Untitled ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRẦN THỊ HÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC LỚP 1, 2, 3 QUA MÔN TIẾNG VIỆT LUẬN VĂN[.]
Lí do ch ọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia trải qua nhiều biến cố lịch sử, trở thành một đất nước độc lập, thống nhất và đa dân tộc với nhiều ngôn ngữ khác nhau Việc bảo tồn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt cùng các ngôn ngữ dân tộc luôn là nhiệm vụ hàng đầu của người dân Việt Nam, góp phần xây dựng nền văn hóa và bản sắc riêng Tiếng Việt không những phản ánh quá trình phát triển của xã hội Việt Nam mà còn chịu tác động mạnh mẽ từ các giai đoạn lịch sử, góp phần củng cố sự phát triển văn minh đất nước.
Tiếng mẹ đẻ giữ vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi người, là công cụ để giao tiếp và tư duy trong xã hội Theo K.A Usinxki, “Trẻ em đi vào đời sống tinh thần của mọi người xung quanh nó, duy nhất qua phương tiện tiếng mẹ đẻ,” và thế giới xung quanh trẻ được phản ánh chính qua ngôn ngữ này Trước khi vào trường, trẻ đã quen thuộc với tiếng Việt trong cuộc sống hàng ngày, giúp các em giao tiếp và phát triển tư duy tốt hơn Từ lớp 1, việc học tiếng Việt trở nên hệ thống, có phương pháp khoa học, trang bị kiến thức và kỹ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ thành thục Điều này tạo nên nền tảng vững chắc giúp các em học tốt các môn học khác và giao tiếp hiệu quả hơn trong cộng đồng.
Trẻ em Việt Nam trước khi đến trường đã có khả năng nghe, nói tương đối thành thạo, một bộ phận trẻ đã biết một số từ, câu và quy tắc giao tiếp, thậm chí một số em còn được người lớn dạy từ rất sớm để biết đọc, biết viết trước khi vào lớp Tuy nhiên, các kỹ năng này ở lứa tuổi tiền học đường mới chỉ mang tính giao tiếp đơn giản chưa có hệ thống rõ ràng Nhiệm vụ của nhà trường là phát triển các kỹ năng giao tiếp đó thành kỹ năng, kỹ xảo giúp các em giao tiếp thành thạo, sử dụng trong cộng đồng Chính vì vậy, việc dạy tiếng Việt không chỉ nhằm phát huy vốn tiếng Việt sẵn có của các em mà còn giúp các em sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách ý thức, hoàn thiện ngôn ngữ và tiến hành hoạt động giao tiếp một cách tích cực, tự giác, có mục đích và phương pháp.
Trong quá trình học tiểu học ở nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam, mục tiêu hàng đầu là hình thành và rèn luyện năng lực sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, đặc biệt là bốn kỹ năng nghe – nói – đọc – viết Kỹ năng nói đóng vai trò quan trọng vì cùng với kỹ năng nghe, nó là kỹ năng thường xuyên được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày Phát triển kỹ năng nói giúp học sinh tiểu học diễn đạt rõ ràng, mạch lạc và tự tin trình bày suy nghĩ, đồng thời góp phần nâng cao khả năng đóng góp vào các hoạt động học tập và thể hiện quan điểm cá nhân Mặc dù chương trình và sách giáo khoa hiện hành đã chú trọng hơn trong việc rèn luyện kỹ năng nói so với các thời kỳ trước, nhưng thực tế việc dạy học tại trường vẫn chưa đạt hiệu quả mong muốn Vì vậy, việc xác định nguyên nhân và đề ra các biện pháp phù hợp để tăng cường rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh trở thành vấn đề được các nhà giáo dục đặc biệt quan tâm.
Học sinh dân tộc thiểu số gặp nhiều hạn chế trong giao tiếp do điều kiện địa lý, kinh tế vùng miền, môi trường giao tiếp hẹp, cùng với đặc điểm tâm lý khác biệt về nhận thức, xúc cảm và tính chủ động Các em thường nhút nhát, tự ti, lúng túng trước đám đông và thiếu kỹ năng hợp tác, gây ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục kỹ năng giao tiếp tại các trường tiểu học vùng núi phía Bắc Việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh còn gặp nhiều khó khăn, kết quả còn hạn chế do chính sách đầu tư và xây dựng môi trường giáo dục chưa thực sự hiệu quả Vì vậy, cần có sự phối hợp của nhà trường, gia đình và xã hội trong việc nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh, đồng thời tiến hành nghiên cứu đề xuất các biện pháp phù hợp, đặc thù để hỗ trợ giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh dân tộc thiểu số, nhằm thúc đẩy phát triển toàn diện và bền vững.
Chúng tôi tập trung nghiên cứu các biện pháp nâng cao hiệu quả rèn kỹ năng nói cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, 2, 3 qua môn Tiếng Việt Mục tiêu của nghiên cứu là góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt tại các vùng miền còn nhiều khó khăn Việc phát triển năng lực nói giúp học sinh tự tin hơn trong giao tiếp và học tập Nghiên cứu đề xuất các phương pháp phù hợp để thúc đẩy kỹ năng nói của học sinh dân tộc thiểu số, góp phần vào quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao hơn.
L ị ch s ử v ấn đề
Kỹ năng nói là kỹ năng giao tiếp nền tảng trong cuộc sống, đòi hỏi sự luyện tập kiên trì để có thể sử dụng thành thạo Đặc biệt, học sinh tiểu học cần được bồi dưỡng để hình thành kỹ năng chuẩn, tự tin bước vào tương lai Đối tượng học sinh tiểu học dân tộc miền núi phía Bắc gặp nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế và cuộc sống, khiến việc chăm sóc và phát triển kỹ năng của các em trở nên càng khó khăn hơn Đây là vấn đề cấp thiết của toàn xã hội, cần có các nghiên cứu và giải pháp để hỗ trợ các em đến trường, đồng thời giúp các em rèn luyện kỹ năng sống như các bạn miền xuôi.
Giáo trình “Phương pháp dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc tiểu học” của Dự án phát triển giáo viên tiểu học tập trung vào phương pháp dạy kỹ năng nói cho học sinh tiểu học Tài liệu này nhấn mạnh các biện pháp luyện phát âm và sửa lỗi phát âm để nâng cao khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt của học sinh Các phương pháp này đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh dân tộc thiểu số tại cấp tiểu học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt trong các trường tiểu học vùng dân tộc.
Trong cuốn sách “Tiếng Việt đại cương ngữ âm” [20] của tác giả Đặng
ThịLanh, Bùi Minh Toán đã giới thiệu tổng thể về tiếng Việt và đi sâu vào hai đơn vị cơ bản của ngữ âm tiếng Việt là âm tiết và âm vị Cuốn sách giúp xác định và phát hiện các lỗi phát âm thường gặp ở học sinh, hỗ trợ giảng dạy hiệu quả hơn Tuy nhiên, các tác giả chủ yếu tập trung vào lý thuyết chung về ngữ âm mà chưa đi sâu vào phân tích và xác định các lỗi phát âm sai cụ thể của học sinh, làm hạn chế khả năng áp dụng thực tế trong giảng dạy.
Trong cuốn sách “Ngữ âm Tiếng Việt hiện đại” của tác giả Vũ Xuân Hào, vấn đề về ngữ âm trong nhà trường được đề cập chi tiết, nhấn mạnh vai trò của việc rèn luyện kỹ năng phát âm cho học sinh Tuy nhiên, các biện pháp thực hiện vẫn chưa rõ ràng và cụ thể dành cho từng đối tượng học sinh khác nhau, gây khó khăn trong việc áp dụng thực tiễn và nâng cao chất lượng giảng dạy ngữ âm.
Luận án “Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học nông thôn miền núi phía Bắc” của tác giả Ngô Giang Nam đã tập trung nghiên cứu về việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học ở khu vực nông thôn miền núi phía Bắc Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ dừng lại ở mức độ giáo dục kỹ năng giao tiếp mà chưa đề cập đến việc giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh, là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp trong môi trường giáo dục Để nâng cao toàn diện kỹ năng giao tiếp cho học sinh, cần tích hợp cả giáo dục kỹ năng lẫn giáo dục văn hóa giao tiếp, đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện của học sinh tiểu học nông thôn miền núi phía Bắc.
Trong cuốn “Vui học tiếng Việt” của tác giả Trần Mạnh Hưởng, tác giả đã biên soạn các trò chơi, bài tập nhẹ nhàng về tiếng Việt phù hợp với yêu cầu hình thức và kỹ năng sử dụng tiếng Việt ở bậc tiểu học Những hoạt động này giúp học sinh có thể tự học hiệu quả đồng thời vui chơi cùng bạn bè, nâng cao khả năng nhận thức và kỹ năng tiếng Việt một cách thú vị.
Trong cuốn “Nâng cao kỹ năng giao tiếp cho trẻ” của tác giả Linda Maget, các kỹ năng giao tiếp xã hội cho trẻ được giới thiệu nhằm giúp trẻ giải quyết các vấn đề về giao tiếp với bạn bè một cách hiệu quả Đồng thời, tác phẩm “Dạy trẻ học nói như thế nào” của tác giả Kak-Hai-Nodich người Đức nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ ở trẻ, đồng thời đề cập đến quá trình phát triển ngôn ngữ theo từng giai đoạn khác nhau.
Trong bài “Rèn luyện kĩ năng nói viết cho học sinh tiểu học qua phân môn
Trong bài viết, tác giả Hoàng Hòa Bình và Phan Phương Dung đã phân tích những tồn tại trong chương trình Tập làm văn, đồng thời đề xuất các giải pháp và phương pháp giảng dạy phù hợp với Chương trình Tiếng Việt mới nhằm giúp học sinh sử dụng tiếng mẹ đẻ hiệu quả trong giao tiếp Các nội dung về phương pháp dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc cũng đã được đề cập trong tài liệu bồi dưỡng giáo viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo mang tên “Phương pháp dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc”, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và phát triển kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh dân tộc.
Trong bài viết "Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn kỹ năng nói cho học sinh ở môn Tiếng Việt," tác giả Trần Thị Hiền Lương đề xuất các biện pháp và cách thực hiện nhằm nâng cao kỹ năng nói cho học sinh tiểu học trong môn Tiếng Việt Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các phương pháp phù hợp để phát triển khả năng giao tiếp của học sinh một cách hiệu quả Các biện pháp này bao gồm việc tổ chức các hoạt động thực hành nói phong phú, khuyến khích học sinh tham gia thảo luận và sử dụng các công cụ hỗ trợ giảng dạy để nâng cao kỹ năng trình bày Áp dụng những giải pháp này giúp học sinh tiểu học tự tin hơn trong việc sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp hàng ngày.
Trong luận văn Thạc sĩ khoa học Giáo dục tại Trường ĐHSP Hà Nội, tác giả Nguyễn Hồng Thúy trình bày hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng hội thoại cho học sinh lớp 4 Các bài tập này được xây dựng đa dạng và sinh động, góp phần nâng cao khả năng giao tiếp của học sinh tiểu học Tuy nhiên, nội dung chỉ giới hạn phù hợp cho học sinh khối lớp 4, chưa mở rộng đối tượng học sinh các cấp khác.
Trong giáo trình “Phương pháp dạy học cho học sinh dân tộc bậc tiểu học” thuộc Dự án phát triển giáo viên tiểu học, các hoạt động được thiết kế nhằm kích thích hoạt động học tập tích cực của học sinh, thúc đẩy sự sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề Tài liệu tập trung vào việc giúp học sinh tự giám sát và đánh giá kết quả học tập của mình, đồng thời sử dụng đa dạng phương tiện truyền đạt như tài liệu in, băng hình, băng tiếng để hỗ trợ quá trình học tập trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận và thú vị hơn.
Sáng kiến kinh nghiệm “Biện pháp dạy - học môn Tập đọc cho học sinh dân tộc thiểu số” [40] của giáo viên Nguyễn Thị Bích Vân - trường tiểu học Ba
Ngạc đã nghiên cứu kỹ chương trình và xác định rõ các mục tiêu cần đạt được trong môn học để xây dựng hướng dạy học phù hợp Điều này giúp đảm bảo phương pháp giảng dạy hiệu quả hơn trong phân môn Tập đọc Chính nhờ đó, quá trình giảng dạy sẽ phù hợp với yêu cầu của chương trình và nâng cao hiệu quả học tập của học sinh.
Nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các vấn đề khác nhau của việc dạy học Tiếng Việt và kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học, nhưng còn thiếu các công trình nghiên cứu về dạy kĩ năng nghe - nói cho học sinh dân tộc miền núi phía Bắc Do đó, chúng tôi chọn đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập phát triển kỹ năng nói cho học sinh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc lớp 1, 2, 3 qua môn Tiếng Việt” nhằm giúp các em có hệ thống bài tập và trò chơi phù hợp để rèn luyện và nâng cao kỹ năng nói trong quá trình học tập. -**Sponsor**Bạn là một người sáng tạo nội dung và đang tìm cách cải thiện bài viết của mình? [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/vzVwJlXZ) có thể giúp bạn tạo ra các câu quan trọng, chứa đựng ý nghĩa của một đoạn văn mạch lạc, đồng thời tuân thủ các quy tắc SEO Công cụ này đặc biệt hữu ích nếu bạn đang nghiên cứu về các vấn đề khác nhau trong việc dạy và học Tiếng Việt cho học sinh tiểu học, đặc biệt là kỹ năng nghe - nói cho học sinh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, và muốn hệ thống hóa bài tập, trò chơi để rèn luyện và nâng cao kỹ năng nói cho các em Với Article Generation, bạn có thể dễ dàng tạo ra nội dung chất lượng cao, tối ưu hóa SEO, giúp tăng sự hiện diện trực tuyến mà không tốn nhiều thời gian và chi phí.
M ục đích nghiên c ứ u
Rèn luyện năng lực nói cho học sinh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả giảng dạy Tiếng Việt Việc tập trung vào phát triển kỹ năng giao tiếp giúp học sinh lớp 1, 2, 3 tự tin hơn trong học tập và đời sống hàng ngày Đồng thời, nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt ở các vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của học sinh và thúc đẩy bình đẳng giáo dục Các hoạt động bồi dưỡng kỹ năng nói phù hợp với đặc điểm văn hóa, ngôn ngữ của học sinh dân tộc thiểu số giúp khơi dậy đam mê học tiếng Việt và nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên.
Đối tượ ng nghiên c ứ u
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc lớp 1, 2, 3.
Nhi ệ m v ụ nghiên c ứ u
- Xác định cơ sở lí luận rèn luyện năng lực nói cho học sinh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc lớp 1, 2, 3
- Khảo sát thực trạng rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc lớp 1, 2, 3
- Xây dựng hệ thống bài tập phát triển kĩ năng nói cho học sinh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc lớp 1, 2, 3
- Thực nghiệm sư phạm đề xuất hệ thống bài tập rèn kĩ năng nói cho học sinh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc lớp 1, 2, 3.
Phương pháp nghiên cứ u
7.1 Phương pháp nghiên cứ u lý lu ậ n
Chúng tôi đã tiến hành thu thập, phân tích và tổng hợp các tài liệu nghiên cứu về phương pháp dạy học và rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh tiểu học DTTS miền núi phía Bắc Nghiên cứu tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành kỹ năng nói, nhằm xây dựng cơ sở lý luận vững chắc cho đề tài Việc phát triển kỹ năng nói cho học sinh là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao trình độ giao tiếp và phát triển toàn diện của các em Các yếu tố như yếu tố môi trường học tập, phương pháp giảng dạy, đặc điểm tâm sinh lý học sinh miền núi đều được xem xét kỹ lưỡng trong nghiên cứu này.
7 2 Các phương pháp nghiên cứ u th ự c ti ễ n
Chúng tôi sử dụng chủ yếu những phương pháp sau để nghiên cứu đề tài:
Phương pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn được sử dụng xuyên suốt quá trình thực hiện đề tài để tổng hợp các số liệu và tri thức từ hoạt động phân tích tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến nội dung nghiên cứu Các bước nghiên cứu này giúp tác giả đưa ra các luận điểm, nhận xét và đề xuất về đề tài, đặc biệt trong các chương đề cập đến thực trạng và quan điểm, nhằm định hướng phương pháp luyện nói cho học sinh DTTS miền núi phía Bắc lớp 1, 2, 3.
Phương pháp điều tra của bài viết tập trung vào việc sử dụng hệ thống câu hỏi khảo sát đối tượng là giáo viên và học sinh nhằm đánh giá thực trạng kỹ năng dạy học kỹ năng nói của giáo viên Nghiên cứu được thực hiện tại các tỉnh như Thái Nguyên và Cao Bằng để thu thập dữ liệu chính xác, từ đó đưa ra những nhận xét khách quan về phương pháp giảng dạy và mức độ phát triển kỹ năng nói của học sinh ở những khu vực này.
Chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn để tìm hiểu thực trạng dạy học và rèn luyện kỹ năng nói của giáo viên các trường tiểu học tại tỉnh Phương pháp này giúp thu thập dữ liệu chính xác về các phương pháp giảng dạy, thách thức và cơ hội để nâng cao kỹ năng nói cho học sinh Qua các cuộc phỏng vấn, chúng tôi đánh giá hiệu quả của các phương pháp giảng dạy hiện tại và đề xuất giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng dạy học kỹ năng nói ở các trường tiểu học trong tỉnh.
Quảng Ninh, Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn …
- Phương pháp chuyên gia: Xin tư vấn thêm từ các chuyên gia có kinh nghiệm về dạy học kĩ năng cho học sinh miền núi phía Bắc
- Phương pháp thực nghiệm dạy học: Dược sử dụng để bước đầu kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
C ấ u trúc c ủ a lu ận văn
Ngoài phần Mởđầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục; Nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành 3 chương Cụ thể chư sau:
- Chương 1: Chúng tôi trình bày lý thuyết giao tiếp, trẻ em và quá trình hình thành tiếng nói, đặc điểm của HS tiểu học DTTS lớp 1, 2, 3 và môn Tiếng
Việt ở tiểu học, thực trạng rèn kĩ năng nói ởtrường tiểu học
- Chương 2: Chúng tôi đề xuất nguyên tắc xây dựng bài tập và hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nói cho HS DTTS lớp 1, 2, 3
- Chương 3: Chúng tôi thực nghiệm để kiểm nghiệm tính khả thi của những đề xuất trong đề tài.
CƠ SỞ LÝ LU ẬN VÀ CƠ SỞ TH Ự C TI Ễ N
Cơ sở lí lu ậ n
1.1.1 Lý thuy ế t giao ti ế p và vi ệ c v ậ n d ụ ng phát tri ển kĩ năng nói cho họ c sinh dân t ộ c thi ể u s ố l ớ p 1, 2, 3
Giao tiếp là một vấn đề phức tạp, được nghiên cứu rộng rãi với nhiều quan điểm khác nhau từ các nhà tâm lý học trong và ngoài nước Theo các chuyên gia, giao tiếp không chỉ đơn thuần là truyền đạt thông tin mà còn liên quan đến các yếu tố tâm lý, cảm xúc và tương tác xã hội Nhiều học giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ các yếu tố tâm lý để nâng cao kỹ năng giao tiếp hiệu quả Các nghiên cứu cho thấy, giao tiếp tốt giúp xây dựng mối quan hệ bền vững và thúc đẩy sự hợp tác trong các môi trường khác nhau Vì vậy, việc nghiên cứu và phát triển các phương pháp giao tiếp phù hợp là cần thiết để cải thiện khả năng truyền đạt và hiểu biết lẫn nhau trong cuộc sống hàng ngày.
Theo nhà tâm lý học xã hội Mỹ C.E.Osgood, giao tiếp là quá trình gồm các hành động riêng lẻ nhằm chuyển giao và tiếp nhận thông tin Ông nhấn mạnh rằng giao tiếp không chỉ đơn thuần là truyền đạt thông tin mà còn gồm hai mặt quan trọng: liên lạc và tác động lẫn nhau, tạo thành một quá trình ảnh hưởng qua lại liên tục.
Các nhà Tâm lý học Liên Xô (cũ) cũng quan tâm nghiên cứu vấn đề giao tiếp trên nhiều khía cạnh Ở đây, có thểđiểm qua một sốquan điểm:
Giao tiếp thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người hoặc giữa các nhân cách trong các mối quan hệ liên nhân cách Nhà tâm lý học B.Ph Lomov xác định rằng: "Giao tiếp là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với tư cách chủ thể." Trong khi đó, nhà tâm lý học B.D Đarưghin nhấn mạnh rằng: "Giao tiếp là quá trình tác động lẫn nhau, trao đổi thông tin ảnh hưởng cùng nhau, giúp hiểu biết và nhận thức lẫn nhau."
Theo nhà tâm lý học V.N Miaxixev, giao tiếp là quá trình tác động qua lại giữa các nhân cách cụ thể, phản ánh mối liên hệ giữa các cá nhân Nhà tâm lý học Ia.L Kolôminxki nhấn mạnh rằng giao tiếp là sự tác động có đối tượng và truyền tải thông tin giữa con người với con người, qua đó các mối quan hệ nhân cách được thể hiện, thực hiện và hình thành.
Giao tiếp, theo góc độ tiếp cận nhận thức, được coi là quá trình truyền tải tư duy và cảm xúc giữa các cá nhân Nhà nghiên cứu L.X.Vưgotxki định nghĩa rằng giao tiếp là quá trình chuyển giao tư duy và cảm xúc, giúp thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau Trong khi đó, K.K.Platonôv nhấn mạnh rằng giao tiếp là những mối liên hệ có ý thức của con người trong cộng đồng loài người, góp phần xây dựng mối quan hệ xã hội bền vững Việc hiểu rõ các khía cạnh này giúp nâng cao hiệu quả giao tiếp trong đời sống hàng ngày và môi trường làm việc.
Giao tiếp được xem là một dạng hoạt động có mục đích, trong đó quá trình tương tác giữa con người đóng vai trò trung tâm, nhằm thiết lập quan hệ xã hội, phát triển nhân cách và thể hiện các quan hệ tâm lý Nhà nghiên cứu A.N Lêônchiev nhấn mạnh rằng, giao tiếp sử dụng các phương tiện đặc thù, chủ yếu là ngôn ngữ, để đảm bảo hiệu quả trong hoạt động tập thể Tại Việt Nam, việc nghiên cứu về giao tiếp bắt đầu được chú trọng từ cuối những năm gần đây, phản ánh sự quan tâm ngày càng lớn đối với vai trò của giao tiếp trong phát triển xã hội.
1970 đến những năm 1980 và cũng có những khái niệm giao tiếp được xác lập
- Tác giả Phạm Minh Hạc đã định nghĩa: “ Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ xã hội giữa người ta với nhau” [40, tr.166]
Theo tác giả Nguyễn Sinh Huy, Trần Trọng Thủy, giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối quan hệ xã hội giữa con người với con người hoặc giữa con người với các yếu tố khác, nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định Giao tiếp đóng vai trò cốt lõi trong quá trình xây dựng và duy trì các mối quan hệ xã hội, giúp con người thể hiện và đáp ứng nhu cầu cá nhân cũng như tập thể Hiểu rõ về khái niệm giao tiếp sẽ giúp nâng cao khả năng giao tiếp hiệu quả trong các mối quan hệ xã hội hoặc công việc.
Nguyễn Ngọc Bích định nghĩa về giao tiếp là sự tiếp xúc giữa hai hay nhiều người thông qua phương tiện ngôn ngữ nhằm trao đổi thông tin, chia sẻ cảm xúc và hiểu biết Giao tiếp còn giúp thúc đẩy sự tác động lẫn nhau và điều chỉnh hành vi dựa trên phản hồi của các bên tham gia Đây chính là yếu tố cốt lõi để xây dựng mối quan hệ hiệu quả trong cuộc sống và công việc.
Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện nhấn mạnh rằng giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin giữa con người thông qua ngôn ngữ nói, viết và cử chỉ Theo ông, ngày nay, giao tiếp còn được hiểu là việc truyền tải thông điệp qua một bộ giải mã, nơi người phát tin mã hóa các tín hiệu và người tiếp nhận giải mã để hiểu đúng ý nghĩa được truyền tải Điều này cho thấy tầm quan trọng của khả năng truyền đạt và hiểu đúng trong quá trình giao tiếp liên nhân.
Nguyễn Ngọc Bích định nghĩa giao tiếp là sự tiếp xúc giữa hai hoặc nhiều người qua phương tiện ngôn ngữ nhằm trao đổi thông tin, tình cảm và hiểu biết Giao tiếp giúp các cá nhân tác động, phản hồi và điều chỉnh mối quan hệ với nhau một cách hiệu quả Đây là yếu tố then chốt trong việc xây dựng và duy trì các mối quan hệ xã hội, nâng cao hiệu quả truyền đạt thông tin trong cuộc sống hàng ngày.
Theo tác giả Trần Trọng Thủy, giao tiếp của con người là một quá trình có thể mang tính chủ đích hoặc không có chủ đích, có ý thức hoặc vô ý thức, trong đó cảm xúc và tư tưởng được thể hiện thông qua các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ.
Giao tiếp là quá trình tiếp xúc tâm lý đa chiều và đồng chủ thể giữa con người với nhau, chịu ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa, xã hội và đặc trưng tâm lý cá nhân Nó đóng vai trò quan trọng trong việc thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần, trao đổi thông tin và cảm xúc, cũng như hướng dẫn và điều chỉnh nhận thức, hành vi của mỗi người Thông qua giao tiếp, chúng ta có thể nhận thức lẫn nhau, xây dựng mối quan hệ và tác động lẫn nhau một cách hiệu quả.
Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất với khái niệm giao tiếp của tác giả Nguyễn Quang Uẩn, coi đó là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, nơi con người trao đổi thông tin, cảm xúc và tri giác lẫn nhau Giao tiếp cũng chính là quá trình ảnh hưởng và tác động qua lại giữa các cá nhân, qua đó xác lập và vận hành các quan hệ người - người, góp phần hiện thực hóa các mối quan hệ xã hội giữa các chủ thể. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách tối ưu hóa bài viết của mình để chuẩn SEO hơn? [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/JG2FeQaB) có thể giúp bạn tạo ra những đoạn văn mạch lạc, chuẩn SEO với các câu quan trọng nhất, tiết kiệm thời gian và chi phí so với việc thuê người viết Với Article Generation, bạn có thể tạo ra các bài viết 2,000 từ được tối ưu hóa SEO ngay lập tức và tiết kiệm hơn $2,500 mỗi tháng so với việc thuê người viết! Chúng tôi giúp bạn làm cho bài viết của bạn hấp dẫn và hiệu quả hơn, đồng thời vẫn giữ nguyên ý nghĩa cốt lõi Hãy thử ngay để thấy sự khác biệt!
Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của học sinh DTTS miền núi phía Bắc, góp phần quan trọng vào hoạt động giao tiếp hàng ngày của các em với thầy cô, gia đình và bạn bè Việc rèn luyện kỹ năng nói tiếng Việt gặp nhiều khó khăn nhưng rất có ích cho sự phát triển và trưởng thành của học sinh, giúp các em nhận thức về thế giới xung quanh thông qua trao đổi thông tin và hiểu rõ mục đích giao tiếp Cha mẹ và thầy cô có trách nhiệm giúp trẻ tự tin, rõ ràng, thuyết phục và hiệu quả trong việc nói, từ đó hình thành kỹ năng giao tiếp phù hợp với các hoàn cảnh xã hội Kỹ năng nói không chỉ hỗ trợ trong học tập mà còn góp phần vào thành công trong tương lai và phát triển nghề nghiệp của học sinh DTTS miền núi phía Bắc.
Việc dạy ngôn ngữ nói kết hợp với kỹ năng giao tiếp bằng lời giúp học sinh tích lũy kinh nghiệm về các cấu trúc cú pháp mới và nghi thức lời nói mới Điều này thúc đẩy sự phát triển trong cách thể hiện và liên kết ý tưởng một cách linh hoạt và sáng tạo Đồng thời, nói giúp học sinh hình thành thói quen xây dựng ý tưởng phức tạp và nâng cao khả năng thuyết phục người nghe hiệu quả.
Tới lượt mình, thói quen và khảnăng này lại tạo điều kiện cho viết được sâu sắc và có hiệu quả
Cơ sở th ự c ti ễ n
1.2.1 Môn Ti ế ng Vi ệ t ở trườ ng ti ể u h ọ c
1.2.1.1 Vị trí, vai trò, mục tiêu của môn Tiếng Việt ởtrường tiểu học
* Vị trí của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học:
Tiếng Việt là môn học thiết yếu ở cấp tiểu học, giúp học sinh phát triển tư duy ngôn ngữ và khả năng giao tiếp Bên cạnh môn Toán, học Tiếng Việt giúp trẻ hình thành kỹ năng truyền đạt cảm xúc và tư tưởng một cách chính xác và biểu cảm Tầm quan trọng của môn Tiếng Việt trong giai đoạn tiểu học thể hiện rõ qua hai thời kỳ quan trọng, góp phần hình thành nền tảng ngôn ngữ vững chắc cho học sinh.
Trong giai đoạn 1 dành cho học sinh lớp 1, 2, 3, nội dung môn Tiếng Việt tập trung vào việc hình thành nền tảng ban đầu cho kỹ năng đọc và viết, đồng thời định hướng phát triển kỹ năng nghe và nói dựa trên vốn tiếng Việt trẻ đã có Các bài học chủ yếu mang tính thực hành, giúp trẻ tự nhiên tiếp thu kiến thức qua các hoạt động thực tế như học âm, viết chữ, nhận diện các đơn vị của tiếng Việt và nắm vững quy tắc sử dụng tiếng Việt trong đọc, viết, nghe, nói Việc này góp phần xây dựng nền tảng tư duy ngôn ngữ, giúp trẻ đọc thông thạo, hiểu đúng ý nghĩa văn bản ngắn, viết rõ ràng chính tả, nghe chủ động và nói rành mạch.
Trong quá trình học tập, học sinh được trang bị kiến thức cơ bản về các đơn vị ngôn ngữ và quy tắc sử dụng tiếng Việt, tạo nền tảng cho kỹ năng ngôn ngữ Các bài học không chỉ tập trung vào lý thuyết mà còn thúc đẩy nhận diện và khám phá ngữ liệu qua đọc, viết, nghe, nói, giúp các em phát triển toàn diện các kỹ năng ngôn ngữ Ở lớp 4 và lớp 5, trẻ bắt đầu khái quát hóa lý luận, tuy nhiên hoạt động phân tích và tổng hợp còn ở mức độ sơ khai, với sự ảnh hưởng mạnh mẽ của cảm xúc và xúc cảm trong tư duy Nhà trường tạo điều kiện để các em hoàn thiện kỹ năng ngữ pháp, chính tả, ngữ âm, đồng thời khuyến khích khả năng tự học, tự nhận thức thế giới quanh mình và khám phá bản thân qua các nguồn thông tin phong phú.
Tiếng Việt ở bậc tiểu học không chỉ giúp trẻ phát triển kỹ năng ngôn ngữ mà còn hình thành các kỹ năng mềm và kỹ năng sống thiết yếu Các nội dung học tập tích hợp các kỹ năng như giao tiếp, tự nhận thức, sáng tạo, ra quyết định và làm chủ bản thân, giúp trẻ nhận biết giá trị cuộc sống và xây dựng lòng tự tin, tự trọng Thông qua những kỹ năng này, trẻ biết cách đánh giá đúng bản thân và luôn nỗ lực vươn lên trong học tập và cuộc sống Tiếng Việt còn dạy trẻ cách giao tiếp phù hợp trong các mối quan hệ xã hội, đối xử tốt với gia đình, cộng đồng và sống tích cực, chủ động trong mọi hoàn cảnh.
Tiếng Việt là môn học thiết yếu trong hệ thống giáo dục của Việt Nam, đặc biệt đối với học sinh tiểu học, giai đoạn quan trọng trong việc hình thành nhân cách và tư duy Học Tiếng Việt không chỉ là “công cụ của tư duy” mà còn góp phần xây dựng nền tảng nhân cách cho trẻ nhỏ, giúp các em phát triển toàn diện về mặt trí tuệ và đạo đức.
* Mục tiêu của môn Tiếng Việt ởtrường tiểu học nhằm:
Hình thành và phát triển kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) cho học sinh nhằm phục vụ mục đích học tập và giao tiếp trong các hoạt động của lứa tuổi Việc dạy và học tiếng Việt không chỉ giúp nâng cao khả năng ngôn ngữ mà còn góp phần rèn luyện các thao tác tư duy, phát triển tư duy toàn diện cho học sinh.
Chúng tôi cung cấp cho học sinh kiến thức sơ giản về tiếng Việt, giúp hiểu biết cơ bản về xã hội, tự nhiên và con người Đồng thời, chương trình còn giới thiệu về văn hóa, văn học của Việt Nam và các quốc gia khác, nhằm mở rộng vốn hiểu biết và phát triển toàn diện cho các em.
Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt là yếu tố quan trọng để phát triển nhân cách con người Việt Nam trong xã hội chủ nghĩa Việc này góp phần nâng cao giá trị văn hóa dân tộc, bảo tồn và phát huy vẻ đẹp của Tiếng Việt qua các hoạt động giáo dục và truyền thông Khi yêu quý và trân trọng tiếng mẹ đẻ, mỗi người dân góp phần xây dựng một cộng đồng văn minh, văn hóa, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.
1.2.1.2 Chương trình và sách giáo khoa rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1, 2, 3 ởtrường tiểu học qua môn Tiếng Việt
Chương trình và sách giáo khoa giúp học sinh lớp 1, 2, 3 phát triển kỹ năng nói thông qua các phân môn như Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Tập làm văn Các hoạt động này đều nhằm nâng cao khả năng giao tiếp, diễn đạt ý rõ ràng và tự tin hơn trong quá trình học tập Việc rèn kỹ năng nói qua các phân môn này giúp các em hình thành kỹ năng ngôn ngữ nền tảng vững chắc, góp phần phát triển toàn diện năng lực giao tiếp Chương trình được thiết kế phù hợp với độ tuổi để khơi gợi sự yêu thích học tập và phát huy khả năng sáng tạo của học sinh lớp tiểu học.
Nội dung rèn luyện kĩ năng nói trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1,2,3 quy định trong chương trình ban hành năm 2018 như sau:
- Nói lời chào hỏi, chia tay trong gia đình, trường học
- Trả lời câu hỏi; đặt câu hỏi đơn giản (theo mẫu)
Trong các tình huống giao tiếp hàng ngày tại trường học, gia đình và nơi công cộng, việc sử dụng các câu chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, mời, nhờ, đề nghị/kêu gọi giúp đỡ, và tự giới thiệu rất quan trọng để duy trì mối quan hệ tốt đẹp Các câu đáp lời cảm ơn, xin lỗi, lời mời cũng thể hiện sự lịch sự, văn minh trong giao tiếp, giúp xây dựng môi trường thân thiện và trang trọng hơn Việc biết cách sử dụng các cụm từ phù hợp trong từng tình huống góp phần nâng cao khả năng giao tiếp hiệu quả và thể hiện sự tôn trọng đối phương.
- Dùng lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp chính thức trong sinh hoạt lớp, sinh hoạt Đội
- Nói, kể theo chủđiểm tuần
- Kể lại những câu chuyện được nghe kể trên lớp (kết hợp nhìn tranh minh họa và đọc lời gợi ý dưới tranh)
- Nói về mình và người thân bằng một vài câu
- Nói lời giới thiệu đơn giản về bản thân, gia đình, bạn bè, trường lớp theo gợi ý
- Giới thiệu về quê hương, đất nước
Trong cuộc họp, các thành viên đều phát biểu ý kiến một cách rõ ràng và có trọng tâm, đồng thời giới thiệu hoạt động của tổ, lớp, chi đội một cách sinh động và hấp dẫn Bên cạnh đó, các báo cáo miệng ngắn đã được chuẩn bị kỹ lưỡng theo mẫu, giúp trình bày các hoạt động của từng đơn vị một cách súc tích, thể hiện hiệu quả công tác và tinh thần đoàn kết của toàn thể đội viên, góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền và phối hợp trong hoạt động tập thể.
Học sinh được rèn luyện kỹnăng nói thông qua các chủđiểm trong phân môn
Ngay từ những bài học đầu tiên của lớp 1, học sinh đã được luyện nói theo các chủ đề gần gũi như gia đình, bạn bè, thiên nhiên, giúp phát triển kỹ năng giao tiếp và thể hiện cảm xúc một cách tự nhiên Giáo viên có thể khuyến khích học sinh đóng vai các nhân vật để thể hiện tình cảm yêu thương của ông bà, cha mẹ hoặc thể hiện lòng hiếu thảo qua các bài kể chuyện, giúp học sinh hiểu rõ ý nghĩa của những tình cảm đó Phương pháp này phù hợp với tâm lý của học sinh lớp 1, tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy học theo nguyên tắc giao tiếp, giúp các em phát triển toàn diện về ngôn ngữ và cảm xúc.
Hệ thống bài tập (HTBT) được xây dựng theo trình tự từ đơn giản đến phức tạp giúp học sinh nâng cao kỹ năng ngôn ngữ Trong phần luyện âm vần, học sinh chỉ cần nói một câu hoặc nhiều câu liên quan đến âm vần mới học, đảm bảo sự ghi nhớ âm chính xác Trong phần luyện tập tổng hợp, yêu cầu cao hơn với việc phát triển kỹ năng giao tiếp như nói trong hội thoại, nói độc thoại và liên kết các câu để tạo thành ý rõ ràng, mạch lạc Hệ thống này giúp học sinh nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt linh hoạt và tự nhiên hơn.
Các bài tập được thể hiện qua nhiều hình thức đa dạng như sử dụng nghi thức lời nói, đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi, kể chuyện, cùng với các hình thức nhận xét và đánh giá Những hình thức này giúp nâng cao khả năng giao tiếp và phản xạ ngôn ngữ của người học Việc kết hợp các phương pháp này không chỉ làm phong phú bài tập mà còn thúc đẩy sự hiểu biết và sử dụng linh hoạt tiếng Việt trong các tình huống khác nhau Đây là cách hiệu quả để phát triển kỹ năng ngôn ngữ một cách toàn diện và bền vững.
Thông qua việc khảo sát sách giáo khoa chúng tôi tổng hợp được các bài tập rèn kỹnăng luyện nói cho học sinh lớp 1 như sau:
- Nói lời chào hỏi, chia tay trong gia đình, trường học
Ví dụ: Tập nói lời chào [16.47]
- của bé với mẹtrước khi bé vào lớp,
- của bé với cô giáo trước khi bé ra về
- Trả lời câu hỏi; đặt câu hỏi đơn giản (theo mẫu)
- Trả lời câu hỏi; đặt câu hỏi đơn giản (theo mẫu)
Ví dụ: Hỏi nhau về nghề nghiệp của bố [16.86]
- Bố bạn làm nghề gì?
- Kể lại những câu chuyện được nghe kể trên lớp (kết hợp nhìn tranh minh họa và đọc lời gợi ý dưới tranh)
Ví dụ: Nghe kể lại câu chuyện Rùa và Thỏ [16.54]
- Nói vềmình và người thân bằng một vài câu
Ví dụ: Kể về anh chị của em [16.140]
Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 và 3 có khung chương trình tương đối giống nhau, gồm 15 đơn vị học tập Mỗi đơn vị được gắn với một chủ đề cụ thể, giúp học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức một cách hệ thống Thông thường, mỗi chủ điểm được giảng dạy trong vòng 2 tuần, riêng chủ điểm Nhân dân học lớp 2 được học trong 3 tuần để tăng cường hiểu biết Các sách thiết kế phù hợp với lộ trình phát triển năng lực của học sinh, đảm bảo sự tiến bộ qua từng cấp lớp.
Nguyên t ắ c xây d ự ng
Dạy học Tiếng Việt trong nhà trường nhằm hình thành cho học sinh những kỹ năng, kỹ xảo về ngôn ngữ, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển toàn diện nhân cách của các em Việc xây dựng bài tập rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, 2, 3 cần đảm bảo các mẫu câu đúng đắn của ngôn ngữ văn hoá, giáo dục các em về văn hoá giao tiếp để hình thành kỹ năng truyền đạt tư tưởng, hiểu biết, tình cảm một cách chính xác và biểu cảm Điều này giúp các em biết cách thể hiện thái độ, quan điểm trong giao tiếp với người khác như kỹ năng chào hỏi, nói lời cảm ơn, xin lỗi và biết cách lễ phép với người lớn Đồng thời, việc rèn luyện các kỹ năng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với người thân, bạn bè giúp các em phát triển kỹ năng xã hội, tạo nền tảng cho sự trưởng thành toàn diện trong các mối quan hệ xã hội.
Dạy học Tiếng Việt trong nhà trường nhằm phát triển các thao tác tư duy và kỹ năng tự nhận thức của học sinh về bản thân và người khác, như nhận biết điểm mạnh yếu trong khả năng đọc viết và chính tả Bên cạnh đó, học sinh còn học cách từ chối những yêu cầu hoặc đề nghị không hợp lý, biết xử lý tình huống trong giao tiếp hàng ngày để xây dựng kỹ năng mềm quan trọng Việc này giúp hình thành cho học sinh khả năng giao tiếp tự tin, phản ứng linh hoạt và nâng cao khả năng chủ động trong mọi tình huống xã hội.
Mục tiêu cốt lõi của việc dạy tiếng mẹ đẻ trong nhà trường là phát triển kỹ năng hoạt động lời nói của học sinh Để đạt được điều này, cần lựa chọn tài liệu lý thuyết phù hợp, giúp các em nắm vững các kỹ năng chính như âm, chính tả và ngữ pháp Việc trang bị kiến thức nền tảng vững chắc là yếu tố quan trọng để hình thành kỹ năng nói một cách tự nhiên và hiệu quả.
2.1.2 Đả m b ả o g ắ n li ề n v ớ i vùng mi ề n c ủ a h ọ c sinh
Việc xây dựng bài tập rèn kỹ năng nói cho HS DTTS nói riêng và HS lớp 1,
2, 3 nói chung là một thách thức lớn của các nhà giáo dục Do đặc thù vùng miền,
Học sinh tiểu học khu vực miền núi thường gặp khó khăn trong giao tiếp so với học sinh thành phố và đồng bằng do đặc thù văn hóa người dân tộc, khiến nhiều em thiếu tự tin, nhút nhát Quá trình giao tiếp của các em mang tính xúc cảm cao, đòi hỏi giáo viên cần thể hiện sự gần gũi, thân thiện để giúp học sinh tự tin hơn trong kỹ năng giao tiếp Việc xây dựng môi trường giáo dục thân thiện, cởi mở sẽ góp phần nâng cao khả năng giao tiếp của học sinh miền núi.
Sự khác biệt vùng miền cùng với đặc điểm văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo, tâm lý và phong tục tập quán của học sinh DTTS vùng núi phía Bắc tạo ra những nét đặc trưng riêng biệt Vì vậy, việc xây dựng hệ thống bài giảng phù hợp với vùng miền, gắn liền với phong tục tập quán, như kể món ăn dân tộc hay đêm giao thừa của dân tộc mình, giúp học sinh rèn luyện kỹ năng nói tiếng Việt tốt đồng thời gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống.
Nguyên tắc khoa học trong xây dựng bài tập yêu cầu đảm bảo tính chính xác và phát triển nội dung từ cơ bản đến nâng cao, giúp học sinh DTTS miền núi phía Bắc tiếp cận các phương pháp học tập hiện đại Điều này hình thành cho học sinh nhận thức, thói quen, suy nghĩ và làm việc một cách có khoa học, từ đó xây dựng nền tảng thế giới quan khoa học, tình cảm và phẩm chất của thế hệ trẻ hiện đại Nguyên tắc này cần phối hợp chặt chẽ với nguyên tắc vừa sức, phù hợp với khả năng của học sinh tiểu học DTTS miền núi phía Bắc Cấu trúc chương trình phải phản ánh lôgic phát triển của khoa học Tiếng Việt và hệ thống kiến thức môn học, lựa chọn và sắp xếp tài liệu phù hợp với sự phát triển tâm lý và nhận thức của học sinh, đặc biệt là lớp 1, 2, 3.
Nguyên tắc khoa học về tính hệ thống đảm bảo sự kế thừa và phát triển tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách liên tục và có hệ thống Nó xác định rõ các mối quan hệ khác nhau giữa các yếu tố mới và tri thức cũ, xem chúng như là các thành phần của một hệ thống hoàn chỉnh và thống nhất Việc duy trì tính hệ thống giúp đảm bảo sự phát triển bền vững của nền tảng tri thức và kỹ năng trong quá trình dzưới thiệu và ứng dụng những kiến thức mới.
2.1.4 Đả m b ả o nguyên t ắc sư phạ m Đểđảm bảo nguyên tắc sư phạm cần: tổ chức dạy học trên lớp theo hướng lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục rèn luyện kỹnăng nói trong chương trình dạy học Giáo viên có thể lựa chọn hình thức kết hợp GD trong giảng dạy thông qua các môn học chiếm ưu thế và liên quan trong giáo dục kỹnăng nói như môn: Đạo đức, Tiếng Việt, Tự nhiên và xã hội, để giáo viên có thể tiến hành phát triển kỹnăng nói cho học sinh Giáo viên cần thiết kế chu đáo các bài tập tình huống về giao tiếp để lồng ghép, rèn luyện kỹnăng giao tiếp cho người học Thông qua việc giáo dục tích hợp, HS sẽ hứng thú, thoải mái, nhẹ nhàng, tự nhiên trong việc tiếp thu những kỹnăng giao tiếp được tích hợp Việc tích hợp giáo dục này sẽ làm tăng chất lượng giảng dạy của môn học và đặc biệt hoạt động giáo dục, sẽ có hiệu quả cao bởi khả năng chỉ được hình thành thông qua hoạt động và bằng hoạt động, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục và hình thành, phát triển nhân cách học sinh một cách toàn diện
Tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tích hợp nhằm rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh tiểu học, giúp phát triển khả năng ngôn ngữ hiệu quả Các hoạt động sinh hoạt tập thể đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng giao tiếp và xây dựng kỹ năng xã hội cho học sinh Đồng thời, các hoạt động xã hội, huy động nhiều nguồn lực từ cộng đồng và phụ huynh, góp phần thúc đẩy mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh tiểu học.
Nguyên tắc sư phạm nhấn mạnh rằng bài tập rèn kỹ năng nói phải phù hợp với mục tiêu giáo dục chung, nhằm hình thành phẩm chất tốt đẹp của người lao động mới Chương trình Tiếng Việt và nội dung văn bản lựa chọn cần hướng tới việc giáo dục và hình thành nhân cách cho học sinh Đồng thời, nguyên tắc sư phạm về tính vừa sức của chương trình yêu cầu phù hợp với tâm lý nhận thức của học sinh tiểu học, đặc biệt là các lớp 1, 2, 3, để đảm bảo sự phát triển tự nhiên và hiệu quả của quá trình học tập.
Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn trong quá trình giáo dục đòi hỏi giáo viên phải giúp học sinh hiểu và nắm vững kỹ năng có tính hệ thống, vận dụng vào thực tiễn để ích cho bản thân và phát triển thói quen tốt Mọi lý thuyết cần đi đôi với thực hành để tránh xa rời cuộc sống, không đạt mục tiêu giáo dục Các mục tiêu giáo dục phải gắn liền với thực tiễn để đảm bảo tính thực tiễn, từ đó nâng cao khả năng nói và xây dựng các giá trị sống cho học sinh, góp phần hình thành nhân cách và ứng xử văn minh Quá trình giáo dục kỹ năng nói cho học sinh tiểu học và các em vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc là cần thiết, bắt đầu từ cấp mầm non, nhằm phát triển kỹ năng giao tiếp, nhận biết giá trị và hình thành thái độ sống tích cực.
Khi xây dựng hệ thống bài tập rèn kỹ năng nói, cần lựa chọn và tích hợp các môn học phù hợp với mục tiêu giáo dục và rèn luyện kỹ năng giao tiếp của học sinh, chú trọng tính vùng miền và điều kiện môi trường sống của từng địa phương Sử dụng đa dạng phương pháp giúp học sinh hiểu và vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống, tránh lồng ghép lý thuyết trừu tượng mang tính hàn lâm Nguyên tắc thực tiễn đòi hỏi bài tập rèn kỹ năng nói cho học sinh tiểu học từ lớp 1 đến lớp 3 phải tính toán kỹ các điều kiện dạy học cụ thể của từng địa phương, đặc biệt khu vực có học sinh dân tộc thiểu số trên toàn quốc Chương trình cần xác định rõ chuẩn tối thiểu của môn học đồng thời duy trì sự linh hoạt để phù hợp với đặc thù các vùng miền khác nhau, đảm bảo khả năng thực thi hiệu quả.