1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

tài liệu hướng dẫn thực hiện chuẩn mực kiểm toán số 700

48 910 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Hướng Dẫn Thực Hiện Chuẩn Mực Kiểm Toán Số 700
Trường học Học Viện Tài Chính
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại Tài Liệu Hướng Dẫn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 92,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những trường hợp như vậy được coi là cần thiết chỉ trong một số tình huốngrất hãn hữu.Thuật ngữ “khuôn khổ về tuân thủ” được sử dụng để chỉ khuôn khổ về lập và trình bàybáo cáo tài chính

Trang 1

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN SỐ 700 H×NH THµNH ý KIÕN KIÓM TO¸N Vµ B¸O C¸O KIÓM TO¸N VÒ B¸O C¸O TµI CHÝNH

Thuật ngữ “Báo cáo tài chính”

PHẦN II CÁC YÊU CẦU VÀ HƯỚNG DẪN

Các loại ý kiến kiểm toán

2.1.1 Nội dung yêu cầu

2.1.2 Hướng dẫn và so sánh

2.2.

Thảo luận với Ban Giám đốc về các vấn đề ảnh hưởng tới ý kiến kiểm toán

2.2.1 Nội dung yêu cầu

2.2.2 Hướng dẫn áp dụng

3

Báo cáo kiểm toán

3.1.

Hình thức của báo cáo kiểm toán

3.1.1 Nội dung yêu cầu

3.1.2 Hướng dẫn áp dụng

3.2.

Báo cáo kiểm toán cho các cuộc kiểm toán được thực hiện theo các Chuẩn mực

kiểm toán Việt Nam

3.3.

Ý kiến của kiểm toán viên

3.3.1 Nội dung yêu cầu

3.3.2 Hướng dẫn áp dụng

Trang 2

Báo cáo kiểm toán theo yêu cầu của pháp luật hoặc các quy định

3.4.1 Nội dung yêu cầu

3.4.2 Hướng dẫn áp dụng

3.5.

Báo cáo kiểm toán cho các cuộc kiểm toán được tiến hành theo cả Chuẩn mực

kiểm toán Việt Nam và Chuẩn mực kiểm toán khác

3.5.1 Nội dung yêu cầu

Phụ Lục 1 : Ví dụ minh họa về báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

Phụ Lục 2 : Một số sai sót trong thực tế trình bày báo cáo kiểm toán

Phụ Lục 3 : Một số ví dụ phân biệt giữa ý kiến chấp nhận từng phần (ngoại trừ)

và ý kiến từ chối hoặc ý kiến trái ngược

Trang 3

QUY ĐỊNH CHUNG

1 Các chuẩn mực kiểm toán liên quan đến VSA 700

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700 (VSA 700) có mối quan hệ với các chuẩn mựckiểm toán (ban hành năm 2012) như sau:

 Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200 - “Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên vàdoanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán ViệtNam”

 Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 210 - “Hợp đồng kiểm toán”

 Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 260 - “Trao đổi với Ban quản trị đơn vị được kiểmtoán”

 Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 330 - “Biện pháp xử lý của kiểm toán viên đối vớirủi ro đã đánh giá”

 Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 450 - “Đánh giá những sai sót đã xác định trongkiểm toán”

 Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 500 - “Bằng chứng kiểm toán”

 Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 540 - “Kiểm toán các ước tính kế toán, bao gồmcác ước tính kế toán về giá trị hợp lý và thuyết minh liên quan”

 Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 705 - “Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấpnhận toàn phần”

 Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 706 - “Các đoạn nhấn mạnh và các vấn đề kháctrong báo cáo kiểm toán”

 Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 720 - “Những thông tin khác trong tài liệu có báocáo tài chính đã kiểm toán”

 Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 800 - “Báo cáo kiểm toán về những công việckiểm toán đặc biệt”

 Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 805 - “Lưu ý đặc biệt khi kiểm toán báo cáo tàichính đơn và các thành phần, khoản mục, số dư tài khoản cụ thể trên báo cáo tàichính”

2 Phạm vi áp dụng

(VSA 700, 01-04)

Chuẩn mực kiểm toán này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên vàdoanh nghiệp kiểm toán (sau đây gọi là “kiểm toán viên”) trong việc đưa ra ý kiến kiểmtoán về báo cáo tài chính Chuẩn mực này cũng quy định hình thức và nội dung của báocáo kiểm toán được phát hành như là kết quả công việc kiểm toán báo cáo tài chính.Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 705 và 706 quy định và hướng dẫn những ảnh hưởngđến hình thức và nội dung của báo cáo kiểm toán khi kiểm toán viên đưa ra ý kiến kiểmtoán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần hoặc thêm vào một đoạn nhấn mạnh vấn

đề hoặc một đoạn trình bày các vấn đề khác trong báo cáo kiểm toán

Chuẩn mực này được áp dụng cho cuộc kiểm toán một bộ báo cáo tài chính hoàn chỉnhcho mục đích chung Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 800 quy định và hướng dẫn

Trang 4

những lưu ý đặc biệt khi kiểm toán báo cáo tài chính cho mục đích đặc biệt Chuẩn mựckiểm toán Việt Nam số 805 quy định và hướng dẫn những lưu ý đặc biệt khi kiểm toánmột báo cáo tài chính đơn lẻ hoặc kiểm toán các yếu tố, tài khoản hoặc khoản mục cụ thểtrong báo cáo tài chính.

Chuẩn mực này tăng cường sự nhất quán trong báo cáo kiểm toán Khi cuộc kiểm toánđược tiến hành theo các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, sự nhất quán trong báo cáokiểm toán sẽ nâng cao độ tin cậy trong thị trường vốn Việt Nam thông qua việc đảm bảocác cuộc kiểm toán dễ dàng được xã hội thừa nhận là đã được tiến hành theo các chuẩnmực kiểm toán Việt Nam Điều này cũng giúp tăng cường sự hiểu biết của người sử dụngbáo cáo tài chính và xác định các tình huống bất thường xảy ra

Phạm vi áp dụng VSA 700 và các vấn đề liên quan đến báo cáo kiểm toán được tổng hợptrong bảng sau:

Ví dụ: Khác với các nước là cá nhân được hành nghề kiểm toán nên chuẩn mực kiểm toán chỉ

quy định cho kiểm toán viên, theo Luật kiểm toán độc lập tại Việt Nam, kiểm toán viên chỉ được hành nghề trong doanh nghiệp kiểm toán đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán, do đó từng kiểm toán viên và cả doanh nghiệp kiểm toán đều phải tuân thủ các quy định và hướng dẫn tại chuẩn mực kiểm toán VSA 700 Tuy nhiên, trong Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, khi nói “kiểm toán viên” thì đã bao hàm “doanh nghiệp kiểm toán” trong đó.

Đơn vị được kiểm toán (khách hàng) và các bên sử dụng kết quả kiểm toán cần phải cónhững hiểu biết cần thiết về nguyên tắc và thủ tục lập báo cáo kiểm toán quy định trongChuẩn mực này để sử dụng đúng đắn kết quả kiểm toán

Chất lượng của cuộc kiểm toán không chỉ phụ thuộc vào kiểm toán viên và doanh nghiệpkiểm toán mà còn phụ thuộc vào việc cung cấp tài liệu, giải trình và cùng xử lý các sai sót

do kiểm toán viên phát hiện của đơn vị được kiểm toán Do đó, đơn vị được kiểm toáncần phải có những hiểu biết nhất định về chuẩn mực kiểm toán để phối hợp thực hiệnkiểm toán

Trang 5

Các bên sử dụng kết quả kiểm toán (như cơ quan quản lý nhà nước; cơ quan thanh tra,kiểm tra; tổ chức tín dụng; các quĩ đầu tư; nhà đầu tư; đơn vị, tổ chức có giao dịch kinh tế;người lao động trong doanh nghiệp ) cũng phải có những hiểu biết nhất định khi sử dụngbáo cáo tài chính đã được kiểm toán cũng như sử dụng báo cáo kiểm toán và khi làm việcvới kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán.

4 Mục tiêu

(VSA 700, 06)

Mục tiêu của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán là:

a Đưa ra ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính trên cơ sở đánh giá các kết luận rút ra từ bằng

chứng kiểm toán thu thập được;

b Trình bày ý kiến kiểm toán một cách rõ ràng bằng văn bản, trong đó nêu rõ cơ sở của ý kiến đó

5 Giải thích thuật ngữ chủ yếu

(VSA 700, 07)

1 Thuật ngữ “Báo cáo tài chính cho mục đích chung”

Báo cáo tài chính cho mục đích chung: Là báo cáo tài chính được lập và trình bày theo

khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính cho mục đích chung

Báo cáo tài chính cho mục đích chung đáp ứng nhu cầu của số đông người sử dụng báocáo tài chính

Ví dụ

một báo cáo tài chính cho mục đích chung.

tổng hợp thông tin kinh tế tài chính là báo cáo tài chính cho mục đích chung.

2 Thuật ngữ “Khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính cho mục đích chung”

Khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính cho mục đích chung: Là khuôn khổ

về lập và trình bày báo cáo tài chính được xây dựng nhằm thỏa mãn nhu cầu chung vềthông tin tài chính của số đông người sử dụng

Ví dụ:

Khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính cho mục đích chung có thể là khuôn khổ

về trình bày hợp lý hoặc khuôn khổ về tuân thủ

Thuật ngữ “khuôn khổ về trình bày hợp lý” được sử dụng để chỉ khuôn khổ về lập và trìnhbày báo cáo tài chính mà trước hết yêu cầu phải tuân thủ các quy định của khuôn khổ đó,và:

i Thừa nhận rõ ràng hoặc ngầm ẩn rằng, để đạt được sự trình bày hợp lý của báo cáo tài

chính, Ban Giám đốc có thể phải thuyết minh nhiều hơn so với các quy định cụthể của khuôn khổ đó, hoặc;

ii Thừa nhận rõ ràng rằng Ban Giám đốc có thể thực hiện khác với một yêu cầu

của khuôn khổ để đạt được mục đích trình bày báo cáo tài chính một cách hợp

Trang 6

lý Những trường hợp như vậy được coi là cần thiết chỉ trong một số tình huốngrất hãn hữu.

Thuật ngữ “khuôn khổ về tuân thủ” được sử dụng để chỉ khuôn khổ về lập và trình bàybáo cáo tài chính mà trước hết yêu cầu phải tuân thủ các quy định của khuôn khổ đónhưng không bao gồm việc thừa nhận các điểm (i) hoặc (ii) trên đây (xem đoạn 13(a)Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200)

Ví dụ:

chính Ban Giám đốc thực hiện tuân thủ về cơ bản toàn bộ các quy định trong khuôn khổ lập và trình bày báo cáo tài chính này nhưng có thể bổ sung thêm các thuyết minh hoặc thực hiện khác một yêu cầu nào

đó của khuôn khổ này nhằm đạt được sự trình bày hợp lý Như vậy, Ban Giám đốc đã áp dụng “khuôn khổ về trình bày hợp lý”.

trình bày báo cáo tài chính, đã tuân thủ toàn bộ các quy định, không bổ sung bất kỳ sự thay đổi nào Như vậy Ban quản lý dự án đã áp dụng “khuôn khổ về tuân thủ”.

3 Thuật ngữ “Ý kiến chấp nhận toàn phần”

Ý kiến chấp nhận toàn phần: Là ý kiến được đưa ra khi kiểm toán viên kết luận rằng báo

cáo tài chính đã được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập vàtrình bày báo cáo tài chính được áp dụng

Đoạn 35-36 đề cập đến các mẫu câu được sử dụng để trình bày ý kiến kiểm toán trongtrường hợp đơn vị được kiểm toán áp dụng khuôn khổ về trình bày hợp lý và khuôn khổ

về tuân thủ

4 Thuật ngữ “Báo cáo tài chính”

Thuật ngữ “Báo cáo tài chính” được sử dụng trong chuẩn mực này có nghĩa là “một bộ báo cáo tài chính hoàn chỉnh cho mục đích chung, bao gồm các thuyết minh có liên quan.” Các thuyết minh có liên quan thường bao gồm phần tóm tắt các chính sách kế

toán quan trọng và các thuyết minh khác Các yêu cầu trong khuôn khổ về lập và trình bàybáo cáo tài chính được áp dụng quyết định hình thức và nội dung của các báo cáo tàichính, và các bộ phận cấu thành một bộ báo cáo tài chính hoàn chỉnh

Thuật ngữ “Báo cáo tài chính” có nghĩa là một bộ báo cáo tài chính gồm:

 Bảng cân đối kế toán,

 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,

 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, và

 Bản thuyết minh báo cáo tài chính

Trên thực tế, báo cáo tài chính còn có thể bao gồm “Báo cáo của Ban Giám đốc”, trong đóBan Giám đốc doanh nghiệp khẳng định BCTC đã phản ánh trung thực và hợp lý tình hìnhtài chính và kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán của đơn vị Đối với các ngành và lĩnh vựcđặc thù, như ngân hàng, tổ chức tài chính, các quỹ đầu tư…báo cáo tài chính còn có thể

có “Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu”, phản ánh tình hình và kết quả tăng, giảm cácnguồn vốn chủ sở hữu trong kỳ báo cáo và số dư vốn chủ sở hữu cuối kỳ báo cáo

Báo cáo tài chính là một sự miêu tả thông tin tài chính quá khứ được sắp xếp một cáchkhoa học Báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin về các nguồn lực kinh

tế hoặc các nghĩa vụ tại một thời điểm hoặc sự thay đổi của các nguồn lực kinh tế và cácnghĩa vụ này trong một giai đoạn nhất định

Trang 7

5 Thuật ngữ “Chuẩn mực lập và trình bày báo cáo tài chính quốc tế”

Thuật ngữ “Chuẩn mực lập và trình bày báo cáo tài chính quốc tế” trong chuẩn mực nàyđược hiểu là Chuẩn mực lập và trình bày báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) do Ủy banchuẩn mực kiểm toán quốc tế ban hành, và “Chuẩn mực kế toán công quốc tế” là chuẩnmực kế toán công quốc tế (IPSAS) do Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Công Quốc tế banhành

Trang 8

CÁC YÊU CẦU VÀ HƯỚNG DẪN

Kết cấu của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700 (“VSA 700”) - “Hình thành ý kiến kiểm toán

và báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính” bao gồm phần Nội dung yêu cầu và phần Hướngdẫn áp dụng Tài liệu hướng dẫn này trình bày chung hai phần nội dung và hướng dẫn áp dụngtheo từng mục phù hợp

Khi nghiên cứu và thực hiện chuẩn mực kiểm toán này cần tham khảo các quy định và hướngdẫn của Chuẩn mực kiểm toán số 200 và các chuẩn mực kiểm toán liên quan nêu tại Mục 1Phần I

1 Hình thành ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính

(VSA 700, 10-15)

1 Tuân thủ mục tiêu tổng thể

Đoạn 10, VSA 700 quy định

Kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến kiểm toán về việc liệu báo cáo tài chính có được lậpphù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng, trên các khíacạnh trọng yếu hay không

Đoạn 11 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 quy định về mục tiêu tổng thể của kiểmtoán viên và doanh nghiệp kiểm toán:

(a) Đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diệntổng thể, có còn chứa đựng những sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫnhay không, từ đó giúp kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài

chính có được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với quy định về lập

và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không;

(b) Lập báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính và công bố thông tin theo quy địnhcủa chuẩn mực kiểm toán, phù hợp với các phát hiện của kiểm toán viên.Đoạn 35-36 đề cập đến các mẫu câu được sử dụng để trình bày ý kiến kiểm toán trongtrường hợp đơn vị được kiểm toán áp dụng khuôn khổ về trình bày hợp lý và khuôn khổ

về tuân thủ) (VSA 700, 10).

2 Đánh giá của kiểm toán viên để hình thành ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính

(VSA 700, 11-14, A1-A4)

1 Nội dung yêu cầu

Đoạn 11, VSA 700 quy định

Để đưa ra ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải kết luận liệu kiểmtoán viên đã đạt được sự đảm bảo hợp lý về việc báo cáo tài chính, xét trên phươngdiện tổng thể, có còn chứa đựng những sai sót trọng yếu, do gian lận hoặc nhầm lẫnhay không Kết luận đó cần tính đến:

a Kết luận của kiểm toán viên về việc liệu đã thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích

hợp hay chưa (theo quy định tại đoạn 26 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 330);

b Kết luận của kiểm toán viên về việc liệu những sai sót chưa được điều chỉnh, khi xét riêng lẻ

hoặc tổng thể, có trọng yếu hay không (theo quy định tại đoạn 11 Chuẩn mực kiểm toán ViệtNam số 450);

Trang 9

c Những đánh giá được nêu trong các đoạn 12-15

Đoạn 12-13, VSA 700 quy định

Kiểm toán viên phải đánh giá liệu báo cáo tài chính có được lập phù hợp với khuôn khổ

về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng, trên các khía cạnh trọng yếu haykhông Khi đánh giá, kiểm toán viên đồng thời phải xem xét các khía cạnh định tính củacác công việc kế toán của đơn vị được kiểm toán, kể cả các dấu hiệu về sự thiên lệchtrong các xét đoán của Ban Giám đốc (xem hướng dẫn tại đoạn A1-A3 Chuẩn mựcnày)

Đặc biệt, khi xem xét các yêu cầu của khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chínhđược áp dụng, kiểm toán viên phải đánh giá:

a Báo cáo tài chính có thuyết minh đầy đủ các chính sách kế toán quan trọng được lựa chọn và

áp dụng hay không;

b Các chính sách kế toán được lựa chọn và áp dụng có nhất quán với khuôn khổ về lập và trình

bày báo cáo tài chính được áp dụng và có thích hợp hay không;

c Các ước tính kế toán do Ban Giám đốc đưa ra có hợp lý hay không;

d Các thông tin được trình bày trong báo cáo tài chính có phù hợp, đáng tin cậy, dễ hiểu và có

thể so sánh được hay không;

e Các báo cáo tài chính có cung cấp đầy đủ các thuyết minh giúp người sử dụng báo cáo tài

chính hiểu được ảnh hưởng của các giao dịch và sự kiện trọng yếu đối với các thông tin đượctrình bày trong báo cáo tài chính hay không (xem hướng dẫn tại đoạn A4 Chuẩn mực này);

f Các thuật ngữ được sử dụng trong báo cáo tài chính (kể cả tiêu đề của từng báo cáo tài chính)

có thích hợp hay không

Đoạn 14, VSA 700 quy định

Khi báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý, việc đánh giá theoyêu cầu trong các đoạn 12-13 còn phải bao gồm đánh giá liệu báo cáo tài chính cóđược trình bày hợp lý hay không Kiểm toán viên phải đánh giá việc này bằng cách xemxét:

a Cách trình bày, cấu trúc và nội dung tổng thể của báo cáo tài chính;

b Liệu các báo cáo tài chính, bao gồm các thuyết minh liên quan, có phản ánh các giao dịch và

sự kiện chủ yếu để đạt được mục tiêu trình bày hợp lý hay không

2 Hướng dẫn áp dụng

Đoạn A1-A3, VSA 700 hướng dẫn

Ban Giám đốc đưa ra một số xét đoán về các số liệu và thuyết minh trong báo cáo tàichính

Phụ lục 02 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 260 có đề cập đến các khía cạnh địnhtính trong công việc kế toán của đơn vị được kiểm toán Khi xem xét các khía cạnh địnhtính trong công việc kế toán của đơn vị được kiểm toán, kiểm toán viên có thể nhận biếtđược sự thiên lệch trong các xét đoán của Ban Giám đốc Kiểm toán viên có thể kếtluận rằng tác động cộng hưởng của sự thiên lệch cùng với ảnh hưởng của các sai sótchưa được điều chỉnh làm cho báo cáo tài chính xét trên phương diện tổng thể có saisót trọng yếu

Các khía cạnh định tính trong kế toán theo Phụ lục 02, VSA 260 bao gồm:

Trang 10

- Các chính sách kế toán: Ban Giám đốc có thể lựa chọn các chính sách kế toán không nhất quán hoặc không phù hợp nhằm tác động đến lợi nhuận, ví dụ chính sách khấu hao nhanh làm giảm lợi nhuận; trích lập dự phòng để giảm lợi nhuận trong các năm có tình hình kinh doanh tốt để phòng ngừa cho những năm khó khăn sắp tới.

- Các ước tính kế toán: Ban Giám đốc có thể giảm tỷ lệ khấu hao nhằm tăng lợi nhuận.

- Công bố thông tin trên báo cáo tài chính: Ban Giám đốc có thể cố tình tác động đến các thông tin nhạy cảm như các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán, các giao dịch và số dư với bên liên quan.

- Các vấn đề liên quan khác: ví dụ các giao dịch bất thường, các giao dịch bán tài sản nhằm thu hẹp sản xuất.

Các dấu hiệu cho thấy sự thiên lệch có thể ảnh hưởng đến đánh giá của kiểm toán viên

về việc liệu báo cáo tài chính xét trên phương diện tổng thể có sai sót trọng yếu haykhông, bao gồm:

1 Việc điều chỉnh có chọn lọc các sai sót đã trao đổi với Ban Giám đốc trong quá trình kiểm toán

Ví dụ: Chỉ điều chỉnh các sai sót làm tăng lợi nhuận báo cáo mà không điều chỉnh các sai sót làm giảm lợi nhuận báo cáo.

2 Sự thiên lệch của Ban Giám đốc khi đưa ra các ước tính kế toán

Ví dụ: Nếu Ban Giám đốc có mong muốn tăng lợi nhuận, Ban Giám đốc có thể đưa ra các ước tính làm giảm chi phí khấu hao, giảm trích lập dự phòng so với thực tế.

Đoạn 21 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 540 đề cập đến sự thiên lệch của BanGiám đốc khi đưa ra các ước tính kế toán Các dấu hiệu cho thấy có thể có sự thiênlệch của Ban Giám đốc không tạo thành sai sót khi xem xét tính hợp lý của các ước tính

kế toán riêng lẻ Tuy nhiên, các dấu hiệu đó có thể ảnh hưởng đến đánh giá của kiểmtoán viên về việc liệu báo cáo tài chính xét trên phương diện tổng thể có còn sai sóttrọng yếu hay không

Ví dụ: Nếu Ban Giám đốc có mong muốn tăng lợi nhuận, Ban Giám đốc có thể đưa ra các

ước tính làm giảm chi phí khấu hao, giảm trích lập dự phòng so với thực tế Các ước tính này có thể không khiến cho kiểm toán viên đưa ra bút toán điều chỉnh trực tiếp tuy nhiên, nó có thể được tập hợp trong đánh giá tổng thể của kiểm toán viên về báo cáo tài chính.

Đoạn A4, VSA 700 hướng dẫn

Thuyết minh về ảnh hưởng của các giao dịch và sự kiện trọng yếu đối với các thông tin được trình bày trong báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính được lập và trình bày theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tàichính cho mục đích chung thường trình bày về tình hình tài chính, kết quả hoạt độngkinh doanh và tình hình lưu chuyển tiền tệ của đơn vị Trong trường hợp đó, kiểm toánviên đánh giá liệu báo cáo tài chính có cung cấp đầy đủ các thuyết minh giúp người sửdụng báo cáo tài chính hiểu được ảnh hưởng của các giao dịch và sự kiện trọng yếu đốivới tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển tiền tệ củađơn vị hay không

Ví dụ: Một số thông tin trọng yếu cần thuyết minh:

Trang 11

Thuyết minh về các khoản phải thu khó đòi, không có khả năng thu hồi.

3 Mô tả khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng

1 Nội dung yêu cầu

Đoạn 15, VSA 700 quy định

Kiểm toán viên phải đánh giá xem liệu báo cáo tài chính có tham chiếu đến hay mô tảđầy đủ khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không

2 Hướng dẫn áp dụng

Đoạn A5-A7, VSA 700 hướng dẫn

Như đã giải thích trong đoạn A2-A3 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200, khi lập vàtrình bày báo cáo tài chính, Ban Giám đốc và Ban quản trị (trong phạm vi phù hợp) cầnđưa vào báo cáo tài chính một đoạn mô tả đầy đủ khuôn khổ về lập và trình bày báo cáotài chính được áp dụng Đoạn mô tả này rất quan trọng vì nó giúp người sử dụng báo

cáo tài chính hiểu được khuôn khổ về lập báo cáo tài chính đã được áp dụng (VSA

700, A5)

Trong thuyết minh báo cáo tài chính, Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán đưa ra tuyên

bố tuân thủ khuôn khổ về lập báo cáo tài chính đã được áp dụng

Ví dụ:

đốc đơn vị có thể tuyên bố trong thuyết minh về chế độ kế toán áp dụng là “Chế độ

kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14 tháng

09 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính”

tài chính về việc tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành.

Đoạn mô tả rằng báo cáo tài chính được lập theo một khuôn khổ nhất định về lập vàtrình bày báo cáo tài chính được áp dụng chỉ thích hợp khi báo cáo tài chính tuân thủ tất

cả các yêu cầu đang có hiệu lực của quy định đó trong kỳ kế toán mà báo cáo tài chính

phản ánh (VSA 700, A6)

Nếu đoạn mô tả khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng có chứa

từ ngữ không cụ thể hoặc có hạn chế (ví dụ, “báo cáo tài chính tuân thủ phần lớn các Chuẩn mực kế toán Việt Nam”) thì đoạn mô tả đó không được coi là mô tả đầy đủ về

khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính vì có thể làm cho người sử dụng báo

cáo tài chính hiểu sai (VSA 700, A7)

Trong trường hợp không tuân thủ hoặc chỉ tuân thủ một phần khuôn khổ lập báo cáo tàichính nào đó, thì Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán không được tuyên bố tuân thủkhuôn khổ lập báo cáo tài chính đó Trách nhiệm của kiểm toán viên là phải xác định rõkhuôn khổ lập báo cáo tài chính mà Ban Giám đốc áp dụng từ thủ tục xác định tiền đềcủa cuộc kiểm toán theo yêu cầu của VSA 210 - “Hợp đồng kiểm toán” và liệu Ban Giámđốc của đơn vị được kiểm toán có tuyên bố áp dụng khuôn khổ này một cách phù hợphay không

Tham chiếu đến nhiều hơn một khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính

Đoạn A8-A10, VSA 700 hướng dẫn

Trang 12

Trong một số trường hợp, báo cáo tài chính có thể được lập theo hai khuôn khổ về lập

và trình bày báo cáo tài chính (ví dụ, Chuẩn mực, chế độ kế toán Việt Nam và Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế) Điều này có thể do Ban Giám đốc bắt buộc phải hoặc

lựa chọn lập báo cáo tài chính theo cả hai quy định mà cả hai quy định đó đều là khuônkhổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng Đoạn mô tả đó chỉ phù hợp khibáo cáo tài chính tuân thủ riêng lẻ từng quy định Để được coi là tuân thủ cả hai quyđịnh, báo cáo tài chính cần phải đồng thời tuân thủ cả hai quy định mà không cần đốichiếu các báo cáo lập theo hai quy định khác nhau đó Trên thực tế, việc tuân thủ đồngthời cả hai quy định là điều khó có thể thực hiện, trừ khi Việt Nam đã áp dụng khuôn khổ

về lập và trình bày báo cáo tài chính thứ hai (ví dụ như Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế) như là quy định quốc gia về lập và trình bày báo cáo tài chính hoặc đã loại bỏ

tất cả các rào cản nhằm tuân thủ khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính đó

(VSA 700, A8)

Ví dụ:

toán Việt Nam và Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế.

hợp với các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam và các quy định pháp lý có liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính tại Việt Nam và phù hợp với các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế”.

Khi báo cáo tài chính của một đơn vị được lập theo một khuôn khổ về lập và trình bày

báo cáo tài chính (ví dụ chuẩn mực, chế độ kế toán Việt Nam - VAS) có thuyết minh

hoặc thông tin bổ sung để đối chiếu các thông tin trong báo cáo tài chính này với cácthông tin của cùng đơn vị đó nhưng được lập theo một khuôn khổ về lập và trình bày

báo cáo tài chính khác (ví dụ chuẩn mực lập và trình bày báo cáo tài chính quốc tế IFRS), thì báo cáo tài chính này (VASs) không được coi là lập theo khuôn khổ khác đó

-(IFRS) Lý do là báo cáo tài chính này (VASs) không chứa đựng tất cả các thông tin mà

khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính khác đó (IFRS) yêu cầu (VSA 700, A9)

Tuy nhiên, báo cáo tài chính có thể được lập theo một khuôn khổ về lập và trình bày báocáo tài chính được áp dụng và trong thuyết minh báo cáo tài chính có thêm mô tả vềmức độ tuân thủ của báo cáo đối với một khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài

chính khác (ví dụ, báo cáo tài chính được lập theo Chuẩn mực, chế độ kế toán Việt Nam

có mô tả mức độ tuân thủ Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế) Đoạn mô tả đó là

thông tin tài chính bổ sung và như đã nêu trong đoạn 47, được xem là một phần không

thể tách rời của báo cáo tài chính và cũng thuộc phạm vi của ý kiến kiểm toán (VSA

700, A10)

Ví dụ: Tiếp theo ví dụ về Báo cáo tài chính được lập phù hợp với hai khuôn khổ là chuẩn mực

và chế độ kế toán Việt Nam và Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế.

hợp với các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam và các quy định pháp lý có liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính tại Việt Nam.

khi đánh giá và trình bài tài sản tài chính của công ty cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2010.

6 Hình thức của ý kiến kiểm toán

(VSA 700, 16-19, A11-A12)

Trang 13

1 Các loại ý kiến kiểm toán

1 Nội dung yêu cầu

Đoạn 16-17, VSA 700 quy định

Ý kiến chấp nhận toàn phần được đưa ra khi kiểm toán viên kết luận rằng báo cáo tài

chính được lập, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp

dụng, trên các khía cạnh trọng yếu (VSA 700, 16)

Kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần trong

báo cáo kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 705 trong các trường hợp:

(VSA 700, 17)

a Dựa trên bằng chứng kiểm toán thu thập được, kiểm toán viên kết luận rằng báocáo tài chính xét trên phương diện tổng thể còn chứa đựng sai sót trọng yếu; hoặc

b Kiểm toán viên không thể thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để đưa

ra kết luận rằng báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể không còn chứađựng sai sót trọng yếu

2 Hướng dẫn và so sánh

a Ý kiến chấp nhận toàn phần và các loại ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn

phần

VSA 700 - “Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính” ban hành năm 1999 quy định 04

loại ý kiến kiểm toán: (Đoạn 34, VSA 700 ban hành năm 1999)

- Ý kiến chấp nhận toàn phần

- Ý kiến chấp nhận từng phần (hoặc ý kiến ngoại trừ)

- Ý kiến từ chối (hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến)

- Ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược)

VSA 700 mới phần loại ý kiến kiểm toán thành 02 loại:

- Ý kiến chấp nhận toàn phần

- Ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần (Ý kiến sửa đổi)

Và, VSA 700 mới chỉ quy định và hướng dẫn “Ý kiến chấp nhận toàn phần” Các ý kiếnkhông phải là ý kiến chấp nhận toàn phần được quy định và hướng dẫn trong mộtchuẩn mực kiểm toán khác, VSA 705 - “Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấpnhận toàn phần”

Đoạn A1, VSA 705 hướng dẫn các loại ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toànphần, đánh giá của kiểm toán viên về bản chất của vấn đề dẫn tới việc kiểm toán viênphải đưa ra ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần, ảnh hưởng lan rộng hoặcảnh hưởng nếu có của vấn đề lên báo cáo tài chính cũng như tác động của vấn đề đếnloại ý kiến kiểm toán được đưa ra

Trang 14

Tính chất của vấn đề dẫn tới ý kiến sửa đổi (không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần)

Đánh giá của kiểm toán viên về ảnh hưởng lan rộng hoặc ảnh hưởng nếu có lên báo cáo tài

chính

Trọng yếu nhưng không

có ảnh hưởng lan rộng Trọng yếu và có ảnh hưởng lan rộng

Báo cáo tài chính có sai sót trọng yếu Ý kiến chấp nhận

từng phần

Ý kiến trái ngược

Không có khả năng thu thập được đầy

đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp

Ý kiến chấp nhận từng phần

Ý kiến từ chối

b Ảnh hưởng lan rộng

Đoạn 5a, VSA 705 định nghĩa:

Ảnh hưởng lan rộng - một thuật ngữ được sử dụng, trong điều kiện có sai sót, mô tả

ảnh hưởng của sai sót đến báo cáo tài chính hoặc những ảnh hưởng có thể có của saisót (nếu có) đến báo cáo tài chính do sai sót chưa/không được phát hiện bởi kiểm toánviên không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp Ảnh hưởng lanrộng đến báo cáo tài chính là những ảnh hưởng, mà theo đánh giá của kiểm toán viên:

i không chỉ giới hạn đến một số yếu tố, một số tài khoản hoặc khoản mục cụ thể của báo cáo tài

chính;

ii nếu có giới hạn, các ảnh hưởng này đại diện hoặc có thể đại diện một phần quan trọng của báo

cáo tài chính; hoặc

iii liên quan đến các công bố, các ảnh hưởng này là cơ sở cho việc hiểu báo cáo tài chính của

người sử dụng báo cáo

Thuật ngữ “Ảnh hưởng lan rộng” giúp kiểm toán viên phân biệt giữa “Ý kiến chấp nhậntừng phần” với “Ý kiến từ chối” và “Ý kiến trái ngược”

Trong quá trình lấy ý kiến soạn thảo chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 700 (ISA 700),

Ủy ban chuẩn mực Kiểm toán và Đảm bảo Quốc tế (IAASB) đã nhận được 26 ý kiếnđóng góp, rất nhiều trong số các ý kiến đóng góp đó đã e ngại về định nghĩa “ảnhhưởng lan rộng” Các ý kiến này cho rằng định nghĩa này tương đối phức tạp và có thểgây ra tranh cãi nội bộ khi quyết định đưa ra ý kiến kiểm toán Họ cũng cho rằng “Ảnhhưởng lan rộng” cần thiết phải xác định và giới hạn rõ cho các yếu tố, tài khoản hoặckhoản mục cụ thể trên báo cáo tài chính

Trong thực tế tại Việt Nam, việc phân định danh giới giữa “Ý kiến chấp nhận từngphần” với “Ý kiến từ chối” và “Ý kiến trái ngược” cũng không dễ dàng Có nhiều trườnghợp kiểm toán viên bị giới hạn phạm vi đối với gần như toàn bộ các khoản mục tài sảntrên bảng cân đối kế toán nhưng vẫn đưa ra “ý kiến chấp nhận từng phần” thay vì “Ýkiến từ chối”

Đồng thời, Điều 48, Luật Kiểm toán độc lập (Luật KTĐL) quy định “Bộ Tài chính quy định nội dung không được ngoại trừ trong báo cáo kiểm toán phù hợp với chuẩn mực kiểm toán.” Điều này cũng sẽ tác động đến việc lựa chọn và đưa ra ý kiến của kiểm

Trang 15

toán viên trong báo cáo kiểm toán.

Ví dụ trong Báo cáo kiểm tra chất lượng năm 2010 của VACPA đã đưa ra trường hợp ýkiến kiểm toán ngoại trừ (ý kiến chấp nhận từng phần) số dư hàng tồn kho của mộtdoanh nghiệp đóng tàu, trong đó giá trị hàng tồn kho cuối kỳ trên báo cáo tài chính (baogồm tài sản cố định, vật tư, hàng hóa, sản phẩm dở dang ) chiếm đến 70% tổng giá trịtài sản có của doanh nghiệp) Trường hợp này ý kiến ngoại trừ là không phù hợp màchắc chắn phải là ý kiến từ chối hoặc ý kiến không chấp nhận

Xem thêm một số ví dụ minh họa trong Phụ lục 5 tài liệu hướng dẫn này

c “Ý kiến từ chối”

Trong quá trình lấy ý kiến soạn thảo ISA 700 và trong quá trình lấy ý kiến thảo luận về

dự thảo VSA 700, ban soạn thảo nhận được một số ý kiến cho rằng “Từ chối đưa ra ýkiến” không phải là một loại ý kiến kiểm toán bởi vì kiểm toán viên không thể đưa ra ýkiến của mình về báo cáo tài chính do phạm vi kiểm toán bị hạn chế

Các ý kiến này nhấn mạnh rằng phạm vi kiểm toán bị hạn chế đến mức kiểm toán viênkhông thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp, không thể hiện đầy

đủ các ảnh hưởng đến báo cáo tài chính Có nghĩa là kiểm toán viên không thể đưa ra

ý kiến của mình về liệu báo cáo tài chính có chứa đựng sai sót trọng yếu

Một báo cáo kiểm toán từ chối đưa ra ý kiến cũng có nghĩa rằng báo cáo tài chính màbáo cáo kiểm toán từ chối đưa ra ý kiến đó đã được kiểm toán, nhưng cũng có nghĩa làchưa được kiểm toán, vì nếu được kiểm toán lại và không bị giới hạn thì KTV cũng cóthể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần, ý kiến ngoại trừ hoặc ý kiến không chấp nhận(ý kiến trái ngược)

d Phân biệt giữa “Ý kiến từ chối” và “Ý kiến trái ngược”

Phân biệt giữa “Ý kiến từ chối” và “Ý kiến trái ngược” dựa trên tính chất của vấn đề dẫntới các ý kiến này

Khi báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu ảnh hưởng rộng tới toàn bộ báo cáotài chính, kiểm toán viên phải đưa “Ý kiến trái ngược”

Ví dụ: Đối với khuôn khổ trình bày hợp lý

khía cạnh trọng yếu, ”

Khi phạm vi kiểm toán bị giới hạn đến mức kiểm toán viên không thể thu thập đầy đủbằng chứng thích hợp, kiểm toán viên cần “từ chối đưa ra ý kiến”

Ví dụ: Đối với khuôn khổ trình bày hợp lý

cáo tài chính cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2010, chúng tôi không đủ cơ sở

để đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính của công ty ”

Một số trường hợp báo cáo kiểm toán phát hành cho các doanh nghiệp niêm yết trênthị trường chứng khoán Việt Nam, kiểm toán viên đã từ chối đưa ra ý kiến trong khiđưa ra các sai sót trọng yếu mà doanh nghiệp không thực hiện điều chỉnh trên báo cáotài chính

Ví dụ: Đối với khuôn khổ trình bày hợp lý

Trang 16

Trong báo cáo kiểm toán của doanh nghiệp niêm yết P, kiểm toán viên đã nêu ra vấn

đề ảnh hưởng đến ý kiến của kiểm toán viên là doanh nghiệp P đã không thực hiện trích lập dự phòng các khoản đầu tư cổ phiếu và dự phòng phải thu với các bằng chứng rõ ràng về sự sụt giảm giá cổ phiếu và khách hàng với nợ khó đòi đang vướng vào rắc rối pháp lý và không có khả năng trả nợ Tuy nhiên, kiểm toán viên đã từ chối đưa ra ý kiến thay vì đưa ra ý kiến trái ngược

e “Đoạn nhấn mạnh” trong báo cáo kiểm toán

“Ý kiến chấp nhận toàn phần” trong VSA 700 (ban hành năm 1999, đoạn 37) có thể baogồm một đoạn nhận xét (hoặc nhấn mạnh) để làm rõ một số yếu tố đã được trình bàytrên báo cáo tài chính VSA 700 (ban hành năm 1999) không nêu rõ đoạn nhấn mạnh

có bao gồm trong các ý kiến không chấp nhận toàn phần

Tuy nhiên, VSA 700 mới không quy định và hướng dẫn về “Đoạn nhấn mạnh” trong báocáo kiểm toán “Đoạn nhấn mạnh” được quy định và hướng dẫn trong một chuẩn mựckiểm toán mới, VSA 706 - “Đoạn nhấn mạnh hoặc đoạn khác trong báo cáo kiểm toán”.VSA 706 quy định và hướng dẫn rằng “đoạn nhấn mạnh” có thể bao gồm trong báo cáokiểm toán cho dù ý kiến kiểm toán là “Ý kiến chấp nhận toàn phần” hoặc “Ý kiến khôngchấp nhận toàn phần” Và “đoạn nhấn mạnh” không ảnh hưởng tới ý kiến kiểm toántrong báo cáo kiểm toán

Ví dụ: Ý kiến chấp nhận toàn phần có đoạn nhấn mạnh

“Theo ý kiến của chúng tôi, báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của công ty ABC tại ngày 31/12/X, cũng như kết quả kinh doanh và các luồng lưu chuyển tiền tệ trong năm tài chính kết thúc tại ngày 31/12/X, phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành và các quy định pháp lý có liên quan.

Ở đây chúng tôi không phủ nhận ý kiến chấp nhận toàn phần như trên, mà chỉ muốn lưu ý người đọc báo cáo tài chính đến điểm X trong phần thuyết minh báo cáo tài chính: Công ty ABC đã đưa vào sử dụng công trình xây dựng có giá trị XX VNĐ, 3 tháng trước ngày kết thúc niên độ tài chính, nhưng chưa ghi tăng tài sản cố định, chưa tính khấu hao và cũng chưa lập dự phòng Điều này cần được thuyết minh rõ ràng trong báo cáo tài chính ”.

2 Thảo luận với Ban Giám đốc về các vấn đề ảnh hưởng tới ý kiến kiểm toán

1 Nội dung yêu cầu

Đoạn 18-19, VSA 700 quy định

Nếu báo cáo tài chính được lập theo các yêu cầu của khuôn khổ về trình bày hợp lýkhông đạt được mục tiêu trình bày hợp lý, kiểm toán viên phải thảo luận vấn đề này vớiBan Giám đốc và, dựa vào các yêu cầu của khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tàichính được áp dụng và cách thức vấn đề được giải quyết, kiểm toán viên phải quyếtđịnh xem liệu có cần đưa ra ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần trong báo

cáo kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 705 hay không (VSA 700, 18)

Khi báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về tuân thủ, kiểm toán viên không cầnphải đánh giá liệu báo cáo tài chính có được trình bày hợp lý hay không Tuy nhiên,nếu trong những trường hợp hãn hữu, kiểm toán viên kết luận rằng các báo cáo tàichính đó gây hiểu sai, kiểm toán viên phải thảo luận vấn đề đó với Ban Giám đốc và,dựa vào cách thức vấn đề được giải quyết, kiểm toán viên phải quyết định liệu có cầnphải đề cập đến vấn đề này trong báo cáo kiểm toán hay không, và nếu có thì sẽ đề

cập như thế nào (VSA 700, 19)

Trang 17

2 Hướng dẫn áp dụng

Đoạn A11, VSA 700 hướng dẫn

Có những trường hợp báo cáo tài chính dù đã được lập theo các yêu cầu của khuônkhổ về trình bày hợp lý nhưng vẫn không đạt được mục tiêu trình bày hợp lý Trongtrường hợp đó, Ban Giám đốc có thể thuyết minh thêm trong báo cáo tài chính nhữngnội dung mà khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính không yêu cầu, hoặc trongmột số trường hợp rất hãn hữu, Ban Giám đốc có thể không tuân thủ một yêu cầu củakhuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính nhằm đạt được mục tiêu trình bày hợp

lý báo cáo tài chính

Điểm (i) trong định nghĩa về “khuôn khổ trình bày hợp lý” quy định Ban Giám đốc có thểthuyết minh thêm nhằm đạt được sự trình bày hợp lý trong báo cáo tài chính Trongtrường hợp này, Ban Giám đốc được trao sự linh hoạt (management discretion) trongviệc quyết định trình bày các thông tin trong thuyết minh báo cáo tài chính Kiểm toánviên nên trao đổi với Ban Giám đốc về các thông tin cụ thể cần trình bày trong báo cáotài chính nhằm đạt được sự trình bày hợp lý

Ví dụ: Một doanh nghiệp áp dụng hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam trong việc

lập và trình bày báo cáo tài chính Bên cạnh các thông tin về doanh thu và giá vốn trình bày theo vùng địa lý và dòng sản phẩm, Ban Giám đốc có thể cung cấp thêm các thông tin liên quan đến doanh thu và chi phí phân bổ theo hoạt động (Activity-based) Kiểm toán viên nên trao đổi nguyên nhân tại sao cần trình bày các thông tin này, cơ sở đảm bảo tính chính xác của các thông tin này trong hệ thống kế toán quản trị của doanh nghiệp Thông tin trình bày về báo cáo bộ phận lấy từ hệ thống kế toán quản trị không được quy định trong chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành, nhưng được hướng dẫn trong Chuẩn mực lập và trình bày báo cáo tài chính quốc tế IFRS 8.

Đoạn A12, VSA 700 hướng dẫn

Rất ít khi kiểm toán viên coi báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về tuân thủ làgây hiểu sai nếu, theo đoạn 06 (a) Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 210, kiểm toánviên đã xác định rằng khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính đó là có thể ápdụng được

7 Báo cáo kiểm toán

1 Hình thức của báo cáo kiểm toán

(VSA 700, 20, A13-A14)

Nội dung yêu cầu

Báo cáo kiểm toán phải được lập bằng văn bản (VSA 700, 20)

Hướng dẫn áp dụng

Đoạn A13-A14, VSA 700 hướng dẫn

Báo cáo kiểm toán lập bằng văn bản bao gồm cả các báo cáo phát hành dưới dạng in ragiấy và bằng các phương tiện điện tử (nếu có)

Phụ lục của Chuẩn mực này bao gồm các ví dụ minh họa về các báo cáo kiểm toán vềbáo cáo tài chính

Trang 18

2 Báo cáo kiểm toán cho các cuộc kiểm toán được thực hiện theo các Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

Nội dung chính của báo cáo kiểm toán cho các cuộc kiểm toán được thực hiện theo cácchuẩn mực kiểm toán Việt Nam được tổng hợp và hướng dẫn trong bảng sau:

Tham

21,

A15 Tiêu đề báo cáo kiểmtoán Báo cáo kiểm toán phải có tiêu đề chỉ rõ đó là Báo cáo kiểm toán độc lập.Tiêu đề chỉ rõ báo cáo là báo cáo của kiểm toán độc lập, ví dụ “Báo cáo

kiểm toán độc lập”, xác nhận và khẳng định rằng kiểm toán viên đáp ứng

các yêu cầu đạo đức nghề nghiệp có liên quan về tính độc lập và do đóphân biệt rõ giữa báo cáo kiểm toán độc lập với các báo cáo do các đối

tượng khác phát hành, ví dụ: kiểm toán nhà nước, kiểm toán nội bộ,

22,

A16 Người nhận báo cáo kiểm toán Báo cáo kiểm toán phải chỉ rõ người nhận báo cáo kiểm toán tùy theotừng cuộc kiểm toán

Pháp luật và các quy định của Việt Nam quy định rõ người nhận báo cáokiểm toán Người nhận báo cáo kiểm toán là những người mà báo cáođược lập cho họ sử dụng, thường là Ban Giám đốc, Hội đồng quản trịhoặc Ban quản trị của đơn vị có báo cáo tài chính được kiểm toán, vàcác cổ đông

23,

A17-A19

Mở đầu của báo cáo

a Nêu rõ tên đơn vị có báo cáo tài chính đã được kiểm toán;

b Nêu rõ rằng báo cáo tài chính đã được kiểm toán;

c Nêu rõ tiêu đề của từng báo cáo cấu thành bộ báo cáo tài chính;

d Tham chiếu đến phần tóm tắt các chính sách kế toán quan trọng vàcác thuyết minh khác;

e Nêu rõ ngày kết thúc kỳ kế toán hoặc kỳ kế toán của từng báo cáocấu thành bộ báo cáo tài chính;

f Nêu rõ số trang của báo cáo tài chính đã được kiểm toán

Mở đầu của báo cáo kiểm toán nói rõ rằng kiểm toán viên đã kiểm toáncác báo cáo tài chính kèm theo của đơn vị, bao gồm (nêu đầy đủ tên củatừng báo cáo tài chính cấu thành bộ báo cáo tài chính hoàn chỉnh theokhuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng, nêu rõngày kết thúc kỳ kế toán hoặc kỳ kế toán của từng báo cáo tài chính) vàphần tóm tắt các chính sách kế toán quan trọng và các thuyết minh khác.Trong trường hợp báo cáo tài chính đã được kiểm toán sẽ được đưa vàomột hồ sơ, tài liệu trong đó chứa các thông tin khác, chẳng hạn như báocáo thường niên, kiểm toán viên cần xác định rõ số của các trang mà cácbáo cáo tài chính đã kiểm toán được trình bày Điều này sẽ giúp người

sử dụng báo cáo xác định rõ các báo cáo tài chính mà báo cáo kiểm toántham chiếu đến

Báo cáo kiểm toán trình bày ý kiến kiểm toán về một bộ báo cáo tài chínhhoàn chỉnh theo như định nghĩa trong khuôn khổ về lập và trình bày báo

cáo tài chính được áp dụng Ví dụ, phần lớn các khuôn khổ về lập và

Trang 19

chiếu

trình bày báo cáo tài chính cho mục đích chung quy định một bộ báo cáo tài chính gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, phần tóm tắt các chính sách kế toán quan trọng và các thuyết minh khác Tại một số nước cũng như tại Việt Nam, các thông tin bổ sung cũng có thể được coi là một phần không thể tách rời của báo cáo tài chính.

24-27,

A20-A23

Trách nhiệm của Ban

Giám đốc đối với báo

cáo tài chính

Báo cáo kiểm toán phải bao gồm một mục có tiêu đề là “Trách nhiệm củaBan Giám đốc (hay một thuật ngữ thích hợp khác) đối với Báo cáo tàichính.”

Trong các ngữ cảnh khác nhau, cụm “Ban Giám đốc” có thể thay thế cho

phù hợp Ví dụ: tại một số nước sử dụng thuật ngữ “Ban Quản trị” khi

Ban Quản trị có trách nhiệm lập báo cáo tài chính Hoặc khi kiểm toán báo cáo tài chính của dự án, thuật ngữ được sử dụng là “Ban Quản lý dự án”, hoặc “Ban Giám hiệu” sử dụng cho báo cáo tài chính của trường Đại học.

Vì giúp giải thích cho người sử dụng báo cáo về cơ sở tiến hành kiểmtoán, báo cáo kiểm toán phải mô tả trách nhiệm của Ban Giám đốc trongviệc:

 Lập và trình bày báo cáo tài chính, trong đó giải thích thêm rằng BanGiám đốc chịu trách nhiệm lập và trình bày báo cáo tài chính theokhuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng.Trong trường hợp các báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về

trình bày hợp lý, phần này phải đề cập đến “trách nhiệm lập và trình

bày trung thực và hợp lý các báo cáo tài chính của Công ty”

 Chịu trách nhiệm về kiểm soát nội bộ mà Ban Giám đốc xác định làcần thiết để đảm bảo cho việc lập và trình bày báo cáo tài chínhkhông còn chứa đựng sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn.Trách nhiệm của Ban Giám đốc có thể được bổ sung thêm (trong trườnghợp cần thiết) để phản ánh thêm các trách nhiệm của Ban Giám đốc liênquan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính theo quy định của một

ngành cụ thể hoặc do bản chất của đơn vị được kiểm toán Ví dụ: trách

nhiệm của Ban quản lý Dự án trong việc tuân thủ các điều khoản của Hiệp định vay trong quá trình lập báo cáo tài chính.

Trách nhiệm của Ban Giám đốc mô tả trong Báo cáo kiểm toán cần nhấtquán với phần trách nhiệm này được mô tả trong hợp đồng kiểm toántheo quy định của VSA 210

Chi tiết trách nhiệm của Ban Giám đốc bao gồm:

cần thiết để đảm bảo cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính không còn chứa đựng sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn.

Trang 20

chiếu

thể dễ hiểu đối với người sử dụng báo cáo tài chính.

Tại Việt Nam, pháp luật và các quy định có liên quan đến trách nhiệm củaBan Giám đốc có thể đề cập cụ thể đến trách nhiệm đối với sự đầy đủcủa chứng từ kế toán, sổ kế toán, và hệ thống kế toán Do các chứng từ

kế toán, sổ kế toán, và hệ thống kế toán là một phần không thể tách rờicủa kiểm soát nội bộ nên đoạn mô tả về trách nhiệm của Ban Giám đốctrong hợp đồng kiểm toán và báo cáo kiểm toán không đề cập đến cáctrách nhiệm này của Ban Giám đốc

28-33

A24-A26

Trách nhiệm của

kiểm toán viên Báo cáo kiểm toán phải bao gồm một mục có tiêu đề là “Trách nhiệm củaKiểm toán viên”

Báo cáo kiểm toán phải nêu rõ trách nhiệm của kiểm toán viên là đưa ra

ý kiến về báo cáo tài chính dựa trên kết quả cuộc kiểm toán Bao gồm:

 Báo cáo kiểm toán phải nêu rõ rằng công việc kiểm toán đã đượctiến hành theo các Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Báo cáo kiểmtoán cũng phải giải thích rằng các chuẩn mực đó yêu cầu kiểm toánviên phải tuân thủ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, và phải lập kếhoạch và thực hiện cuộc kiểm toán để đạt được sự đảm bảo hợp lý

về việc báo cáo tài chính có còn sai sót trọng yếu hay không

 Mô tả cuộc kiểm toán bằng cách nêu rõ:

- Một cuộc kiểm toán bao gồm thực hiện các thủ tục để thu thậpcác bằng chứng kiểm toán về các số liệu và thuyết minh trên báocáo tài chính;

- Các thủ tục kiểm toán được lựa chọn dựa trên xét đoán của kiểmtoán viên, bao gồm đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong báocáo tài chính, do gian lận hoặc nhầm lẫn Khi thực hiện đánh giárủi ro, kiểm toán viên xem xét kiểm soát nội bộ của đơn vị liênquan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính trung thực, hợp

lý nhằm thiết kế các thủ tục kiểm toán phù hợp với tình hình thực

tế, tuy nhiên không nhằm mục đích đưa ra ý kiến về tính hữuhiệu của kiểm soát nội bộ của đơn vị Trong trường hợp kiểmtoán viên cũng có trách nhiệm đưa ra ý kiến về tính hữu hiệu củakiểm soát nội bộ cùng với việc kiểm toán báo cáo tài chính, kiểmtoán viên sẽ bỏ đi đoạn nói rằng việc kiểm toán viên xem xétkiểm soát nội bộ không nhằm mục đích đưa ra ý kiến về tính hữuhiệu của kiểm soát nội bộ của đơn vị;

- Một cuộc kiểm toán cũng bao gồm việc đánh giá tính thích hợpcủa các chính sách kế toán được áp dụng và tính hợp lý của cácước tính kế toán của Ban Giám đốc cũng như đánh giá việc trìnhbày tổng thể báo cáo tài chính

Trong trường hợp báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về trìnhbày hợp lý, phần mô tả về cuộc kiểm toán trong báo cáo kiểm toán phải

đề cập đến “trách nhiệm lập và trình bày trung thực và hợp lý các báocáo tài chính của đơn vị”

Báo cáo kiểm toán phải nêu rõ liệu kiểm toán viên có tin tưởng rằng cácbằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên đã thu thập được là đầy đủ và

Trang 21

chiếu

thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán

34-37

A27-A33

Ý kiến của kiểm toán

viên Báo cáo kiểm toán phải bao gồm một mục có tiêu đề là “Ý kiến của kiểmtoán viên”

(Phần “Ý kiến của kiểm toán viên” được trình bày cụ thể trong mục 3.3 của tài liệu này)

Ví dụ:

Trong cuộc kiểm toán báo cáo tài chính của các dự án ODA do các tổ chức quốc tế tài trợ, kiểm toán viên còn phải có trách nhiệm đưa ra ý kiến

về các vấn đề sau:

trong việc phát hiện và ngăn ngừa rủi ro do gian lận hoặc nhầm lẫn.

bản pháp lý có liên quan khác.

biệt được đệ trình trong các đơn xin rút vốn.

Các trách nhiệm báo cáo này cần phải được trình bày trong một mụcriêng của báo cáo kiểm toán để phân biệt rõ các trách nhiệm này vớitrách nhiệm đưa ra ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính theo các chuẩnmực kiểm toán Việt Nam

40

A37

Chữ ký của kiểm

toán viên Báo cáo kiểm toán phải có 2 chữ ký, gồm chữ ký của kiểm toán viên hành nghề được giao phụ trách cuộc kiểm toán và chữ ký của thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán, và phải đóng dấu của doanh nghiệp kiểm toán (hoặc chi

nhánh doanh nghiệp kiểm toán) phát hành báo cáo kiểm toán.

Báo cáo kiểm toán phải có 2 chữ ký của 2 kiểm toán viên hành nghề, dưới mỗi chữ ký phải ghi rõ họ và tên, số chứng chỉ kiểm toán viên Chữ

ký thứ nhất trên báo cáo kiểm toán là của kiểm toán viên hành nghề được giao phụ trách cuộc kiểm toán và chữ ký thứ hai là của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp kiểm toán hoặc người được uỷ quyền bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật Người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật được ký báo cáo kiểm toán phải là thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán.

Trên chữ ký của của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp kiểm toán hoặc người được uỷ quyền phải đóng dấu của doanh nghiệp kiểm toán (hoặc chi nhánh) chịu trách nhiệm phát hành báo cáo kiểm toán Giữa các trang của báo cáo kiểm toán và báo cáo tài chính đã được kiểm toán phải đóng dấu giáp lai bằng dấu của doanh nghiệp kiểm

Trang 22

Ngày ký báo cáo

kiểm toán Ngày ký báo cáo kiểm toán không được trước ngày mà kiểm toán viênthu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở cho ý kiến

kiểm toán về BCTC, bao gồm các bằng chứng chứng minh rằng:

a Tất cả các báo cáo cấu thành bộ báo cáo tài chính, bao gồm cácthuyết minh liên quan, đã được lập;

b Những người có thẩm quyền đã xác nhận trách nhiệm của họ đốivới các báo cáo tài chính này

Ngày ký báo cáo kiểm toán cũng không được trước ngày ký báo cáo tàichính

Một số vấn đề kiểm toán viên cần xem xét:

 Ảnh hưởng của các sự kiện và giao dịch phát sinh mà kiểm toánviên biết được cho tới ngày ký báo cáo kiểm toán theo yêu cầu củaVSA 560

 Đảm bảo thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để đưa

ra ý kiến về bộ BCTC đầy đủ

 Đảm bảo thu thập bằng chứng về BCTC đã được những người cóthẩm quyền phê duyệt trước khi đề ngày ký báo cáo kiểm toán, hoặcxem xét thủ tục phê duyệt BCTC cùng với cơ cấu tổ chức quản lý vàquản trị của đơn vị

Trong trường hợp pháp luật hoặc doanh nghiệp được kiểm toán có quyđịnh BCTC phải được các cổ đông phê duyệt lần cuối trước khi pháthành rộng rãi cho công chúng, thì sự phê duyệt cuối cùng của các cổđông không phải là một thủ tục cần thiết để kiểm toán viên đưa ra kếtluận đã thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp

nghiệp kiểm toán Báo cáo kiểm toán phải ghi rõ tên và địa chỉ doanh nghiệp kiểm toán.Ngoài tên đầy đủ, có thể có tên viết tắt hoặc biểu tượng (lôgô).

Ngoài địa chỉ gửi thư còn có thể có số fax, email, địa chỉ website hoặc sốhiệu liên lạc khác của doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toánphát hành báo cáo kiểm toán

3 Ý kiến của kiểm toán viên

(VSA 700, 34-37, A27-A33)

Nội dung yêu cầu

Đoạn 07b, VSA 700 trình bày định nghĩa về hai loại khuôn khổ lập và trình bày báo cáotài chính, khuôn khổ về trình bày hợp lý và khuôn khổ về tuân thủ Tương ứng với hailoại khuôn khổ này, kiểm toán viên sẽ đưa ra hai loại ý kiến kiểm toán phù hợp

Trang 23

Trừ khi pháp luật có quy định khác, mẫu ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần đối vớitừng loại khuôn khổ lập và trình bày báo cáo tài chính:

Khuôn khổ về trình bày hợp lý: “Báo cáo tài chính phản ánh trung thực và hợp

lý, trên các khía cạnh trọng yếu, … phù hợp với (khuôn khổ về lập và trình bày báo

cáo tài chính được áp dụng)” (VSA 700, 35)

Khuôn khổ về tuân thủ: “Báo cáo tài chính được lập, trên các khía cạnh trọng

yếu, phù hợp với (khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng)

(VSA 700, 36) Hướng dẫn áp dụng

f Ngôn từ trong ý kiến kiểm toán

Tương ứng với từng khuôn khổ lập và trình bày báo cáo tài chính, kiểm toán viên sẽ sửdụng ngôn từ phù hợp

Đối với khuôn khổ về trình bày hợp lý, kiểm toán viên phải bao gồm cụm từ “phản ánh trung thực và hợp lý” trong ý kiến kiểm toán.

Trong khi, đối với khuôn khổ về tuân thủ, kiểm toán viên không được sử dụng cụm từ

“phản ánh trung thực và hợp lý”, mà cần phải khẳng định “Báo cáo tài chính được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với”.

Đoạn A27, VSA 700 hướng dẫn

Trong một số trường hợp, pháp luật hoặc các quy định khác có thể có những yêu cầu vềngôn từ trong báo cáo kiểm toán (đặc biệt là ý kiến kiểm toán) khác một cách đáng kể

so với quy định của các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Trong trường hợp này, VSA

210 yêu cầu kiểm toán viên phải đánh giá:

a Liệu người sử dụng báo cáo tài chính có hiểu sai về mức độ đảm bảo đạt đượctrong cuộc kiểm toán báo cáo tài chính hay không và, nếu như vậy,

b Liệu các thuyết minh bổ sung trong báo cáo kiểm toán có thể giúp người đọc báocáo kiểm toán hiểu đúng hay không

Nếu kiểm toán viên xét thấy các thuyết minh bổ sung trong báo cáo kiểm toán không thểgiúp người đọc báo cáo kiểm toán hiểu đúng, VSA 210 yêu cầu kiểm toán viên khôngđược chấp nhận hợp đồng kiểm toán, trừ khi pháp luật và các quy định yêu cầu kiểmtoán viên phải chấp nhận

g Phản ánh trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu

Đối với khuôn khổ về trình bày hợp lý:

Trong hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISAs), kiểm toán viên được phép sửdụng một trong hai cụm từ sau để đưa ý kiến đối với báo cáo tài chính được lập theokhuôn khổ về trình bày hợp lý:

 “trình bày hợp lý, xét trên các khía cạnh trọng yếu”

 “phản ánh trung thực và hợp lý”

Tuy nhiên, tại mỗi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ khác nhau, luật pháp và các quy định liênquan quy định hoặc cho phép sử dụng các cụm từ khác nhau để đánh giá sự hợp lý củabáo cáo tài chính lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý:

Đoạn A27, VSA 700 hướng dẫn

Trang 24

Pháp luật và các quy định liên quan đến việc kiểm toán báo cáo tài chính ở Việt Nam

quy định việc sử dụng cụm từ “phản ánh trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu” Nếu pháp luật và các quy định yêu cầu sử dụng các thuật ngữ khác nhau

thì cũng không ảnh hưởng đến yêu cầu đối với kiểm toán viên trong việc đánh giá sựhợp lý của báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý

Điều 7, Luật KTĐL cũng quy định “Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính đánh giá tínhtrung thực và hợp lý của báo cáo tài chính, phù hợp với chuẩn mực kế toán, chế độ kếtoán do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành.”

Tại một số quốc gia khác, việc sử dụng các cụm từ này cũng rất khác biệt, một số ý kiếncủa kiểm toán viên hành nghề tại một số quốc gia:

 Tại Úc, theo Luật doanh nghiệp năm 2001, đối với báo cáo tài chính của các công

ty hoạt động theo Luật doanh nghiệp năm 2001, kiểm toán viên phải sử dụng cụm

từ “phản ánh trung thực và hợp lý” thay vì “trình bày hợp lý, xét trên các khía cạnhtrọng yếu” Đối với các báo cáo tài chính của đơn vị không hoạt động theo Luậtdoanh nghiệp năm 2001, kiểm toán viên có thể sử dụng một trong hai cụm từ trên

 Tại Mỹ, việc sử dụng cụm từ “phản ánh trung thực và hợp lý” là bắt buộc đối vớicác báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết

 Tại Achentina, kiểm toán viên không sử dụng từ “trung thực” mà chỉ sử dụng cụm

từ “trình bày hợp lý, xét trên các khía cạnh trọng yếu”

 Tại Canada, đối với báo cáo tài chính của các công ty hoạt động theo luật doanhnghiệp liên bang, kiểm toán viên chỉ sử dụng cụm từ “trình bày hợp lý, xét trên cáckhía cạnh trọng yếu” Trong khi, đối với báo cáo tài chính của các công ty hoạtđộng theo luật doanh nghiệp của bang Quebec, kiểm toán viên phải sử dụng cụm

từ “trung thực và chính xác” để đánh giá về sự hợp lý của báo cáo tài chính

Theo ý kiến đánh giá của chuyên gia chuẩn mực kiểm toán quốc tế trong hội thảo làm rõchuẩn mực kiểm toán quốc tế được phối hợp tổ chức bởi Ngân hàng Thế giới vàVACPA tại Hà Nội, tháng 6 năm 2011, sự khác biệt về ý nghĩa giữa hai cụm từ “phảnánh trung thực và hợp lý” và “trình bày hợp lý, xét trên các khía cạnh trọng yếu” làkhông lớn Tuy nhiên, một số ý kiến của kiểm toán viên hành nghề tại một số quốc giakhác nhau cho biết họ tránh sử dụng từ “trung thực” trong ý kiến kiểm toán viên khi cóthể nhằm tránh sự hiểu nhầm từ công chúng rằng báo cáo tài chính với ý kiến chấpnhận toàn phần là đạt được sự đảm bảo tuyệt đối

h Mô tả về thông tin trình bày trong báo cáo tài chính

Trong trường hợp báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý, kiểmtoán viên cần nêu rõ trong ý kiến kiểm toán rằng báo cáo tài chính phản ánh trung thực

và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu, các thông tin mà báo cáo tài chính phải trìnhbày

Ví dụ: Khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính cho mục đích chung yêu cầu báo cáo

tài chính phải trình bày về tình hình tài chính của đơn vị tại ngày kết thúc kỳ kế toán, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển tiền tệ cho kỳ kế toán kết thúc cùng ngày.

i Mô tả khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng và ảnh hưởng của

quy định này đến ý kiến kiểm toán Đoạn A30-A31, VSA 700 hướng dẫn

Ngày đăng: 23/04/2014, 22:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w