1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vai trò của người bào chữa trong tiến trình cải cách tư pháp

56 562 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của người bào chứа trong tiến trình cải cách tư pháp
Trường học Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật hình sự
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 354 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cải cách tư pháp là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Điều này được thể hiện thông qua ba Nghị quyết của bộ chính trị, đầu tiên phải kể đến Nghị quyết 08 - NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”. Tiếp đó là Nghị quyết số 48 - NQ/TW 24/5/2005 của Bộ chính trị “Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”. Và cuối cùng là Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Mục tiêu của cải cách tư pháp là xây dựng một hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh có phương thức tổ chức, hoạt động khoa học, hiện đại góp phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự kỷ cương phép nước. Nội dung chủ yếu của cải cách tư pháp là củng cố, kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp, phân định lại thẩm quyền của Toà án, đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp. Trong hoạt động tư pháp, hoạt động xét xử được coi là khâu trọng tâm vì ở đây biểu hiện sự tập trung và thể hiện đầy đủ quyền tư pháp, là hoạt động trên cơ sở kết quả điều tra, truy tố và bào chữa. Mặt khác, Điều 31 Hiến pháp năm 2013 nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam xác định: "Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.” Theo Nghị quyết 08-NQ/TW, ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị "về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" khi tiến hành xét xử, tòa án phải bảo đảm sự bình đẳng cho mọi công dân trước pháp luật, thực sự dân chủ khách quan. Việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, những người có quyền và lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật có sức thuyết phục và đúng thời hạn pháp luật quy định [11]. Như vậy, tính chính xác, khách quan và hợp pháp của các bản án, quyết định của tòa án cũng như sự bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phụ thuộc rất nhiều vào quá trình điều tra, truy tố và xét xử từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, hoạt động tích cực của người bào chữa cũng góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ công lý. Hoạt động của người bào chữa tuy không phải là hoạt động tư pháp, nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ với hoạt động tư pháp, hỗ trợ cho hoạt động tư pháp. Những quy định về người bào chữa từ trước tới nay đã được thể hiên trong nhiều văn bản pháp luật. Cụ thể: Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật luật sư năm 2006, Thông tư 70/2011 của Bộ công an ngày 10 tháng 10 năm 2011 quy định chi tiết thi hành các quy định của bộ luật tố tụng hình sự liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự,… Tuy nhiên, cho đến nay trong lý luận pháp lý và trong thực tiễn vẫn chưa có khái niệm chính thức và thống nhất về người bào chữa. Bộ luật tố tụng hình sự quy định về phạm vi những người tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa còn giới hạn, quyền và nghĩa vụ của người bào chữa còn có nhiều hạn chế, vướng mắc. Đồng thời, đất nước ta đang trong tiến trình cải cách tư pháp và người bào chữa là một trong những nhân tố hết sức quan trọng trong tiến trình này. Tuy nhiên, hiện nay vị trí và vai trò của người bào chữa trong tiến trình cải cách tư pháp vẫn chưa được nhận thức một cách đúng đắn và hoàn thiện. Do vậy, người bào chữa chưa có được những điều kiện tốt nhất để thực hiện vai trò “bào chữa” của mình. Từ những phân tích trên đây đã cho phép khẳng định tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài này. Chính vì vậy tôi mạnh dạn tìm đến và nghiên cứu đề tài: “Vai trò của người bào chữa trong tiến trình cải cách tư pháp”. Và chọn đây làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cho bản thân.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cải cách tư pháp là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhànước ta trong giai đoạn hiện nay Điều này được thể hiện thông qua ba Nghịquyết của bộ chính trị, đầu tiên phải kể đến Nghị quyết 08 - NQ/TW ngày02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháptrong thời gian tới” Tiếp đó là Nghị quyết số 48 - NQ/TW 24/5/2005 của Bộchính trị “Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Namđến năm 2010, định hướng đến năm 2020” Và cuối cùng là Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm2020

Mục tiêu của cải cách tư pháp là xây dựng một hệ thống cơ quan tư pháptrong sạch, vững mạnh có phương thức tổ chức, hoạt động khoa học, hiện đạigóp phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự kỷ cương phép nước Nội dungchủ yếu của cải cách tư pháp là củng cố, kiện toàn bộ máy các cơ quan tưpháp, phân định lại thẩm quyền của Toà án, đổi mới tổ chức và hoạt động củaViện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và cơ quan, tổ chức bổtrợ tư pháp

Trong hoạt động tư pháp, hoạt động xét xử được coi là khâu trọng tâm

vì ở đây biểu hiện sự tập trung và thể hiện đầy đủ quyền tư pháp, là hoạt độngtrên cơ sở kết quả điều tra, truy tố và bào chữa Mặt khác, Điều 31 Hiến phápnăm 2013 nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam xác định: "Người bịbuộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tựluật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.”

Theo Nghị quyết 08-NQ/TW, ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị "về một

số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" khi tiến hành xét

xử, tòa án phải bảo đảm sự bình đẳng cho mọi công dân trước pháp luật, thực

sự dân chủ khách quan Việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào

Trang 2

kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện cácchứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, những người có quyền và lợi ích hợppháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật có sức thuyết phục vàđúng thời hạn pháp luật quy định [11].

Như vậy, tính chính xác, khách quan và hợp pháp của các bản án, quyếtđịnh của tòa án cũng như sự bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dânphụ thuộc rất nhiều vào quá trình điều tra, truy tố và xét xử từ phía các cơquan tiến hành tố tụng Bên cạnh đó, hoạt động tích cực của người bào chữacũng góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ công lý Hoạt động của người bàochữa tuy không phải là hoạt động tư pháp, nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽvới hoạt động tư pháp, hỗ trợ cho hoạt động tư pháp

Những quy định về người bào chữa từ trước tới nay đã được thể hiên trongnhiều văn bản pháp luật Cụ thể: Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật luật sư

năm 2006, Thông tư 70/2011 của Bộ công an ngày 10 tháng 10 năm 2011 quy

định chi tiết thi hành các quy định của bộ luật tố tụng hình sự liên quan đến việcbảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự,…

Tuy nhiên, cho đến nay trong lý luận pháp lý và trong thực tiễn vẫn chưa

có khái niệm chính thức và thống nhất về người bào chữa Bộ luật tố tụnghình sự quy định về phạm vi những người tham gia tố tụng với tư cách làngười bào chữa còn giới hạn, quyền và nghĩa vụ của người bào chữa còn cónhiều hạn chế, vướng mắc Đồng thời, đất nước ta đang trong tiến trình cảicách tư pháp và người bào chữa là một trong những nhân tố hết sức quantrọng trong tiến trình này Tuy nhiên, hiện nay vị trí và vai trò của người bàochữa trong tiến trình cải cách tư pháp vẫn chưa được nhận thức một cáchđúng đắn và hoàn thiện Do vậy, người bào chữa chưa có được những điềukiện tốt nhất để thực hiện vai trò “bào chữa” của mình

Từ những phân tích trên đây đã cho phép khẳng định tính cấp thiết củaviệc nghiên cứu đề tài này Chính vì vậy tôi mạnh dạn tìm đến và nghiên cứu

đề tài: “Vai trò của người bào chữa trong tiến trình cải cách tư pháp” Và

chọn đây làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cho bản thân

Trang 3

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa lý luận

Phân tích và nghiên cứu về vai trò của người bào chữa trong tiến trìnhcải cách tư pháp của nhà nước ta hiện nay sẽ làm rõ vị trí, vai trò của ngườibào chữa trong tiến trình cải cách tư pháp, những bất câp, vường mắc trongcác quy định của pháp luật về người bào chữa Từ đó đưa ra những kiến nghịđể sửa đổi bổ sung các quy định của pháp luật nhằm nâng cao hoạt động củangười bào chữa hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn

Khi nghiên cứu về vai trò của người bào chữa trong tiến trình cải cách tưpháp, sẽ đưa ra một số đánh giá thực tiễn về hoạt động của người bào chữa,cũng như những vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật đối với ngườibào chữa Từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa chất lượnghoạt động của người bào chữa hiện nay

3 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài đúng như tên gọi của nó, đó là: “Vai tròcủa người bào chữa trong tiến trình cải cách tư pháp” Tức là vừa đi nghiêncứu khái quát về người bào chữa và hoạt đông của người bào chữa, đồng thờivừa nghiên cứu về vai trò của người bào chữa trong tiến trình cải cách tư phápcủa nhà nước ta hiện nay

Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởngHồ Chí Minh, các quan điểm chính sách của Đảng và Nhà nước ta về cải cách

tư pháp Đồng thời khóa luận này còn sử dụng các phương pháp phân tích, sosánh, thống kê, tổng hợp, lý luận kết hợp với thực tiễn nhằm có cái nhìn tổngquan, toàn diện và chi tiết

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Khóa luận nghiên cứu, phân tích về người bào chữa và hoạt động của

Trang 4

người bào chữa, trên cơ sở những vướng mắc về lý luận và thực tiễn trongquá trình hoạt động của người bào chữa mà đưa ra những kiến nghị nhằmnâng cao hoạt động của người bào chữa hiện nay.

Sau đó, tiếp tục đi sâu nghiên cứu về vai trò của người bào chữa trongtiến trình cải cách tư pháp của nhà nước ta hiện nay Mà cụ thể là đi phân tíchvai trò của người bào chữa trong việc đảm bảo quyền con người trong lĩnhvực tư pháp hình sự và vai trò của người bào chữa đối với hoạt động tranhtụng Trên cơ sở đó, đưa những kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của ngườibào chữa trong việc bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự

và nâng cao hoạt động tranh tụng của người bào chữa

5 Kết cấu của đề tài.

Đề tài “Vai trò của người bào chữa trong tiến trình cải cách tư pháp” cókết cấu gồm 3 phần: - Mở đầu

- Nội dung

- Kết luận

Trong đó, phần nội dung được đề cập trong 3 chương:

Chương 1: Đánh giá thực trạng hoạt động của người bào chữa trong giaiđoạn từ năm 2007 – 2013

Chương 2: Người bào chữa với vấn đề đảm bảo quyền con người củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Chương 3: Người bào chữa với hoạt động tranh tụng trong tiến trình cảicách tư pháp

Trang 5

PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2007 – 2013 1.1.Một số vấn đề lý luận về người bào chữa

1.1.1 Khái niệm người bào chữa

Nói đến khái niệm người bào chữa, cho đến nay trong khoa học pháp lý

và thực tiễn tố tụng có nhiều khái niệm khác nhau Một trong những lý do dẫnđến các tác giả đề xuất các khái niệm khác nhau về người bào chữa là Bộ luật

tố tụng hình sự năm 2003 không đưa ra khái niệm cụ thể về người bào chữa.Những khái niệm này đều được đúc kết từ sự nghiên cứu về chế địnhngười bào chữa của bản thân mỗi một tác giả

So với Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định về người bào chữa thìBộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có nhiều sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảmviệc xét xử dân chủ, khách quan, công bằng hơn theo tinh thần Nghị quyết số08-NQ/TW, ngày 02-1-2002 của Bộ Chính trị

Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng không nêu khái niệmthế nào là người bào chữa, tuy nhiên căn cứ vào quy định tại các Điều 56,Điều 57 và Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì có thể phần nào xácđịnh được khái niệm của người bào chữa

Trong bài Người bào chữa trong tố tụng hình sự, tác giả Trần Văn Bảy

đã đưa ra khái niệm về người bào chữa: “Người bào chữa trong tố tụng hình

sự là người tham gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự của người bị buộc tội, giúp người bị buộc tội về mặt pháp lýnhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, thông qua đó góp phần bảo vệpháp chế xã hội chủ nghĩa” [21] Đây cũng là cách hiểu của đa phần các tácgiả khi nghiên cứu về khái niệm người bào chữa

Có thể thấy, khái niệm trên đã phần nào làm rõ vị trí, vai trò của người bàochữa, phân biệt người bào chữa với người tiến hành tố tụng và người bảo vệ

Trang 6

quyền lợi của đương sự Tuy nhiên, khi phân tích một cách toàn diện các đặcđiểm của người bào chữa thì khái niệm này vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp.

Thứ nhất, theo quy định tại Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003,

người bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợppháp của họ lựa chọn Trong những trường hợp bị can, bị cáo về tội theokhung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định trong Bộ luật Hình

sự và bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâmthần hoặc thể chất, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họkhông mời người bào chữa thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc tòa ánphải yêu cầu đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người bào chữa cho

họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên củaMặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình

Đây là là một trong những điều kiện để người bào chữa tham gia vàohoạt động tố tụng, tuy nhiên trong khái niệm trên chỉ xác định người bào chữatham gia tố tụng chứ chưa thấy được việc tham gia tố tụng của người bàochữa xuất phát từ sự lựa chọn của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người đạidiện hợp pháp của họ hoặc từ sự chỉ định của cơ quan điều tra, viện kiểm sáthoặc tòa án

Thứ hai, khái niệm xác định rõ chủ thể được người bào chữa giúp đỡ về

mặt pháp lý, chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự làngười bị buộc tội

Theo quy định tại khoản 1 điều 58, người bào chữa tham gia tố tụng từkhi khởi tố bị can, trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bắtngười phạm tội quả tang đang bị truy nã thì người bào chữa tham gia tố tụng

từ khi có quyết định tạm giữ Theo đó, chủ thể được người bào chữa giúp đỡvề mặt pháp lý, chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Đối chiếu với khái niệm trên, vô hình chung tác giả đã quy chụp người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo đều là người bị buộc tội Trong khi đó, người bị tạmgiữ chưa phải là người bị buộc tội mà chỉ là người bị tình nghi

Trang 7

Từ những phân tích trên tôi mạnh dạn đưa ra khái niệm người bào chữa

như sau: Người bào chữa là người được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo,

người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn hoặc được cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc tòa án chỉ định tham gia tố tụng để đưa ra những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp lý nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.

1.1.2 Các loại người bào chữa theo Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 của Bộ luật tố tụng hình sự năm

2003, người bào chữa có thể là luật sư; người đại diện hợp pháp của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân

Người bào chữa là luật sư

Trong các loại người bào chữa, luật sư là người bào chữa chuyên nghiệpnhất Thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự ở nước ta cũng cho thấy sự hiệndiện của luật sư với tư cách là người bào chữa trong các vụ án hình sự ngàycàng phổ biến Pháp luật các nước trên thế giới thường không đưa ra kháiniệm luật sư mà chỉ quy định về tiêu chuẩn để trở thành luật sư Trước đây,Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 cũng không đưa ra một định nghĩa vềluật sư, mà chỉ quy định muốn trở thành luật sư thì phải đủ điều kiện và gianhập Đoàn luật sư

Điều 11, Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 quy định: “Những người

có đủ các điều kiện sau đây có thể gia nhập Đoàn luật sư: Là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có phẩm chất, đạo đức tốt; tốt nghiệp đại học pháp lý hoặc có trình độ pháp lý tương đương.”

Khi Luật Luật sư năm 2006 ra đời và có hiệu lực, đã có một khái niệm

chính thức về luật sư Điều 2 Luật luật sư quy định: “Luật sư là người có đủ tiêu

chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp

lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (gọi chung là khách hàng)”.

Trang 8

Theo đó, Luật sư phải là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc,tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhânluật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư

và có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư

Người có đủ tiêu chuẩn trên nếu muốn được hành nghề luật sư phải cóChứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư Hoạt động bàochữa của luật sư là hoạt động có tính chất chuyên nghiệp

Đối với Luật sư, khi tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa thìphải có giấy chứng nhận bào chữa Giấy chứng nhận bào chữa có ý nghĩa hếtsức quan trọng, đặc biệt là đối với các vụ án có bị can, bị cáo đang bị tạmgiam Nếu không được cấp giấy chứng nhận bào chữa, luật sư khôngđược gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam; không đượctiếp xúc với hồ sơ vụ án, không được tiến hành các hoạt động tố tụng kháctheo quy định của pháp luật để thực hiện nhiệm vụ bào chữa

Người bào chữa là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Từ khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ra đời đến nay, về phương diệnpháp lý chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào giải thích rõ người đại diệnhợp pháp của bị can, bị cáo là ai Tuy nhiên, trong Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 18/12/1988 của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhândân tối cao khi đề cập đến quyền kháng cáo đã hướng dẫn: “Đại diện hợppháp của bị cáo chưa thành niên là bố mẹ hoặc người đỡ đầu của họ” Nộidung trên đã gián tiếp làm rõ người đại diện hợp pháp nhưng chỉ là người đạidiện hợp pháp của bị cáo là người chưa thành niên chứ không phải là ngườiđại diện hợp pháp cho bị can, bị cáo nói chung như quy định tại Điều 56 Bộluật tố tụng hình sự

Đến Bộ luật Dân sự năm 2005, theo quy đinh tại Điều 141 thì chỉ cóngười chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự và người bị hạnchế năng lực hành vi dân sự mới có người đại diện theo pháp luật [1] Người

Trang 9

đại diện hợp pháp trong trường hợp này là cha mẹ, người giám hộ hoặc ngườiđược tòa án chi định Nếu không thuộc trường hợp này (tức là các bị can, bịcáo đã thành niên, thể chất tâm thần bình thường) thì phải có ủy quyền hợppháp, tức là họ phải tự mình yêu cầu người bào chữa.

Như vậy, có thể thấy người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo là có thể là bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, người đỡ đầu, anh, chị em ruộtcủa người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc người có nhượcđiểm về thể chất hoặc tâm thần

Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu thamgia tố tụng với tư cách là người bào chữa thì họ có quyền và nghĩa vụ như đốivới người bào chữa Nếu không bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáothì người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vẫn tham gia

tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp vì vậy họ có những quyền nhưngười bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo muốn thamgia tố tụng với tư cách người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáonhất thiết phải là người đã thành niên; không bị tâm thần; có quốc tịch ViệtNam và cư trú tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đốivới người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người có quốc tịch nước ngoài, ngườikhông có quốc tịch hoặc là người Việt Nam ở nước ngoài

Người bào chữa là bào chữa viên nhân dân

Ở nước ta, chức danh bào chữa viên nhân dân ra đời trên cơ sở sắc lệnh

số 69/SL ngày 18 tháng 6 năm 1949 Sau đó, để cụ thể hóa sắc lệnh này, Bộ

Tư pháp tiếp tục ban hành Nghị định số 01/NĐ - VY ngày 12 tháng 1 năm

1950, nghị định này đã quy định rõ tiêu chuẩn Bào chữa viên nhân dân

Theo đó, các điều kiện để trở thành bào chữa viên bao gồm: Có quốc tịchViệt Nam, không phân biệt đàn ông hay đàn bà; ít nhất 21 tuổi; hạnh kiểm tốt

và chưa can án [14] Từ đó, đầu mỗi năm, ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh,thành và Chánh án lập ra một danh sách các người trong địa phương có đủ điều

Trang 10

kiện và bằng lòng đứng ra bào chữa trong các phiên tòa (trừ tòa án binh tại mặttrận) Về phần mình, người bị xét xử có thể trình một danh sách ba người bênhvực và chánh án sẽ chọn một trong ba người này Nếu người bị xét xử chọnmột người có tên trong danh sách thì chánh án bắt buộc phải thừa nhận.

Hiện nay, Khoản 3 điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, có quy

định: “Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt

trận có quyền cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình”.

Như vậy, bào chữa viên nhân dân là người được Ủy Ban Mặt Trận TổQuốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt Trận cử ra để bào chữa cho

người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình Khi tham gia

tố tụng với tư cách là người bào chữa, bào chữa viên nhân dân có các quyền

và nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định chung cho người bào chữa

Thông tư 70 ngày 7 tháng 10 năm 2011 của Bộ Công an quy định chi tiếtthi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự liên quan đến việc bảo đảmquyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, có quy định về thủ tụccấp giấy chứng nhận người bào chữa đối với bào chữa viên nhân dân khi có

đủ bốn loại giấy tờ sau: bản sao giấy chứng minh nhân dân; giấy giới thiệucủa Ủy ban Mặt trân Tổ quốc, tổ chức thành viên của Mặt trận nơi người bịtạm giữ, bị can là thành viên; giấy tờ chứng minh là thành viên của Ủy banmặt trận tổ quốc, tổ chức thành viên của Mặt trận cử đến; văn bản của người

bị tạm giữ, bị can đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thànhviên của Mặt trận nơi người bị tạm giữ, bị can là thành viên cử người bàochữa cho họ

1.1.3.Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa

So với Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 thì Bộ luật tố tụng hình sự năm

2003 đã quy định thêm một số quyền, đồng thời quy định thêm một số nghĩa

vụ đối với người bào chữa

Trang 11

Khoản 1 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về quyềncủa người bào chữa Theo đó, người bào chữa được tham gia tố tụng từ khikhởi tố bị can Trong trường hợp cần phải giữ bí mật điều tra đối với tội đặcbiệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sátquyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết tục điều tra Trongtrường hợp bắt người khẩn cấp và bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bịtruy nã thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ.Người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ,khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ,

bị can và có mặt trong các hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạtđộng tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đếnngười mà mình bào chữa; đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian địađiểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can

Được đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, ngườiphiên dịch; thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từngười bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc

từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáonếu không thuộc bí mật Nhà nước, bí mật công tác;

Được đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; gặp người bị tạm giữ, gặp bị can,

bị cáo đang bị tạm giam; đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ

vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra; tham gia hỏi vàtranh luận tại phiên toà; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan,người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, kháng cáo bản án hoặc quyết định củaToà án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâmthần hoặc thể chất

Song song với các quyền trên, người bào chữa phải thực hiện các nghĩa vụcủa mình được quy định tại khoản 2 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự Đó là:Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quyđịnh để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Trang 12

vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Đồngthời, tuỳ theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liênquan đến vụ án, người bào chữa phải có trách nhiệm giao cho Cơ quan điềutra, Viện kiểm sát, Toà án.

Người bào chữa phải giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháplý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; không được từ chối bàochữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà mình đã đảm nhận bào chữa, nếukhông có lý do chính đáng; phải tôn trọng sự thật và pháp luật; không đượcmua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi dục người khác khai báo gian dối, cung cấp tàiliệu sai sự thật

Phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án; không được tiết lộ bí mậtđiều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa; không được sử dụngtài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vàomục đích xâm phạm lợiích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân Người bào chữa làm trái pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm

mà bị thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa, xử lý kỷ luật, xử phạt hànhchính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồithường theo quy định của pháp luật

1.2.Những kết quả đạt được trong hoạt động của người bào chữa trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2013

Thực tiễn hiên nay cho thấy, việc tham gia tố tụng của người bào chữakhông những đảm bảo tốt hơn quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can,

bị cáo, mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sữa chữa nhữngthiếu sót, sai lầm, hạn chế oan sai, làm rõ sự thật khách quan của vụ án

Có thể thấy, hiện nay luật sư tham gia tố tụng với tư cách người bàochữa là chủ yếu, hoạt động bào chữa của bào chữa viên nhân dân và đại diệnhợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là không nhiều Bởi lẽ:

Luật sư và hoạt động của đội ngũ luật sư đã được điều chỉnh bởi Luật

Trang 13

Luật sư năm 2006 sửa đổi bổ sung 2012 Nhưng bào chữa viên nhân dân lạikhông có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể, người đại diện hợp pháp củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo tham gia tố tụng với tư cách là người bàochữa cũng là chuyện khó khăn

Trên thực tế, kể từ năm 1989 đến nay khi các Đoàn luật sư được khôiphục lại ở các địa phương thì các Đoàn bào chữa đã chấm dứt hoạt động vàgiải thể Do đó chức danh bào chữa viên nhân dân gần như chỉ tồn tại trênphương diện pháp lý và các vụ án có bào chữa viên nhân dân tham gia tố tụngvới tư cách là người bào chữa hiện nay chỉ đếm được trên đầu ngón tay

Quá trình xét xử cho thấy, rất hiếm hoặc có thể nói là chưa có trường hợpnào cha, mẹ của người chưa thành niên hay người giám hộ của người suynhược về thể chất, tinh thần, người chưa thành niên tham gia bào chữa, đặc biệt

ở giai đoạn điều tra Bởi vì, họ “đóng nhiều vai”, vừa mang tư cách của ngườiđại diện, người giám hộ lại là người bào chữa Đối tượng này khó có thể tiếpcận hồ sơ vụ án hoặc gặp người đang bị tạm giữ, tạm giam như luật sư

Luật Luật sư đã được Quốc Hội nước ta ban hành vào ngày 29 tháng

06 năm 2006 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2007 Từ đây tiếp tụckhẳng định vị trí, vai trò của người bào chữa nói chung và của luật sư nóiriêng trong công cuộc bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền vàthúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

Theo qui định của Luật luật sư 2006 (được sửa đổi, bổ sung năm 2012),

chức năng xã hội của luật sư là: "Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần

bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơquan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

Theo thống kê của Bộ Tư pháp, trong 5 năm từ 2007 đến 2011, đội ngũluật sư đã tham gia 64.173 vụ án hình sự Trong đó có 32.752 vụ án do khách

Trang 14

hàng mời và 31.421 vụ án theo yêu cầu của cơ quan tố tụng [4] Trong năm

2012, số liệu thống kê cũng cho thấy số lượng các vụ án có luật sư tham giangày càng nhiều

Hiện nay, số lượng đội ngũ luật sư cũng như các tổ chức hành nghề luật

sư đang trên đà phát triển mạnh, biểu hiện bằng biểu đồ dưới đây:

Biểu đồ: Số lượng luật sư và tổ chức hành nghề luật sư

Dựa vào biểu đồ trên, có thể thấy số lượng luật sư và các tổ chức hànhnghề luật sư ở nước ta từ năm 2011 đến năm 2013 liên tục tăng Năm 2011 có

7201 luật sư và 2833 tổ chức hành nghề luật sư Đến năm 2012 số lượng luật

sư đã lên 7622 (tăng 421 người) và số lượng tổ chức hành nghề luật sư là

3055 (tăng 222 tổ chức) Đến năm 2013 số lượng luật sư và tổ chức hànhnghề luật sư tiếp tục tăng, vào thời điểm này số lượng luật sư đã là 8156người và có 3387 tổ chức hành nghề luật sư So sánh với năm 2012, số lượngluật sư năm 2013 đã tăng 534 người và tăng 332 tổ chức hành nghề luật sư.Theo báo cáo của các Đoàn luật sư trong cả nước, chỉ tính 02 năm: 2010

và 2011, các luật sư đã tham gia bào chữa trong 32.234 vụ án hình sự Trong

Trang 15

đó có 17.348 vụ do thân chủ mời, 14.886 vụ theo yêu cầu của cơ quan tiếnhành tố tụng [23] Mặc dù còn có những khó khăn nhất định nhưng sự thamgia của người bào chữa nói chung đã đáp ứng được yêu cầu bào chữa và đạtđược những kết quả đáng kể Trong đó có những trường hợp toà án đã xử nhẹhơn so với mức đề nghị của viện kiểm sát hoặc tuyên bố bị cáo không phạmtội; đổi tội danh nhẹ hơn hoặc yêu cầu điều tra bổ sung… Đặc biệt có một sốtrường hợp luận điểm bào chữa của luật sư không được toà án cấp sơ thẩmchấp nhận nhưng lại được toà án cấp phúc thẩm chấp nhận.

1.3 Những vướng mắc về lý luận và thực tiễn trong hoạt động của người bào chữa

Thực tiễn hiện nay cho thấy, những lỗ hỏng của pháp luật đã khiến chotiến trình người bào chữa tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự bị thu hẹplại Trong một hành lang pháp lý chưa thực sự “coi trọng” người bào chữa vàquyền bào chữa người bào chữa nói phải đối mặt với nhiều “rào cản” khiếnquyền và lợi ích hợp pháp của công dân nhiều khi bị vi phạm, mà nghiêmtrọng hơn là ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án, tôntrọng và bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp

1.3.1.Những vướng mắc về mặt lý luận trong hoạt động của người bào chữa

Được đánh giá là đem lại nhiều tiến bộ cho hoạt động tố tụng hình sựtrong 11 năm qua, song Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 từ khi ra đời đếnnay đã bộc lộ nhiều điểm chưa thật sự hợp lý về những quy định liên quanđến người bào chữa và nhiều điểm bất cập khi áp dụng những quy định nàytrong thực tiễn Điều này không những hạn chế quyền người bào chữa, màcòn ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án, cũng như việctôn trọng và bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 xác định địa vị pháp lý của người bàochữa chỉ là người tham gia tố tụng, phạm vi hoạt động thuộc lĩnh vực “bổ trợ tưpháp” Nhưng lại không có những quy định “cứng” nhằm tạo điều kiện cho hoạtđộng của người bào chữa nên thực chất người bào chữa chỉ là người trợ giúp

Trang 16

pháp lý mang tính bị động, không có cơ sở thực hiện các quyền của mình mộtcách bình đẳng và độc lập Trong một chừng mực nhất định, quyền của ngườibào chữa là thứ quyền năng phái sinh, phụ thuộc hoàn toàn vào sự chấp thuậnhay không của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng Cụ thể:

Thứ nhất, điểm a khoản 2 điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy

định người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ,khi hỏi cung bị can nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bịcan Theo quy định này thì việc có cho phép được hỏi cung bị can hay không

là hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Điều tra viên, do vậy rất nhiềutrường hợp Điều tra viên không cho người bào chữa hỏi mà chỉ cho ngồi nghehỏi cung

Thứ hai, theo quy định tại điểm e khoản 2 điều 58 Bộ luật tố tụng hình

sự năm 2003 thì nguời bào chữa có quyền gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáođang bị tạm giam Tuy nhiên, việc gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang

bị tạm giam là điều không đơn giản vì đòi hỏi phải xuất trình nhiều giấy tờ,thủ tục phiền hà Mặt khác quy định này còn mang tính chung chung dẫn đếnkhi người bào chữa gặp bị can, bị cáo thì phải chịu sự giám sát trực tiếp củaĐiều tra viên và giám thị trại giam Điều đó khiến cho người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo không đủ dung cảm để phản ánh những vấn đề cần thiết cho ngườibào chữa

Thứ ba, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 còn thiếu một số quyền quan

trọng làm cơ sở cho hoạt động của người bào chữa như: quyền thu thập chứngcứ; quyền phản đối chứng cứ buộc tội Mặt khác, khoản 1 điều 58 Bộ luật tốtụng hình sự năm 2003 đã quy định về quyền đưa ra yêu cầu của người bàochữa, nhưng không quy định trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng vàngười tiến hành tố tụng trong việc đáp ứng các yêu cầu, đề nghị đó, thiếu thờihạn ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể tiến hành tố tụng này trong việcđáp ứng quyền của người bào chữa được luật định

Trang 17

Thứ tư, theo điểm g khoản 2 điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003,

người bào chữa có quyền sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quanđến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra Tuy nhiên, hiện nay trong các vănbản pháp luật chưa có quy định thống nhất ai là người có quyền quyết định, làthư ký hay thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa và nếu vụ ánđang trong giai đoạn chưa được phân công thẩm phán giải quyết thì ai làngười có quyền quyết định người bào chữa sao chụp tài liệu

Thứ năm, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chỉ quy định người tiến hành

tố tụng phải chịu trách nhiệm trước những hành vi và quyết định của mình;Điều 62 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định cơ quan, người tiến hành

tố tụng có trách nhiệm giải thích và bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụcủa những người tham gia tố tụng và cả chương XXXV quy định về khiếunại, tố cáo trong tố tụng hình sự chủ yếu vẫn là những quy định về thủ tục,chưa có các chế tài cụ thể xử lý những người tiến hành tố tụng cố ý khôngthực hiện các yêu cầu hợp pháp của người bào chữa

1.3.2 Những vướng mắc về mặt thực tiễn trong hoạt động của người bào chữa

Hiện nay, không chỉ những vướng mắc về mặt pháp luật làm ảnh hưởngđến hoạt động của người bào chữa mà hoạt động của người bào chữa còn bịảnh hưởng bởi sự cố ý hoặc vô ý hiểu sai những quy định của pháp luật hay

sự định kiến trong suy nghĩ của những người tiến hành tố tụng Cụ thể:

Thứ nhất, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định người bào chữa

được xem biên bản phiên tòa, có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vàobiên bản phiên tòa và ký xác nhận Tuy nhiên, thực tế việc xem xét và thựchiện quyền này gặp nhiều trở ngại do chất lượng bút ký phiên tòa còn thấp, yêucầu sửa đổi, bổ sung ý kiến của người bào chữa ít khi được chấp nhận

Thứ hai, khoản 1 điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định

người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Trường hợp bắt ngườitrong trường hợp khẩn câp và bắt người phạm tội đang bị truy nã thì người

Trang 18

bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ Việc quy định nhưvậy không chỉ mở rộng những nguyên tắc dân chủ trong tố tụng hình sự màcòn nâng cao chất lượng điều tra, tăng cường pháp chế trong giai đoạn điềutra Việc bào chữa kiên định, dũng cảm trong vụ án hình sự không nhữngkhông cản trở mà còn thúc đẩy cuộc đấu tranh chống tội phạm, giúp khắcphục những sai lầm trong việc xử lý vụ án Bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa bị can, bị cáo và các đương sự khác bằng những phương tiện hợp phápluật sư thể hiện vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền công dân, góp phầnvào công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam.

Tuy nhiên, mặc dù pháp luật quy định như vậy nhưng trong hầu hết các

vụ án, người bào chữa chưa được tham gia tố tụng từ giai đoạn này bởi nhiềulý do khác nhau trong đó một số điều tra viên cho rằng người bào chữa thamgia từ giai đoạn khởi tố sẽ cản trở hoạt động điều tra của họ Thậm chí có điềutra viên nghĩ rằng nếu tham gia từ giai đoạn này, người bào chữa sẽ hướngdẫn cho bị can khai không đúng hoặc giấu tội Do đó, họ tìm cách không chongười bào chữa tham gia hoặc sẽ gây khó khăc để cho người bào chữa bỏcuộc Vì vậy, dẫn đến nhiều trường hợp không bảo vệ được kịp thời quyền vàlợi ích hợp pháp của bị cáo và đương sự trong giai đoạn điều tra vụ án

Thứ ba, người bào chữa thường không được tòa án thông báo về quyết

định trả hồ sơ điều tra bổ sung, thậm chí có trường hợp quyết định nói trêncòn đóng dấu “mật” Đơn cử vụ án Nguyễn Gia Thiều xảy ra tại công ty ĐôngNam xét xử năm 2005, Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án này đã banhành quyết định trả lại hồ sơ điều tra bổ sung nhưng đóng dấu mật và khôngthông báo cho luật sư biết [25] Điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáocũng như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Thứ tư, Theo khoản 3 điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, một

người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều bị cáo trong cùng một vụ án nếuquyền và lợi ích của họ không đối lập nhau Tuy nhiên, trong thực tiễn việcxác định quyền và nghĩa vụ của họ không đối lập nhau thường không rõ ràng,dẫn đến trường hợp người bào chữa buộc phải từ chối tham gia bào chữa

Trang 19

Thứ năm, một số luật sư đã tiến hành tranh tụng ở nhiều tỉnh cho hay

mỗi tỉnh có quy định khác nhau nên gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động củangười bào chữa nói chung và của luật sư nói riêng Thí dụ: Tòa án Hà Nộichưa bao giờ chuyển cho luật sư quyết định đưa vụ án ra xét xử, thậm chí cảgiấy triệu tập tham gia phiên tòa (giống như không mời luật sư tham gia),thông báo kháng cáo, kháng nghị…trong khi Tòa án ở Quảng Ninh lại khôngcho luật sư vào trước khi thẩm tra tư cách, phải đợi bị cáo có đồng ý mới choluật sư vào [24], điều này hạn chế quyền của luật sư được tiếp xúc với bị cáotại phiên tòa

Thứ sáu, nhận thức của những người tiến hành tố tụng về vai trò của luật

sư trong tố tụng hình sự còn chưa đúng với tinh thần pháp luật tố tụng hình

sự Trong suy nghĩ của một số người tiến hành tố tụng, vụ án có được giảiquyết đúng đắn hay không là phụ thuộc vào họ chứ không phải nhờ vào sự cómặt của người bào chữa, họ cho rằng sự tham gia tố tụng của người bào chữachỉ là hình thức

Vì vậy, xuất hiện nhiều thông lệ xấu mà tiêu biểu đó là tình trạng “án tạihồ sơ” hay còn gọi là “án bỏ túi” Đơn cử tại tòa án thành phố Hồ chí Minhnhiều phiên tòa phúc thẩm chỉ diễn ra trong một buổi hoặc vài tiếng đồng hồ,hội đồng xét xử đã xử tới ba, bốn vụ án Nhiều vụ án thời gian xét xử thật sựchỉ khoảng 15 phút và 5 phút nghị án mà hội đồng xét xử đã đọc một bản ándài dằng dạc mấy trang giấy [5]

1.4 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hoạt động của người bào chữa hiện nay

Trong những năm qua, hoạt động của người bào chữa không những đãgóp phần tích cực trong việc bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo mà còn có những đóng góp quan trọng vào quá trìnhgiải quyết vụ án Thấy rõ được tầm quan trọng đó, yêu cầu đặt ra là phải nângcao hơn nữa chất lượng hoạt động của người bào chữa hiện nay là hết sức cầnthiết, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, góp phần giữ vững trật tự xãhội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Trang 20

Muốn vậy, cần có những sự thay đổi, bổ sung hợp lý đối với chế địnhngười bào chữa Từ những vướng mắc về mặt lý luận và thực tiễn đã phântích ở trên, tác giả mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hoạtđộng của người bào chữa hiện nay như sau:

1.4.1.Kiến nghị về mặt lập pháp

Thư nhất, tại điểm e khoản 2 điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

đã quy định quyền được gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bị tạm giam củangười bào chữa nhưng lại không quy định các thủ tục đê người bào chữa đượcgặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bị tạm giam Do vậy, cần quy định thêmcác điều kiện, thủ tục để người bào chữa vào trại tạm giam gặp người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo nhằm tránh việc các văn bản hướng dẫn luật đưa ra những nộidung không phù hợp với luật hoặc việc vận dụng cắt xén, tùy tiện của một sốnhững người tiến hành tố tụng và cần quy định cụ thể theo hướng người bàochữa được gặp riêng người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và không hạn chế sốlượng gặp và thời gian gặp

Thứ hai, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cần quy định cụ thể nghĩa vụ,

trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng đối với hoạt động của ngườibào chữa Đồng thời bổ sung thêm những chế tài cụ thể khi người tiến hành tốtụng cố tình không thực hiện các yêu cầu cũng như các kiến nghị hợp phápcủa người bào chữa để bảo đảm những yêu cầu hợp pháp của người bào chữaphải được những người tiến hành tố tụng thực hiện

Thứ ba, cần sửa đổi và bổ sung điểm a khoản 2 điểu 58 của Bộ luật tố tụng

hình sự năm 2003 theo hướng khi tham gia hỏi cung, người bào chữa được phéphỏi sau mỗi vấn đề mà Điều tra viên hỏi và người bào chữa có quyền giải thíchvề quyền trả lời hoặc không trả lời những vấn đề mà điều tra viên hỏi, đượcquyền phản bác những câu hỏi mang tính chất mớn cung của Điều tra viên Từ

đó, nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động của người bào chữa

Thứ tư, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cần quy định thêm một số quyền

để làm cơ sở cho hoạt động của người bào chữa như: quyền phản đối chứng cứ

Trang 21

buộc tội, nhằm mở rộng phạm vi quyền hạn cho người bào chữa, giúp ngườibào chữa có thêm những điều kiện để hoàn thành tốt vai trò của mình

Đồng thời, mở rộng phạm vi quyền thu thập chứng cứ của luật sư Đểchứng minh tội phạm, cơ quan tiến hành tố tụng cần dựa vào nhiều chứng cứđược thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, như: lời khai, vật chứng, biên bảngiám định, tài liệu, đồ vật có liên quan Tuy nhiên, hiện nay phạm vi thu thậpchứng cứ của luật sư mới chỉ dừng lại ở tài liệu và đồ vật

Để việc thu thập chứng cứ được toàn diện hơn, pháp luật tố tụng hình sựcần quy định cho phép người bào chữa được độc lập thu thập chứng cứ thôngqua việc thu thập vật chứng, lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại,người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụngkhác trong vụ án Khi đó, chứng cứ do người bào chữa thu thập sẽ toàn diện

và có giá trị chứng minh cao hơn, thậm chí là “đối trọng” với chứng cứ do cơquan tiến hành tố tụng thu thập trong trường hợp chứng cứ đó được sử dụnglàm chứng cứ gỡ tội

Khi bổ sung các quy định về quyền thu thập chứng cứ của người bàochữa, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng phải quy định chặt chẽ về trình

tự, thủ tục thu thập chứng cứ của người bào chữa cũng như cơ chế kiểm tra,giám sát của cơ quan tiến hành tố tụng đối với từng họat động thu thập chứng

cứ của người bào chữa để bảo đảm quá trình giải quyết vụ án hình sự đượckhách quan và toàn diện

Thứ năm, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã trao cho người bào chữa

quyền sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữasau khi kết thúc điều tra Nhưng lại chưa có những quy định cụ thể về thủ tụckhi người bào chữa muốn sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan Vìvậy cần có những quy định thống nhất như ai là người có quyền quyết định, làthư ký hay thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa và nếu vụ ánđang trong giai đoạn chưa được phân công thẩm phán giải quyết thì ai làngười có quyền quyết định người bào chữa sao chụp tài liệu?

Trang 22

1.4.2 Kiến nghị về mặt đào tạo, nâng cao năng lưc đội ngũ người bào chữa

Đối với người bào chữa, việc bồi dưỡng, nâng cao kiến thức pháp luật và

kỹ năng hành nghề là một việc làm cần thiết Người bào chữa hơn ai hết phảinhận thức và nêu cao hơn nữa trách nhiệm của mình khi tham gia tố tụng bảo

vệ quyền lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Người bào chữa phảithường xuyên được cập nhật kiến thức pháp luật và bồi dưỡng nghiệp vụ đểđáp ứng yêu cầu thực tiễn thực hiện quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo có hiệu quả

Trong những năm qua, đặc biệt là kể từ khi Đảng và Nhà nước phát độngcông cuộc cải cách tư pháp, vị trí vai trò của người bào chữa ngày càng đượckhẳng định Có được điều này là do đội ngũ những người làm công tác bàochữa đã từng bước trưởng thành về chất và lượng, trong đó mà chủ yếu là độingũ luật sư

Theo thống kê của Bộ Tư pháp, tính đến hết năm 2013 cả nước ta đãthành lập 62 Đoàn Luật sư/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với7.072 luật sư và gần 3.500 người tập sự hành nghề luật sư hoạt động trong 2.831

tổ chức hành nghề luật sư [4]

Tuy nhiên, hiện nay, Luật sư là người tham gia tố tụng với tư cách ngườibào chữa chiếm số lượng lớn nhất nhưng cũng chỉ mới ở mức trung bình là 1luật sư/14.000 người dân, trong khi đó tỷ lệ này ở Thái Lan là 1/1.526,Singapore là 1/1.000, Nhật Bản là 1/4.546, Pháp là 1/1.000, Mỹ là 1/250 Sốlượng luật sư ở nước ta chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, đặc biệt làthành phố Hà Nội (1.630 luật sư) và thành phố Hồ Chí Minh (2.880 luật sư)[6] Vì vậy, phát triển đội ngũ người bào chữa hiện nay là yêu cầu hết sức tấtyếu, trong đó chú trọng phát triển đội ngũ luật sư vừa lớn mạnh về cả sốlượng lẫn chất lượng

Ngoài ra, thiết nghĩ cần nghiên cứu mở rộng thêm phạm vi những người

có thể tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa chứ không chỉ giới hạn

Trang 23

theo khoản 1 điểu 56 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Đó là cho phép ngườiđại diện hợp pháp theo ủy quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo tham gia

tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.Nhũng người đại diện hợp pháp theo ủy quyền phải đáp ứng đủ các điều kiệnnhư có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có nhân thân tốt, có bằng cử nhânluật, được sự tín nhiệm của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và được sự chấpnhận của cơ quan tiến hành tố tụng thì đều có quyền tham gia tố tụng với tưcách bào chữa Như vậy, đội ngũ người bào chữa sẽ không ngừng lớn mạnh

và đáp ứng được nhu cầu thực tiễn tố tụng trong giai đoạn hiện nay

Đồng thời, đội ngũ người bào chữa cần hoàn thành tốt hơn nữa vai trò,nhiệm vụ của mình, trong quá trình bào chữa không chỉ bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà còn tích cực giúp đỡ cơquan tiến hành tố tụng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án Từ

đó, tạo dựng lòng tin và từng bước thay đổi cách suy nghĩ định kiến củanhững người tiến hành tố tụng về hoạt động của người bào chữa

1.4.3.Kiến nghị nâng cao năng lực và nhận thức của những người tiến hành tố tụng

Thực tiễn cho thấy, những vướng mắc trong hoạt động mà người bào chữagặp phải không chỉ xuất phát từ những lỗ hỏng của pháp luật mà còn xuất phát từviệc cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không nhận thức đúngnội dung, ý nghĩa và tầm quan trọng của người bào chữa cũng như các quy địnhvề người bào chữa Vì vậy, nhiều trường hợp những người tiến hành tố tụng cảntrở hoặc đòi hỏi những giấy tờ không có trong quy định để “hành” người bàochữa,… do vậy hoạt động của người bào chữa hiện nay còn bị ảnh hưởng rấtnhiều từ nhận thức sai lêch của những người tiến hành tố tụng

Vì vậy, nâng cao hơn nữa năng lực chuyên môn nghiệp vụ và nhận thứccủa những người tiến hành tố tụng là hết sức cần thiết Muốn đạt được mụctiêu này, cần tập trung vào hai vấn đề chính:

Một là, thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn cho những người

Trang 24

tiến hành tố tụng về những quy định của pháp luật liên quan đến hoạt độngcủa người bào chữa Đặc biệt là những quy định mới hay những quy định còn

có những cách hiểu không thống nhất

Hai là, thay đổi nhận thức chưa đúng đắn của những người tiến hành tố

tụng về vai trò, vị trí của người bào chữa trong tố tụng hình sự Cần phải nhìnnhận sự tham gia của người bào chữa là yếu tố khách quan để vụ án được giảiquyết đúng đắn Sự có mặt của người bào chữa trong vụ án không gây khókhăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, họ chỉ bác bỏ việc buộc tội thiếu căn

cứ chứ không phải là “đối thủ” của các cơ quan tiến hành tố tụng Từ đó, giúpnhững người tiến hành tố tụng nhận ra cần phải tạo điều kiện cho người bàochữa thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ của mình

1.4.4.Kiến nghị về công tác tuyên truyền và nâng cao ý thức pháp luật đối với người dân

Tuyên truyền pháp luật là một phương pháp hiệu quả nhằm nâng caohiểu biết về kiến thức pháp luật của người dân Cần phải thay đổi nhận thứccủa người dân nói chung và người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng khi chorằng, sự tham gia tố tụng của người bào chữa là không cần thiết và tốn kém Nhận thức không đúng về vai trò và vị trí của người bào chữa chính làrào cản lớn làm cho sự tham gia của người bào chữa trở nên khó khăn, trongkhi bản thân người bị tạm giữ, bị can, bị cáo lại không có khả năng tự bàochữa hoặc việc họ tự bào chữa chỉ là mang tính thủ tục, không có hiệu quả.Việc người bào chữa tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo phụ thuộc rất nhiều vào ý chí chủ quancủa chính những người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người đại diện hợp phápcũng như gia đình của họ

Do vậy, việc thay đổi nhận thức về vai trò của người bào chữa là cách tốtnhất để trang bị cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo những phương tiện, biệnpháp giúp họ bảo vệ mình trước nguy cơ bị xâm phạm hoặc đe dọa bị xâmphạm các quyền và lợi ích hợp pháp của mình từ phía những người tiến hành

Trang 25

tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng.

CHƯƠNG 2: NGƯỜI BÀO CHỮA VỚI VẤN ĐỀ ĐẢM BẢO

QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO 2.1 Khái niệm quyền con người và bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

2.1.1 Khái niệm quyền con người

Nói đến quyền con người thì hiện nay cách hiểu về nó vẫn chưa có sựthống nhất Quyền con người (hay còn gọi là nhân quyền) trước hết có thểhiểu là những quyền tự nhiên của con người mà không ai có quyền tước đoạt

Ví dụ: quyền được sống, quyền được học tập, quyền tự do,…

Tuy nhiên bản thân cái gọi là quyền tự nhiên không phải là quyền conngười, bởi lẽ để đạt đến cái gọi là “quyền” thì phải có một yếu tố nữa đó làpháp luật Chỉ khi được pháp luật ghi nhận thì những quyền tự nhiên của cánhân mới trở thành quyền con người

Trên cơ sở các quan niệm về quyền con người, vào năm 1976 lần đầutiên các quyền con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ:

“Tất cả mọi người sinh ra đểu bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không

ai có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và mưu cầuhạnh phúc” [17] Năm 1791, quyền con người lại được một lần nữa nhắc đếntrong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp: “Người ta sinh ra tự do

và bình đẳng về quyền lợi và phải được tự do bình đẳng về quyền lợi” [18].Từ

đó quyền con người từng bước được các quốc gia thừa nhận và quy định trongpháp luật nước mình

Sở dĩ có nhiều cách hiểu khác nhau về quyền con người là bởi tùy vào ýkiến chủ quan của tùng người, tùy từng lĩnh vực nghiên cứu như: triết học,chính trị, pháp luật,…mà quyền con người được định nghĩa theo những cáchkhác nhau nhưng không có định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộc tínhcủa quyền con người

Trang 26

Tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa phổ biến nhất vẫn là định nghĩacủa văn phòng Cao ủy liên hợp quốc về quyền con người (OHCHR) Theo đó,

quyền con người được định nghĩa “là những bảo đảm pháp lý mang tính toàn

cẩu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm người trước những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, quyền lợi và tự do cơ bản của con người.”

Hiện nay, quyền con người luôn được đề cập trong các đạo luật của mỗiquốc gia Qua lịch sử đấu tranh, tồn tại và phát triển của loài người, quyền đóvẫn luôn luôn được ghi nhận và bảo đảm Ở nước ta, vấn đề quyền con người

đã được nghiên cứu và phản ánh trong các văn kiện của Đảng, Nhà Nước vàcác văn bản pháp luật Hiến pháp nước ta đã ghi nhận và đảm bảo thực hiệnquyền con người như sau: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cácquyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hộiđược công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.”(Điều 14, Hiến pháp 2013)

Điều 19 hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền sống Tính mạng

con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.”Khoản 1 điều 20 hiến pháp 2013 quy định: “người có quyền bất khả xâmphạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm;không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử

nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.”

Như vậy, có thể thấy quyền con người ở Việt Nam đang ngày càng đượcđề cao, những bảo đảm để thực hiện quyền con người cũng đang trong quátrình hoàn thiện nhằm bảo đảm quyền con người ngày một tốt hơn

2.1.2.Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự là một bộ phận củaquyền con người nói chung Vì vậy, đảm bảo quyền con người trong lĩnh vực

tư pháp hình sự có mối quan hệ mật thiết với việc đảm bảo quyền con ngườitrong các lĩnh vực khác

Trang 27

Bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự là việc bảođảm các điều kiện, yếu tố cần và đủ cho quá trình thực hiện quyền con ngườitrong lĩnh vực tư pháp hình sự nhằm làm cho hoạt động tư pháp hình sự cóhiệu lực và hiệu quả cao nhất.

Để đảm bảo quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự, bên cạnhviệc củng cố và tăng cường các đảm bảo về quyền con người nói chung, cònphải đảm bảo các yếu tố mang tính đặc trưng riêng của quyền con người tronglĩnh vực tư pháp hình sự Cụ thể:

- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đảm bảo quyền con ngườitrong lĩnh vực tư pháp hình sự cần phải được củng cố và không ngừng hoànthiện để điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật liên quan đến lĩnh vực này

- Hệ thống các cơ quan tư pháp hình sự hoàn chỉnh, có chất lượng, hoạtđộng có hiệu lực, hiệu quả Đồng thời có cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng yêucầu cầu hoạt động

- Cơ cơ chế giám sát chặt chẽ, thông suốt, có sự tham gia đông đảo củacác cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội và công dân Trong đó xácđịnh rõ các vấn đề liên quan đến trách nhiệm của người giám sát và của ngườichịu sự giám sát, việc giải quyết các vướng mắc trong hoạt động này,…

- Để đảm bảo quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự, yếu tốquyết định vẫn là con người họ chính là những người tiến hành các hoạt động

tư pháp, vấn để đảm bảo quyền con người trong lĩnh vực này đòi hỏi nhưngngười này phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm công tácđồng thời phải có phẩm chất chính trị vững vàng, có bản lĩnh và đạo đứctrong sáng

2.2 Vai trò của người bào chữa với vấn đề bảo đảm quyền con người của người tạm giữ, bị can, bị cáo

Ngươi bị tạm giữ, bị can, bị cáo là nhóm chủ thể khi tham gia tố tụng vì

có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến sự phán xét của các cơ quan tiếnhành tố tụng Trong khi đó, tố tụng hình sự là một lĩnh vực khó khăn, phức

Trang 28

tạp và nhạy cảm vì vậy trong quá trình chứng minh sự thật khách quan của vụ

án, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do sự tác động trựctiếp hay gián tiếp của các yếu tố khách quan, chủ quan nên dễ bị ảnh hưởngđến tính trung thực, khách quan trong các quyết định của mình

Trong quá trình tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủthể này được bảo đảm thực hiện thông qua những người tiến hành tố tụng,mọi biểu hiện của sự chủ quan, thiếu đầy đủ, không trung thực,…trong hoạtđộng tố tụng đều xuất phát từ việc thiếu tuân thủ pháp luật của người tiếnhành tố tụng Đó là nguyên nhân của sự vi phạm quyền con người trong lĩnhvực tư pháp hình sự nói chung và vi phạm quyền con người của người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo nói riêng

Trong lĩnh vực tư pháp hình sự, để bảo vệ quyền con người cần phải có

sự phối hợp của cơ quan tư pháp hình sự với các cơ quan chuyên môn và các

tổ chức chính trị xã hội và của công dân Như: Đoàn luật sư, cơ quan giámđịnh, Mặt trận Tổ quốc và thành viên của Mặt trận Tổ quốc,…mà cụ thể trongviệc bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sự tham giacủa người bào chữa có vai trò hết sức quan trọng

Ví dụ: trong một vụ án hình sự, một trong những quyền quan trọng của

bị can, bị cáo là quyền bào chữa Tuy nhiên, với tư cách là bị can, bị cáo, họ

bị hạn chế quyền công dân và các quyền khác, nhất là những bị can, bị cáo bịtạm giam thì không thể tự mình tìm kiếm, thu thập tài liệu chứng cứ để bàochữa cho bản thân Nhưng nếu có người bào chữa tham gia, thì người bàochữa được tiếp cận hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập các tài liệu, chứng cứ liênquan đến việc bào chữa Đồng thời, được gặp gỡ bị can, bị cáo bị tạm giam,được tham gia vào quá trình điều tra vụ án Ngoài ra, người bào chữa thamgia hoạt động điều tra của điều tra viên sẽ tránh được việc ép cung, mớmcung, dùng nhục hình đối với bị can

Do đó, đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bị tạm giam, sự có mặtcủa nguời bào chữa một mặt vừa là người động viên, mặt khác giãi bày tâm

Ngày đăng: 23/04/2014, 18:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Bài “án bỏ túi” giữ hay bỏ, Báo pháp luật thành phố Hồ Chí Minh ngày 12 tháng 8 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: án bỏ túi
10. M.Chen – Txôp M.A, Luật sư trong tố tụng hình sự Xô Viết, M. 1954 11. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tư pháp trong thời gian tới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mộtsố nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tư pháp trong thời gian tới
12. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 25/5/2005 của Bộ chính trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiếnlược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020
13. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về“Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
22. Http://www.congtyluathcm.com/mot-vai-van-de-co-ban-ve-tranh-tung-trong-to-tung-hinh-su-phan-2-a-27.aspx Link
23. Http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Chinh-tri/548443/xay-dung-lien-doan-luat-su-viet-nam-ngay-cang-vung-manh Link
24. Http://www.nhandan.com.vn/mobile/_mobile_phapluat/_mobile_thoisu/item/1526602.html Link
1. Bộ luật dân sự năm 2005 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2009 Khác
2. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2009 Khác
3. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội tòa quốc lần thứ IX Khác
4. Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật Luật sư của Bộ tư pháp Khác
6. Bài Tỷ lệ luật sư trên dân số của Việt Nam thấp, Báo Thời báo kinh tế Sài Gòn Online Khác
7. Chiến lược phát triển nghề luật sư ở Việt Nam đến năm 2020 Khác
8. Elisabeth Pelsez, Tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi, Thông tin khoa học xét xử số 01 năm 2003 Khác
9. Luật luật sư ngày 29 tháng 06 năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012 Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khác
14. Nghị định số 01/NĐ - VY ngày 12 tháng 1 năm 1950 của Chính Phủ 15. Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 nước Cộng Hòa Xã Hội chủ Nghĩa Việt Nam Khác
16. Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Hiến pháp năm 2013, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2013 Khác
18. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, 1791 Khác
19. Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 18/12/1988 của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao Khác
20. Thông tư 70/2011 của Bộ Công An ngày 10 tháng 10 năm 2011 quy định chi tiết thi hành các quy định của bộ luật tố tụng hình sự liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w