lai F1 và biểu hiện ưu thế lai này phụ thuộc vào các dạng bố mẹ vì vậy cần những giải pháp cụ thể cho từng giai đoạn Năm 1917 khi Jones đã đưa ra phương pháp sản xuất hạt lai kép nhằm hạ giá thành sản phẩm và ngay năm thử nghiệm đầu tiên năm 1920 đã được nhanh chóng chấp nhận Mặt khác trong các loại giống cây trồng của con người ngô là cây cho ưu thế lai cao nhất Các giống lai đơn đầu tiên được thử nghiệm năm 1960 đã phục loài người bởi năng suất cao và độ đồng đều mặc dù giá thành hạt giống đắt Theo CIMMYT năm 2000 bình quần chung ngô lai trên thế giới chiếm khoảng 65%
Trang 33Việt Nam có những định hướng phát triển ngô lai tương đối sớm và bước đầu mang ngô lai thành công Năm 1990 diện tích trồng ngô lai chỉ là 5 ha nhưng đến năm 2006 diện tích trồng ngô lai đã là 1031,6 ha (Niêm giám thống kê, 2006) Ngoài việc tăng về diện tích thì ngô lai ngày càng cho thấy
sự khác biệt lớn của ưu thế lai về năng suất Năm 1990 năng suất ngô lai chỉ chiếm 0,1% tổng sản lượng ngô của cả nước nhưng đến năm 1996 năng suất ngô lai chiếm 40% và 73% năm 2002(Niêm giám thống kê, 2002) Vì thế Việt Nam trở thành nước có tốc độ phát triển rất nhanh trong lịch sử ngô lai thế giới
1.3.3Đánh giá ƯTL về năng suất, chất lượng ngô rau
Đánh giá ƯTL về năng suất
Để đánh giá ưu thế lai ở con lai F1, người ta căn cứ vào số liệu đo đếm thu được từ thí nghiệm của con lai và bố mẹ của chúng Ưu thế lai của con lai F1 được tính dựa trên cơ sở so sánh giá trị trung bình của bố mẹ hoặc với bố
mẹ cao nhất, hoặc với giống đối chứng
Ưu thế lai ở các loại cây trồng thường được biểu hiện thông qua các tính trạng Để đánh giá mức độ biểu hiện ưu thế lai, các nhà khoa học (Omarov, 1975; Trần Duy Quý, 1994)đã đưa ra công thức tính như sau:
- Ưu thế lai trung bình (HMP): HMP chỉ sự chênh lệch của giá trị tính trạng bất kỳ vượt giá trị trung bình về tính trạng đó ở bố mẹ và được tính theo côn thức sau:
H(MP)% = x100
HMP: Ưu thế lai trung bình
Mp: là giá trị trung bình của bố mẹ; F1 là giá trị của tổ hợp lai
- Ưu thế lai thực (HBP) là giá trị cao hơn của tổ hợp lai so với giá trị bố
mẹ tốt nhất
H(BP)% = x100
Trang 34HBP: Ưu thế lai thực
BP: là giá trị cao nhất của bố mẹ; F1 là giá trị của tổ hợp lai
- Ưu thế lai chuẩn (HS) chỉ giá trị cao hơn tổ hợp lai so với giống đối chứng hoặc giá trị trung bình của bố mẹ và được tính theo công thức
H(S)% = x100
Sức sống của F1 có biểu hiện tăng lên so với bố mẹ ở một tính trạng nhất định gọi là ưu thế lai dương và ngược lại gọi ưu thế lai âm Để sử dụng ưu thế lai trong sản xuất không riêng F1 hơn hẳn bố mẹ mà còn hơn hẳn so với giống đối chứng (giống thương mại tốt nhất) Vì vậy, ưu thế lai chuẩn là chỉ số được quan tâm nhất trong công tác tạo giống ngô lai
Ưu thế lai về tính năng suất là dạng ƯTL đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nên được rất nhiều nhà nghiên cứu tạo giống quan tâm ƯTL về năng suất hạt là sự biểu hiện của các tổ hợp lai cho năng suất cao hơn
bố mẹ Nguyên nhà có thể là có sự tăng cường hoạt động của các quá trình sinh lý, sinh hóa, trao đổi chất trong cơ thế con lai mạnh hơn bố mẹ chúng
Ưu thế lai đã được tác giả thực hiện ở 2 môi trường sinh thái khác nhau như Trung Tâm Nghiên Cứu Ngô Sông Bôi-Việt Nam và Viện Nghiên Cứu ngô Kneza-Bungari (1983-1985) cũng đã khẳng định rằng, ở các môi trường sinh thái khác các tổ hợp lai đã thể hiện ƯTL về tính chín sớm và năng suất là không như nhau Tại Bungari (môi trường sinh thái ôn đới các tổ hợp lai trong thí nghiệm đã thể hiện ƯTL về tính chín sớm so với bố mẹ từ 3-6 ngày và cho năng suất cao hơn hẳn bố mẹ chúng (Trần Hồng Uy, 1985) Còn tại Việt Nam (môi trường sinh thái nhiệt đới) hầu hết các tổ hợp lai trong thí nghiệm đã có năng suất cao hơn trung bình bố mẹ, khả năng thể hiện tính chín sớm từ 2-4 ngày
Trong kết quả nghiên cứu về ƯTL và KNKH của các vật liệu ngô CIMMYT chín sớm ở 2 môi trường cận nhiết đới và ôn đới Vasal và cộng sự
Trang 35(1999)cũng cho thấy, sự phản ứng về ƯTL đã thể hiện là không có ý nghĩa ở môi trường cận nhiệt đới như: tổ hợp lai giữa Pool; 46 x Pool 40 đã thể hiện ƯTL về tính chín sớm hơn so với bố mẹ là 1,5 ngày nhưng năng suất tăng nhẹ 4,2%; Pool 27 x Pool 42 đã thể hiện ƯTL chín sớm hơn so với trung bình bố
mẹ là 1 ngày nhưng năng suất tăng 7,38%
Kết quả nghiên cứu ƯTL về tính chín sớm của các tổ hợp lai từ các nguồn dòng có nguồn gốc địa lý khác nhau của Mai Xuân Triệu (1998) đã cho thấy, ƯTL về tính chín sớm biểu hiện ở các tổ hợp lai đơn là mạnh nhất (tức
là sớm hơn trung bình thời gian sinh trưởng của bố mẹ từ 2-4 ngày) và cho năng suất cao hơn hẳn so với bố mẹ Các tổ hợp lai đơn của cả 3 nhóm dài, trung và ngắn ngày đã biểu hiện ưu thế lai về tính chín sớm và cho năng suất cao như IL21CM x ILL51 đã cho năng suất vượt bố mẹ (Hm = 184,08%), ILDK x ILL51 (Hm = 174,8%) và có thời gian sinh trưởng (116 ngày) sớm hơn bố mẹ 2,5 ngày Tổ hợp lai ILDk x ILDF2 đã cho năng suất vượt bố mẹ (Hm = 126,6%) có thời gian sinh trưởng (118 ngày) sớm hơn bố mẹ 4 ngày
Tổ hợp lai ILLDC8 x ILTQ2 có thời gian sinh trưởng 108 ngày (sớm hơn bố
mẹ 4 ngày) nhưng có năng suất vượt 126,61%, ILTQ2 x IL90 có TGST 110 ngày ngắn hơn bố mẹ 3 ngày với năng suất vượt 123,73%
Như vậy các kết quả nghiên cứu trên đã chứng tỏ ƯTL của con lai F1 về tính chín sớm hơn và cho năng suất cao hơn so với trung bình bố mẹ ở các thời vụ khác nhau
Đánh giá ƯTL về chất lượng
Yêu cầu tiêu chuẩn về chất lượng cho sản phẩm bắp non ngô rau có ba loại sản phẩm bắp non có sẵn trên thị trường thế giới bao gồm lõi non tươi, đóng hộp và đông lạnh Các yêu cầu chung đối với bắp non ngô rau sản xuất như sau(Trần Quốc Toản, 2008):
Kích thước lõi ngô thích hợp nhất là 1,0-1,5 cm với chiều dài 4-9 cm; tuy nhiên, chiều dài có thể được phân loại thành ba loại :
Trang 36Màu ngô bắp là vàng cam hoặc vàng
Lưu trữ ngô bắp tươi không nên dài quá 24 giờ
Bảng 1.9 Giá trị dinh dưỡng của ngô rau từ phân tích 100 gram so với
các loại rau khác
bao tử
súp lơ
cải bắp
cà chua
Trang 37hiện trong bảng 1.9 Theo Yodpet Bar-Zur and Schaffer báo cáo tổng số hàm lượng đường của bắp non được quan sát trong tất cả các kiểu gen nghiên cứu phạm vi từ 20 đến 30 mg/g trọng lượng tươi và đường chính là giảm lượng đường, glucoza và fructoza, với số lượng bằng nhau từ 10 đến 15 mg/g trọng lượng tươi Sucrose có mặt với số lượng chỉ nhỏ silking Hơn nữa, nội dung của 17 axit amin và 9 axit amin thiết yếu, bao gồm lysine, được tìm thấy trong bắp non
1.4Chọn tạo dòng bố mẹ ngô rau
Chọn tạo giống ngô rau có thể sử dụng nhiều kỹ thuật và lý thuyết được thực hiện bởi các nhà lai tạo trên đồng ruộng Tuy nhiên, nó là khác nhau trong thực tế vì mục đích tạo ra các sản phẩm cuối cùng là khác nhau Một số nhà nghiên cứu cho rằng ngô lai là phù hợp hơn cho sản xuất bắp non ngô rau trong tương lai bởi vì nó được sản xuất tạo chất lượng tốt hơn và kích thước đồng đều hơn Từ nghiên cứu liên quan đến nâng cao năng suất và chất lượng của ngô rau ở Thái Lan bị hạn chế, một chiến lược quan trọng để cải thiện là việc sử dụng ưu thế lai từ nguồn giống đa dạng để làm ra giống ngô rau lai Một biện pháp thực tế của ưu thế lai cho bắp non là đặc tính nông sinh học và
tỷ lệ sản lượng của các giống lai phải đạt bằng hoặc hơn so với tiêu chuẩn của ngô rau
Một số dòng bố mẹ được phát triển từ các nguồn khác nhau với hệ thống chọn tạo đã được sử dụng trong việc phát triển các giống lai mới Kiểm nghiệm giống lai đã được thực hiện theo thủ tục trong dự án giống ngô của trường Đại học Kasetsart, Thái Lan Năm 1988, trường Đại học Kasetsart đã
sử dụng lai ba để chọn tạo hạt giống ngô rau 3501, KBTX 3501 và được xác định là một cách lai đầy hứa hẹn và được đánh giá tại các địa điểm khác nhau
Nó được sản xuất với năng suất cao nhất và không có vỏ dù không có vỏ nhưng vẫn cho năng suất đạt tiêu chuẩn hấp dẫn Năm 1991, hạt giống lai này
đã được thử nghiệm với các giống lai đầy hứa hẹn khác từ khu vực nhà nước
Trang 38và tư nhân trong năm tỉnh Kanchanaburi, Ratchaburi, Samut Sakhon, Pichit
và Chiang Mai So với năng suất trung bình của bắp non tiêu chuẩn tươi với
vỏ và không cóvỏ cùng với tỷ lệ nhiễm nấm mốc sương mai trong các thử nghiệm ở năm tỉnh vào năm 1991, KBTX 3501 cung cấp một sản lượng với
vỏ 6701 kg/ha và sản lượng không có vỏ là 1044 kg/ha, cao hơn so với Suwan
2 (S) C7, sự đa dạng kiểm tra, 147% Tỷ lệ trung bình của nhiễm nấm mốc sương mai trong KBTX 3501 là 0,2 %, thấp nhất trong số các giống trong đã thử nghiệm (Wayne Smith và cs, 2004)
Rõ ràng là KBTX 3501 nên được khuyến khích trong số diện tích trồng bắp non KBTX 3501 được phát triển từ các dòng tự nhiên của dự án ngô giống của Đại học Kasetsart, Ki 20, 39 và Ki 40 của phả hệ là (39 x Ki 20) x
Ki 40
Các giống ngô đã được hứa hẹn sẽ được đưa ra sản xuất sau này là: SW2 (S) C7 -F3 -S6-28 Ki x 28, (Ki 21 x SW2 (S) C7 -F2 -S6 -28) x Ki 28, và (SW2 (S) C7 -F2 -S6 -28 Ki x 28) x (SW2 (S) C7 -F2 -S6 -146 x RSL (H) S4 -288) Những lai đơn, lai ba và lai kép cho năng suất đạt tiêu chuẩn của 1 237, 887 và
706 kg/ha, tương ứng 354%, 418% và 332 % nhiều hơn Suwan 2 (S) C7
Muốn chọn tạo một giống ngô lai, các nhà chọn giống phải tạo ra các dòng
tự phối bắt đầu từ các nguồn nguyên liệu không đồng nhất về mặt di truyền (heterozygote)sau 6-8 thế hệ tự phối mới thu được các cá thể đồng hợp (homozygote) và thường gọi là dòng tự phối(Ngô Hữu Tình và cs, 1997)
* Nguyên liệu ban đầu cho tạo dòng: Trong công tác tạo giống cây
trồng nói chung và tạo giống ngô rau nói riêng, việc chọn nguồn nguyên liệu ban đầu có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của chương trình Nếu chọn được nguồn nguyên liệu tốt, phù hợp thì quá trình tạo giống sẽ nhanh và đạt hiệu quả cao (Hallauer, 1990) Cho đến nay, các tác giả đều cho rằng nguồn nguyên liệu để tạo dòng gồm các giống thụ phấn tự do (giống địa phương, giống tổng hợp, hỗn hợp, vốn gen, các quần thể và các giống thí
Trang 39nghiệm) và các giống ngô lai (lai kép, lai ba, lai đơn) Tuy nhiên, việc tạo dòng tự phối từ các giống thụ phấn tự do cho kết quả rất thấp, phần lớn các dòng tạo ra có sức sống suy giảm mạnh, năng suất thấp Xu hướng chính hiện nay là sử dụng nguồn nguyên liệu đã qua cải tạo chọn lọc, các giống lai thương mại, các quần thể tổng hợp từ các nguồn có KNKH cao và ở cùng nhóm ƯTL
* Phương pháp tạo dòng:Một số phương pháp tạo dòng tự phối đã được
các nhà khoa học (G.F Sprague và S.A Eberhart , 1995; CIMYMYT, 1990; R.J Saikumar, 1999)đề xuất sử dụng như: Saikumar, R.J (1999)
+ Phương pháp chuẩn (Standard method): do Shull đã sử dụng ( 1999,
1910) phương pháp tự phối để tạo dòng tự phối để đạt được độ đồng hợp tử nhanh và đây là phương pháp chuẩn đang được các nhà tạo giống sử dụng nhiều Tự phối nhằm đạt được độ đồng hợp tử với tỷ lệ ngày càng cao ở nhiều tính trạng, chọn lọc gen tốt và loại bỏ gen xấu Sau 3 đến 4 đời tự phối, những dòng được chọn lọc sẽ phân chia thành những dạng khác nhau và được đánh giá về những đặc điểm nông học, khả năng kết hợp (dẫn theo Nguyễn Hữu
Trang 40cách hài hòa trong việc tạo dòng mới Nếu sức sống dòng còn tốt, độ đồng đều chưa cao thì ưu tiên tự phối, khi sức sống yếu, độ đồng đều khá cao thì kết hợp với sib
+ Phương pháp hồi giao (backcross-BC): Đây là phương pháp cơ bản để
cải tạo dòng tự phối cả về năng suất, KNKH, khả năng chống chịu, chất lượng (ví dụ như chuyển ngô thường thành ngô QPM), thời gian sinh trưởng, đặc điểm hình thái Phần lớn các dòng tốt hiện nay được sử dụng trên thế giới được tạo ra bằng cách này Tùy tình hình thực tế, nhà tạo giống có thể tiến hành 1-2 lần BC sau đó tự phối để tạo dòng mới theo đặc điểm mong muốn
+ Phương pháp tạo đơn bội (Haploid breeding): ứng dụng công nghệ
sinh học để tạo ra các dòng đơn bội từ bao phấn, noãn chưa thụ tinh Phương pháp này đã giúp các nhà chọn giống rút ngắn thời gian tạo dòng xuống chỉ còn 2-3 năm (Chase, 1954) Ở nước Việt Nam, khoảng 15 năm trở lại đây, các nhà nghiên cứu đã ứng dụng công nghệ trên vào việc tạo cây đơn bội ở ngô như: Phòng công nghệ Viện Nghiên cứu ngô, Viện Di Truyền Nông Nghiệp Việt Nam, bước đầu đã có kết quả, đang được thử nghiệm và đánh giá trên đồng ruộng (Phạm Đồng Quảng và cs, 2005)
* Duy trì và nhân dòng tự phối bố mẹ
Duy trì độ thuần của dòng bố mẹ là khâu hết sức quan trọng, quyết định chất lượng hạt giống lai sản xuất ra Vì vậy, việc duy trì dòng tự phối bố mẹ được tiến hành hết sức nghiêm ngặt và do chính tác giả giống thực hiện như sau (Ngô Hữu Tình, 2009):
+ Duy trì và nhân dòng bố mẹ bằng bao cách ly
- Từ một bắp dòng duy nhất được gieo thành 3 hàng (1, 2, 3)
- Lúc ra hoa, cách ly tất cả các bắp và cờ của các cây
- Các cây ở hàng 2 được tiến hành tự phối (bao phấn của cây nào thì thụ cho bắp của cây ấy)
- Hỗn hợp phấn của các cây hàng 1 được thụ cho các bắp ở hàng 3 và ngược lại hỗn hợp phấn của hàng 3 thụ cho các bắp của hàng 1