Untitled VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ THỊ THU HẰNG TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC DO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI THỰC HIỆN TỪ THỰ[.]
NH Ữ NG V ẤN ĐỀ LÝ LU Ậ N VÀ PHÁP LU Ậ T HÌNH S Ự
Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội cố ý gây thương tích hoặ c gây t ổ n h ạ i cho s ứ c kh ỏ e c ủa ngườ i khác
Tội gây tổn hại sức khỏe hoặc CYGTT đã được quy định rõ ràng trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tại Điều 134, với nhiều nội dung và tình tiết mới so với Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 Sự thay đổi này nhằm nâng cao mức độ xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến an toàn, sức khỏe của người khác Điều 134 tập trung vào việc quy định các hành vi gây tổn hại sức khỏe, đồng thời mở rộng các tình tiết tăng nặng để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Các nội dung mới trong điều luật này giúp nâng cao hiệu quả phòng ngừa và xử lý các hành vi vi phạm, góp phần đảm bảo an ninh trật tự và an toàn xã hội.
Năm 1999, quy định gồm 4 khoản về tỷ lệ thương tật với các mức từ dưới 11%, 11%-30%, 31%-60%, và trên 61% Trong khi đó, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) vẫn giữ nguyên các định mức tỷ lệ thương tật nhưng đã được mở rộng thành 6 khoản, đồng thời bổ sung một số điểm mới nhằm hoàn thiện các quy định về tội này Các sửa đổi này nhằm nâng cao tính chính xác và minh bạch trong xử lý các vụ vi phạm liên quan đến tỷ lệ thương tật.
Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã cơ cấu lại số khung hình phạt so với Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999, và thay đổi mức hình phạt của từng khung để phù hợp với sự điều chỉnh của số khung Ngoài ra, điều luật này còn sửa đổi, bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng từ khoản 2 đến khoản 5, đồng thời pháp điển hóa các hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao về các tình tiết quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự 1999, nhằm đảm bảo tính rõ ràng, thống nhất khi áp dụng thực tiễn Mặc dù trong Điều 134 số lượng khung hình phạt tăng thêm 02 khung so với Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999, nhưng mức hình phạt thấp nhất và cao nhất vẫn không thay đổi.
Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có nhiều điểm mới hơn so với Điều 104 Bộ luật Hình sự 1999 về tội gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây tổn thương cho người khác, thể hiện sự cập nhật và mở rộng các quy định pháp luật liên quan đến các hành vi phạm tội này.
Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã được cập nhật nhằm mở rộng và làm rõ các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự so với khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 Cụ thể, các tình tiết mới như “dùng vũ khí, vật liệu nổ hoặc dùng axit nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm”, “lợi dụng chức vụ, quyền hạn”, “phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đã được bổ sung nhằm nâng cao tính chính xác trong xác định trách nhiệm hình sự Ngoài ra, luật còn mở rộng phạm vi bằng cách quy định những tình tiết khác như “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê, đối với người chữa bệnh cho mình” Các sửa đổi về định nghĩa cũng thể hiện rõ hơn như thay “đối với trẻ em” thành “đối với người dưới 16 tuổi”, “phụ nữ đang có thai” thành “phụ nữ mà biết là có thai”, và “để cản trở người thi hành công vụ” thành “đối với người đang thi hành công vụ”, góp phần làm rõ các tình tiết định khung hình phạt, thể hiện sự tiến bộ rõ nét của pháp luật hình sự Việt Nam trong việc quy định rõ các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về khoản 2 và khoản 3 Điều 104 BLHS năm 1999, đã được chia thành 04 khoản riêng biệt trong luật mới, giúp quy định khung hình phạt rõ ràng hơn, không còn gộp chung như trước Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án và Viện kiểm sát trong việc xác định tội danh và quyết định hình phạt chính xác hơn Ngoài ra, quy định mới còn phân chia rõ ràng giới hạn giữa tỷ lệ thương tật và các tình tiết tăng nặng trong quy định hình phạt, đảm bảo rằng dù tỷ lệ thương tật thấp, nếu có tình tiết tăng nặng thì mức hình phạt vẫn phù hợp, tương đương với mức dành cho tỷ lệ thương tật cao hơn.
Khoản 5 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã làm rõ các tình tiết định tính như "chết nhiều người" và "đặc biệt nghiêm trọng khác" bằng cách quy định rõ ràng hơn, ví dụ như “làm chết 02 người trở lên” hoặc “gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 61% trở lên”, trong các trường hợp thuộc các điểm từ a đến k khoản 1 Điều này.
Theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hành vi chuẩn bị phạm tội như chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, axít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của người khác sẽ bị xử lý hình sự dengan mức phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đối với các tội quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có những điểm khác nhau rõ rệt Người trong nhóm tuổi này chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo các khoản 3 và 4 của Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, thể hiện sự phân biệt trong mức độ xử lý pháp luật đối với trẻ vị thành niên.
1999 trong khi họ phải chịu TNHS tại các khoản 3, 4 và 5 Điều 134 BLHS năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã điều chỉnh rõ ràng và đầy đủ các quy định về tội gây rối trật tự công cộng hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, góp phần đảm bảo việc thi hành pháp luật hình sự chính xác hơn trong việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người.
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác là hành vi trái pháp luật, thể hiện qua việc người có năng lực trách nhiệm hình sự tác động lên thân thể của người khác, khiến họ bị thương tích hoặc tổn hại sức khỏe theo quy định của luật pháp Các hành vi này vi phạm điều khoản pháp luật về bảo vệ tính mạng và sức khỏe của công dân, cần xử lý nghiêm minh để đảm bảo trật tự xã hội Tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân được xác định dựa trên các tiêu chuẩn pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi và sức khỏe cộng đồng.
Trong Chương 1, tác giả phân tích các khái niệm và dấu hiệu cơ bản của tội phạm nói chung, đặc biệt là tội gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc tội CYGTT, có sự phân biệt rõ ràng giữa dấu hiệu pháp lý của tội này trong trường hợp làm chết người so với tội giết người, cũng như trong phạm vi thi hành công vụ hoặc so sánh với các tội khủng bố Tác giả cũng đề cập đến các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội danh này, làm rõ sự bổ sung các quy định mới so với các quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội gây tổn hại cho sức khỏe người khác.
Trong bài viết này, chúng tôi phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với tội gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người dưới 18 tuổi thực hiện tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Các nội dung chính bao gồm các quy định pháp luật liên quan, các trường hợp điển hình và những khó khăn trong xét xử, nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về việc xử lý các vụ việc này phù hợp với quy định của pháp luật hình sự Việt Nam.
TH Ự C TI Ễ N ÁP D Ụ NG PHÁP LU Ậ T HÌNH S Ự VI Ệ T NAM
Quy đị nh v ề đị nh t ộ i danh và quy ết đị nh hình ph ạt đố i v ới người dướ i 18
2.1.1 Quy định về định tội danh tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người dưới 18 tuổi thực hiện
Định tội danh được hiểu là quá trình xác nhận và ghi nhận sự phù hợp giữa hành vi phạm tội cụ thể với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự, hoặc là đánh giá pháp lý về một hành vi nguy hiểm cho xã hội Hai nghĩa này có mối liên hệ mật thiết, phản ánh tính chất của quá trình đánh giá hành vi phạm tội dựa trên các quy phạm pháp luật Theo quan điểm của GS.TS Võ Khánh Vinh, định tội danh là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự nhằm xác định đúng đắn các tình tiết của hành vi phạm tội, hiểu rõ nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định về cấu thành tội phạm, qua đó xác lập mối liên hệ giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội, sử dụng các phương pháp và theo các giai đoạn nhất định.
Là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, định tội danh được tiến hành đồng thời bởi ba quá trình:
Để giải quyết vụ án hình sự, cần xác định đúng và khách quan các tình tiết thực tế, phù hợp với hiện thực khách quan Các cơ quan THTT phải áp dụng các biện pháp hợp pháp theo quy định của BLTTHS để thu thập chứng cứ, tránh sử dụng các biện pháp trái pháp luật Sau khi thu thập chứng cứ, các cơ quan THTT phải nghiên cứu, đánh giá, phân tích chúng một cách vô tư, không định kiến để tìm kiếm chân lý khách quan về vụ án Việc xác định đầy đủ và chính xác các tình tiết cần thiết của hành vi phạm tội là yếu tố quyết định thành công trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, đảm bảo tính khách quan và chính xác của nội dung vụ án.
Thứ hai, cần phải nhận thức đúng nội dung của các quy định trong BLHS liên quan đến tội phạm đã thực hiện.
Việc nhận thức đúng nội dung của Bộ luật Hình sự (BLHS), bao gồm từng loại tội và các tội phạm cụ thể, là cực kỳ quan trọng trong quá trình xác định tội danh Chỉ có hành vi vi phạm pháp luật được quy định trong BLHS mới coi là tội phạm, tuy nhiên, không phải tất cả các quy phạm pháp luật trong BLHS đều phản ánh hết các mặt của đời sống xã hội mà chỉ thể hiện các đặc điểm nổi bật của nó Khi xử lý vụ án hình sự, người thực thi pháp luật cần áp dụng chính xác và đúng đắn các quy phạm pháp luật hình sự, đòi hỏi hoạt động lập pháp và hoạt động áp dụng pháp luật phải luôn chính xác Để đảm bảo nguyên tắc công bằng của luật hình sự, việc định tội danh phải dựa trên việc lựa chọn đúng quy phạm pháp luật phù hợp, so sánh đầy đủ các dấu hiệu tội phạm theo điểm, khoản của điều luật với các tình tiết của hành vi phạm tội Trong thực tế, các bước này thường được thực hiện đồng thời trong quá trình nhận thức của người áp dụng pháp luật, và không thể tách rời một cách rõ ràng, đặc biệt khi xét đến các yếu tố khác như hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, phạm tội có tổ chức hoặc đồng phạm, để áp dụng đúng quy phạm pháp luật trong việc định tội danh.
Việc xác định tội danh cần bao gồm đầy đủ các hành vi phạm tội đã thực hiện, dựa trên các điều luật của Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm Khi định tội danh, kiểm sát viên không được kết hợp hành vi phạm tội này với hành vi khác hoặc xem hành vi phạm tội đó là tình tiết tăng nặng của tội phạm khác nhằm đảm bảo đánh giá chính xác tính chất và mức độ nguy hiểm của từng hành vi theo quy định pháp luật.
Việc nhận thức đúng đắn về mối liên hệ giữa các tình tiết thực tế của hành vi và các dấu hiệu của tội phạm hình sự (CTTP) theo quy định của luật là vô cùng quan trọng Định tội danh là hoạt động của cơ quan tố tụng nhằm thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ để xác định các tình tiết thực tế của vụ án và phân tích các quy phạm pháp luật hình sự nhằm đảm bảo nhận thức chính xác nội dung của tội phạm Quá trình này dựa trên sự so sánh và đối chiếu các tình tiết thực tế với các dấu hiệu quy định trong pháp luật hình sự về CTTP Thủ tục định tội danh bao gồm ba giai đoạn chính, đảm bảo xác định chính xác các yếu tố cấu thành tội phạm.
Trong giai đoạn đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ quan trọng bao gồm tính chất của phương pháp, thủ đoạn, công cụ và phương tiện thực hiện tội phạm Đồng thời, mức độ thiệt hại gây ra bởi hành vi cũng là yếu tố xác định mức độ nguy hiểm, cùng với tính chất của động cơ, mức độ lỗi và nhân thân của người phạm tội Các yếu tố này giúp đánh giá chính xác mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đối với xã hội.
Trong giai đoạn thứ hai của quá trình xử lý vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành điều tra sẽ xác định rõ các dấu hiệu của hành vi phạm tội, phân loại hành vi đó thuộc loại tội phạm nào theo quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) Việc làm rõ tội danh giúp định hướng cho quá trình xét xử và đảm bảo các quy định pháp luật được áp dụng chính xác, phù hợp với từng loại tội phạm được quy định cụ thể trong các chương của BLHS.
Giai đoạn thứ ba tập trung xác định rõ ràng các cấu thành pháp lý về tội phạm cụ thể, bao gồm cấu thành cơ bản, cấu thành giảm nhẹ hoặc cấu thành tăng nặng, phù hợp với giới hạn của một điều luật đã được lựa chọn Việc này giúp đảm bảo phân định chính xác các yếu tố cấu thành tội phạm để áp dụng pháp luật một cách đúng lý, đúng tình Như vậy, xác định rõ các cấu thành này là bước quan trọng trong quá trình xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xử lý các hành vi phạm tội.
Cả ba giai đoạn trong quá trình nhận thức của người định tội đều có thể diễn ra độc lập hoặc đồng thời, không thể phân chia rõ ràng trong hoạt động nhận thức của họ.
Dựa trên những phân tích khái quát, định tội danh gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (CYGTT) bao gồm hành vi gây thiệt hại về thể chất hoặc tinh thần đối với người khác, vi phạm quy định pháp luật về an toàn, sức khỏe cộng đồng Đây là hành vi trái pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời đảm bảo trật tự xã hội được duy trì Việc xác định tội danh này dựa trên căn cứ vào hành vi cụ thể, mức độ tổn hại và hậu quả xảy ra, góp phần xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm liên quan đến sức khỏe cộng đồng.
Ở độ tuổi 18, hoạt động điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan chức năng dựa trên các chứng cứ, tài liệu đã thu thập đầy đủ, khách quan và toàn diện Quá trình này so sánh, đối chiếu các dấu hiệu pháp lý của tội phạm hình sự như CYGTT hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác theo quy định của pháp luật hình sự để xác định có hay không hành vi phạm tội Nếu người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm pháp, họ sẽ được xử lý theo quy định của pháp luật.
Quá trình định tội danh gồm các giai đoạn chuẩn bị, truy tố và xét xử, dựa trên các căn cứ pháp lý cụ thể nhằm xác định hành vi phạm tội Các trường hợp phạm tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người dưới 18 tuổi thực hiện tương tự như những trường hợp do người từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện Tuy nhiên, khi định tội danh cho người dưới 18 tuổi, cần đặc biệt lưu ý đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự để đảm bảo xử lý phù hợp theo quy định của pháp luật.
Trẻ dưới 18 tuổi đang trong giai đoạn hình thành và phát triển về thể chất, trí tuệ và nhân cách, chưa có ý thức chín chắn về hành vi của mình hoặc nhận thức đầy đủ về tính nguy hiểm của hành vi đó đối với xã hội Tâm lý của họ rất dễ bị tổn thương, đặc biệt khi tham gia tố tụng giải quyết các vụ án, khiến cần có chính sách hình sự phù hợp Chính sách hình sự của Nhà nước chủ yếu tập trung vào giáo dục, giúp đỡ trẻ sửa chữa sai lầm, tạo điều kiện để các em phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những trường hợp có quy định khác trong Bộ luật Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, như tội gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134) hoặc tội phạm quy định tại 28 điều luật của Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
Trong hoạt động xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hại đến sức khỏe người khác, cơ quan Tòa án cần xác định rõ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của đối tượng để đánh giá năng lực chịu trách nhiệm hình sự Trường hợp trẻ dưới 14 tuổi phạm tội, các chủ thể này không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình Từ 14 đến dưới 16 tuổi, người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, và Tòa án cần xác định chính xác loại tội phạm cũng như khung hình phạt phù hợp theo Điều 9 của Bộ luật Hình sự Chỉ khi tội phạm thuộc nhóm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, các chủ thể này mới phải chịu trách nhiệm hình sự Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 12 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), người từ đủ 16 tuổi trở lên thực hiện hành vi phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác đều phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
2.1.2 Quy định về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác