1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

một số vấn đề pháp lý trong cho thuê tài chính

67 419 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề pháp lý trong hợp đồng cho thuê tài chính
Trường học Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật kinh tế
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 297,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

một số vấn đề pháp lý trong cho thuê tài chính

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

"Đẩy mạnh đổi mới công nghệ trong sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực hoạt động khác, thu hẹp khoảng cách về trình độ công nghệ so với các nước tiên tiến trong khu vực Đi thẳng vào công nghệ hiện đại đối với những ngành mũi nhọn, đồng thời lựa chọn các công nghệ thích hợp không gây ô nhiễm và khai thác được lợi thế về lao động Chú trọng nhập khẩu công nghệ mới, cải tiến từng

bộ phận tiến tới tạo ra những công nghệ đặc thù Việt Nam Hiện đại hoá công nghệ trong quản lý" Đây là những yêu cầu để thực hiện "Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu thế kỷ XXI - Chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm

2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp" mà báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá VIII tại Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra

Hiện nay, hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động cho thuê tài chính nói chung và hợp đồng cho thuê tài chính nói riêng không còn phù hợp với tình hình mới, đôi khi giữa các văn bản này còn nhiều điểm chồng chéo, mâu thuẫn Bên cạnh đó, hoạt động cho thuê tài chính nói chung và hoạt động cho thuê tài chính nói riêng là những vấn đề chưa được quan tâm nghiên cứu và xem xét một cách toàn diện Do đó, việc nghiên cứu để từng bước hoàn thiện lĩnh vực này là việc làm quan trọng và cần thiết

Xuất phát từ nhận thức trên, em mạnh dạn chọn đề tài:" Một số vấn đề pháp lý trong hợp đồng cho thuê tài chính" làm đề tài khoá luận tốt nghiệp

của mình

2 Mục đích nghiên cứu.

Trên cơ sở nghiên cứu quy định pháp luật về hợp đồng cho thuê tài chính, cũng như thực trạng hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam trong thời gian qua, khoá luận sẽ rút ra những kết luận và kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện

Trang 2

pháp luật về cho thuê tài chính nói chung và hợp đồng cho thuê tài chính nói chung.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Khoá luận chỉ tập trung làm rõ (trên cơ sở so sánh các văn bản pháp luật) một số khía cạnh pháp lý liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính nói chung

và hợp đồng cho thuê tài chính nói riêng, đồng thời nêu ra thực trạng về tình hình cho thuê tài chính ở Việt Nam hiện nay, từ đó rút ra các đề xuất, kiến nghị

4 Phương pháp nghiên cứu.

Khoá luận được hoàn thành dựa trên các nguyên tắc, phương pháp luận của triết học mác - Lênin, lý luận Nhà nước và Pháp luật trong nghiên cứu Trong

đó, Khoá luận chủ yếu vận dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để giải quyết các vấn đề đặt ra

5 Kết cấu khoá luận.

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, Khoá luận được cấu trúc bao gồm ba chương, như sau:

Chương I: Khái quát về hoạt động cho thuê tài chính

Chương II: Hợp đồng cho thuê tài chính

Chương III: Thuê tài chính ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý

Do hạn chế về khuôn khổ khoá luận, thời lượng, nguồn tài liệu cũng như khả năng nhận thức của bản thân, chắc chắn khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn

Trang 3

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH

I.1 Khái niệm và đặc điểm cho thuê tài chính

I.1.1 Khái niệm

Hoạt động cho thuê tài sản (Lease) đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử (cách đây khoảng 4.000 năm) và được sử dụng phổ biến để đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt Trong một giao dịch cho thuê, bên cho thuê chuyển quyền sử dụng tài sản cho bên thuê trong một thời gian nhất định còn bên thuê phải trả tiền thuê Ngời ta gọi phương thức cho thuê này là cho thuê truyền thống Trong suốt thời hạn hợp đồng, quyền sở hữu tài sản không chuyển cho bên thuê nhưng bên thuê phải chịu trách nhiệm giữ gìn tài sản đó như của chính mình

Hình thức cho thuê tài chính xuất hiện trước tiên ở Hoa Kỳ vào năm 1952

do Công ty tư nhân United Stales Corporation sáng tạo ra nhằm đáp ứng những nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp Năm 1960, lần đầu tiên một hợp đồng cho thuê tài chính được ký tại Anh với giá 18.000 Bảng Cũng năm này, phương thức cho thuê tài chính đã được ghi vào Luật Thương mại của Pháp dưới tên gọi "Credit Bail"

Giao dịch cho thuê tài chính hình thành giữa ba bên: Bên cho thuê, bên thuê và nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị) Bên cho thuê trở thành chủ sở hữu tài sản và bên thuê thuê lại theo thời hạn thoả thuận Cho thuê tài chính được sử dụng như một phương thức tài trợ vốn trung, đài hạn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ

Hoạt động cho thuê tài chính có thể được nhìn nhận trên hai phương diện kinh tế và pháp lý, cụ thể là:

- Dưới góc độ kinh tế, cho thuê tài chính là hình thức thuê có tính chất "tiền tệ" Hình thức này được định nghĩa là nghiệp vụ cho thuê mà Công ty cho thuê lấy việc thu tiền cho thuê làm điều kiện, như bỏ tiền ra để mua các thiết bị mà xí nghiệp, Công ty cần Là một loại vốn tiền tệ, trong thời gian vừa và dài thực hiện hình thức tiền - vật và phải hoàn trả đầy đủ2 Xét về bản chất kinh tế, cho

Trang 4

thuê tài chính là phương thức tài trợ tín dụng trung hạn hoạc dài hạn dành cho doanh nghiệp Bởi vì khoản tiền mà bên cho thuê bỏ ra để mua tài sản cho thuê chính là một khoản tín dụng mà bên cho thuê cấp cho bên thuê.

- Dưới góc đọ pháp lý, cho thuê tài chính là biểu hiện một loại quan hệ pháp lý phát sinh từ một hợp đồng cho vay

Việc ký một hợp đồng cho thuê tài chính tương tự như việc đi vay Ngay khi bắt đầu thời hạn thuê, bên thuê lập tức có một khoản tiền bởi họ không phải trả tiền cho tài sản thuê Điều này cũng có nghĩa là bên thuê đã vay được một khoản tiền đủ để mua tài sản nhưng với cam kết sẽ trả khoản vay này hàng kỳ bao gồm tiền gốc và lãi vay (tiền thuê) cho người cho vay Chính vì vậy, về mặt lưu chuyển các luồng tiền mặt, phương thức cho thuê và đi vay là giống nhau Tron cả hai trường hợp, bên thuê đều có một khoản tiền mặt lúc ban đầu và phải trả nó về sau

Sự khác biệt của phương thức cho thuê tài chính so với phương thức vay chính là lý do lý giải sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp cho thuê tài chính trên thế giới Ưu điểm của cho thuê tài chính thể hiện ở những lợi ích hơn hẳn phương thức vay mà nó dành cho cả bên thuê lẫn bên cho thuê như:

- Đối với bên cho thuê: Bên cho thuê vẫn nắm quyền sở hữu tài sản cho thuê do vậy trong trường hợp bên thuê không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng thêu (như không trả tiền thuê, cho thuê lại tài sản thuê mà không được sự đồng ý của bên cho thuê…), thì bên cho thuê có quyền thu hồi ngay tài sản cho thuê Mặt khác, tài sản thuê không thuộc sở hữu của bên thuê, do đó, bên cho thuê bớt rủi ro trong trường hợp bên thuê phá sản hoặc vỡ nợ vì tản sản thuê này không đưa vào bảng tài sản thanh lý của bên thuê

- Đối với bên thuê: Khi tham gia vào giao dịch cho thuê tài chính, bên thuê không nhất thiết phải có tài sản thế chấp hoặc bảo lãnh của người thứ ba cho việc thuê Ngoài ra, trong quá trình thuê, bên thuê không phải chịu một số rằng buộc như khi áp dụng với hợp đồng vay chẳng hạn như phải kinh doanh có lãi,

có phương án khả thi trong việc sử dụng vốn vay…

Trang 5

Hiện nay, trong một số bài nghiên cứu có sử dụng thuật ngữ "Thuê mua" Theo đó, "Thuê mua" được hiểu là hình thức thuê mà mọi rủi ro do bên thuê phải gánh chịu, bên cho thuê vẫn giữ quyền sở hữu, cuối thời hạn thuê, bên thuê đợc quyền sở hữu đối với tài sản thuê.

Ví dụ, "Thuê mua máy bay" là hình thức thuê máy bay mà bên thuê phải trả trước đến 15% giá trị máy bay, hàng kỳ trả tiền thuê máy bay (thường từ 10 - 12 năm đối với máy bay phản lực, 7 - 10 năm đối với máy bay cánh quạt), cuối thời hạn thuê bên thuê trả nốt tiền và nhận quyền sở hữu đối với máy bay

Như vậy, xét về bản chất "Thuê mua" cũng là một hình thức của cho thuê tài chính Nếu trong giao dịch cho thuê tài chính, bên thuê có thể được mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều khoản đã thoả thuận trong hợp đồng thuê và những thoả thuận này phải được các bên ghi vào hợp đồng Còn trong giao dịch "thuê mua", việc nhận quyền sở hữu đối với tài sản thuê vào cuối thời gian thuê là quyền của bên thuê

Ở Việt Nam, khái niệm cho thuê tài chính lần đầu tiên được đề cập trong Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính ban hành theo Nghị định số 64/CP ngày 9/10/1995 của Chính phủ (sau đây gọi là Nghị định 64) Trong một số văn bản pháp lý trước đây, còn có thêm thuật ngữ

"Tín dụng thuê mua" (Thí dụ, tại Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước số 149/QĐ - NH 5 ngày 27/5/1995 về việc ban hành Thể lệ Tín dụng Thuê mua (sau đây gọi là Quyết định số 149) "Tín dụng thuê mua" được định nghĩa là: :hoạt động thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác phục vụ cho sản xuất kinh doanh được các tổ chức tín dụng mua theo yêu cầu của bên thuê" Bên thuê thanh toán tiền thuê cho tổ chức tín dụng trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận và không được huỷ bỏ Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền sở hữu tài sản thuê, hoặc được mua lại tài sản thuê, hay tiếp tục thuê tài sản theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng thuê mua" Xétvề bản chất, tín dụng thuê mua cũng như cho thuê tài chính

Luật các Tổ chức Tín dụng được Quốc hội Khoá X, Kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12/12/1997 (sau đây gọi là Luật Các Tổ chức Tín dụng) đã chính thức

Trang 6

quy định về cho thuê tài chính tại Khoản 11 Điều 20 như sau: "cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng Trong thời hạn thuê, các bên không được đơn phương huỷ hợp đồng".

Nghị định 64 gần đây đã bị thay thế bởi Nghị định 16 của Chính phủ ngày 2/5/2001 quy định về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính (sau đây gọi là Nghị định 16) Tuy nhiên, trong bài Khoá luận này, người viết vẫn đề cập tới các của Nghị định 64 trên cơ sở so sánh với Nghị định 16 Điều 1 Nghị định 16 quy định:

"1 Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung, dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị và động sản theo yêu cầu của bên thuê

và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê

và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận

2 Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê tài chính Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng"

Như vậy, chúng ta đã thống nhất sử dụng thuật ngữ "cho thuê tài chính" trong các văn bản pháp luật như đã nói ở trên

Trang 7

điểm này mà bên cho thuê không chịu trách nhiệm về việc tài sản không được giao hoặc không giao đúng với các điều kiện cho bên thuê thoả thuận với bên cung ứng (Khoản 1 Điều 24 Nghị định 16).

Thứ hai: thời hạn thuê là trung hoặc dài hạn, chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản và không thể bị huỷ ngang theo ý chí của một bên Đặc điểm này nêu bật rõ những lợi ích mà cho thuê tài chính mang lại không chỉ riêng cho các chủ thể tham gia hợp đồng mà cho cả nền kinh tế

Thứ ba: Phần lớn những chi phí cho việc vận hành, bảo dưỡng, bảo hiểm tài sản được chuyển giao từ bên cho thuê sang bên thuê Theo quy định tại Khoản 5, 6 Điều 26 Nghị định 16: "Bên thuê chịu mọi rủi ro về việc mất mát, hư hỏng đối với tài sản thuê và chịu trách nhiệm về mọi hậu quả do việc sử dụng tài sản thuê gây ra đối với tổ chức và cá nhân khác trong quá trình sử dụng tài sản thuê Đồng thời, bên thuê phải có nghĩa vụ bảo dưỡng, sửa chữa tài sản thuê trong thời hạn thuê Không được tẩy xoá, làm hỏng ký hiệu sở hữu gắn trên tài sản thuê".3

Chính từ những đặc điểm nêu trên, có thể phân biệt cho thuê tài chính với phương thức thuê vận hành

Trang 8

Tiêu chí Cho thuê tài chính Thuê vận hành

Thời hạn thuê Trung và dài hạn, chiếm

phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản thuê

Thời hạn thuê ngắn

Huỷ ngang Không được phép huỷ

ngang theo ý chí của 1 bên

Được phép huỷ ngang nhưng phải thông báo trước một thời gian

Trách nhiệm bảo dưỡng,

bảo hiểm

Thuộc về bên thuê Thuộc về bên cho thuê

Chuyển quyền sở hữu Hai bên thoả thuận khi

kết thúc hợp đồng

Tài sản trở lại bên cho thuê

Trách nhiệm về rủi ro Bên thuê phải chịu kể cả

những rủi ro không phải

do lỗi của mình gây ra

Bên cho thuê phải chịu, trừ trường hợp do lỗi của bên thuê gây ra

Việc một giao dịch được phân loại là cho thuê tài chính hay không phụ thuộc vào bản chất của giao dịch chứ không phụ thuộc vào loại hợp đồng Một giao dịch được coi là cho thuê tài chính nếu nó chuyển giao gần như tất các rủi

ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu cho bên thuê Loại thuê này thường không thể huỷ bỏ và đảm bảo cho bên cho thuê việc hoàn vốn và lợi nhuận đối với số tiền đã cho vay để dùng vào việc mua tài sản Đồng thời, thông thường bên thuê sẽ nhận lại thiết bị khi hết hạn hợp đồng thuê sau khi trả một khoản tiền mang tính chất tượng trưng hay đã sử dụng thiết bị trong phần lớn thời gian hữu dụng Bởi vậy, bên thuê tuy không phải chủ sở hữu về mặt pháp lý của thiết bị trong thời hạn thuê, nhưng bên thuê thực sự chịu mọi rủi ro và hướng mọi lợi ích kinh tế của quyền sở hữu Bên cho thuê tuy là chủ sở hữu của thiết bị lại ở một

vị thế tương đương với một nhà đầu tư tài chính chứ không phải là một chủ sở hữu

1.2 Lợi ích của cho thuê tài chính.

Trang 9

Tham giao vào một giao dịch cho thuê tài chính thường bao gồm bên cho thuê, bên thuê và nhà sản xuất hay cung ứng Lợi ích của cho thuê tài chính đem lại cho các bên tham gia nói riêng và nền kinh tế nói chung là:

1.2.1 Đối với bên cho thuê:

- Cho thuê tài chính là một phương thức tài trợ hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra Vì trong suốt thời hạn thuê, quyền sở hữu tài sản luôn thuộc về bên cho thuê Do đó, nếu có những đe doạ đối với sự an toàn của tài sản thuê (chẳng hạn bên thuê lâm vào tình trạng phá sản hoặc giải thể…), bên cho thuê hoàn toàn có khả năng thu hồi tài sản thuê ngay lập tức Mặt khác, trong cho thuê tài chính, vốn tài trợ được thể hiện bằng hiện vật (tài sản thuê) nên không bị ảnh hưởng của lạm phát Bên cho thuê cũng không phải chịu những rủi ro do sự giảm giá trị của tài sản do tác động của điều kiện khách quan;

- Bên cho thuê có thể biết chắc rằng vốn mà họ cho vay được sử dụng đúng mục đích như trong hợp đồng, vì dưới hình thức này, bên cho thuê trực tiếp mua máy móc thiết bị từ nhà cung cấp (thường là sau khi người đi thuê đã lựa chọn)

và do đó người đi thuê không có cơ hội sử dụng được tài trợ vào mục đích khác Qua đó, bên có thuê đảm bảo được khả năng thu hồi nợ từ người đi thuê

- Cho thuê tài chính giúp bên cho thuê mở rộng diện khách hàng, đa dạng hoá việc sử dụng vốn, đồng thời mở rộng mối quan hệ kinh doanh đa phương

- Cho thuê tài chính giúp người cho thuê linh hoạt trong kinh doanh; Trong thời gian tài trợ, vốn của ngời cho thuê bỏ ra để mua máy móc tài sản cho thuê,

số tiền này sẽ được thu hồi dần và cho phép người cho thuê có thể sử dụng vốn

đó để tái đầu tư vào những hoạt động sản xuất kinh doanh sinh lợi nhuận và giữ vững được nhịp độ hoạt động của mình

- Hồ sơ tài trợ đơn giản nên bên cho thuê có thể quyết định tài trợ nhanh Trong giao dịch cho thuê tài chính, bên cho thuê tham gia với tư cách là nhà tài trợ, cung cấp vốn để mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê nên họ không nhất thiết phải chịu trách nhiệm về các yếu tố mang tính chất kỹ thuật, nghiệp vụ Hơn nữa, độ an toàn cho vốn đầu tư cao, nên nhìn chung thủ tục tài trợ thường đơn giản, nhanh gọn hơn so với trường hợp cho vay"

Trang 10

1.2.2 Đối với bên thuê.

- Bên thuê có thể gia tăng năng lực sản xuất trong những điều kiện hạn chế

về nguồn vốn đầu tư Trong quá trình kinh doanh, nhu cầu gia tăng công suất của doanh nghiệp có thể được đặt ra vào bất cứ lúc nào Việc đáp ứng các nhu cầu này đòi hỏi phải có nguồn vốn tích luỹ Trong khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam phổ biến là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, số doanh nghiệp có vốn đầu tư trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm khoảng 17% tổng số các doanh nghiệp Loại doanh nghiệp có quy mô tài sản cố định từ 1 tỷ - 10 tỷ đồng chiếm 58%, phần còn lại chiếm 25% có quy mô dưới 1 tỷ đồng, những doanh nghiệp này thường gặp rất nhiều khó khăn về nguồn vốn trung và dài hạn Nếu di vay theo các thể thức tín dụng thông thường lại thiếu tài sản thế chấp Thông qua cho thuê tài chính, các doanh nghiệp có thể từ tay không mà vẫn mua được máy móc, thiết bị phục vụ yêu cầu của sản xuất và sau một số năm có thể có được một số tài sản tích luỹ nhất định

Thực tế, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang có một nhu cầu rất lớn

về đầu tư, từ việc đầu tư một nhà máy mới với dây chuyền sản xuất hoàn chỉnh cho tới việc đổi mới riêng lẻ, từng phần các loại máy móc, phương tiện vận chuyển, thông tin liên lạc…có trình độ trung bình khá trở lên so với thế giới Trong một số ngành không nhất thiết phải có ngay các công nghệ hiện đại, bởi Việt Nam có lợi thế trong các ngành có lực lượng lao động cao nhờ tận dụng nguồn nhân lực dồi dào, giá lao rộng rẻ Ưu thế của tín dụng cho thuê tài chính

có thể giải quyết tốt nhu cầu này

- Những doanh nghiệp không thoả mãn các yêu cầu vay vốn của các Tổ chức tài chính cũng có thể nhận được vốn tài trợ thông qua cho thuê tài chính Các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ hay những doanh nghiệp mới thành lập, chưa có uy tín với các Tổ chức tài chính thường rất khó thoả mãn các điều kiện chống rủi ro nên thường bị các tổ chức này từ chối cho vay Trong khi đó, do đặc thù của cho thuê tài chính là bên cho thuê nắm quyền

sở hữu pháp lý đối với tài sản thuê và họ có thể trực tiếp kiểm soát theo dõi việc

sử dụng tài sản, tình hình kinh doanh của bên thuê Vì vậy, các Công ty cho thuê

Trang 11

tài chính có thể sẵn sàng thoả mãn nhu cầu đầu tư của khách hàng ngay cả khi vị thế tài chính, uy tín của họ có những hạn chế.

Hơn nữa, do chuyên biệt kinh doanh cho thuê tài chính các loại tài sản thiết

bị nên các Công ty cho thuê tài chính thường có mạng lưới hoạt động rộng rãi,

có nhiều mối quan hệ với nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị), có đội ngũ cán bộ hiểu biết về thiết bị - công nghệ cao nên họ có thể cung cấp cho các doanh nghiệp các loại thiết bị đúng yêu cầu, điều này tránh rủi ro cho các doanh nghiệp so với trường hợp doanh nghiệp tự mua lấy Đồng thời, thông qua cho thuê tài chính mà doanh nghiệp có thể thanh lý, chuyển nhượng các máy móc, công nghệ đã cũ Dĩ nhiên, điều này phải đi đôi với việc phát triển một thị trường công nghệ cũ và mới thông qua các trung gian là các Công ty cho thuê tài chính Cũng nhờ có chuyên môn cao về thiết bị, công nghệ nên các Công ty cho thuê có thể cải tiến, điều chuyển các loại tài sản cho phù hợp với nhu cầu của khách hàng ở các khu vực thị trường khác nhau

- Cho thuê tài chính có thể giúp các doanh nghiệp đi thuê không bị đọng vốn trong tài sản cố định Thông qua nghiệp vụ bán và cho thuê lại, các doanh nghiệp có thể chuyển nguồn tài sản cố định thành tài sản lưu động hay chuyển dịch vốn đầu tư cho các dự án kinh doanh khác có hiệu quả cao hơn trong khi vẫn duy trì được hoạt động đầu tư hiện hành vì tài sản vẫn được tiếp tục sử dụng Mặt khác, nếu doanh nghiệp muốn dành vốn tích luỹ cho kinh doanh mà

có nhu cầu về thiết bị và tài sản thì vẫn có thể thực hiện được thông qua mua tài sản cố định

- Cho thuê tài chính là phương thức rút ngắn thời gian triển khai đầu tư đáp ứng kịp thời các cơ hội kinh doanh So với các phương thức tăng vốn khác, cho thuê tài chính có mức độ rủi ro thấp hơn nên các thủ tục và điều kiện tài trợ cũng đơn giản hơn Do bên thuê có thể tự tìm kiếm nguồn cung ứng tài sản thiết bị, hay đàm phán, thoả thuận trước về hợp đồng mua bán thiết bị với nhà cung cấp, sau đó mới yêu cầu Công ty cho thuê tài chính có thể sẵn sàng thoả mãn nhu cầu đầu tư của khách hàng ngay cả khi vị thế tài chính, uy tín của họ có những hạn chế

Trang 12

Hơn nữa, do chuyên biệt kinh doanh cho thuê tài chính các loại tài sản thiết

bị nên ccá Công ty cho thuê tài chính thường có mạng lưới hoạt động rộng rãi,

có nhiều mối quan hệ với nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị), có đội ngũ cán bộ hiểu biết về thiết bị - công nghệ cao nên họ có thể cung cấp cho các doanh nghiệp các loại thiết bị đúng yêu cầu, điều này tránh rủi ro cho các doanh nghiệp so với trường hợp doanh nghiệp tự mua lấy Đồng thời, thông qua cho thuê tài chính mà doanh nghiệp có thể thanh lý, chuyển nhượng các máy móc, công nghệ đã cũ Dĩ nhiên, điều này phải đi đôi với việc phát triển một thị trường công nghệ cũ và mới thông qua các trung gian là các Công ty cho thuê tài chính Cũng nhờ có chuyên môn cao về thiết bị, công nghệ nên các Công ty cho thuê có thể cải tiến, điều chuyển các loại tài sản cho phù hợp với nhu cầu của khách hàng ở các khu vực thị trường khác nhau

- Cho thuê tài chính có thể giúp các doanh nghiệp đi thuê không bị đọng vốn trong tài sản cố định Thông qua nghiệp vụ bán và cho thuê lại, các doanh nghiệp có thể chuyển nguồn tài sản cố định thành tài sản lưu động hay chuyển dịch vốn đầu tư cho các dự án kinh doanh khác có hiệu quả cao hơn trong khi vẫn duy trì được hoạt động đầu tư hiện hành vì tài sản vẫn được tiếp tục sử dụng Mặt khác, nếu doanh nghiệp muốn dành vốn tích luỹ cho kinh doanh mà

có nhu cầu về thiết bị và tài sản thì có thể thực hiện được thông qua mua tài sản

cố định

- Cho thuê tài chính là phương thức rút ngắn thời gian triển khai đầu tư đáp ứng kịp thời các cơ hội kinh doanh So với các phương thức tăng vốn khác, cho thuê tài chính có mức độ rủi ro thấp hơn nên các thủ tục và điều kiện tài trợ cũng đơn giản hơn Do bên thuê có thể tự tìm kiếm nguồn cung ứng tài sản thiết bị, hay đàm phán, thoả thuận trước về hợp đồng mua bán thiết bị với nhà cung cấp, sau đó mới yêu cầu Công ty cho thuê tài chính tài trợ nên có thể cho phép bên thuê rút ngắn thời gian tiến hành đầu tư thiết bị Mặt khác, nếu tài sản cho thuê

là tài sản của Công ty cho thuê tài chính thì các thông số kỹ thuật của thiết bị, các ý kiến tư vấn cho những vấn đề phát sinh trong đầu tư được các Công ty này đưa ra phục vụ khách hàng thường rất hữu ích Hiện nay, các Công ty cho thuê

Trang 13

tài chính có xu hướng hoạt động chuyên môn hoá sâu trong lĩnh vực tài sản cho thuê, thường tổ chức cung ứng các loại thiết bị theo phương thức khép kín, thiết

bị thường bị gắn liền với phụ tùng, linh kiện, kỹ năng quản trị, sản phẩm cho khách hàng Điều này giúp bên thuê nhanh chóng đáp ứng được các cơ hội kinh doanh

- Cho thuê tài chính cho phép bên thuê hiện đại hoá sản xuất theo kịp tốc

độ phát triển của công nghệ mới Trong điều kiện bùng nổ công nghệ hiện nay, việc thay đổi thiết bị, máy móc theo kịp đà phát triển của công nghệ mới, góp phần sản xuất ra những sản phẩm chất lượng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường là một vấn đề sống còn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào Nhưng đây cũng là một khó khăn đối với nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị), nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các quốc gia đang phát triển hoặc đối với cá doanh nghiệp phải tự xuất vốn hay vay vốn để đầu tư Cho thuê tài chính có thể góp phần vào việc giải bài toán về vốn và công nghệ này

- Thông qua cho thuê tài chính, việc thay đổi công nghệ của doanh nghiệp diễn ra có ưu thế hơn so với các hình thức tài trợ khác (do đặc điểm của nó là thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê, nên mọi rủi ro về mặt pháp lý và những rủi ro hao mòn vô hình đều thuộc về phía bên cho thuê Bên cho thuê thường phải sử dụng những khả năng chuyên biệt về nghiệp vụ cho thuê tài chính để khắc phục những rủi ro này)

- Cho thuê tài chính cho phép các doanh nghiệp Việt Nam thu hút vốn đầu

tư nước ngoài Thông qua cho thuê tài chính, các doanh nghiệp Việt Nam có thể huy động được vốn nước ngoài thông qua các Công ty cho thuê tài chính quốc tế hay các Công ty liên doanh cho thuê tài chính hoạt động ở Việt Nam Lợi thế chính là hiện nay mức lãi suất ngoại tệ trên thị trường vốn quốc tế thấp hơn lãi suất vay ở Việt Nam, do đó thông qua thuê máy móc thiết bị, các doanh nghiệp

có thể nhận được vốn tài trợ có mức lãi suất thấp hơn so với thị trường vốn bằng đồng Việt Nam

- Cho thuê tài chính cho phép bên thuê hoãn thuế Các Khoản tiền thuê phải trả hàng năm được tính vào chi phí của doanh nghiệp Do đó chúng làm giảm

Trang 14

mức lợi nhuận của doanh nghiệp bằng chính những khoản chi phí đó, khoản chi phí này được nhân với tỷ lệ chiết khấu sau thuế của doanh nghiệp và nhân với lãi suất cho vay của ngân hàng sẽ cho ta biết tỷ lệ tiết kiệm do hoãn thuế bởi cho thuê tài chính đem lại cho doanh nghiệp.

- Số tiền thuê mà bên thuê phải trả được tính vào chi phí kinh doanh Do

đó, chúng làm giảm số thuế mà họ phải trả Sau khi hợp đồng cho thuê kết thúc, nếu bên thuê được quyền chọn mua tài sản thì giá mua thường thấp hơn so với giá trị còn lại của tài sản trong khi nghĩa vụ trả nợ đã hết

1.2.3 Đối với nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị).

Nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị) khi chào bán sản phẩm của mình trên thị trường đều mong muốn bên mua sẽ trả đủ tiền để nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị) có vốn lưu động, tạo cơ hội mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Nhưng trên thực tế, không phải tất cả các chủ thể muốn mua thiết bị đều có đủ khả năng về tài chính hoặc trong trường hợp có doanh nghiệp

đủ khả năng về tài chính nhưng họ không muốn đầu tư một số tiền này để làm vốn lưu động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh) Chính vì vậy, thông qua hợp đồng cho thuê tài chính mà bên cho thuê trong hợp đồng này sẽ mua tài sản thuê để cho thuê và hoãn trả toàn bộ số tiền tương ứng với giá trị tài sản

- Thông qua hoạt động cho thuê tài chính, nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị) sẽ tìm hiểu được nhu cầu thiết yếu của bản thân người sử dụng thiết bị,

từ đó có kế hoạch đầu tư đúng đắn

- Thông qua cho thuê tài chính, các nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị) có thể bán thiết bị cũ, nhập thiết bị mới hay nhận được lời khuyên nên áp dụng trình độ công nghệ ở mức nào cho phù hợp với doanh nghiệp, thị trường

và môi trường kinh tế vĩ mô

1.2.4 Đối với nền kinh tế.

Cho thuê tài chính không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với các chủ thể có liên quan mà hình thức này còn góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế Điều này thể hiện:

Trang 15

- Cho thuê tài chính là hình thức thu hút vốn đầu tư trung, dài hạn cho nền kinh tế Do cho thuê tài chính có mức độ rủi ro thấp, phạm vi tài trợ rộng rãi hơn các hình thức khác nên cho thuê tài chính có thể khuyến khích các thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân và nhất là các Tổ chức tài chính đầu tư vốn để kinh doanh Do đó, hoạt động cho thuê tài chính đã huy động được những nguồn vốn nhãn rỗi trong nội bộ nền kinh tế, thậm chí thu hút vốn đầu tư các lĩnh vực đầu tư khác Mặt khác, trong điều kiện giao lưu quốc tế ngày nay, cho thuê tài chính góp phần giúp cho quốc gia thu hút các nguồn vốn quốc

tế cho nền kinh tế thông qua các loại máy móc tài sản cho thuê mà quốc gia đó nhận được Đồng thời, hình thức thu hút vốn đầu tư nước ngoài này không làm tăng Khoản nợ nước ngoài của quốc gia nhận được tài sản cho thuê

- Cho thuê tài chính thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức tài chính Ở rất nhiều quốc gia, sự phát triển của cho thuê tài chính đã dẫn tới việc giảm các chi phí, đồng thời tăng các nguồn vốn cho hoạt động đầu tư;

- Cho thuê tài chính là nhân tố tác động tích cực cho sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bởi lẽ hầu hết các doanh nghiệp này đều không đáp ứng được một số điều kiện nhất định khi có ý định vay tín dụng tại ngân hàng Đồng thời, nó góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị, cải tiến kỹ thuật Thông qua hoạt động cho thuê tài chính, các loại máy móc, thiết bị có trình độ công nghệ tiên tiến được đưa vào các doanh nghiệp góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền sản xuất trong những điều kiện khó khăn

về vốn đầu tư Ngay cả đối với các nước có nền kinh tế phát triển cao như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pháp…cho thuê tài chính vẫn phát huy tác dụng, cập nhật khoa học công nghệ hiện đại cho nền kinh tế Đối với các quốc gia chậm phát triển, nếu có những biện pháp đúng đắn, đồng bộ và toàn diện thì tác dụng của nó còn mạnh mẽ hơn nhiều, nhất là trong thời đại ngày nay, việc đầu tư công nghệ hiện đại một cách kịp thời nhanh chóng đối với các nền kinh tế chậm phát triển gắp rất nhiều khó khăn Nếu có chính sách đúng đắn, hoạt động cho thuê tài chính có thể đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ nhanh chóng

Trang 16

Bên cạnh những lợi thế, cho thuê tài chính cũng có những hạn chế nhất định Điều này lý giải tại sao hoạt động cho thuê tài chính không thể thay thế hoàn toàn cho các hoạt động tín dụng khác với tư cách là một kênh cấp vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Những hạn chế đó là:

- Đối với bên thuê: Vào giai đoạn cuối của hợp đồng thuê, mặc dù bên thuê

đã trả gần như đủ số tiền thuê nhưng bên vẫn chưa được sử dụng tài sản vào mục đích khác Hơn nữa, bên thuê có thể phải chịu những rằng buộc boỉưi một

số biện pháp bảo đảm đối với tài sản thuê như: không cho người khác thuê lại khi chưa có sự đồng ý của bên cho thuê hoặc phải chịu sự kiểm tra bất cứ khi nào theo yêu cầu của bên cho thuê

- Đối với bên cho thuê, rủi ro có thể xảy ra như: rủi ro về tài chính, khi mà bên thuê không trả tiền thuê khi đến hạn hoặc tiền thuê nhận được không đủ bù đắp vốn gốc; hoặc rủi ro liên quan đến tài sản thuê, khi mà tài sản cho thuê không thu hồi về không thể cho thuê tiếp hay không bán được chúng; tài sản do nhà nhà sản xuất giao cho bên cho thuê không đúng theo hợp đồng, tài sản không được phép kinh doanh; hoặc rủi ro sự thay đổi về luật pháp, do sự biến động của thị trường bởi khủng hoảng kinh tế.5

I.3 Các phương thức cho thuê tài chính

- Bên cho thuê: vay phần lớn số tiền tài trợ từ bên cho vay với vật thể chấp chính là tài sản cho thuê hình thành bằng vốn vay, giữ quyền sở hữu và cho thuê lại tài sản đó, phải trả nợ vay và được hưởng các Khoản chênh lệch giữa tiền cho thuê và tiền tài trợ

- Bên thuê: trả tiền thuê cho bên cho thuê theo yêu cầu của họ và chịu mọi rủi ro có thể xảy ra với tài sản

- Cho thuê giáo lưng (Under Lease)

Một trong những đặc điểm của cho thuê tài chính là các bên không được huỷ ngang hợp đồng trước thời hạn Do đó, nếu sau khi ký hợp đồng, bên thuê không có nhu cầu sử dụng tài sản nữa và thời hạn thuê vẫn chưa hết thì họ sẽ ở trong tình trạng bất lợi Để khắc phục tình trạng này, bên thuê có thể tìm một

5 Đoàn Thanh Hà, Cho thuê tài chính - giải pháp về vốn để đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp 11/2000

Trang 17

bên thuê thứ hai để cho thuê lại tài sản Bên thuê thứ hai sẽ trả tiền thuê cho bên thuê thứ nhất đồng thời có mọi quyền lợi, nghĩa vụ khác trong việc sử dụng tài sản thuê Tuy nhiên, vì hợp đồng ký giữa bên cho thuê và bên thuê thứ nhất vẫn

có hiệu lực nên bên thuê thứ nhất vẫn có nghĩa vụ trả tiền thuê cho bên cho thuê

và phải chịu trách nhiệm liên đối đối với những rủi ro, thiệt hại có thể xảy ra đối với tài sản Việc cho thuê lại chỉ được tiến hành nếu có sự đồng ý của bên cho thuê

Pháp luật Việt Nam quy định, bên thuê không được chuyển quyền sử dụng tài sản thuê cho cá nhân, tổ chức khác nếu không được bên cho thuê đồng ý bằng văn bản (điểm a Khoản 2 Điều 63 Luật Các Tổ chức Tín dụng)

- Bán và tái thuê (Sale and Lease - back)

Hình thức bán và tái thuê được doanh nghiệp sử dụng khi doanh nghiệp khó khăn về vốn lưu động nhưng lại không thể vay hoặc bán đứt tài sản, thiết bị đang sử dụng đi được Trong giao dịch này, doanh nghiệp bán một tài sản, thiết

bị cho Công ty cho thuê tài chính và ngay lúc đó thuê lại chính tài sản, thiết bị này từ Công ty Lúc này, doanh nghiệp sẽ vốn để tiếp tục sản xuất Cho đến cuối thời hạn thuê, khi đã trả hết tiền thuê, doanh nghiệp sẽ thực hiện quyền chọn mua (nếu có) và các tài sản, thiết bị này trở lại quyền sở hữu của doanh nghiệp Như vậy, bản chất của thoả thuận bán và tái thuế là: người thuê giữ lại quyền sử dụng trong khi chuyển giao quyền sở hữu

Hình thức này đã được ghi nhận tại Khoản 3, Điều 16, Nghị định 16: Mua

và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính (gọi tắt là mua và cho thuê lại) Theo hình thức này, Công ty cho thuê tài chính mua lại máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác thuộc sở hữu của bên thuê và bên thuê thuê lại chính các tài sản đó để tiếp tục sử dụng phục vụ cho hoạt động của mình

- Thuê qua biên giới (Cross - border Lease)

Các bên tham gia quan hệ thuê qua biên giới cũng giống như các bên trong hình thức thuê bắc cầu Tài sản cho thuê qua biên giới thường đòi hỏi vốn lớn,

có giá trị cao như máy bay, tài vận tải biển nhưng nó khác với thuế bắc cầu là

Trang 18

các bên trong quan hệ thuê qua biên giới như bên cho thuê, bên thuê có trụ sở và quốc tịch ở các nước khác nhau Lợi thế của hình thức này là các bên được hưởng lợi từ việc miễn thuế hoặc do chính sách thuế khác nhau của từng nước, như bên cho thuê không phải nộp thuế xuất khẩu do xuất khẩu được hàng hoá, bên thuê do nhập thiết bị phục vụ sản xuất nên được miễn thuế nhập khẩu và thuế VAT (như ở Việt Nam hiện nay) Do được hưởng lợi từ thuế, bên thuê sẽ

có lợi của việc giảm tiền thuê, nhờ đó sẽ giảm tiền khấu hao tài sản của chính tài sản thuê.6

Thông qua việc giao kết các hợp đồng cho thuê tài chính, các chủ thể xác lập quyền và nghĩa vụ pháp lý Các quyền và nghĩa vụ này sẽ bao gồm những nội dung gì? Có khác so với hợp đồng thuê thông thường không?…Phần tiếp theo của khoá luận sẽ nghiên cứu những khía cạnh pháp lý liên quan đến hợp đồng cho thuê tài chính trên cơ sở đó có sự so sánh với hợp đồng thuê thông thường và nêu ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện chế định này

I.4 Khái niệm, đặc điểm, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cho thuê tài chính.

II.4.1 Khái niệm.

Các nước trên thế giới có hoạt động cho thuê tài chính phát triển không sử dụng khái niệm về hợp đồng cho thuê tài chính, thay vào đó, họ đưa ra khái niệm về hợp đồng thuê mua Ví dụ:

- Ở ý - Hợp đồng thuê mua (LF) là hợp đồng giao kết giữa người đi thuê và bên cho thuê về việc cho thuê các loại thiết bị do bên cho thuê mua hoặc sản xuất, nội dung của hợp đồng phải phù hợp với giải trình của bên đi thuê và có hiệu lực trong một thời hạn nhất định Cuối thời hạn thuê, người đi thuê có quyền lựa chọn mua tài sản thuê theo giá định trước

- Ở Tây Ban Nha - Hợp đồng thuê mua (AF) là loại hợp đồng với mục đích nhượng lại quyền sử dụng động sản hay bất động sản của bên cho thuê theo sự xác định của người điu thuê theo hợp đồng Hợp đồng này phải cho phép bên thuê có quyền mua tài sản đã thuê vào cuối giai đoạn thuê mua

6 Lý Quốc Hùng, Thuê tài chính: các hình thức, lợi ích và quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, tạp chí nghiên cứu lập pháp.

Trang 19

Ở nước ta hiện nay, nội dung khái niệm hợp đồng cho thuê tài chính có thể được hiểu trên hai phương diện:

Thứ nhất: Trên phương diện lý thuyết, hợp đồng cho thuê tài chính được định nghĩa là sự thoả thuận bằng văn bản giữa bên cho thuê (Công ty tài chính hoặc Công ty cho thuê tài chính) với bên thuê (tổ chức và cá nhân kinh doanh), theo đó bên cho thuê cung cấp tài sản thuê cho bên thuê sử dụng trong một thời hạn nhất định theo yêu cầu của bên thuê, với điều kiện trả tiền thuê và thoả thuận thuê tiếp hoặc mua lại tài sản thuê khi hợp đồng thuê đáo hạn

Thứ hai: Trên phương diện pháp lý, Điều 13 Quyết định 149 định nghĩa,

"Hợp đồng tín dụng thuê mua là một hợp đồng được giao kết giữa Tổ chức tín dụng và bên thuê và là cơ sở pháp lý xác định quyền hạn và trách nhiệm của tổ chức tín dụng và bên thuê trong một giao dịch tín dụng thuê mua" Khái niệm này không nêu được bản chất của hợp đồng tín dụng thuê mua là hợp đồng kkt hay dân sự Đến Nghị định 64, Hợp đồng cho thuê tài chính được hiểu là "một loại hợp đồng kinh tế giữa bên cho thuê và bên thuê về việc thuê một hoặc một

số máy móc, thiết bị, động sản khác trong một thời gian nhất định (thời hạn cho thuê) theo những điều kiện quy định tại Điều 3 Nghị định 64 (Điều 18)"

Điều 17 Nghị định 16 Quy định: "Hợp đồng cho thuê tài chính là thoả thuận (bằng văn bản) giữa bên cho thuê và bên thuê về việc cho thuê một hoặc một số máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và động sản khác theo những quy định tại Điều 1 của Nghị định này, phù hợp với quyền và nghĩa vụ của các bên Hợp đồng phải ghi rõ việc xử lý khi hợp đồng chấm dứt trước hạn Bên cho thuê và bên thuê không được đơn phương huỷ bỏ hợp đồng (trừ những trường hợp nêu tại Điều 27 Nghị định 16)" Khác với Nghị định 64, Nghị định 16 không khẳng định hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng kinh tế hay dân sự Cũng giống với trường hợp hợp đồng tín dụng, việc xác định một hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng kinh tế hay dân sự và vì vậy căn cứ vào chủ thể và mục đích của hợp đồng Nghĩa là:

- Hợp đồng cho thuê tài chính được coi là hợp đồng kinh tế khi nó được giao kết giữa Công ty cho thuê tài chính với khách hàng thuê là chủ thể kinh

Trang 20

doanh và việc giao kết hợp đồng cho thuê tài chính là nhằm mục đích kinh doanh;

- Hợp đồng cho thuê tài chính được coi là hợp đồng dân sự khi nó được giao kết giữa Công ty cho thuê tài chính với khách hàng thuê không phải là chủ thể kinh doanh hoặc là chủ thể kinh doanh nhưng việc giao kết hợp đồng cho thuê tài chính không nhằm mục đích kinh doanh

Vì là một dạng của giao dịch kinh tế (dân sự), nên trước hết hợp đồng cho thuê tài chính phải tuân thủ các điều kiện chung về một giao dịch có hiệu lực pháp luật Điều 131 Bộ Luật Dân sự Việt Nam (có hiệu lực từ 1996) quy định về điều kiện một giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật Theo đó, một giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực pháp luật khi: (i) người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; (ii) mục đích và nội dung giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội, (iii) người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; (iv) hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật

Như vậy, trước hết hợp đồng cho thuê tài chính phải tuân thủ các điều kiện chung về một giao dịch có hiệu lực pháp luật (như đã nêu trên) Ngoài ra, giao dịch cho thuê tài chính còn phải tuân thủ những điều kiện riêng cụ thể là: Theo quy định tại Điều 7 Quyết định 149 Điều 3 của Nghị định này quy định: một giao dịch cho thuê tài chính phải thoả mãn một trong những điều kiện sau đây:

- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên;

- Nội dung hợp đồng thuê có quy định: Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực

tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại;

- Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê Quy định này đã gâp nhiều khó khăn cho các Công ty cho thuê tài chính vì có những tài sản có giá trị lớn, có khả năng chuyển nhượng dễ dàng và là tài sản có nhu cầu sử dụng của nhiều tổ chức kinh tế nhưng mỗi chủ thể chỉ cần sử dụng trong thời gian ngắn Trong trường hợp có

Trang 21

nhu cầu thuê tài sản có giá trị lớn với thời gian ngắn mà các đối tượng đó không thể tham gia vào quan hệ thuê thì sẽ làm mất đi thị phần đáng kể của thị trường cho thuê tài chính Để khắc phục tình trạng này, theo chúng tôi, có thể đặt ra một

số kha năng cho các chủ thể lựa chọn Trong trường hợp có nhiều bên thuê có khả năng về cùng loại tài sản nhưng không có nhu cầu sử dụng thường xuyên, Công ty cho thuê tài chính có thể đồng thời giao kết với nhiều bên thuê về tài sản Đương nhiên, cách thức này sẽ có khó khăn nhất định khi xử lý tài sản hết thời hạn thuê Vấn đề này có thể giải quyết trong điều Khoản xử lý tài sản bằng cách quy định các bên thoả thuận bán lại tài sản cho một chủ thể với giá danh nghĩa hoặc tài sản thuê vẫn thuộc về bên cho thuê

Trường hợp không giao kết được hợp đồng theo phương thức nêu trên, bên cho thuê có thể được phép chó thuê với thời gian ngắn đối với nhiều chủ thể có cùng nhu cầu nhưng số tiền thuê phải trả cao hơn so với quan hệ thuê thông thường (có thể cao hơn 200% so với quan hệ thuê thông thường) Biện pháp này vừa tạo điều kiện cho bên thuê cơ hội tốt nhất trong kinh doanh đồng thời cũng giúp cho bên thuê nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư (thực hiện khấu hao nhanh tài sản)

- Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê, ít nhất phải tương đương với giá của tài sản đó trên thị trường vào thời điểm ký hợp đồng Quy định này có điểm không phù hợp với thực tế áp dụng là đối với những quan

hệ cho thuê không có các biện pháp bảo đảm, bên thuê phải góp vốn để mua tài sản tỉ lệ nhất định, thậm chí có trường hợp góp đến 50% giá trị tài sản Việc bên thuê phải góp vốn để mua tài sản thuê là hoàn toàn hợp lý bởi lẽ quy định này gắn trách nhiệm bảo quản và sử dụng tài sản trong quá trình sử dụng của bên thuê Thế nhưng, nếu xác định tổng số tiền thuê phải trả như trên, bên thuê phải trả tới 1,5 lần tổng số giá trị tài sản Nếu chiểu theo quy định của pháp luật trogn những trường hợp này không thể áp dụng được Theo chúng tôi, nên quy định tổng số tiền thuê phải trả ít nhất tương đương với giá trị đầu tư của tổ chức tín dụng cho thuê vào tài sản tại thời điểm chuyển giao tài sản cho bên thuê Nếu

Trang 22

quy định như vậy, nghĩa vụ trả tiền thuê của bên thuê tài sản luôn tương ứng với phần tín dụng được cung cấp bởi các Công ty cho thuê tài chính.

Theo quy định tại Nghị định 16, điều kiện xác định một giao dịch được coi

là cho thuê tài chính nếu:

- Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính

- Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng (Khoản 2 Điều 1 Nghị định 16)

Như vậy, Nghị định 16 không quy định điều kiện xác định một giao dịch cho thuê tài chính khi "Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê" Theo chúng tôi, pháp luật cần phải

bổ sung quy định về thời hạn cho thuê đối với tài sản thuê, bởi lẽ, nếu không quy định điều kiện này có thể dẫn tới tính không đồng nhất với nội dung khái niệm "cho thuê tài chính" đã nêu ra - Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn

II.4.2 Đặc điểm

- Đặc điểm đặc trưng của hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng thanh toán trọn vẹn và không thể bị huỷ ngang Với một hợp đồng thuê tài sản thông thường, khi không có nhu cầu thuê tiếp, bên thuê có thể trả lại tài sản thuê và kết thúc thời hạn Với hợp đồng cho thuê tài chính, điều này không thể xảy ra vì tài sản thuê thường có giá trị lớn mà thời gian khấu hao tài sản dài Nếu như một trong các bên đơn phương huỷ bỏ cam kết của mình sẽ gây trở ngại và khó khăn lớn cho bên kia Giả sử bên cho thuê đòi thu hồi thiết bị trong khi bên thuê đang tiến hành sản xuất kinh doanh có lãi, điều này sẽ gây ra những thiệt hại không thể lường trước cho bên thuê Ngược lại, trong trường hợp bên thuê yêu cầu bên cho thuê nhận lại tài sản thuê trước khi hợp đồng cho thuê tài chính hết hiệu lực, việc này cũng sẽ gây ra những hậu quả là bên cho thuê khó có thể tìm ngay ra người có nhu cầu thiết bị đó Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng: tính chất không

Trang 23

huỷ ngang của hợp đồng cho thuê tài chính không hề ngăn cản việc bên cho thuê thu hồi tài sản thuê trước ngày đáo hạn và đòi bên thuê phải trả toàn bộ số tiền thuê theo hợp đồng trong trường hợp bên thuê có hành vi vi phạm các điều khoản trong hợp đồng đã ký Đặc điểm này do tính chất của giao dịch cho thuê tài chính quyết định là trong mọi trường hợp sự an toàn đối với vốn đầu tư phải luôn được đảm bảo.

- Trong suốt thời gian thuê, bên cho thuê dành cho bên thuê quyền chiếm hữu và sử dụng (khai thác) tài sản thuê Đổi lại, bên thuê phải trả cho bên cho thuê tiền thuê tài sản theo định kỳ Tuy nhiên, quyền sở hữu cụ thể là việc dịnh đoạt đối với tài sản thuê vẫn thuộc về bên cho thuê Trong hợp đồng cho thuê tài chính mọi rủi ro cũng như chi phí cho việc sửa chữa và bảo dưỡng tài sản thuê được chuyển giao cho bên thuê, nếu bên thuê vi phạm những yêu cầu này, bên cho thuê có quyền yêu cầu đòi bồi thướng thiệt hại theo Điểm b Khoản 1 Điều

62 Luật Các tổ chức Tín dụng Đặc điểm này giúp ta phân biệt rõ ràng giữa hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng thuê tài sản thông thường Trong quan hệ hợp đồng thuê tài sản thong thường, bên cho thuê cũng chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho bên thuê, nhưng toàn bộ chi phí về bảo dưỡng và sửa chữa vẫn thuộc về bên cho thuê Bên thuê cũng có thể tụ sửa và làm tăng giá trị tài sản thuê, nếu được bên cho thuê đồng ý và có quyền yêu cầu bên cho thuê thanh toán chi phí hợp lý (Khoản 2 Điều 484 Bộ Luật Dân sự)

- Trong hợp đồng cho thuê tài chính, quyền tự định đoạt của chủ tài sản (bên cho thuê) có thể bị hạn chế do bên thuê có quyền lựa chọn mua tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo thoả thuận trong hợp đồng cho thuê, nhưng điều khoản này bắt buộc phải được thoả thuận trong hợp đồng (Khoản 2 Điều 17 Nghị định 16) Đặc điểm này cũng cho phép phân biệt hợp đồng cho thuê tài chính với hợp đồng cho thuê tài sản thông thường, bởi lẽ, trong hợp đồng cho thuê tài sản thông thường, bên cho thuê với tư cách là chủ tài sản có toàn quyền quyết định trong việc bán lại tài sản thuê hoặc cho thuê tiếp hay khi hợp đồng thuê kết thúc

mà không cần phải thoả thuận trước điều Khoản này trong hợp đồng

II.4.3 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cho thuê tài chính.

Trang 24

Như đã nêu ở phần trên, hợp đồng cho thuê tài chính ngoài việc tuân thủ những quy định mang tính nguyên tắc chung, để có thể xác định một giao dịch

là cho thuê tài chính còn phải đảm bảo các yêu cầu được quy định tại Điều 19 Nghị định 64, đó là:

1.5 Phân loại hợp đồng cho thuê tài chính:

Về bản chất, HĐCTTC được hiểu đơn thuần là hợp đồng cho thuê vốn, tuy nhiên hoạt động CTTC ngày càng đa dạng và phong phú, nên cần phân loại HĐCTTC để từ đó nhìn nhận rõ hơn bản chất kinh tế của nó, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để thiết lập các loại HĐCTTC nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư

Trang 25

Hiện nay, dựa trên các tiêu chí khác nhau, có rất nhiều cách phân loại HĐCTTC Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ đề cập đến cách phân loại phổ biến và là cơ sở để áp dụng hình thức CTTC đó ở Việt Nam.

Căn cứ vào các bên tham gia HĐCTTC:

* HĐCTTC có sự tham gia của hai bên: Theo phương thức này bên cho thuê sử dụng thiết bị họ đã có sẵn để trực tiếp tài trợ cho bên thuê Trong trường hợp này bên cho thuê đồng thời là bên cung ứng, thường là nhà sản xuất và là Công ty cho thuê tài chính sử dụng chính tài sản của mình để tài trợ chô bên thuê Trước thời điểm khởi đầu của sự thoả thuận CTTC, bên cho thuê đã nắm quyền sở hữu tài sản thuê Nhìn chung, phương thức này thường được sử dụng

và thực hiện dưới HĐCTTC có đối tượng là bất động sản Đối với phương thức cho thuê này có những đặc điểm đặc trưng là: HĐCTTC thường được sử dụng bởi các Công ty xây dựng bất động sản và các Công ty sản xuất máy móc thiết

bị thông qua việc đầu tư xây dựng cao ốc, văn phòng….sau đó ký kết hợp đồng cho thuê với khách hàng

Chủ thể tham gia trong quan hệ này chỉ có hai bên Bên cho thuê (đồng thời

là nhà cung ứng) và bên thuê Trong phương thức này cho phép bên cho thuê có thể mua lại thiết bị khhi chúng lạc hậu Về cơ bản, phương thức tài trợ này thường được các nhà sản xuất sử dụng để đẩy mạnh việc tiêu thụ do họ sản xuất

ra, mặt khác nhờ đó họ luôn cập nhật những công nghệ mới để chế tạo các máy móc thiết bị nên các nhà sản xuất có thể sẵn sàng mualại những trang thiết bị đã lạc hậu về mặt công nghệ để tiếp tục cung cấp những máy móc công nghệ hiện đại do họ chế tạo ra

Với những phương thức giao dịch này, việc tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác nước ngoài sẽ giải quyết được vấn đề máy móc thiết

bị, dây chuyền công nghệ hiện đại cho đất nước và tránh cho Việt Nam không trở thành nơi phế thải của các máy móc thiết bị sau thời gian sử dụng nhất định

* HĐCTTC có sự tham gia của 3 bên: Bên cho thuê, bên thuê và nhà cung ứng Ở đây bên thuê có quyền lựa chọn tài sản với bên cung ứng phù hợp với yêu cầu của mình Đây là loại HĐCTTC được áp dụng phổ biến nhất và có các

Trang 26

ưu điểm sau: (i) Việc chuyển giao tài sản được thực hiện trực tiếp giữa nhà cung ứng và bên thuê Hai bên phải cùng chịu trách nhiệm trực tiếp về tình trạng hoạt động của tài sản, cũng như việc bảo hành, bảo dưỡng tài sản Như vậy, bên cho thuê rút bỏ gánh nặng về tình trạng hoạt động của tài sản; (ii) Bên cho thuê không phải mua tài sản trước, do vậy vòng quay vốn sẽ nhanh hơn, vì không phải dự trữ hàng tồn kho, hơn nữa bên cho thuê cũng có thể tài trợ cho nhiều đối tượng mà không phụ thuộc vào sản phẩm bên thuê yêu cầu (iii) Bên cho thuê không phải trực tiếp nhận tài sản rồi sau đó chuyển giao cho bên thuê và như vậy sẽ hạn chế được rủi ro liên quan đến việc nhận hàng của bên thuê nếu có sự nhầm lẫn về mặt kỹ thuật có thể xảy ra.

Hiện nay, trên thế giới phương thức này được áp dụng phổ biến (chiếm 80%) Theo chúng tôi phương thức tài trợ này phù hợp với nhu cầu của nền kinh

tế Việt Nam hiện nay, tránh được những rủi ro cho bên thuê (bởi lẽ khả năng chuyên môn của bên cho thuê không thể hoàn hảo trên mọi lĩnh vực để thẩm định tài sản thuê hoặc sản xuất, cung ứng tài sản theo yêu cầu của khách hàng).Căn cứ vào tổng số tiền thuê trong thời hạn cơ bản

* HĐCTTC hoàn trả toàn bộ: Trong giao dịch này, tổng số tiền thuê mà bên cho thuê nhận được trong thời hạn cơ bản của hợp đồng đủ bù đắp toàn bộ chi phí mua sắm tài sản, lãi suất vốn tài trợ, các chi phí quản lý cho bên thuê Với phương thức giao dịch này mang lại những tiện tích cho cả hai bên (cho thuê và đi theo) nên nó được áp dụng rất phổ biến Theo thống kê của cơ quan thuế Hoa Kỳ, số lượng hợp đồng theo phương thức này chiếm 90% [45, 32] Phương thức cho thuê tài chính này cũng được áp dụng phổ biến ở Việt Nam

* HĐCTTC hoàn trả từng phần: Tức là sau khi kết thúc thời hạn cho thuê, tổng số tiền thu được chưa đù bù đắp chi phí để thu hôi đủ vốn và đem lại lợi nhuận, người cho thuê cần phải cho thuê tiếp bằng hợp đồng mới Với phương thức giao dịch này, đưa ra cho người thuê quyền lựa chọn mua tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê tài sản thêm một thời gian khi kết thúc thời hạn của hợp đồng

Như vậy, ta có thể rút ra một số đặc trưng của HĐCTTC hoàn trả từng phần như sau:

Trang 27

- Trong thời hạn cơ bản các bên không có quyền huỷ ngang hợp đồng nếu không có sự nhất trí chung.

- Hết thời hạn cơ bản các bên có quyền tự do lựa chọn tiếp tục thuê tài sản

đó thêm một thời gian hay mua chúng theo một giá cả hợp lý Trường hợp tiếp tục thuê thì bên thuê có quyền huỷ ngang hợp đồng như thuê vận hành

- Do tính chất của hình cho thuê này, bên cho thuê thường tăng tốc độ khấu hao, tức là tăng tiền thuê trong thời hạn cơ bản Đối với hợp đồng thuê lại này khi kết thúc thời hạn cơ bản thì tiền thuê cao hơn, bên thuê cũng có nhiều sự lựa chọn hơn trong việc kết thúc hợp đồng

- Tiền thu hồi vốn cao trong giai đoạn đầu được đưa vào quỹ phòng ngừa rủi ro [45, 34]

Căn cứ vào tính chất của giao dịch CTTC:

* Loại hợp đồng tiếp cận từ phương diện người cho thuê sử dụng sẵn máy móc thiết bị của họ để cho thuê Trên thực tế, nhiều nhà sản xuất ở các nước phát triển được thực hiện loại cho thuê này như một giải pháp mở rộng doanh số bán hàng

+ HĐCTTC liên kết: Là loại hợp đồng gồm nhiều bên cùng tài trợ cho một bên thuê Trong trường hợp này do một người cho thuê không đủ vốn để tài trợ hoặc sợ rủi ro vì tập trung vốn quá lớn với một khách hàng, nên họ liên kết với nhau để CTTC Đối với loại hợp đồng này, tài sản cho thuê thường có giá trị lớn

Với phương thức cho thuê liên kết, pháp luật Việt Nam đã tạo cơ sở pháp

lý để thực hiện, đó là hình thức cho thuê hợp với quy định tại Thông tư số 08/TT

- NHNN ngày 09/06/2001 về hướng dẫn thực hiện NĐ 16/CP (mục 2.2), nhưng những rủi ro đối với loại hợp đồng này là không nhỏ Để hạn chế những rủi ro

có thể xảy ra, pháp luật Việt Nam đã có quy định đó là giới hạn cho thuê không được vượt quá 30% vốn tự có Trong phương thức này vừa tạo được lợi nhuận cho kinh doanh đồng thời không bỏ lỡ bạn hàng

+ Hợp đồng cho thuê bắc cầu: Là trường hợp người cho thuê đi vay để mua tài sản rồi cho thuê, loại cho thuê này thường áp dụng cho những dự án đầu tư

Trang 28

lớn Đây không phải là phương thức cùng tài trợ mà người cho thuê vẫn phải là trái chủ trong quan hệ cho thuê, còn người cho vay là trái chủ của người cho thuê trong quan hệ cho vay Trong quá trình thực hiện HĐCTTC người cho vay được hoàn trả khoản tiền cho vay từ các khoản tiền thuê và thường là do bên thuê trực tiếp chuyển trả khoản tiền cho vay từ các khoản tiền thuê, sau khi thanh toán hết các món nợ vay bên cho thuê được hưởng những khoản tiền thuê còn lại Hình thức cho thuê này mở rộng khả năng tài trợ khỏi phạm vi nguồn vốn của người cho thuê.

* Loại hợp đồng tiếp cận từ phương diện người thuê

- Hợp đồng bán rồi thuê lại: Các doanh nghiệp có thể bán tài sản của họ cho các Công ty CTTC sau đó thuê lại Đây là trường hợp mà doanh nghiệp thiếu vốn lưu động để khai thác tài sản cố định hiện có trong hoạt động sản xuất kinh doanh song lại không đủ uy tín để vay vốn ngân hàng, trong trường hợp này họ buộc phải bán một phần tài sản cố định cho ngân hàng hoặc Công ty CTTC, sau đó thuê lại tài sản đó để sử dụng, và như vậy sẽ có nguồn tài chính

để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động

Đặc trưng chủ yếu của loại hợp đồng này là bên thuê giữ lại quyền sử dụng tài sản và chuyển giao quyền sở hữu pháp lý cho thuê cho thuê, đồng thời nhận tiền bán tài sản, nhưng tài sản đem bán phải còn giá trị sử dụng hữu ích và giá trị của tài sản đó tuỳ thuộc vào giá cả hợp lý của tài sản đó trên thị trường tại thời điểm diễn ra hoạt động mua bán

Với đặc thù là các loại hình doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, phương thức giao dịch này đáp ứng được nguồn vốn lưu động cho nhiều doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện nay ở Việt Nam khi nguồn vốn kinh doanh còn hạn chế, cơ chế vay vốn Ngân hàng còn gặp nhiều khó khăn

Phương thức cho thuê này được ghi nhận trong khoản 3, điều 16, NĐ 16/

CP tiếp cận dưới phương diện bên cho thuê nên sử dụng thuật ngữ "mua và cho thuê lại"

Trang 29

- Hợp đồng cho thuê giáp lưng: Với sự cho phép của người cho thuê, người thuê có thể cho người khác thuê tiếp Loại hợp đồng cho thuê này được áp dụng trong những trường hợp bên thuê thứ hai cần tài sản muốn đi thuê nhưng không thực hiện trực tiếp từ những người cho thuê chuyên nghiệp - bên Công ty CTTC,

do hoạt động yếu kém, do không đảm bảo uy tín hoặc đơn giản chỉ vì doanh nghiệp đó chưa được người cho thuê biết đến Ví dụ như Công ty CTTC nước ngoài thường chỉ chấp nhận tài trợ cho những Công ty lớn của Việt Nam (bên thứ nhất) Hình thức chothuê này cũng có thể áp dụng trong trường hợp bên thuê thứ nhất khi đã thực hiện một phần hợp đồng, không còn nhu cầu thuê, do đó họ phải tìm đến bên thuê thứ hai để chuyển giao hợp đồng với sự chấp thuận của người cho thuê Phương thức này giúp bên thuê thứ nhất không bỏ phí tài sản thuê, đồng thời có thể kiếm lời từ bên thuê thứ hai Bù lại bên đi thuê thứ nhất vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm đối với những rủi ro thiệt hại liên quan đến tài sản thuê vì họ là người trực tiếp ký hợp đồng với bên cho thuê ban đầu Mặc

dù, kể từ thời điểm hợp đồng thuê mới lại được ký kết, mọi quyền lợi và nghĩa

vụ và tài sản được chuyển giao sang bên thứ hai

- Hợp đồng cho thuê trả góp: Đây là phương thức tài trợ khá đặc biệt của CTTC Thực chất là hình thức mua trả góp tài sản trong khoảng thời gian từ 1 đến 5 năm, được áp dụng đối với người mua có tài sản thế chấp và cả người không có thế chấp

Theo phương thức này, hợp đồng CTTC có hiệu lực và người mua thường phải trả ngay cho nhà tài trợ một khoản tiền chiếm từ 25% - 30% giá trị tài sản

và vào thời điểm kết thúc hợp đồng chủ tài sản sẽ chuyển giao quyền sử dụng cho người thuê, hình thức tài trợ này giúp cho bên cung ứng bán được tài sản của mình và tạo cho bên thuê có ngay tài sản để sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà không phải trả ngay những khoản tiền đó

Nhưng bên cạnh đó, cũng có những bất lợi trong phương thức này đó là tỷ

lệ lãi suất thực tế quá cao (thường lên tới 15%/ năm) và nguy cơ mất quyền sở hữu tài sản vào thời điểm kết thúc hợp đồng nếu không thực hiện đúng tiến độ thanh toán

Trang 30

Như vậy, phương thức tài trợ vốn thông qua hình thức cho thuê tài chính có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Các chủ thể tham gia trong hợp đồng cho thuê tài chính có thể lựa chọn cho mình một phương thức phù hợp

để đạt được mục đích hoạt động kinh doanh của mình

Trang 31

CHƯƠNG II: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ HỢP ĐỒNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM

II.1 Chủ thể của hợp đồng cho thuê tài chính.

Chủ thể của mỗi quan hệ hợp đồng là những bên tham gia quan hệ hợp đồng Các chủ thể trong quan hệ hợp đồng đều đóng vai trò quan trọng và nó góp phần vào việc xác định loại hợp đồng và từ đó phần nào xác định được nộ dung, công việc của loại hợp đồng cũng như cơ quan có thẩm quyền giải quyết khi có tranh chấp hợp đồng

Chủ thể trong quan hệ hợp đồng cho thuê tài chính khác so với chủ thể trong quan hệ hợp đồng thuê tài sản thông thường và trong quan hệ hợp đồng tín dụng Sự khác biệt này không chỉ về địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong hợp đồng, mà còn về số lượng các chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng

Trong quan hệ hợp đồng cho thuê tài sản thông thường và quan hệ hợp đồng tín dụng thường chỉ bao gồm hai chủ thể bên cho thuê và bên thuê Còn trong quan hệ hợp đồng cho thuê tài chính, ngoài hai chủ thể cơ bản của hợp đồng thuê còn xuất hiện một chủ thể thứ ba trong quan hệ đó là nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị) Thực chất, chủ thể tham gia giao kết hợp đồng cho thuê tài chính chỉ gồm hai bên: bên cho thuê và bên thuê Nhưng thông thường khi hai bên thoả thuận xong về các điều Khoản và đối tượng của hợp đồng thuê

sẽ làm xuất hiện bên thứ ba là nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị), và khi

đó bên thứ ba sẽ có trách nhiệm cung cấp đúng, đầy đủ các yêu cầu về máy móc thiết bị của bên thuê

Có thể nói rằng: Hợp đồng cho thuê tài chính là một loại "hợp đồng tín dụng đặc biệt" vì khi tham gia vào quan hệ hợp đồng thường xuất hiện ba chủ thể Ngoài ra, trong một số trường hợp, tham gia vào quan hệ hợp đồng cho thuê tài chính có thể chỉ gồm hai bên chủ thể (ví dụ, hình thức thuê trực tiếp, hình thức bán và tái thuê…) và có thể có 4 bên hoặc nhiều hơn nữa (ví dụ, hình thức thuê liên kết, thuê đòn bẩy…)

Trang 32

Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét từng chủ thể trong một quan hệ hợp đồng cho thuê tài chính thông thường.

II.1.1 Bên cho thuê.

Theo thông lệ quốc tế, việc cho thuê thường do các Công ty tài chính thực hiện Các Công ty này có thể là Công ty độc lập hoặc là Công ty thành viên của một tập đoàn tài chính - ngân hàng

Ở Việt Nam, theo quy định của pháp luật hiện hành thì bên cho thuê là Công ty cho thuê tài chính được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam (Khoản 1 Điều 7 Nghị định 16) Công ty cho thuê tài chính là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, là pháp nhân Việt Nam Công ty cho thuê tài chính được thành lập và hoạt động tại Việt Nam dưới hình thức sau;

- Công ty cho thuê tài chính Nhà nước;

- Công ty cho thuê tài chính cổ phần;

- Công ty cho thuê tài chính trực thuộc của tổ chức tín dụng

- Công ty cho thuê tài chính liên doanh (được thành lập bằng vốn góp giữa bên Việt Nam bao gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp Việt Nam và bên nước ngoài gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài, trên

cơ sở hợp đồng liên doanh);

-Công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài (được thành lập bằng vốn góp của một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam)

Để được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, các Công ty co thuê tài chính phải thoả mãn những điều kiện sau (Điều 8 Nghị định 16):

- Có nhu cầu hoạt động cho thuê tài chính trên địa bàn xin hoạt động;

- Có đủ vốn pháp định: Theo quy định tại Nghị định 82/1998/NĐ - CP ngày 3/10/1998, mức vốn pháp định của Công ty cho thuê tài chính 100% vốn Việt Nam là 55 tỷ đồng (VND) và vốn pháp định của Công ty cho thuê tài chính

có vốn nước ngoài là 5 triệu đô la Mỹ Theo thống kê, hiện nay có 6 Công ty cho

Trang 33

thuê tài chính có số vốn điều lệ bằng mức vốn pháp định và ba Công ty cho thuê tài chính có số vốn điều lệ lớn hơn mức vốn pháp định.

- Thành viên sáng lập là các tổ chức, cá nhân có uy tín và năng lực tài chính;

- Người quản trị, điều hành có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và trình độ chuyên môn phù hợp với hoạt động của Công ty cho thuê tài chính;

- Có dự thảo điều lệ về tổ chức, hoạt động phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức Tín dụng và các quy định khác của pháp luật;

- Có phương án kinh doanh khả thi

Ngoài các điều kiện nêu trên, đối với bên nước ngoài trong các Công ty liên doanh hoặc Công ty 100% vốn nước ngoài, phải được tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật nước ngoài cho phép liên doanh, cho phép hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam

Tính đến thời điểm trước ngày 16/5/2000, Ngân hàng Nhà nước đã cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho 9 Công ty cho thuê tài chính

Để đi vào hoạt động, Công ty cho thuê tài chính có đủ những điều kiện sau đây (Điều 11 Nghị định 16):

- Điều lệ đã được Ngân hàng Nhà nước chuẩn y;

- Có đủ vốn pháp định, có trụ sở phù hợp với yêu cầu hoạt động cho thuê tài chính và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;

- Phần vốn pháp định góp bằng tiền phái đượ gửi vào tài Khoản phong toả tại Ngân hàng Nhà nước trước khi hoạt động tối thiểu 30 ngày Quy định này nhằm tạo điều kiện cho Ngân hàng Nhà nước kiểm tra số vốn thực có của Công

ty để tránh những hậu quả có thể xảy ra sau khi Công ty cho thuê tài chính được thành lập và đi vào hoạt động, điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần của các nhà làm luật khi xây dựng Luật doanh nghiệp

- Đăng báo trung ương, địa phương theo quy định của pháp luật về nhữn nội dung quy định trong giấy phép

Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, Công ty cho thuê tài chính phải khai trương hoạt động

Ngày đăng: 24/04/2014, 00:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá VIII tại Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ IX của Đảng Khác
2. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959,1980,192), Hà Nội - 1995 Khác
3. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Luật các Tổ chức tín dụng, Hà nội - 1998 Khác
4. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Bộ luật Dân sự của các nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà nội - 1995 Khác
5. Đại học Quốc gia Hà nội - Khoá Luật, Giáo trình Luật kinh tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà nội, năm 1997 Khác
6. Trường Đại học Luật Hà nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản công an nhân dân, Hà nội - 1997 Khác
8. Trường Đại học Quốc gia Hà nội - Khoa Luật, Một số nội dung cơ bản của hợp đồng thuê múa (Leasing), Đặng Văn Chiến, Luận văn tốt nghiệp, Hà nội 8/1997 Khác
9. Trường Đại học Tổng hợp Hà nội, Một số vấn đề pháp lý cơ bản trong cơ chế thuê mua, Đinh Thị Thu Hằng, Luận văn tốt nghiệp, Hà nội - 1995 Khác
10. Tài liệu hội thảo về nghiệp vụ thuê mua (Leasing) Khác
11. Báo cáo khả thi về việc thiết lập nghiệp vụ tài trợ thuê mua thiết bị máy móc tại Việt Nam Khác
12. Một số ý kiến tổng quan về cơ sở pháp lý thuê mua thiết bị quốc tế Khác
14. Nhà xuất bản Trẻ, Tìm hiểu và sử dụng hợp đồng tín dụng thuê mua, Trần Tô Từ, năm 1995 Khác
15. Lý Quốc Hùng, Thuê tài chính: các hình thức, lợi ích và quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Khác
16. Mạnh Tuấn, Cho thuê tài chính - Những thuận lợi và trở ngại về môi trường pháp lý, trang 10, Thời báo kinh tế Việt Nam số 11/1998 Khác
17. Ths. Phạm Giang Thu, Về hoạt động cho thuê tài chính, Tạp chí luật học, trang 35,38,1999 Khác
18. Ths. Vũ Hà Cường, Cho thuê tài chính ở nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp, trang 10, Tạp chí Khoa học, Công nghệ, Môi trường, số 4/2001 Khác
19. Tài liệu của Công ty tài chính (IFC) năm 1993 về tín dụng thuê mua Khác
20. Báo cáo sơ két hoạt động của các Công ty cho thuê tài chính, 16/5/2000 Khác
21. Trường Đại học Luật Hà nội, Giáo trình luật Ngân hàng, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 1998 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w