1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu công tác thống kê du lịch tại thừa thiên huế

97 606 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu công tác thống kê du lịch tại Thừa Thiên Huế
Trường học University of Hue - Trường Đại Học Huế
Chuyên ngành Quản trị Du lịch và Lữ hành
Thể loại Luận án
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử dụng phần mềm spss để dự đoán doanh thu,số khách du lịch nội địa, quốc tế.Bên cạnh đó luận án còn sử dụng một số công thức tính toán của thống kê kinh doanh để phân tích các chỉ tiêu

Trang 1

MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài:

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, du lịch đang trở thành nhu cầu khôngthể thiếu trong đời sống văn hóa, xã hội của con người, những nước coi các chỉ tiêuphản ánh kết quả kinh doanh du lịch là một trong những chỉ tiêu phản ánh đời sống,thể hiện sự nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân

Với tốc độ phát triển mạnh mẽ,hoạt động du lịch đã và đang trở thành một hoạtđộng kinh doanh hấp dẫn đem lại nguồn thu nhập ngày càng cao cho các nước ví dụ ởTrung Quốc, doanh thu du lịch năm 2012 vượt 2.570 tỉ nhân nhân tệ(407,94 tỷ usd)đóng góp đáng kể về mặt tài chính cho phát triển kinh tế của nước này hay hoạt động

du lịch của Thái Lan là một trong những hoạt động mang lại mức doanh thu cao nhấtcủa nước này, năm 2012 ước tính đạt hơn 30 tỷ USD

Thừa thiên Huế là một trong những địa phương có thế mạnh phát triển du lịch,

và được xác định là ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địaphương Để có những luận cứ khoa học cho việc đề ra những giải pháp cụ thể nhằmphát triển kinh doanh du lịch tại Thừa thiên Huế, việc nghiên cứu thống kê, đánh giákết quả hoạt động kinh doanh du lịch, xác định vai trò vị trí cũng như tác động củangành du lịch trong sự phát triển chung của toàn tỉnh là hết sức cần thiết

Tuy là một trong những địa phương có thế mạnh phát triển du lịch nhưng việcthống kê du lịch trên địa bàn tỉnh vẫn chưa được đầu tư nhiều và còn rất nhiều hạnchế.Công tác thống kê du lịch hiện nay của tỉnh Thừa Thiên Huế chủ yếu do hai cơquan Chi Cục Thống Kê Tỉnh và sở Văn Hóa Thể Dục Thể Thao đảm nhiệm,vớinguồn nhân lực, cở sở vật chất cũng như hệ thống chỉ tiêu thống kê du lịch hiện tại thìcông tác thống kê du lịch của tỉnh vững chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin cho cáccấp quản lý cũng như người tham gia hoạt động du lịch

Để du lịch của tỉnh ngày càng phát triển mạnh Tương xứng với tiềm năng củatỉnh thì công tác thống kê của tỉnh cần phải được chú trọng và đầu tư nhiều hơn,cung

Trang 2

cấp nhưng thông tin cần thiết,đầy đủ và chính xác để các cấp các ngành cũng như các

cơ sở du lịch Từ đó xây dựng du lịch Thừa Thiên Huế ngày một lớn mạnh hơn

Nhận thấy được điều đó cho nên em đã chọn đề tài “ Nghiên cứu công tác thống

kê du lịch tại Thừa Thiên Huế” để làm rõ nhưng cái đã làm được và chưa làm đượccũng như những thuận lợi và khó khăn của công tác thống kê trên địa bàn tinh, bêncạnh đó kiến nghị áp dụng tài khoản vệ tinh du lịch vào tỉnh Thừa Thiên Huế

- Áp dụng tài khoản vệ tinh du lịch vào tỉnh thừa thiên huế

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu được xác định là công tác thống kê du lịch của TỉnhThừa Thiên Huế cũng như hệ thống chỉ tiêu thống kê kết quả kinh doanh dịch vụ dulịch theo hướng vận dụng TSA vào Việt nam trong điều kiện hiện nay

Phạm vi nghiên cứu là cơ quan thống kê quốc gia (Cục Thống kê các tỉnh,thành phố), cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ( Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch)

và một số cơ sở kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh

4.Các phương pháp nghiên cứu:

Trang 3

Trong quá trình thực hiện tác giả dự kiến sử dụng một số phương pháp nghiên cứusau:

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, tổng hợp từ các công trình nghiên cứu, cácbài viết và tài liệu có liên quan đến nội dung công tác thống kê kết quả kinh doanh dulịch Để phản ánh được thực trạng công tác thống kê hoạt động kinh doanh du lịch, đềtài sử dụng các số liệu thứ cấp từ các báo cáo thống kê về hoạt động du lịch, các cuộcđiều tra chuyên môn về hoạt động du lịch của Tổng Cục Du lịch, và Tổng Cục Thốngkê; các báo cáo đánh giá tổng kết của Sở Văn hóa - Thể Thao - Du lịch Thừa ThiênHuế; Niên giám thống kê Tỉnh Thừa thiên Huế; các trang web về du lịch của Việt nam

Phương pháp xử lý thông tin: Luận án đã sử dụng các phương pháp tổng hợpthông tin, phân tích thông tin để thấy được những vấn đề cơ bản nhằm định hướng chocông tác thống kê du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế

Sử dụng phần mềm spss để dự đoán doanh thu,số khách du lịch nội địa, quốc tế.Bên cạnh đó luận án còn sử dụng một số công thức tính toán của thống kê kinh doanh

để phân tích các chỉ tiêu du lịch như : doanh thu du lịch, doanh thu xã hội từ du lịch,tốc độ phát triển bình quân liên hoàn của khách du lịch trong nước và nước ngoài v v

Nghiên cứu mối quan hệ giữa Thống kê du lịch và Tài khoản vệ tinh du lịch, để

từ đó xây dựng Tài khoản vệ tinh du lịch đối với các tỉnh thành phố trong điều kiệncủa Việt nam hiện nay

Trang 4

Đề xuất giải pháp trong việc biên soạn và vận dụng tài khoản vệ tinh du lịch ởViệt nam hiện nay;

6.Kết cấu của luận án:

Ngoài phần mở đầu vầ kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lucjnluận án gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận,thực tiễn về công tác thống kê du lịch và khái quat dulịch Thừa Thiên Huế

Chương 2: Thực trạng công tác thống kê du lịch tại Thừa Thiên Huế

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm khắc phục và phát triển công tác thống kê dulịch

Trang 5

Chương 1: Cơ sở lý luận và Thực tiển về công tác thông kê du lịch

1.1 Cơ sở lý luận về công tác thống kê du lịch

Du lịch có tác động đối với nền kinh tế, đối với môi trường tự nhiên và xã hộicộng đồng địa phương tại những địa điểm mà khách du lịch đến thăm quan, và đối vớicộng đồng địa phương tại những địa điểm mà khách du lịch đến thăm, và đối với bảnthân khách du lịch

Do những tác động như thế, cùng với sự liên quan rộng rãi đến nhiều nhóm đốitượng, chúng ta cần có cách tiếp cận hệ thống đối với quá trình phát triển du lịch, quản

lý và giám sát trong du lịch Cách tiếp cận như thế được Tổ chức Du lịch Thế giới(UNWTO) ủng hộ, nhằm xây dựng và thực hiện chính sách du lịch ở địa phương vàquốc gia

Để đưa ra quyết định chính xác và hiệu quả, nhà hoạch định chính sách cần có

số liệu thống kê đầy đủ và đáng tin cậy Chỉ với những dữ liệu đầy đủ, chính xác vàđáng tin cậy, ta mới có thể tiến hành các phương pháp khác nhau về phân tích trong dulịch Điều này là rất cần thiết, góp phần đánh giá nhiều khía cạnh khác nhau trong dulịch, đồng thời hỗ trợ và nâng cao hiệu quả quá trình ra quyết định và hoạch định chínhsách

Thống kê du lịch có ý nghĩa quan trọng để xây dựng chiến lược marketing,đánh giá hiệu quả và hiệu lực của các quyết định quản lý, đo lường về du lịch trongnền kinh tế quốc dân

1.1.1 Ý nghĩa quốc gia và quốc tế của thống kê du lịch

- Xác định quy mô và phạm vi của du lịch

Du lịch khi được xem xét như một ngành kinh doanh hiếm khi nhận được quantâm của công chúng xứng đáng với đóng góp của nó trong các hoạt động kinh tế Mộttrong những nguyên nhân của tồn tại đó chính là thống kê Đối với các hệ thống thống

kê đã có thì không thể đưa ra một cách đầy đủ quy mô và phạm vi của các hoạt động

Trang 6

kinh tế liên quan đến du lịch Sự bất lực trong việc chuyển tải tới các quan chức dulịch theo khía cạnh quản lý hay tới công chúng quy mô của du lịch theo khía cạnh tàichính và các tác động rộng lớn của nó tới các nền kinh tế xã hội đã và đang ảnh hưởngđến các quan hệ quốc tế dẫn tới sự thiếu hụt các chính sách công cần thiết và khả thi.Tương tự như vậy, các chủ thể kinh tế phụ thuộc vào nhu cầu du lịch có thể khôngnhận đủ số liệu công khai về lĩnh vực kinh doanh của họ hay các yếu tố có liên quantới kinh doanh du lịch để lập kế hoạch, quản lý và tiếp thị một cách hiệu quả.

Ngoài ra còn có một vài nguyên nhân nữa Nhiều quốc gia vẫn chú trọng cácchính sách công và nông nghiệp, khai khoáng và chế biến như là nguồn lực chính đểphát triển kinh tế, không đánh giá đúng mức sức mạnh kinh tế của du lịch và ngành dulịch nói chung Một ví dụ minh hoạ thành kiến này trong các chính sách công đựơc thểhiện rõ nếu xem xét chính sách phân bổ quốc gia khi khủng hoảng năng lượng Rõràng rằng nếu có sự thiếu hụt nhiên liệu hay vấn đề về phân bổ nguồn lực có thể sosánh khác, công nghiệp nặng và nông nghiệp có được ưu tiên nhất định so với nhu cầucủa du lịch và hoạt động giải trí trong phần lớn các quốc gia Các hoạt động giải tríđược xem như là “phù phiếm” và vì thế dành được ưu tiên thấp trong khủng hoảngthiếu hụt nhiên liệu năm 1974 và 1979 theo tiêu chí về mức độ giải quyết việc làm haycác khoản thu từ ngoại thương

Đối với thống kê vấn đề cũng một phần do du lịch cùng với toàn bộ khu vựcdịch vụ, từ trước tới nay vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức trong các chươngtrình thống kê quốc gia so với các ngành công nghiệp “cơ bản” Trong khi các hoạtđộng đang được diễn ra trong nhiều quốc gia đều bù đắp lại sự mất mát cân bằng này,vẫn còn sự khác biệt lớn trong quy mô đối xử Các mã phân loại công nghiệp chuẩnquốc gia (SIC) hay phân loại ngành kinh tế đã có phản ánh và có lẽ là nhân tố gây ra

sự mất cân bằng này

Trong bối cảnh yếu kém sẵn có của các phân loại hiện hành về các hoạt độngkinh tế hướng du lịch, công tác báo cáo các hoạt động kinh tế du lịch càng trở nên yếukém hơn do sự thiếu hụt các ranh giới rõ ràng của các hoạt động liên quan tới du lịch

Trang 7

Hoạt động kinh tế du lịch đã được xem như một “hoạt động tổng hợp” mà các thànhphần thuộc về các nhánh hoạt động khác nhau theo nghĩa này, sẽ là không thích hợpnếu sử dụng thuật ngữ ngành khi xem xét tới các hoạt động kinh tế du lịch.

Để có thể gắn một cách đúng đắn các hoạt động kinh tế du lịch vào toàn bộ Hệthống Tài khoản quốc gia và nâng cao khả năng quốc tế sử dụng số liệu du lịch, cầnphải có sự mô tả rõ ràng về phạm vi của du lịch Theo một nghĩa nào đó, pham vi này

là vô cùng rộng lớn Phần lớn các định nghĩa du lịch dựa trên nhu cầu và định nghĩa dulịch như là tổng hợp của dịch vụ và sản phẩm được mua bởi các khách du lịch, với cáckhách du lịch đã được định rõ Điều kiện này có nghĩa là cùng một sản phẩm hay dịch

vụ sẽ (hay không) là một hoạt động kinh tế có liên quan du lịch trên các đặc tính nhấtđịnh của người tiêu dùng, hơn là bất kỳ cái gì gắn với sản phẩm hoặc dịch vụ Vớicách tiếp cận như vậy thì mọi kinh doanh đều có phần nào đó nằm trong hoạt độngtổng hợp của chi phí du lịch, vì các khách du lịch có thể và có khả năng tiêu dùngtrong mọi khu vực của nền kinh tế Cách tiếp cận mang tính định nghĩa như vậy đặtquyền số lớn vào định nghĩa đựơc sử dụng cho một khách du lịch Những quan điểmkhác nhau về việc là cách nào dể định nghĩa khách du lịch hay đơn vị tiêu dùng khách

du lịch làm phức tạp thêm vấn đề

Điều trái ngược hẳn với nguyên tắc thực hành trong hệ thống tài khoản quốc giakhi các khác biệt giữa các ngành kinh tế dựa trên sự khác biệt trong bản chất của sảnphẩm từ quan điểm vật liệu sử dụng, sản xuất, các khác biệt trong phương thức chếtạo, cũng như công dụng của sản phẩm đầu ra Điểm này được đề cập một cách ngắngọn trong một tài liệu WTO “… các hoạt động kinh tế của các phân loại hiện hànhđược xác định dựa theo hàng hoá hay dịch vụ được tạo ra bởi các đơn vị sản phẩmtrong khi hoạt động kinh tế du lịch cho đến nay vẫn xác định chủ yếu dựa vào hànghoá và dịch vụ được tiêu dùng bởi tác nhân du lịch có tổ chức – khách du lịch vàkhách tham quan trong ngày”

Trong khi du lịch không thể bỏ đi định nghĩa dựa trên nhu cầu của phạm vi, sẽphải tìm kiếm mô tả rõ ràng hơn cấu trúc khái niệm dựa trên nguồn cung cấp đối với

Trang 8

các hoạt động du lịch, bởi vì đó chính là nguồn của hầu hết các thống kê kinh tế quốcgia Được kết hợp một cách đúng đắn với cấu trúc khái niệm dựa trên nguồn cung đốivới các hoạt động du lịch bởi vì đó chính là nguồn của hầu hết các thống kê kinh tếquốc gia Được kết hợp một cách đúng đắn với cấu trúc thống kê dựa trên nguồn cungcác mối quan hệ của du lịch với các khu vực kinh tế khác và tầm quan trọng thích đáng

so sanh với các khu vực khác có thể được nhận diện rõ hơn Một yếu tố trung tâmtrong quá trình này là sự mô tả của Phân loại chuẩn quốc gia các hoạt động du lịchSICTA

Điều phối và tích hợp thống kê du lịch với những hoạt động kinh tế khác, đặcbiệt chú ý tới các định nghĩa và phân loại của thống kê kinh tế và nhân khẩu học cơbản, Hệ thống Tài khoản quốc gia và cán cân thanh toán

Xem xét những giới hạn hiện hành về tính sẵn có và khả năng truy cập tớinhững thông kê cần thiết, dẫn đến tính phức tạp của hoạt động du lịch bất kể nó đượcđịnh nghĩa thế nào

Các tài liệu tương tự miêu tả tập hợp các hoạt động thống kê được thực hiện bởiWTO để tạo ra một cơ cấu nền tảng cho hệ thống thống kê du lịch thế giới trong việc

Trang 9

cùng theo đuổi những mục đích cơ bản Có thể thấy rằng một khu vực ưu tiên caonhưng đã không được đánh giá đúng mức chính là sự tích hợp của du lịch vào trongphân loại các hoạt động kinh tế, phân loại hàng hoá và dịch vụ Việc thành lập mộtbảng phân loại các hoạt động du lịch đúng đắn sẽ là nhân tố cơ bản trong toàn bộ hạtầng được thiết kế nhằm thống kê WTO.

Sự phát triển này giúp nâng cao cơ hội tạo lập các phân loại quốc gia và quốc

tế, các hệ thống tài khoản và báo cáo, cũng như nắm bắt được phạm vi và quy mô củacác hoạt động kinh tế gắn với du lịch

- Ứng dụng thực tế trong phân tích kinh tế về du lịch

Như là một phần của hạ tầng thống kê Tiêu chuẩn phân loại quốc tế về hoạtđộng du lịch (SICTA) có mục đích cung cấp cấu trúc có tính khái niệm nền tảng đểgiúp phát triển hệ thống thống nhất, toàn diện và có mục đích trong việc sản xuất, tổchức và báo cáo thông tin thống kê gắn với du lịch Các mục tiêu chính của SICTA là:

Kích thích tính đại diện rộng hơn của thống kê du lịch

Hướng dẫn phát triển các tài khoản quốc gia phản ánh du lịch hướng tới danhmục hợp lý và có ý nghĩa của các hoạt động kinh tế gắn bó với du lịch

Cung cấp một cơ cấu nền tảng đảm bảo tính có thể so sánh giữa thống kê dulịch quốc gia và quốc tế

Cung cấp các chuyên gia du lịch có kiến thức vững vàng và các sản phẩm, dịch

vụ, thị trường du lịch và các điều kiện ngành

Cung cấp mối liên hệ hệ thống giữa bên cung cấp du lịch (các dịch vụ cung cấp/thu nhập/ chi phí) và bên có nhu cầu (các chi phí/ nhu cầu/sở thích)

Một bảng phân loại các hoạt động du lịch dựa trên các hoạt động kinh tế cungcấp một cấu trúc “bên cung” trong việc danh mục hoá, ở một số mức độ nào đó sẽ rấthữu ích để làm phù hợp và tuân theo định danh của các hoạt động hay sản phẩm chínhcủa du lịch, như là cách xác định truyền thống theo phía cầu

Trang 10

Khi hệ thống báo cáo thống kế quốc gia đang được thiết kế, những nhân tố rấtthực tiễn và thậm chí nhỏ nhặt thường điều khiển quá trình thiết kế đó Báo cáo thống

kê quốc gia và quốc tế cần phải luôn phù hợp với các cấu trúc kiểu SIC tại báo cáo chitiết mức 2,3 hay 4 ký tự Việc thiếu chi tiết thường dẫn tới việc tổng hợp số liệu ởnhững mức tổng hợp khiến cho du lịch hoàn toàn chìm nghỉm trong nhưng danh mụckhái quát Trong các cơ quan thống kê, các cuộc điều tra xác minh theo hướng cungthường được chọn lọc và cấu trúc xung quanh các danh mục SIC có sẵn Các lĩnh vựckhông được định nghĩa rõ ràng, bao gồm hay loại trừ một cách rõ ràng những danhmục này có thể không được xem xét một cách đúng đắn trong hệ thống thống kê

1.1.2 Tiêu chuẩn thống kê du lịch

Với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch trong những thập kỷ gần đây, ngày càng

có nhiều quốc gia nhận thức được tầm quan trọng của du lịch đối với nền kinh tế quốcdân Điều này dẫn tới công tác đo lường trong du lịch được chú trọng, đảm bảo sựchính xác và tin cậy

Tuy nhiên, không giống như những ngành khác – như các ngành kinh tế có tínhchất truyền thống, hiện nay không có những tiêu chuẩn về thống kê giúp thực hiệnmục tiêu này Trong qúa trình thu thập các số liệu có liên quan đến du lịch, các cơquan có trách nhiệm trong nước thường áp dụng những khái niệm, định nghĩa và cáchthức phân loại khác nhau, dẫn tới thực trạng là các số liệu thống kê được thực hiệntrong nước thường không thể so sánh được

Số liệu thống kê ngay chính trong một nước đã khác nhau, cũng dẫn tới việc sosánh về số liệu giữa các nước càng khó khăn hơn, do các định nghĩa, cách tiếp cậnđược sử dụng cũng khác nhau

Vì vậy, để có những số liệu đáng tin cậy và có thể so sánh được - cả ở trong nội

bộ một quốc gia và giữa các quốc gia với nhau, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO),với sự hỗ trợ của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, đã nhận thấy nhu cầu xây dựng hệthống tiêu chuẩn quốc tế về thống kê

Trang 11

Tài liệu đầu tiên về tiêu chuẩn thống kê trong du lịch được giới thiệu lần đầutiên năm 1993 “Khuyến nghị về Thống kê Du lịch năm 1993” chính là tài liệu về tiêuchuẩn quốc tế trong thống kê du lịch đang được sử dụng Tuy nhiên, sau một thời gian

sử dụng, vì một số lý do, những tiêu chuẩn này không còn cập nhật nữa và cần đượcsửa đổi bổ sung Bởi vì:

Kể từ khi hệ thống tiêu chuẩn về thống kê du lịch được giới thiệu vào năm

1993, nhiều vấn đề đã trở lên cấp thiết và cần được giải quyết: lao động trong du lịch,đầu tư, xác định sự tham gia của chính phủ trong du lịch, tác động đến môi trường, đolường du lịch ở cấp độ quốc gia…

Kể từ khi trở thành một cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc năm 2004, tổchức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã rất chủ động thực hiện theo trách nhiệm nhằmlồng ghép hệ thống khái niệm và định nghĩa trong thống kê du lịch vào hệ thống tiêuchuẩn quốc tế Điều này cần có một số sự điều chỉnh cho phù hợp

Để xây dựng Tài khoản vệ tinh Du lịch (TSA) phù hợp với các khái niệm vàđịnh nghĩa trong hệ thống của Liên hợp quốc về Tài khoản Quốc gia (năm 1993) và tàiliệu Hướng dẫn số 5 của Qũy Tiền tệ Quốc tế về đảm bảo cán cân thanh toán, chúng tacần điều chỉnh hệ thống tiêu chuẩn về thống kê du lịch năm 1993

Các khuôn khổ khác có liên quan đến thống kê du lịch, ví dụ như SNA39,BPM5, CPC, ISIC và tài liệu hướng dẫn thống kê về tài khoản Quốc tế trong dịch vụ

đã liên tục có sự cập nhật và sửa đổi, bổ sung Vì vậy, tiêu chuẩn về thống kê du lịchcũng cần phải được cập nhật, nhằm tăng cường tính liên kết và sự chắc chắn

Sau một vài năm nghiêm cứu, hệ thống tiêu chuẩn mới, “Khuyến nghị về Thống

kê du lịch năm 2008”, đã được hoàn thiện và giới thiệu tại Uỷ ban Thống kê của LiênHợp Quốc tại New York vào tháng 2/2008 Tại đây, hệ thống tiêu chuẩn quốc tế mới

về thống kê đã được phê duyệt

Tài liệu “Khuyến nghị về Thống kê Du lịch năm 2008” được giới thiệu nhằmđưa ra hệ thống các khái niệm, định nghĩa, cách thức phân loại và chỉ số có sự thống

Trang 12

nhất nội tại, đồng thời có liên hệ với hệ thống khái niệm về Tải khoản Vệ tinh du lịch(TSA), tài khoản quốc gia cán cân thanh toán và số liệu thống kê về lao động… Thêmvào đó, tài liệu hướng dẫn chung về cách thức xác định và thu thập dữ liệu cũng đãđược cung cấp cụ thể, nội dung này sẽ được ứng dụng thể hiện trong đề tài này.

Trọng tâm trong đó là quan điểm cho rằng du lịch là hoạt động của con người,

ở đây được xác định là khách du lịch Khách du lịch là người đi du lịch nghỉ ngơi, giảitrí và thư giãn, công việc, sức khoẻ, giáo dục hoặc các mục đích khác

Du lịch bao gồm các hoạt động liên quan đến tất cả các loại khách Phạm vi nàyrộng hơn so với quan điểm truyền thống cho rằng khách du lịch là người đi du lịch đểnghỉ ngơi

Khái niệm về các hoạt động sẽ bao trùm tất cả các hoạt động của khách du lịchtrong thời gian chuẩn bị hoặc tham gia chuyến đi Sẽ không có sự hạn chế đối với cáchoạt động vẫn được coi là “điển hình” như tham quan, tắm nắng, chơi hoặc xem thểthao… Ở đây, trạng thái là khách du lịch có ý nghĩa tạm thời; khi chuyến đi kết thúc,

cá nhân sẽ không còn ở trạng thái là khách du lịch nữa

Du lịch là một hiện tượng được xác định theo hướng nhu cầu, đóng góp về kinh

tế của du lịch cần được tiếp cận theo hướng các hoạt động của khách du lịch và việckhách du lịch tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ Tuy nhiên, cũng có thể xác định theohướng cung ứng, trong đó du lịch được hiểu là hệ thống các hoạt động hiệu quả nhằmchủ yếu phục vụ khách du lịch, hoặc một phần quan trọng trong đầu ra của các hoạtđộng này được tiêu thụ bởi khách du lịch

1.1.3 Đánh giá chất lượng trong thống kê du lịch

Thống kê du lịch là sản phẩm cuối cùng của quá trình phức tạp bao gồm nhiềugiai đoạn, kể từ bước thu thập và xử lý số cho tới việc phổ biến thông tin

Chất lượng số liệu thống kê du lịch được liên hệ với việc cung cấp cho người sửdụng lượng thông tin đầy đủ để đánh giá những số liệu đó có phù hợp với mục đích sửdụng hay không Ví dụ, người sử dụng cần xác định khái niệm và định nghĩa sử dụng

Trang 13

trong quá trình thu thập và xử lý các thông tin cơ bản, phương pháp thu thập thông tin,cũng như là tính chính xác của các số liệu kết quả, trong đó có các dữ liệu thoả mãnnhu cầu về thông tin.

Hầu hết các tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia phát triển hệ thống đánh giá chấtlượng Cho dù những hệ thống đánh giá hiện nay có khác nhau đôi chút về cách thứctiếp cận về chất lượng, liên quan tới số lượng, tên gọi và phạm vi, những hệ thống này

hỗ trợ lẫn nhau và có những cơ sở có tính chất linh động và toàn diện để có nhữngđánh giá định tính về số liệu thống kê

Ví dụ:

Hệ thống đánh giá chất lượng dữ liệu của IMF (DQAF) bao gồm 5 nhóm nộidung về chất lượng - đảm bảo tính thống nhất, sự đảm bảo về phương pháp luận, sựchính xác và độ tin cậy, khả năng tiếp cận và tính dịch vụ

Hệ thống thống kê Châu Âu (ESS) tập trung vào đầu ra của thống kê và có đềcập 6 tiêu chí - có sự liên hệ, chính xác, kịp thời và đúng thời gian, khả năng tiếp cận

và sự rõ ràng, khả năng so sánh và dễ hiểu

Hệ thống đo lường chất lượng của OECD xem xét về yếu tố chất lượng dựa trên

7 nội dung: sự phù hợp, chính xác, tin cậy, kịp thời, khả năng tiếp cận, dễ hiểu và cóthể giải thích

Mục tiêu tổng quát của 03 khung đánh giá chất lượng nói trên nhằm tiêu chuẩnhoá và hệ thống hoá quá trình đo lường, thống kê và báo cáo giữa các quốc gia

Các hệ thống này cho phép các quốc gia riêng rẽ đánh giá về các tập quán trongcông tác thống kê của quốc gia đó, so sánh với các cách tiếp cận được chấp thuậntrong khu vực và trên thế giới về đo lường chất lượng

Các cơ quan phụ trách thống kê du lịch có thể quyết định phát triển một trongcác hệ thống hiện có về đánh giá chất lượng, có thể trên cơ sở tiến hành trực tiếp hoặcphát triển hệ thống riêng phù hợp với tình hình và tập quán ở quốc gia

Trang 14

Chất lượng là một hiện tượng có tính chất đa chiều Mỗi một chiều phản ánhmột lĩnh vực cụ thể về đặc điểm của đầu ra thống kê và cần được đo lường một cáchtrực tiếp (Ví dụ: thời gian từ ngày tham chiếu đến ngày đưa ra thống kê du lịch cụ thể

là cách đo chất lượng trực tiếp), hoặc thông qua các tiêu chí đo lường chất lượng, cótrong Hướng dẫn Thu thập IRTS 2008

UNWTO khuyến nghị rằng những nội dung sau đây của chất lượng cần đượctính đến thống kê du lịch:

Tính tiên quy ết của chất lượng: Tính tiên quyết của chất lượng đề cập tới tất cả cácđiều kiện về tổ chức có tác động đến chất lượng của thống kê du lịch Các thành tố cầnthiết bao gồm:

+ Cơ sở pháp lý cho việc thu thập dữ liệu:

Sự thích hợp của việc chia sẻ dữ liệu và phối hợp giữa các cơ quan cung cấp dữ liệu

+ Đảm bảo tính bảo mật

Sự phù hợp về nguồn nhân lực, tài chính và kỹ thuật cho việc thực hiện các chươngtrình thống kê du lịch, và thực hiện các biện pháp để đảm bảo tính kinh tế đối vớinhững chương trình như thế

Trang 15

Sư tin c ậy : Sự tin cậy của số liệu thống kê du lịch phản ánh mức độ tin tưởng củangười sử dụng đối với dữ liệu, dựa trên uy tín của cơ quan sản xuất và cung cấp những

dữ liệu đó

Số liệu thống kê du lịch vì thế cần được thực hiện một cách chuyên nghiệp, phùhợp với các tiêu chuẩn về thống kê, sử dụng một cách minh bạch các cách thức thuthập dữ liệu, chính sách và tập quán truyền đạt thông tin

Chính xác: Sự chính xác của số liệu thống kê du lịch phản ánh mức độ mà các số liệunày dự báo và miêu tả chính xác về đặc điểm và số lượng những yếu tố mà những sốliệu này đo lường

Có nhiều yếu tố gắn kết và trong thực tế không có một phép cộng thống nhất vàtổng thể đo lường sự chính xác Nói chung, sự chính xác được xác định theo những sai

số trong dự báo thống kê Có thể bao gồm lỗi về chủ quan hoặc lỗi khách quan trongcác mẫu khảo sát

Sự chính xác và việc đo lường đối với các thống kê dựa trên các quy trình hànhchính - có khá nhiều đối với du lịch (ví dụ như kiểm soát biên giới và giao thông, sốliệu về lao động )

Sư kịp th ời: Sự kịp thời của số liệu thống kê du lịch phản ánh khoảng thời gian giữathời gian tham chiếu mà các số liệu này có sự liên hệ, với ngày mà dữ liệu được công

bố và giới thiệu ra công chúng

Sự kịp thời có thể được đo lường bởi độ dài của những khoảng thời gian nhưthế

Sự kịp thời gắn liền với thời gian công bố công trình Thời gian công bố có thểbao gồm nhiều thời điểm gắn với việc công bố này

Trong nội dung này thường có sự đánh đổi với sự chính xác Sự kịp thời củathông tin đôi khi ảnh hưởng đến sự liên hệ thích đáng, do những số liệu chính xácnhưng không kịp thời có rất ít độ hữu dụng

Trang 16

ự đảm bảo về phương pháp : Sự đảm bảo về phương pháp đề cập tới việc áp dụng cáctiêu chuẩn, hướng dẫn và tập quán quốc tế để thực hiện các số liệu thống kê khách dulịch Sự tương xứng của các định nghĩa, khái niệm, nhóm dân số mục tiêu, các biến số

và thuật ngữ sẽ có ý nghĩa quyết định khi so sánh với các tiêu chuẩn quốc tế

Tính chặt chẽ khi xem xét đến thực tế rằng thống kê du lịch do nhiều cơ quan thựchiện, bao hàm nhiều lĩnh vực trong du lịch, tính chặt chẽ là một nội dung quan trọngtrong đảm bảo về chất lượng

Tính chặt chẽ phản ánh một mức độ mà các dữ liệu có sự liên hệ logic với nhau,tức là có thể được giới thiệu cùng với các số liệu thống kê khác, để bổ trợ lẫn nhau,hoặc so sánh với nhau

Việc sử dụng một cách chuẩn xác các khái niệm, cách thức phân loại và theonhóm dân số mục tiêu và việc sử dụng phương pháp chung trong các bản khảo sát điềutra sẽ tăng cường tính chặt chẽ

Khả năng tiếp cận: Khả năng tiếp cận của số liệu thống kê du lịch phản ánh sự dễ dàngthể hiện khi các số liệu được lấy từ các cơ quan thu thập và thực hiện các số liệu

Bao gồm trong đó và tính phù hợp của các hình thức hoặc phương tiện truyềnđạt thông tin mà thông qua đó thông tin được tiếp cận

Khả năng tiếp cận đòi hỏi việc phát triển một thời gian biểu cung cấp thông tinhiện đại, cho phép người sử dụng có thể biết trước khi nào dữ liệu có, làm thế nào vàlấy dữ liệu ở đâu

Nội dung của yếu tố chất lượng có sự liên hệ và chồng lấn Bất kỳ một hànhđộng nào tác động hoặc chỉnh sửa có thể ảnh hưởng đến các yếu tố khác có liên quanđến chất lượng chung

Ví dụ, có thể có sự đánh đổi giữa việc ước tính chính xác tổng chi tiêu du lịchhàng năm và việc cung cấp dữ liệu kịp thời

Trang 17

UNWTO khuyến nghị rằng các quốc gia cần xử lý tình huống đánh đổi nàybằng cách đưa ra các dự báo tạm thời dựa trên cơ sở dữ liệu hạn chế hơn, ngay sau thờiđiểm tham chiếu Những sự ước tính này có thể được sửa đổi, bổ sung vào thời gianmuộn hơn, dựa trên hệ thống dữ liệu hoàn thiện hơn nhưng sẽ không kịp thời nữa.

Cần ghi nhận rằng những phương pháp chất lượng như thế sẽ rất khó để pháttriển Ví dụ, trong trường hợp về sự chính xác, hầu như là không thể đo lường những

xu hướng không có sự phản hồi, do đặc điểm của các yếu tố phản hồi này khó có thểđược đảm bảo Trong vấn đề này, tỷ lệ phản hồi được sử dụng như một chỉ số chấtlượng, trong đó cung cấp phương pháp đo lường các yếu tố không có sự phản hồi

Bởi vì xác định một phương pháp định tính chung về chất lượng trong thống kê

du lịch là không thể, UNWTO khuyến nghị rằng các quốc gia phát triển hệ thống chấtlượng thống kê du lịch dựa trên các nội dung đã được đề cập, đồng thời thường xuyên

có báo cáo như là một phần của hệ thống dữ liệu

UNWTO khuyến nghị rằng việc đánh giá chất lượng của thống kê du lịch cầnđược tiến hành trong vòng 4 đến 5 năm một lần, hoặc thường xuyên hơn nếu có nhữngthay đổi lớn về phương pháp hoặc thay đổi trong cơ sở dữ liệu

1.1.4 Hợp tác giữa các cơ quan về thống kê du lịch

Dựa trên hệ thống pháp lý và cơ cấu tổ chức của chính phủ, một số cơ quan cóthể tham gia vào quá trình thu thập và truyền đạt số liệu thống kê du lịch, bao gồm cơquan du lịch quốc gia, cơ quan phụ trách xuất nhập cảnh, Hiệp hội du lịch, cơ quanthống kê quốc gia và ngân hàng trung ương

Tất cả các cơ quan này có những ưu tiên riêng và nhiệm vụ riêng

Cơ quan thống kê quốc gia (Tổng cục Thống kê) chịu trách nhiệm thu thập vàcông bố 6 chỉ tiêu về du lịch (Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia năm 2005)

Các chỉ tiêu khác do ngành du lịch xây dựng, thu thập và công bố

Trang 18

Trong đó cần được ghi nhận thành văn bản và xác định một cách cụ thể về loạihình số liệu thống kê du lịch mà mỗi một cơ quan chịu trách nhiệm, phương pháp được

sử dụng trong quá trình trao đổi thông tin, đảm bảo tính bảo mật, đặc biệt khi khu vực

tư nhân và cơ quan thuế vụ có tham gia Như vậy sẽ tăng tính hiệu quả trong công tácthu thập dữ liệu và giảm bớt gánh nặng báo cáo cho các doanh nghiệp hoạt động dulịch

Phối hợp liên cơ quan có thể xác định các cách thức mới để sử dụng các dữ liệu

đã được thu thập hoặc tái thu thập để đáp ứng những nhu cầu khác nhau trong các lĩnhvực của thống kê

Việc phát triển và duy trì mới liên hệ công tác như thế sẽ là rất cần thiết để đảmbảo rằng tất cả các cơ quan nhận biết được những sự thay đổi về chính sách và quytrình mà có ảnh hưởng đến việc thu thập số liệu thống kê du lịch

Tất cả các cơ quan tham gia vào thống kê du lịch nên có báo cáo hàng quý vềcác biện pháp thu thập và truyền đạt thông tin, nhằm đảm bảo rằng những số liệuthống kê được công bố có chất lượng cao và đến với người sử dụng kịp thời

Cơ quan thống kê quốc gia cần hỗ trợ các cơ quan quản lý du lịch tham gia vàoquá trình thu thập, chuẩn bị số liệu thống kê du lịch về các tiêu chuẩn và phương pháp

sử dụng trong công tác thống kê

1.2 Một số khái niệm sử dụng trong thống kê du lịch:

Trang 19

(a) Những chuyến đi đến nơi khác môi trường sống thường xuyên của họ, do

đó sẽ ít hơn những chuyến đi lại thường xuyên giữa những nơi mà người đó đang ởhoặc nghiên cứu đến một nơi khác nơi cư trú thường xuyên của họ;

(b) Nơi mà người đó đi đến phải dưới 12 tháng liên tục, nếu từ 12 tháng liêntục trở lên sẽ trở thành người cư trú thường xuyên ở nơi đó (theo quan điểm của thốngkê);

(c) Mục đích chính của chuyến đi sẽ không phải đến đó để nhận thù lao (hay

là để kiếm sống) do đó sẽ loại trừ những trường hợp chuyển nơi cư trú cho mục đíchcông việc Vì thế những người đi với các mục đích sau đây sẽ được tính vào khách dulịch :

- Đi vào dịp thời gian rỗi, giải trí và các kỳ nghỉ

- Đi thăm bạn bè, họ hàng

- Đi công tác

- Đi điều trị sức khoẻ

- Đi tu hành hoặc hành hương

- Đi theo các mục đích tương tự khác

Dựa theo khái niệm này mà khách du lịch được chia làm hai loại : Khách Quốc tế vàkhách trong nước

1.2.2 Khách quốc tế

Bất kỳ một người nào đó đi ra khỏi nước người đó cư trú thường xuyên vàngoài môi trường sống thường xuyên của họ với thời gian liên tục ít hơn 12 tháng vớimục đích của chuyến đi là không phải đến đó để dược nhận thù lao (hay nói cách khác

là không phải để kiếm sống), không bao gồm các trường hợp sau:

Trang 20

- Những người đến và sống ở nước này như một người cư trú thường xuyên ởnước đó kể cả những người đi theo sống dựa vào họ.

- Những người công nhân cư trú ở gần biên giới nước này nhưng lại làm việccho một nước khác ở gần biên giới nước đó

- Những nhà ngoại giao, tư vấn và các thành viên lực lượng vũ trang ở nướckhác đến theo sự phân công bao gồm cả những người ở và những người đi theo sốngdựa vào họ

- Những người đi theo dạng tị nạn hoặc du mục

- Những người quá cảnh mà không vào nước đó (chỉ chờ chuyển máy bay ở sânbay) thông qua kiểm tra hộ chiếu như những hành khách transit ở lại trong thời gian rấtngắn ở ga sân bay Hoặc là những hành khách trên thuyền đỗ ở cảng mà không đượcphép lên bờ

- Những người cư trú ở nước này đến một nơi khác với mục đích là cư trú ở nơi đó

- Những người đến một nơi khác và nhận được thù lao từ nơi đó

- Những người đến và làm việc tạm thời ở nơi đó

- Những người đi thường xuyên hoặc theo thói quen giữa các vùng lân cận đểhọc tập hoặc nghiên cứu

- Những người du mục và những người không cư trú cố định

- Những chuyến đi diễn tập của các lực lượng vũ trang

Trang 21

Chỉ tiêu này được tính cho từng đơn vị kinh doanh và toàn ngành Đây là chỉtiêu không có tính trùng và phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh du lịch cụ thể hơn

so với số khách Nó có tác dụng trong việc lập kế hoạch các chỉ tiêu có liên quan,hoạch định khách sạn, chuẩn bị các phương tiện phục vụ công cộng

Tổng số ngày khách được thu thập từ các báo cáo của các đơn vị và các cơ sởkinh doanh lưu trú

1.2.6: Khái niệm “tiêu dùng của khách du lịch”

Trang 22

Vì khách du lịch là trung tâm của hoạt động du lịch, vì thế tiêu dùng củakhách du lịch chính là trung tâm của việc đo lường kinh tế hoạt ñộng du lịch.

Tiêu dùng của khách du lịch là lượng tiền chi trả cho việc tiêu thụ hàng hóa vàdịch vụ, cũng như là những ñồ có giá trị, do khách du lịch sử dụng hoặc làm quàtặng, thực hiện để chuẩn bị hoặc trong thời gian diễn ra chuyến đi du lịch, bao gồmchi phí của bản thân khách du lịch và chi phí được trả hoặc hoàn trả bởi người khác

Khái niệm về tiêu dùng của khách du lịch theo TSA cũng tuân theo kháiniệm “tiêu dùng cuối cùng” trong SNA, đó là “tổng chi tiêu cho tiêu dùng củakhách du lịch hoặc của người thay mặt cho khách du lịch trong suốt chuyến đi vànghỉ lại tại điểm đến”

Phạm vi tiêu dùng của khách du lịch có thể được xác định từ các định nghĩa vềtiêu dùng cuối cùng thực tế của hộ, tiêu dùng trung gian của Chính phủ và tiêu dùngcuối cùng của Chính phủ và cơ quan phi lợi nhuận phục vụ hộ gia đình đã đượctrình bày trong SNA 1993, trong đó lưu ý ba điểm là:

-Tiêu dùng của khách du lịch bao gồm tiêu dùng của khách cho công việc,nghỉ ngơi hoặc các mục đích du lịch khác

-Tiêu dùng của khách du lịch bao gồm các dịch vụ cá nhân do Chính phủ và

cơ quan phi lợi nhuận phục vụ hộ gia đình sản xuất và được tiêu dùng bởi khách

du lịch

-Tiêu dùng của khách du lịch bao gồm tiêu dùng bằng hiện vật khác nhau.Với cách tiếp cận về tiêu dùng của khách du lịch như trên thì các yếu tố cơ bảntrong tiêu dùng của khách du lịch bao gồm:

-Chi tiêu cho tiêu dùng cuối cùng bằng tiền mặt của khách du lịch.đây là yếu tốquan trọng nhất trong tổng tiêu dùng của khách du lịch

-Chi tiêu cho tiêu dùng cuối cùng của khách du lịch bằng hiện vật

Trang 23

-Chuyển nhượng xã hội bằng hiện vật của du lịch như các dịch vụ y tế cungcấp cho khách du lịch, hay các hoạt động khác mà tổng chi phí không được thuhoàn toàn qua việc bán vé cho khách như thăm bảo tàng…

-Các chi phí du lịch của doanh nghiệp: bao gồm phần tiêu dùng của khách dulịch trong các chuyến đi mà được xem như phần tiêu dùng trung gian của các doanhnghiệp, chẳng hạn như thanh toán cho đi lại và nhà ở của nhân viên trong chuyếnni…

Tuy nhiên, theo qui ước của hệ thống tài khoản quốc gia 1993, một số chi tiêu cóliên quan đến một chuyến đi của du khách được loại trừ khỏi tiêu dùng của du khách,

đó là những chi phí không phải chi phí để mua hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, chẳnghạn:

-Tiền thuế và thuế nhập khẩu hàng hóa

-Lãi suất (chi phí trung gian thuần được tính gián tiếp cho du khách), kể cảlãi suất cho chi tiêu trong suốt chuyến đi hoặc là cho chuyến đi

-Mua tài sản tài chính và phi tài chính, kể cả đất đai, tác phẩm nghệ thuật vàhàng hóa dịch vụ có giá trị khác

-Các khoản chuyển nhượng bằng tiền mặt như tiền công đức cho các tổ chức

từ thiện hoặc các cá nhân khác mà không phải là khoản chi cho hàng hóa và dịch vụ

-Bất cứ sự mua sắm nào trong một chuyến đi vì mục đích thương mại để bánlại hoặc để dùng trong một qui trình sản xuất bởi khách du lịch hoặc khi khách

du lịch thay mặt cho công ty để mua trong chuyến công tác đều không tính vào,(đây có thể là tiêu dùng trung gian hoặc tích lũy tài sản cố định của đơn vị sản xuất)

1.2.7 Doanh thu du lịch

Trang 24

Khái niệm doanh thu được cả chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS14) vàchuẩn mực kế toán quốc tế số 18 (IAS18) thống nhất định nghĩa: "Doanh thu là tổng giátrị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt độngsản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sởhữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu".

Theo đó có thể định nghĩa: Doanh thu du lịch là toàn bộ số tiền thu được từkhách du lịch trong kỳ nghiên cứu do hoạt động phục vụ các loại, bao gồm các chi phícủa khách về dịch vụ hàng hóa du lịch, trừ các chi phí cho vận tải hành khách quốc tế.Đây là chỉ tiêu tuyệt đối, thời kỳ, tính theo tháng, quý, năm; với đơn vị tính là đồngViệt Nam (VNĐ) hoặc ngoại tệ (USD)

Doanh thu du lịch bao gồm: Doanh thu hướng dẫn du lịch, doanh thu vậnchuyển, doanh thu lưu trú, doanh thu kinh doanh hàng ăn uống ngoài ra còn có doanhthu từ các dịch vụ khác như giặt là vui chơi giải trị, điện thoại, doanh thu bán đồ lưuniệm

- Công thức tính: D Di

Trong đó:

+ D là tổng doanh thu

+ Di doanh thu từ loại hình kinh doanh du lịch thứ i

Chỉ tiêu doanh thu được thu thập thông qua báo cáo định kỳ của các tổ chức đơn vịkinh doanh du lịch, số liệu tổng hợp của Tổng Cục Du Lịch và Tổng Cục Thống kê

Ngoài ra, có thể tính thêm chỉ tiêu doanh thu xã hội về du lịch, là tổng số tiềnthu được từ khách du lịch do hoạt động phục vụ các loại (lưu trú, ăn uống, mua sắmhàng hoá, đi lại, vui chơi giải trí và các dịch vụ bổ sung khác ) Chỉ tiêu được tính trên

cơ sở số lượng khách, ngày khách đã có và mức chi tiêu bình quân một khách, mộtngày khách

1.3 Kinh nghiệm của 1 số quốc gia trên thế giới về thống kê du lịch:

Trang 25

1.3.1 Giới thiệu về tài khoản vệ tinh du lịch.

1.3.1.1 Khái niệm về tài khoản vệ tinh du lịch :

Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm đầy đủ, chính thức nào về tài khoản vệtinh du lịch

Tài liệu ‘‘Các đề xuất về hệ thống phương pháp luận cho Tài khoản vệ tinh dulịch’’ của UNWTO, OECD và Eurostat dự thảo và đã được Ủy ban thống kê thông quatại phiên họp lần thứ 21 năm 2000 không đưa ra thành khái niệmvề tài khoản vệ tinh

du lịch mà chỉ đưa ra quan điểm chung về tài khoản vệ tinh du lịch, đó là: Một công cụthống kê mới, bao gồm các khái niệm, định nghĩa, tổng hợp, phân ngành và bảng bảng,phù hợp với hướng dẫn sử dung tài khoản ở cấp quốc gia và quốc tế, cho phép so sánhgiữa các vùng, các nước hoặc các nhóm nước.nó cũng cho phép các ước tính này sosánh được với các số liệu tổng hợp và các tính toán ở tầm kinh tế vĩ mô được thế giớicông nhận

Còn trong đề tài “nghiên cứu xây dựng mô hình tài khoản vệ tinh du lịch ở ViệtNam” do TS Lý Minh Khải chủ nhiệm thực hiện năm 2003, đưa ra khái niệm: “Tàikhoản vệ tinh du lịch là một tập hợp các bảng bảng đo lường, tính toán phản ánh kếtquả các mặt hoạt động du lịch trong mối quan hệ qua lại với các ngành kinh tế quốcdân khác theo cùng một phương pháp tính của tài khoản quốc gia”

Xuất phát từ nội dung của Hệ thống tài khoản Quốc gia, cùng với quan điểm vềtài khoản vệ tinh du lịch mà các tổ chức quốc tế, các nhân trên đưa ra thì có thể tổnghợp thành một khái niệm về tài khoản vệ tinh du lịch, đó là:

“Tài khoản vệ tinh du lịch (Tourism Satellite Account – TSA) là một hệ thốngcác khái niệm, định nghĩa, các bảng bảng và các chỉ tiêu kinh tế được sắp xếp logic vàthống nhất nhằm đo lường tính toán và phản ánh kết quả các mặt hoạt động du lịchtheo quan điểm cung cầu và trong mối quan hệ qua lại với các ngành kinh tế quốc dânkhác theo cùng một nguyên tắc của tài khoản quốc gia, nhằm đảm bảo tính so sánhđược giữa các vùng, các nước hoặc các nhó nước”

Trang 26

1.3.1.3Vai trò của tài khoản vệ tinh du lịch:

Tài khoản vệ tinh du lịch ra đời là công cụ chính thức,cung cấp nguồn thông tintoàn diện cho phép quan sát mối quan hệ tương quan giữa cung và cầu của hoạt động

du lịch,đánh giá chi tiết đầy đủ về vị trí,vai trò,đóng góp của hoạt động du lịch đối vớinền kinh tế,cụ thể:

Thông qua tài khoản vệ tinh có thể thấy được quy mô và tầm quan trọng về mặtkinh tế của hoạt động du lịch trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo nguyên tắc thốngnhất với các nguyên tắc của Hệ thống tài khoản quốc gia

Cung cấp những thông tin chính xác, đáng tin cậy về hoạt động du lịch, coi dulịch như là một ngành kinh tế chính thức và so sánh với các ngành kinh tế khác đãđược ghi nhận chính xác trong Hệ thống tài khoản quốc gia

Tài khoản vệ tinh du lịch còn cho phép đánh giá được kết quả và hiệu quả kinhdoanh của hoạt động du lịch thông qua các chỉ tiêu về số lượng khách du lịch, doanhthu du lịch, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng của hoạt động du lịch…

Có cơ sở đưa ra những đánh giá quan trọng về cán cân thanh toán quốc tế củamột nước Điều này xuất phát từ việc nhiều nước coi hoạt động du lịch như giải phápquan trọng để cân đối các vấn đề thanh toán quốc tế

Tính toán, phân tích các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô về hoạt động du lịch như giá trịsản xuất (Gross Output – GO), giá trị tăng thêm (Value Added – VA)…Nhằm có căn

cứ so sánh kết quả của hoạt động du lịch với các hoạt động kinh tế khác

Cung cấp các thông tin cụ thể, cần thiết cho việc đánh giá sự phát triển của hoạtđộng du lịch và tác động của hoat động du lịch đối với sự phát triển kinh tế của cácvùng, địa phương và toàn nền kinh tế quốc dân

Đặc biệt, việc tính toán và phân tích các bảng trong Tài khoản vệ tinh du lịchchính là cơ sở quan trọng cho việc tiến hành so sánh quốc tế về hoạt động du lịch bởi

Trang 27

vì các nước đều tính toán những đóng góp của hoạt động du lịch đối với nền kinh tếtheo cùng một nguyên tắc chung của hệ thống tài khoản quốc gia.

1.3.1.4: Nội dung của tài khoản vệ tinh du lịch:

Theo sơ đồ mà UNWTO đưa ra, Tài khoản vệ tinh du lịch gồm 10 bảng.Các bảng này được xây dựng trên cơ sở các bảng của Hệ thống tài khoản quốc gianăm 1993 là những bảng về cung cấp và sử dụng các hàng hóa và dịch vụ Cácbảng trong tài khoản vệ tinh du lịch của UNWTO đề xuất có nội dung như sau :

Bảng 1 Tiêu dùng du lịch của khách quốc tế phân theo sản phẩm và loạikhách (Chi tiêu cho tiêu dùng cuối cùng của khách du lịch dưới dạng tiền mặt) (Giátrị thuần)

Bảng này gồm các chỉ tiêu phản ánh giá trị tiền mặt mà khách quốc tế chitiêu chia theo từng loại sản phẩm du lịch và từng đối tượng khách.Thuật ngữ “dướidạng tiền mặt” ở đây không nhất thiết là phải chi tiêu bằng tiền mặt mà chỉ muốnnói tới tất cả các khoản chi tiêu cho tiêu dùng cuối cùng của khách du lịch dướidạng không phải là hiện vật

Bảng 2 Tiêu dùng du lịch của khách nội địa phân theo sản phẩm và loạikhách (Chi tiêu cho tiêu dùng cuối cùng của khách du lịch dưới dạng tiền mặt)(Giátrị thuần)

Bảng này cũng gồm các chỉ tiêu tương tự bảng 1 nhưng chỉ phản ánh phầntiêu dùng của khách nội ñịa ở trong nước Phần tiêu dùng này bao gồm tiêu dùngcủa khách thường trú đi du lịch trong phạm vi nước mà ta nghiên cứu và cả phầntiêu dùng trong nước của khách thường trú đi du lịch nước ngoài, đó là phần tiêudùng trước khi rời khỏi nước đó hoặc sau khi đi du lịch về Mỗi nhóm khách nàyđược chia cụ thể thành khách trong ngày và khách ngủ qua đêm

Bảng 3 Tiêu dùng du lịch của khách du lịch nội địa ra nước ngoài phântheo sản phẩm và loại khách (Chi tiêu cho tiêu dùng cuối cùng của khách dulịch dưới dạng tiền mặt)(Giá trị thuần)

Trang 28

Bảng 3 cũng gồm các chỉ tiêu như bảng 1 nhưng tập trung phân tích cơ cấutiêu dùng của khách nội địa đi du lịch nước ngoài.đối tượng khách này cũng được chiathành khách trong ngày và khách ngủ qua đêm.

Như vậy, các bảng 1, bảng 2 và bảng 3 mô tả yếu tố quan trọng nhất của tiêudùng du lịch của khách, đó là chi tiêu cho tiêu dùng cuối cùng bằng tiền mặt củakhách Trong đó, bảng 1 tập trung vào hoạt động du lịch từ nước ngoài vào, bảng 2phản ánh tiêu dùng du lịch trong nước và bảng 3 nói về du lịch ra nước ngoài Cácbảng này có cách phân loại sản phẩm du lịch, phân loại khách và các nguyên tắcxác định giá trị chi tiêu cho tiêu dùng cuối cùng bằng tiền mặt của khách giốngnhau

Bảng 4 Tiêu dùng du lịch trên lãnh thổ quốc gia phân theo sản phẩm vàloại khách (Giá trị thuần)

Bảng này gồm các chỉ tiêu tổng hợp phản ánh chi tiêu cho tiêu dùng cuốicùng của khách quốc tế và khách nội địa trên lãnh thổ quốc gia và cũng chia theocác loại sản phẩm như bảng số 1, 2 và 3.đây là bảng tổng hợp giúp tính toán phần tiêudùng du lịch ở một nước nào đó và nó được dùng như là bảng tham chiếu cho việctính toán số liệu tổng hợp về giá trị gia tăng của ngành du lịch

Bảng 5 Tài khoản sản xuất các ngành du lịch và các ngành liên quan đến

du lịch (Giá trị thuần).Phản ánh tài khoản sản xuất do các ngành du lịch và cácngành khác (các ngành có liên quan ñến ngành du lịch và các ngành không thuộcriêng ngành du lịch) tạo ra

Bảng 6 Nguồn cung ứng trong nước và cầu tiêu dùng du lịch nội địa chiatheo sản phẩm (Giá trị thuần).Đây là bảng thống kê quan trọng nhất của tài khoản vệtinh du lịch, đóng vai trò trung tâm trong Tài khoản vệ tinh du lịch Bảng này phảnánh nguồn cung cấp và tiêu dùng du lịch nội địa

Dựa vào bảng 6 trong tài khoản vệ tinh du lịch có thể so sánh và đánh giáđược sự chênh lệch giữa cung và cầu hoạt ñộng du lịch về từng loại sản phẩm du

Trang 29

lịch, tính toán được giá trị tăng thêm của các ngành du lịch, qua đó đánh giá ñượcñóng góp của các ngành du lịch trong tổng sản phẩm quốc nội của nền kinh tế quốcdân.

Bảng 7: Lao động trong các ngành du lịch

Đây bảng về việc làm trong các ngành du lịch Bảng này phản ánh tổng số laođộng hoạt động trong các ngành du lịch chia theo giới tính hoạt động ở từng loạidịch vụ du lịch như khách sạn, nhà hàng, vận tải, đại lý du lịch

Bảng 8: Tổng tích lũy tài sản cố định du lịch của các ngành du lịch và cácngành khácViệc phân tích tài sản cố định là đặc biệt quan trọng trong phân tíchhoạt động du lịch vì sự tồn tại của cơ cấu hạ tầng cơ bản như giao thông, khu vuichơi giải trí, nơi ăn nghỉ… quyết định phần lớn đến lượng khách du lịch

Bảng 9: Tiêu dùng du lịch tập thể chia theo chức năng và cấp quản lý nhànước

Để nhấn mạnh ý nghĩa kinh tế của các hoạt động do các cơ quan nhà nướcthực hiện nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển du lịch cần tính giá trịtổng hợp của tiêu dùng tập thể trong hoạt động du lịch

Bảng 10: Một số chỉ tiêu thống kê không bảng hiện bằng tiền về hoạt động

du lịch.Theo SNA 1993 thì các chỉ tiêu mang tính vật chất là một yếu tố quan trọngcủa tài khoản vệ tinh du lịch và vì thế không nên được xem như là phần phụ trong tàikhoản vệ tinh du lịch Vì thế bảng TSA 10 là một trong những bảng cần thiết, quantrọng của tài khoản vệ tinh du lịch

Như vậy, khái quát về nội dung 10 bảng trong tài khoản vệ tinh du lịch cóthể thấy: 4 bảng số liệu đầu tiên (gồm bảng 1,2,3, và 4) phản ánh mức cầu du lịchhay tiêu dùng du lịch Bảng 5 đo lường mức cung du lịch tức là giá trị sản xuất củahoạt ñộng du lịch Bảng 6 kết hợp mức tiêu dùng về du lịch và nguồn cung cấptrong nước, trong đó xác định tỷ lệ đầu ra của các ngành được tiêu thụ bởi khách dulịch Trên cơ sở sự tương tác đó, bảng 6 đã tính toán giá trị tăng thêm của hoạt động

Trang 30

du lịch và đóng góp của hoạt động du lịch đối với GDP của đất nước Có thể nói bảng

6 là bảng quan trọng nhất, đóng vai trò trung tâm trong tài khoản vệ tinh du lịch Cácbảng tiếp theo (bảng 7,8,9 và 10) cung cấp các số liệu hỗ trợ phản ánhcác mặt kháccủa hoạt động du lịch, giúp đánh giá toàn diện hơn về hoạt động du lịch

Trong 10 bảng trên, các bảng 1,2,3,4,5,6, và 10 được coi là các bảng cốt lõicủa tài khoản vệ tinh du lịch vì các bảng này tập trung nhất vào tiêu dùng của dukhách hoặc vào nguồn cung ứng của các ngành thuộc lĩnh vực du lịch Do đó,UNWTO khuyến nghị đối với các nước trong giai đoạn đầu biên soạn tài khoản vệtinh du lịch chỉ cần tập trung vào các bảng này Ba bảng còn lại là bảng 7, bảng 8 vàbảng 9, mặc dù cũng quan trọng nhưng do khó khăn trong việc thu thập số liệu cũngnhư khó khăn trong các khái niệm định nghĩa nên các nước có thể biên soạn tronggiai đoạn sau

1.3.2 Hệ chỉ tiêu thống kê du lịch của Tổ chức Du lịch Thế giới

Theo tài liệu “Tài khoản vệ tinh du lịch của UNWTO năm 2005”; “Các khuyếnnghị về thống kê du lịch của UNWTO năm 1993”; “Một số khuyến nghị về thống kê

du lịch của UNWTO năm 2008”

- Tiêu dùng du lịch ở nước ngoài phân theo sản phẩm và nhóm khách

- Tiêu dùng du lịch nội địa phân theo sản phẩm và loại hình du lịch

- Tài khoản sản xuất của các ngành thuộc lĩnh vực du lịch và các ngành khác

- Nguồn cung trong nước tiêu dùng du lịch nội địa phân theo sản phẩm

Trang 31

- Lao động trong các ngành thuộc lĩnh vực du lịch

- Tổng tích luỹ tài sản cố định du lịch của ngành du lịch và các ngành khác

- Tiêu dùng du lịch tập thể, phân theo chức năng và cấp quản lý

- Các chỉ tiêu hiện vật

+ Số chuyến đi và số lượt nghỉ qua đêm phân theo loại hình du lịch và loại

khách thăm+ Khách nước ngoài vào: số lượt người đến và số lượt nghỉ qua đêm phân

theo phương tiện vận tải+ Số cơ sở và công suất phân theo hình thức chỗ ở

+ Số lượng cơ sở trong các hoạt động du lịch đặc trưng và hoạt động du

lịch liên quan được phân tổ theo số nhân viên được tuyển dụng

Phân tích

Nội dung các đề xuất trong lần xuất bản này dựa trên cơ sở các khái niệm phổbiến để xây dựng tài khoản vệ tinh du lịch (Tourism Satellite Account - TSA) – Là kếtquả nghiên cứu của nhóm các chuyên gia quốc tế uy tín Dưới sự chỉ đạo của Cơ quanThống kê Liên hợp quốc, với sự tham gia của các thành viên thuộc Cơ quan Thống kêCộng đồng Châu Âu, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế và Tổ chức Du lịch Thếgiới Ba tổ chức này khuyến khích áp dụng ở các quốc gia thành viên Những đề xuấtnày đã được Hội đồng Thống kê nhất trí tại phiên họp lần thứ 31 năm 2000

Cấu trúc chính của các đề xuất Tài khoản vệ tinh du lịch được xây dựng dựatrên các cân đối chung hiện nay trong phạm vi nền một kinh tế giữa nhu cầu và các sảnphẩm phát sinh do ngành du lịch cung cấp Phía sau cấu trúc của TSA là ý tưởng nhằmphân tích đầy đủ các mặt về nhu cầu hàng hóa và dịch vụ - những yếu tố có thể liênquan tới du lịch trong phạm vi nền kinh tế; quan sát và xem xét các hoạt động trongviệc cung cấp hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế; mô tả những tác động đến các hoạtđộng kinh tế khác Nội dung các đề xuất trong lần xuất bản này cung cấp phương thức

Trang 32

cho các quốc gia có thể xây dựng TSA và tiến tới mục đích cao hơn là cho phép sosánh số liệu thống kê du lịch quốc tế

Mỗi chỉ tiêu nêu trên được trình bày tổng hợp dưới dạng một biểu thống kêtương ứng Tổng hợp lại có 10 biểu chính, riêng biểu 10 (ứng với chỉ tiêu thứ 10) đượctách thành 4 biểu con

Các biểu, từ biểu 1 đến biểu 6, sử dụng giá trị thuần như đã được đề xuất (nghĩa

là giá trị thuần của các dịch vụ của đại lý du lịch, của tour trọn gói và của lợi nhuậnphân phối) Do đó, biểu 1 đến biểu 6 làm cho việc phân chia giá trị của hàng hoá màkhách mua trong phạm vi lãnh thổ kinh tế của một quốc gia được phân thành 2 phần:lợi nhuận phân phối và phần giá trị còn lại của hàng hoá bao gồm cả giá gốc và thuếthuần đánh vào sản phẩm Nếu chỉ có lợi nhuận bán lẻ được xác định một cách riêng rẽthì toàn bộ giá trị còn lại của hàng hoá sẽ bao gồm cả lợi nhuận phân phối còn lại

Do chi tiêu cho tiêu dùng cuối cùng của khách là yếu tố quan trọng nhất trongphần tiêu dùng của khách nên ba bảng biểu đầu tiên, từ biểu 1 đến biểu 3, tập trungvào biến này dựa trên các loại hình du lịch khác nhau Sau đó, biểu 4 sẽ kết hợp tất cảchi tiêu cho tiêu dùng cuối cùng bằng tiền mặt của khách với các điều chỉnh cần thiết

để có được toàn bộ tiêu dùng của khách hoặc của tổ chức cá nhân thay mặt cho kháchbởi vì không dễ qui những điều chỉnh này vào các loại hình du lịch khác nhau Phầntổng hợp chính rút ra được từ biểu 4 là tiêu dùng du lịch nội địa Đây là phần tổng hợp

để so sánh với nguồn cung trong nước nhằm phục vụ cho việc tính toán các tác độngkinh tế của ngành du lịch ở nước mà ta nghiên cứu

Biểu 5 là biểu về nguồn cung Biểu này cho biết các sản phẩm và hoạt động dulịch ở mức độ phân tổ cao hơn và có thể thực hiện được ở thời điểm hiện nay Mức độphân tổ như vậy nhằm phục vụ cho mục đích so sánh quốc tế của các số liệu được các

tổ chức quốc tế thu thập để đưa vào xuất bản phẩm của họ Tuy nhiên các nước xâydựng bảng phân ngành riêng về sản phẩm và hoạt động đặc trưng của ngành du lịchcũng có thể có mức độ phân tổ cao hơn bảng phân ngành mà chúng tôi khuyến nghị ởđây Do đó, cột “các ngành có liên quan” sẽ bao gồm các giá trị tổng hợp tương ứng

Trang 33

với các hoạt động được xem là tiêu biểu của một quốc gia nào đó nhưng không đượcxem như vậy trong bảng phân ngành mà chúng tôi khuyến nghị ở đây Cuối cùng, cột

“các ngành không thuộc du lịch” cho biết giá trị tổng hợp tương ứng với các ngànhkhác

Biểu 6 cho biết sự tương tác giữa tiêu dùng du lịch nội địa với nguồn cung cấptrong nước để từ đó tính được giá trị gia tăng của ngành du lịch và GDP được tạo ra từtiêu dùng du lịch nội địa Đây là biểu đóng vai trò trung tâm của tài khoản vệ tinh dulịch Nếu không có biểu này thì mặc dù đã có được một phần số liệu rồi nhưng ta cũng

sẽ không thể có được tài khoản vệ tinh du lịch

Biểu 7 là biểu về việc làm trong các ngành thuộc lĩnh vực du lịch Biểu nàycũng được đưa vào do tầm quan trọng của nó mặc dù có nhiều khó khăn trong tínhtoán

Biểu 8 và biểu 9 về tổng tích luỹ tài sản cố định và tiêu dùng tập thể của ngành

du lịch hiện nay đang ở trong giai đoạn thử nghiệm Mặc dù một số quốc gia đã có cácthông tin cần thiết để biên soạn chúng nhưng các biểu này cũng cần phải được ước tínhtrong tương lai vì tầm quan trọng có nó đối với việc phân tích ngành du lịch

Cuối cùng, biểu 10 trình bày một số các chỉ tiêu phi tiền tệ chủ yếu bằng đơn vịvật chất Các chỉ tiêu này cần thiết cho việc ước tính và giải thích các thông tin về tiền

tệ được trình bày trong các biểu cơ bản khác (từ biểu 1 đến biểu 7)

Hầu hết các biểu trình bày ở đây đều được xây dựng dựa trên cả giá hiện hành

và giá so sánh theo đơn vị tiền tệ trong nước và theo đơn vị tiền tệ nước ngoài cho dulịch quốc tế Giá trị theo giá so sánh chỉ có thể áp dụng được đối với các sản phẩm thịtrường và phi thị trường Các tính toán theo giá so sánh cần được thực hiện dựa trêncác nguyên tắc của hệ thống tài khoản quốc gia 1993

Tổng hợp

Số liệu thống kê tổng hợp không phải là đặc điểm quan trọng nhất của tài khoản

vệ tinh du lịch Mục tiêu chủ yếu của phần tổng hợp chính là để cung cấp các thông tin

Trang 34

chi tiết và có tính phân tích cho tất cả các lĩnh vực của du lịch: cấu thành của tiêu dùngcủa khách, các hoạt động sản xuất có liên quan nhiều nhất đến các hoạt động củakhách và mối quan hệ với các hoạt động sản xuất khác Tuy nhiên, phần tổng hợp cótác động quan trọng về mặt chính trị bởi vì chúng đo lường tầm quan trọng về mặtđịnh lượng của ngành du lịch ở quốc gia mà ta nghiên cứu Tác động này không thể bỏqua được Vì vậy, phần tổng hợp chính cần phải so sánh được với các chỉ tiêu khác ởtầm vĩ mô của cùng một quốc gia đó.

Cuốn sách này đề xuất cần tính toán các số liệu tổng hợp sau Đây là một bộ cácchỉ tiêu mô tả qui mô của ngành du lịch trong một nền kinh tế:

- Tiêu dùng bằng tiền mặt của du lịch nội địa;

- Tiêu dùng du lịch nội địa (bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật);

- Giá trị gia tăng của các ngành thuộc lĩnh vực du lịch;

- Giá trị gia tăng của ngành du lịch;

- Đóng góp GDP của ngành du lịch

- Các số liệu tổng hợp này sẽ được dùng trong quá trình so sánh quốc tế ở thờiđiểm hiện nay hay trong giai đoạn đầu của quá trình thực hiện tài khoản vệtinh du lịch

Theo thống kê của UNWTO, tính đến hết năm 2007 có 80 nước áp dụng hệthống tài khoản vệ tinh du lịch Các nước ASEAN hiện nay chưa có nước nào thựchiện được, vẫn đang tích cực xây dựng lộ trình để áp dụng hệ thống này, trong đó cóSingapo, Thailand, Malaysia và Việt Nam cũng bắt đầu khởi động

Trang 35

*Khách Quốc tế đến Ấn Độ

Bất kỳ người nào mang hộ chiếu nước ngoài vào Ấn Độ với mục đích chính củachuyến đi là không phải đến đây để nhận thù lao (hay là kiếm sống) Những người đivới mục đích sau đây không được tính là khách du lịch nước ngoài:

- Những người đến Ấn Độ với mục đích để kiếm sống

- Những người đến Ấn Độ với mục đích định cư

- Những người Nepal vào Ấn Độ theo dọc biên giới của hai nước

- Tất cả những người vào Ấn Độ từ Bhutan bằng đường bộ

- Trẻ em dưới 3 tuổi

* Khách nội địa

Bất kỳ một người nào đó đi trong phạm vi nước mình nhưng tới một nơi khácnơi ở thường xuyên (usual place) và ở lại khách sạn, hay cơ sở lưu trú với thời gian íthơn 6 tháng theo các mục đích sau:

- Thư giãn, giải trí, thể thao

- Tôn giáo, hành hương và công tác xã hội

- Đi họp, hội thảo

- Nghiên cứu và chăm sóc sức khoẻ

*Khách đi với các mục đích sau đây sẽ không được tính là du lịch nội địa:

- Người đến Ấn Độ với mục đích để kiếm tiền

- Người về quê để sống hoặc những chuyến đi ngắn để thăm họ hàng, bạn bè, đicông tác xã hội hay tôn giáo và nghỉ tại nhà của mình hay nhà của bạn bè, họ hàng

mà không sử dụng bất kỳ một loại thiết bị ngắm cảnh nào

- Người nước ngoài cư trú tại Ấn Độ

Trang 36

*Môi trường thường xuyên (usual envirnoment)

Ở Ấn độ không có qui định cụ thể về môi trường thường xuyên Song để xácđịnh phạm vi khách du lịch họ căn cứ vào nơi ở thường xuyên Nơi ở thường xuyên

mà Ấn Độ qui định là nơi sinh sống thường xuyên, nơi làm việc, nơi học tập

1.3.3.2 ÔXTRÂYLIA

Đối với Ôxtrâylia, cơ quan thống kê du lịch được tổ chức một cấp là cấp quốcgia, không có cấp bang (Cấp tỉnh)

Khái niệm về hoạt động du lịch cũng đồng nghĩa với khái niệm mà WTO đưa ra

và những trường hợp sau đây không được Ôxtrâylia tính trong thống kê du lịch:

- Những người đi lại thường xuyên do mục đích của công việc như người lái xe,phi công máy bay

- Những người đi lại do phải bắt buộc hoặc bị giam giữ như ở bệnh viện, nhà tù

- Những người mới đến (thời gian dưới 12 tháng) nhưng với mục đích sẽ cư trúvĩnh viễn ở đó

- Những người đi lại với nhiệm vụ của quân đội

- Những người đi lại nhưng trong phạm vi môi trường thường xuyên của họ

*Khách Quốc tế đến ôxtrâylia

Bất kỳ người nào không phải cư trú thường xuyên ở Ôxtrâylia mà đến đây vớimục đích không phải để nhận thù lao thì đều được coi là khách du lịch Quốc tế đếnÔxtrâylia

Trang 37

Môi trường sống thường xuyên của một người là một khu vực mà người đó sinhhoạt thường xuyên như nơi ở, nơi làm việc, nơi học tập và những nơi khác mà đi lạithường xuyên Môi trường thường xuyên xác định dựa vào hai tiêu thức là tần suất vàkhoảng cách Cụ thể ở ôxtrâylia qui định như sau:

- Nơi mà người đó đi lại ít nhất 1 tuần 1 lần thì vẫn được coi là trong môitrường thường xuyên

- Khoảng cách mà người đó đi lại trong phạm vi 40 km kể từ nơi cư trú đối vớinhững chuyến đi nghỉ qua đêm và 50 km đối với những chuyến đi trong ngày thì vẫnđược coi là trong môi trường thường xuyên

1.3.5 Cơ cấu tổ chức của cơ quan thống kê du lịch

Chú ý rằng cơ quan thống kê du lịch khác với cơ quan quản lý nhà nước về dulịch, có thể cơ quan quản lý nhà nước về du lịch có cơ quan thống kê, cũng có thểkhông có cơ quan thống kê tuỳ theo hình thức tổ chức cơ quan thống kê du lịch

1.3.5.1 Cơ quan thống kê du lịch một cấp (Australia, Niudilan, Anh, Tây Ban Nha

Các cơ quan quản lý du lịch địa phương (Cấp Tỉnh và tương đương) báo cáocác nội dung được phân cấp quản lý trực tiếp với cơ quan thống kê quốc gia (Theo chế

độ báo cáo)

Doanh nghiệp hoạt động du lịch báo cáo về năng lực, kết quả hoạt động, tài sản

cố định, lao động … trực tiếp với cơ quan thống kê quốc gia (Theo chế độ báo cáo)

Trang 38

Nội dung và cách thức thu thập thông tin chủ yếu:

Số khách quốc tế đến (Khách du lịch quốc gia khác đến): Thu thập qua báo cáođịnh kỳ của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh

Số khách quốc tế đi (Đi du lịch đến quốc gia khác) : Thu thập qua báo cáo định

kỳ của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh

Số khách nội địa (Khách trong nước đi du lịch trong lãnh thổ quốc gia): Thuthập qua điều tra thống kê tại hộ gia đình

Cơ cấu chi tiêu của khách du lịch theo từng nhóm khách: Qua điều tra thống kêCác chỉ tiêu thống kê về nguồn cung trong nước, tài sản cố định, lao động, thu thậpqua báo cáo định kỳ của các doanh nghiệp

Tiêu dùng du lịch tập thể (Chi tiêu của các cơ quan quản lý du lịch các cấp) thuthập theo báo cáo định kỳ của các cơ quan quản lý du lịch các cấp

Đối tượng được cung cấp số liệu tổng hợp:

- Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch Trung ương

- Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch địa phương

- Cơ quan thống kê quốc gia

- Công bố số liệu so sánh quốc tế

Nhận xét ưu điểm:

- Có thể đưa ra phạm vi nơi cư trú thường xuyên cho khách du lịch nội địakhông theo địa giới hành chính (như Australia) và do đó thuận lợi cho côngtác điều tra thống kê khách du lịch nội địa tại hộ gia đình

- Tinh giảm biên chế tổ chức, ngắt bỏ trung gian

- Đẩy nhanh thời gian tổng hợp số liệu

- Tin học hoá là công cụ đảm bảo thành công

Nhận xét nhược điểm:

Trang 39

- Số cuộc điều tra nhiều, kinh phí chi cho công tác điều tra lớn

- Số liệu du lịch cho các địa phương được tách từ số liệu quốc gia, nên tínhchi tiết không cao và thường không đáp ứng nhu cầu đa dạng của quản lý dulịch địa phương

1.3.5.2 Cơ quan thống kê du lịch hai cấp (Ấn Độ, Việt Nam hiện nay …)

Bao gồm cơ quan thống kê quốc gia (nằm trong cơ quan quản lý nhà nước vềTrung ương) và cơ quan thống kê địa phương (nằm trong cơ quan quản lý nhà nước về

du lịch cấp Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương và tương đương)

Ví dụ Việt Nam như hiện nay muốn thực hiện tốt công tác thống kê du lịch thì:TCDL ít nhất phải có 05 cán bộ thống kê chuyên trách, 63 Tỉnh thành phố trực thuộcTrung ương cũng phải có ít nhất 02 cán bộ thống kê chuyên trách

Cơ quan thống kê du lịch quốc gia

Đối tượng báo cáo

Các đơn vị chức năng quản lý du lịch quốc gia

Các cơ quan thống kê địa phương

Nội dung và cách thức thu thập thông tin chủ yếu:

- Số khách quốc tế đến (Khách du lịch quốc gia khác đến): Thu thập qua báocáo định kỳ của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh

- Số khách quốc tế đi (Đi du lịch đến quốc gia khác) : Thu thập qua báo cáođịnh kỳ của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh

- Số khách nội địa (Khách trong nước đi du lịch trong lãnh thổ quốc gia): Thuthập qua báo cáo của các cơ quan thống kê địa phương

Cơ cấu chi tiêu của khách du lịch theo từng nhóm khách: Qua điều tra thống kê

Trang 40

- Các chỉ tiêu về khách du lịch do doanh nghiệp du lịch phục vụ, thu thập quabáo cáo thống kê của các cơ quan thống kê địa phương.

- Các chỉ tiêu thống kê về nguồn cung trong nước, tài sản cố định, lao động, thu thập qua báo cáo các cơ quan thống kê địa phương

- Tiêu dùng du lịch tập thể (Chi tiêu của các cơ quan quản lý du lịch các cấp)thu thập theo báo cáo định kỳ của các cơ quan quản lý du lịch các cấp

Lưu ý rằng, trong hình thức tổ chức này, cơ quan thống kê du lịch quốc giakhông liên hệ trực tiếp với doanh nghiệp

Đối tượng cung cấp số liệu tổng hợp

Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch Trung ương

Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch địa phương

Cơ quan thống kê quốc gia

Công bố số liệu so sánh quốc tế

Cơ quan thống kê du lịch địa phương

Đối tượng báo cáo:

- Các cơ sở kinh doanh dịch vụ có phục vụ khách du lịch

- Các doanh nghiệp hoạt động du lịch trên địa bàn

Nội dung và cách thức thu thập thông tin chủ yếu

- Các chỉ tiêu khách du lịch do doanh nghiệp phục vụ Thu thập thông quabáo cáo định kỳ của doanh nghiệp tại địa phương

- Các chỉ tiêu thống kê về nguồn cung trong nước, tài sản cố định, lao động, thu thập qua báo cáo các doanh nghiệp tại địa phương

- Tiêu dùng du lịch tập thể (Chi tiêu của các cơ quan quản lý du lịch các cấp)thu thập theo báo cáo định kỳ của các cơ quan quản lý du lịch cùng cấp

Ngày đăng: 23/04/2014, 16:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: so sánh mô hình tổ chức của cơ quan thống kê du lịch - nghiên cứu công tác thống kê du lịch tại thừa thiên huế
Bảng 1.1 so sánh mô hình tổ chức của cơ quan thống kê du lịch (Trang 41)
Bảng 1.2: Tỷ lệ sử dụng phòng nghỉ giai đoạn 2007 – 2011 (%) - nghiên cứu công tác thống kê du lịch tại thừa thiên huế
Bảng 1.2 Tỷ lệ sử dụng phòng nghỉ giai đoạn 2007 – 2011 (%) (Trang 45)
Bảng 2.1: Số lượt khách du lịch tại Thừa thiên Huế giai đoạn 2003 - 2013 - nghiên cứu công tác thống kê du lịch tại thừa thiên huế
Bảng 2.1 Số lượt khách du lịch tại Thừa thiên Huế giai đoạn 2003 - 2013 (Trang 69)
Bảng 2.2 : Dự đoán số lượt khách quốc tế đến Huế giai đoạn 2012 – 2015 - nghiên cứu công tác thống kê du lịch tại thừa thiên huế
Bảng 2.2 Dự đoán số lượt khách quốc tế đến Huế giai đoạn 2012 – 2015 (Trang 71)
Bảng 2.3: Cơ cấu khách quốc tế lưu trú tại Thừa Thiên Huế so với tổng khách quốc tế đến Việt Nam 2008 - 2011 - nghiên cứu công tác thống kê du lịch tại thừa thiên huế
Bảng 2.3 Cơ cấu khách quốc tế lưu trú tại Thừa Thiên Huế so với tổng khách quốc tế đến Việt Nam 2008 - 2011 (Trang 75)
Bảng 2.10: Số ngày khách và số ngày lưu trú bình quân 1 khách đến Huế  giai đoạn 2003 - 2012 - nghiên cứu công tác thống kê du lịch tại thừa thiên huế
Bảng 2.10 Số ngày khách và số ngày lưu trú bình quân 1 khách đến Huế giai đoạn 2003 - 2012 (Trang 79)
Bảng 2.5: Các chỉ tiêu phân tích biến động tổng số ngày khách du lịch  đến Thừa thiên Huế giai đoạn 2003 - 2012 - nghiên cứu công tác thống kê du lịch tại thừa thiên huế
Bảng 2.5 Các chỉ tiêu phân tích biến động tổng số ngày khách du lịch đến Thừa thiên Huế giai đoạn 2003 - 2012 (Trang 80)
Bảng 2.6: Các chỉ tiêu phân tích biến động doanh thu của các tổ chức và  đơn vị kinh doanh du lịch giai đoạn 2003 – 2012 theo giá thực tế Năm Doanh - nghiên cứu công tác thống kê du lịch tại thừa thiên huế
Bảng 2.6 Các chỉ tiêu phân tích biến động doanh thu của các tổ chức và đơn vị kinh doanh du lịch giai đoạn 2003 – 2012 theo giá thực tế Năm Doanh (Trang 81)
Bảng 2.8: Bảng các đại lượng thu được từ các mô hình hồi qui - nghiên cứu công tác thống kê du lịch tại thừa thiên huế
Bảng 2.8 Bảng các đại lượng thu được từ các mô hình hồi qui (Trang 82)
Bảng 2.10  : Doanh thu xã hội từ du lịch tỉnh Thừa thiên Huế năm 2006, 2009 - nghiên cứu công tác thống kê du lịch tại thừa thiên huế
Bảng 2.10 : Doanh thu xã hội từ du lịch tỉnh Thừa thiên Huế năm 2006, 2009 (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w