thì coi là người mất năng lực hành vidân sự và không có năng lực chủ thê để tham gia vàn các quan hệ pháp luật vàcũng không thể nào trở thành chủ thế có thể đứng ra gánh vác trách nhiệm
Trang 1Sinh viên thực hiện: Lê Phương Minh
Lớp: K20A – TC
Huế, 03/2014
Trang 2Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Th.S Hồ Thị Vân Anh Lê Phương Minh
Lớp: K20A - TC
Huế, 03/2014
Trang 3Lêi c¸m ¬n
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự
hỗ trợ, dù trực tiếp hay gián tiếp của mọi người Trong suốt thời gian từ khi bắtđầu học tập và hoàn thành bài niên luận này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quantâm, giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè Với lòng biết ơn sâu sắc nhất,
em xin gửi đến Ban giám hiệu Khoa luật – Đại học Huế, quý thầy cô giáo trongKhoa những người đã cùng với tri thức tâm huyết của mình đã truyền đạt kiếnthức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường
Em xin chân thành cám ơn cô giáo Thạc sĩ Hoàng Thị Vân Anh đã tận tìnhhướng dẫn chúng em qua từng buổi học trên lớp cũng như những buổi nóichuyện, thảo luận về đề tài Niên luận Nếu không có những lời hướng dẫn dạybảo của cô thì em nghỉ bài Niên luận này của em rất khó có thể hoàn thiện được.Một lần nữa em xin chân thành cám ơn cô Kiến thức của em còn hạn chế vànhiều bỡ ngỡ Do vậy, không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhậnđược những ý kiến đóng góp quý báu của Quý thầy cô và các bạn học cùng lớp
để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cám ơn!
Huế, ngày 26 tháng 03 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Lê Phương Minh
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Với nhịp phát triển của Xã hội hiện đại như hiện nay, quyền yêu cầu ngườikhác bồi thường thiệt hài do hành vi sai trái của người gây thiệt hại (về tài sản,
vè sức khỏe ) cho bản thân mình là quyền được áp dụng có tần suất lớn nhấttrong các quyền về yêu cầu bồi thường thiệt hại được quy định bởi Bộ luật Dân
sự Ở Nhật Bản, số vụ yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi sai trái (Bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng) chiếm 61% trong tổng số vụ việc tranh chấpdân sự Con sô này có thể nói lên và cho thấy được mức độ quan trọng củaquyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi sai trái trong đời sống dân sự.Khi nghiên cứu về hệ thống Pháp luật dân sự Việt Nam, ông Johngillespie giáo sư thỉnh giảng của trường Đại học Luật DeaKin – Một trong
những trường Đại học Luật danh tiếng của Úc đã nhận định rằng: “Người
dân Việt Nam không biết đến quyền yêu cầu nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ bồi thường thiệt hại cho mình ở hành vi sai trái của nhà sản xuất nói riêng và quyền yêu cầu của người khác bồi thường thiệt hại do hành vi sai trái của người đó nói chúng”.
Ở Việt Nam quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi sai trái tuy đã
được luật hóa tại Bộ luật Dân sự, tại chương “Trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng” (Từ điều 604 đến 630 Bộ luật Dân sự năm 2005) và một
số văn bản Pháp luật dưới Bộ luật Dân sự khác Tuy nhiên, vấn đề xác định nănglực chủ thể trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng luôn luôn đặt
ra cho các nhà làm luật, những người thừa hành pháp luật cũng như các nhànghiên cứu pháp luật những vấn đề nan giải khi tiếp cận
Xuất phát từ đó tôi chọn đề tài “Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng của cá nhân theo Pháp luậ Dân sựViệt Nam” để làm đề tài.
Trang 52 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đềtài gồm có hai chương
Chương I: Năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân theo Bộ luật Dân sựViệt Nam 2005
Chương II: Thực tiễn áp dụng các quy định về năng lực bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng của cá nhân
Trang 61.1.1 Các khái niệm
Để xác định được năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân theo Luật dân
sự Việt Nam thì chúng ta cần nắm rõ được các khái niệm sau:
a Khái niệm về năng lực Pháp luật Dân sự của cá nhân
Theo khoản 1, điều 14 của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 quy định:
“Năng lực Pháp luật Dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân được
hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ dân sự”
Năng lực pháp luật dân sự là khả năng, là tiền đề và là điều kiện cần thiết đểtham gia vào các quan hệ pháp luật dàn sự, khả năng này được Pháp luật ghi nhậncho tất cả các cá nhân từ lúc sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó chết hoặc bị tuyên
bố là đã chết Năng lực pháp luật là một mặt của năng lực chủ thể của cá nhân
b Khái niệm về năng lực hành vi dân sự của cá nhân: Theo điều 17 của
Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 quy định:
“Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự ".
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân không chi bao gồm khả nàng tạo racác quyền và gánh vác các nghĩa vụ dân sự bằng chính các hành vi của mình màcòn phải tự chịu trách nhiệm về những hậu quả pháp lý do chính hành vi của họmang lại
Tuy nhiên pháp luật dân sự quy định mọi cá nhân đều bình đẳng về nănglực pháp luật dân sự nhưng lại xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân làkhông giống nhau Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người đủ 1 8 tuổitrở lên (người đã thành niên) là người có khả năng nhận thức, điều khiển được
Trang 7hành vi của mình và ý thức được hậu quả hành vi của mình gây ra Năng lựchành vi dân sự của cá nhân thể hiện ở hai khía cạnh đó là khả năng giao dịch vàkhả năng gánh chịu trách nhiệm.
c) Khái năm cá thể hóa trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng
Khi có thiệt hại xảy ra thì bên cạnh việc xác định mức độ thiệt hại, cùngcác điều kiện cấu thành trách em của người gây thiệt hại thì việc xác định rõ ai
là người phải đứng ra gánh vác trách nhiệm và thực hiện việc bồi thường để đambảo quyền lợi cho người bị hại là một vấn đề rất quan trọng Cơ quan tòa án cóthâm quyền khi nhận được đơn kiện yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại cũng phảihết sức thận trọng vấn đề này
Theo cách hiểu một cách chung và khái quát nhất thì ai là người gây rathiệt hại thì người đó phải bồi thường Tuy nhiên điều kiện đế trở thành một chủthể tham gia vào một quan hệ pháp luật thì người đó phải có đầy đủ năng lựcchủ thể theo quy định của pháp luật Trong thực tế có rất nhiều hành vi gây thiệthại cho người khác và hành vi gây thiệt hại này cũng có thể là của bất kỳ cánhân nào kể cả những người không đủ, không có hoặc bi hạn chế năng lực thamgia vào các quan hệ pháp luật Khi một người đã gây ra thiệt hại cho người khácthì trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ phátsinh nhưng nếu như người gây thiệthại lại không có năng lực đề tham gia vào quan hệ pháp luật bồi thường thiệt hạithì ai sẽ là người có trách nhiệm hồi thường để đảm bảo quyền lợi cho người bithiệt hại
Như vậy, khi thiệt hại xảy ra cần phủ xác định trách nhiệm bồi thường sẽthuộc về ai Đây là một vấn đề rất quý trọng bởi lẽ nếu không xác định đượcngười phải bồi thường thỉ quyền lợi cửa người bị thiệt hại không được đảm bảo.Chính vì vậy mà vấn đề cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt ra.Vậy, cả thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là việcxác định người cỏ trách nhiệm bồi thường thiệt hại chinh trong từng trườnghợp gây thiệt hại cụ thê bất luận người đỏ có phải là người trực tiếp gây rathiệt hại hay không
Trang 8* Điều lún để cá thế hóa trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng
Để trở thành chủ thê của một quan hệ pháp luật dân sự thì người tham giacần đáp ứng điều kiện vô năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật
Quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp &)ng cũng là một quan hệ phápluật dân sự do vậy để trở thành chủ thê của quan hệ nảy thì người tham gia cũngcần phải có đầy đủ những điều kiện về năng lực chủ thể của quan hệ pháp luậtnói chung Bên cạnh đó, do đặc thù riêng của quan hệ pháp luật này mà cần cóthêm một số điều kiện nhất định
Khi một chủ thể chịu trách nhi~l bồi thường có nghĩa là chủ thể đó đangtham gia vào một quan hệ pháp luật do vậy ngườmày cần phải có đầy đủ nănglực chủ thể để tham Gia vào một quan hệ pháp lý đó là độ tuổi và nhận thức(năng lực hành vi) Trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhiều khingười đứng ra thực hiện trách nhiệm bồi thường lại không phải là người đã trọctiếp gây ra thiệt hại mà họ phải thực hiện trách nhiệm bồi thường là do lỗi quản
lý của mình trong việc để thiệt hạ' xảy ra Do đó, một điều cần để quy tráchnhiệm bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng cho một chủ thể đó là mốt quan hệpháp lý giữa người gây thiệt hại và người phải bồi thường
Như vậy để cá thể hóa trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng cho một chủ thểcần phải đáp ứng các điều kiện sau (độ tuổi, nhận thức, mối quan hệ pháp lýgiữa người gây thiệt hại và người bồi thường)
- Độ tuổi
Việc quy định độ tuổi lả một trong những điều kiện để cá thể hóa tráchnhiệm bồi thường thiệt hạt ngoài hợp đồng là rất hợp lý Bởi vỉ khi một chủ thểtham gia vào quan hệ bồi thường thiệt hại có nghĩa là chủ thè đang tham gia vàomột quan hệ pháp luật dân sự Để có thể tham gia vào quan hệ này thì trước hếtchủ thể này phải đáp ứng được yêu cầu về năng lực chủ thể theo quy định củapháp luật Theo quy định của pháp thì năng lực chủ thể được cấu thành bởi haiyếu tố là năng lực pháp luật và năng lực hành vi về năng lực pháp luật tại khoản
3, điều 14 bộ luật dân sự 2005 đã quy định: Năng lực pháp luật dân sự của cá
Trang 9nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết ' Theo quy địnhnày, mỗi cá nhân đang sống và tồn tại trong xã hội luôn luôn có năng lực phápluật dân sự có nghĩa là họ luôn có khả năng có quyền ơn sự và nghĩa vụ dân sự.
Tuy nhiên, năng lực hành vi dân sự của cá nhân thì ngược lại Năng lực hành vi
dân sự của cá nhân hình thành khi đáp ứng những điều kiện nhất định đó là về
độ tuổi và nhận thức Mặt khác năng lực hành vi dân sự lại được của thành cácmức khác nhau, phụ thuộc vào độ tuổi của cá nhân Theo quy đinh tại điều 19 bộ
luật dân sự “Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ trừ trường hợp quy định tại điều 22 và điều 23 của Bộ luật Dân sự” Người thanh niên là
người từ đủ 18 tươi trở lên (điều 18 Bộ luật Dân sự 2005) Như vậy người từ 18tuổi trở lên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được phép tham Gia vàoquan hệ Pháp luật Dân sự và tự mình gánh chịu các nghĩa vụ dân sự
Quy đinh độ tuổi là điều kiện để cá thê hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng là hoàn toàn phù hợp với các quy đinh của pháp luật dân sự về việcxác đinh năng lực hành vi dân sự (một trong hai yếu tố tạo thành năng lực chủ thểcủa cá nhân) Độ tuổi là yếu đố đáp ứng điều kiện có thể tự mình gánh vác cácnghĩa vụ dân sự trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Sự phù hợp của việc quy định độ tuổi là yếu tố để cá thể trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng được thể hiện ngay trong Bộ luật Dân sự 2005,
đó chính là sự tương thích giữa việc quy định độ tuổi để xác định năng lực hành
vi dân sự với căn cứ vào độ tuổi để quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng
Từ những phân tích trên có thể khẳng định rằng độ tuổi là điều kiện khôngthể thiếu khi xác đinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho bất
cứ một chủ thể nào Độ tuổi góp phần vào việc quyết định người có trách nhiệmbồi thường thiệt hại trong từng trường hợp cụ thể
Cũng như độ tuổi khả năng nhận thức cũng là yếu tố tạo thành năng lực hành
vi dân sự của một chủ thể Nếu một người tuy đã thanh niên nhưng không thể
Trang 10nhận thức, không làm chủ hành vi của mình thì coi là người mất năng lực hành vidân sự và không có năng lực chủ thê để tham gia vàn các quan hệ pháp luật vàcũng không thể nào trở thành chủ thế có thể đứng ra gánh vác trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng ngay cả khi thiệt hại đó là do họ gây ra?
Khi phân tích về khả năng nhận thức của chủ thể ta thấy giữa khả năngnhận thức và độ tuổi có mối quan hệ với nhau Chúng đều là hai yếu tố tạo thànhnăng lực hành vi dân sự nhưng khả năng nhận thức của con người lại phụ thuộc
vào chinh độ tuổi Con người chỉ có khả năng nhận thức đầy đủ khi đạt một độ
tuổi nhất đinh, khi chưa đạt độ tuổi này thì con người hoặc chưa có khả năngnhận thức hoặc khả năng nhận thức còn hạn chế Có trường hợp người không cókhả năng nhận thức nhưng không phải do chưa đạt một độ tuổi nhất định mà do
bi mất khả năng nhận thức của mình Khái niệm “Mất” thông thường được hiểu
là đang tồn tại, đang có một hiện tượng, một sự vật nhưng sau đó không cỏnhiện tượng, sự vật đó nữa Nếu một người đang có khả năng nhận thức nhưng lại
bi mất đi thì nguyên nhân dẫn đến sự mất đi này có thể là do người đó bị mắcbệnh tâm thần hoặc các bệnh khác dẫn đến hậu quả không thể nhận thức và làmchủ được bản thân mình Do vậy họ mất đi năng lực hành vi, mất đi năng lựcchủ thể để tham gia vào các quan hệ xã hội
Như vậy, để tham gia vào một quan hệ xã hội nhất định thì chủ thể phải cóđầy đủ ý chí cũng như lý trí để điếu khiển hành vi của mình, phải nhận thứcđược những gỉ mình đang làm cũng như hậu quả của hành vi đó Không có nhậnthức có nghĩa họ không thể biết được mình đang làm gì về việc làm đó có hậuquả ra sao Việc quy định nhận thức là điều kiện để cá thể hóa trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng là rất cần thiết Người đứng ra chịu trách nhiệmchính trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể chính là nsườlgây ra thét hại và cũng có thê không phải là người gây ra thiệt hại Việc thựchiện bồi thường ảnh hưởng đến chính quyền lợi của họ do vậy họ phải nhận thứcđược việc mình đang làm và trách nhiệm bôi thường sẽ không đặt ra với ngườikhông có khả năng nhận thức
Trang 11- Mốt quan hệ pháp lý giữa người gây thiệt hại và người phải bồi thường.Thông thường chi cần đạt độ tuổi do luật định và khả năng nhận thức thì mộtchủ thể hoàn toàn có thể tham gia vào các quan hệ Pháp luật mà có thể ở đây làtham gia vào quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Khi có đầy đủ nănglực chủ thể thì người gây ra thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hạihay nói cách khác lả đã đủ điều kiện để cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng.
Môi quan hệ giữa người gây thiệt họ và người phải bồi thường được đặt ra
để cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại là để giải quyết các tình huốngngười gây thít hại không có khả ông bồi thường Viậc xem xét mối quan hệ pháp
lý giữa người gây thiệt hại và người phải bồi thường nhằm xác đinh đúng ngườiđại diện cho người gây thiệt để thực hiện nghĩa vụ Họ phải thực hiện việc bồithường dù họ không gây ra thiệt hại nhưng họ lại có lỗi trong việc quản lý ngườigây thiệt hại Nếu họ thực hiện đúng trách nhiệm quản lý của mình thì thiệt hại
đã không xảy ra Là của người phải bồi thường ở đây là lỗi trong việc quản lýngười đã gây ra thiệt hại
Mối quan hệ pháp lý giữa người gây thiệt hại và người phải bồi thường ởđây có thể là mối quan hệ giữa người chưa thành niên dưới 15 tuổi với cha mẹ,giữa người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự vớingười giám
hộ, với trường học, bệnh viện, tổ chức khác
Việc xác định đúng mối quan hệ này để tránh việc xác đính nhầm người cótrách nhiệm bồi thường chỉ có những người có trách nhiệm quản lý nhưng khôngthực hiện đúng trách nhiệm của mình để thiệt hại xảy ra mới phải bồi thường
1.1.2 Ý nghĩa của việc xác đinh năng lực bồi thường củs cá nhân theo pháp luật dân sự Việt Nam
Việc xác định năng lực bồi thường của cá nhân chính là việc quy tráchnhiệm bồi thường cho một chủ thể, việc này có một ý nghĩa rất quan trọng trongvân đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng : Cá thể hóa trách nhiệm bồi thườngthiệt hại sẽ Giúp cho việc giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hạidiễn ra dễ dàng
Trang 12hơn xác định đúng người có trách nhiệm bồi thường sẽ tạo ra tính khả thi chocông tác thi hành án sau này, cá thể hóa trách nhiệm để xác định trách nhiệmthuộc về ai giảm bớt nguy cơ việc lạm dụng việc mất năng lực hay không đầy đủnăng nhận thức của người khác mà kích động họ gây thiệt hại cho người khác vàthu lợi bất nhính, đồng thời nâng cao tinh thần, trách nhiệm của những người cónghĩa vụ trông nom, giáo dục những người không cỏ năng lực hành vi hoặc cónăng lực hành vi một phần.
1.2 Quy định của Pháp luật về năng lực bồi thường của cá nhân theo Pháp luật dân sự Việt Nam
1.2.1 Năng lực bồi thường thiệt hại của người từ 18 tuổi
Người từ độ 18 tuổi trở ăn theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam
2005 là người thanh niên (điều 18) và người thành niên là nó có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ nếu không rơi vào các trường hợp bi tòa án tuyên là mất nănglực hành vi dân sự hoặc bi tuyên là hạn chế năng lực hành vi dân sự (điêu 23)Theo những quy đinh này thì khi một người đủ 18 tuổi họ có đầy đủ tư cách chủthế để bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự cónghĩa là họ có toàn quyển tham gia các quan hệ dân sự với tư cách là một chủthể độc lập và tự chịu trách nhiệm về những hành vi do mình thực hiện Nhưvậy, người đủ tuổi 1 8 tuổi nếu không bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnhkhác có ảnh hưởng đến nàng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi củaminh hoặc không bị tòa ân tuyên là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thìphải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về những thiệt hại mà mình đã gây ra
cho người khác Khẳng đinh nảy được Ghi nhận tại khoản I điêu 606 “Người từ
đủ 18 tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường” Theo quy định này khi
gây ra thiệt hại thì trách nhiệm chính về việc bồi thường là của chính người đãgây ra thiệt hại
Người từ đủ 18 tuổi nếu không rơi vào các trường hợp quy đinh tại điều 22
vạ điều 23 của bộ luật dân sự 2005 thì xét về co bản tâm sinh lý của họ đều đã
phát triển một cánh hoàn thiện Họ hoàn toàn có đầy đủ khả năng để nhận thức
Trang 13về sự vật sự việc và tự quyết đinh về hành động của mình hay nói một cáchkhác nhận thức của họ đã phát triển và đạt đến một mức độ nhất định để có thểnhận biết về thế giới khách quan Họ có nghĩa vụ phải biết trước những hành vicủa mình sẽ đem lại những hậu quả như thế nào, đó là hành vi có lợi cho xã hộihay gây hậu quả bất lợi cho người khác và hậu quả xấu cho xã hội Nhận thứcđược nhũng vực mình làm, họ có quyền lựa chọn cách xử sự trước những sựkiện xảy ra những xã hội, nếu họ lựa chọn hành vi gây thiệt hại cho người kháctrong khi hoàn toàn có thể hành động theo một cách khác không gây bất lợi chongười khác và cho xã hội thì họ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Việc quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người từ đủ 18 tuổi gây
ra là trách nhiệm của họ là hoàn toàn hợp lý và phù hợp với các quy định hiệnhành của pháp luật Người từ đủ 18 tuổi là người đã thành niên và có đủ điềukiện tham gia vào các quan hệ pháp luật do vậy, họ hoàn toàn đủ năng lực đểtham gia và trở thành chủ thể của quan hệ bồi thường thiệt hại và nếu là ngườigây thiệt hại thi họ hoàn toàn có đủ năng lực để thực hiện trách nhiệm bồithường Ở độ tuổi này họ đã có đầy đủ năng lực tham gia vào các quan hệ laođộng nên xét trên một bình diện chung nhất thì những người này đã có thu nhập
và cũng có khả năng tạo ra thu nhập để thực hiện nghĩa vụ của mình
1.2.2 Năng lực bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên
Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi theo quy định của pháp luậtthì đây là những người hoặc chưa có năng lực hành vi dân sự (người dưới 6 tuổihoặc chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ hay nói cách khác là chỉ có năng lựchành vi dân sự một phần (người đủ 6 đến dưới 18 tuổi) Những người này không
có hoặc không đủ năng lực để tham gia vào quan hệ bồi thường thiệt hại dù rằngthiệt hại đó là do bản thân họ gây Trong độ tuổi này các chủ thể chưa có khảnăng nhận thức hoặc chưa nhận thức một cách đầy đủ và chính xác về những việcmình đã làm cũng như chưa nhận thức được một cách sâu sắc về những thiệt hại
có thê xảy ra do hành vi của mình Do vậy, nếu những người này gây ra thiệt hạithì phải có người đứng ra đại diện cho họ để thực hiện nghĩa vụ bồi thường
Trang 14Mặc dù cũng nằm trong nhóm tuổi người chưa thanh niên nhưng việc quyđinh về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người dưới 18 tuổi gây ra lại khônggiống nhau trong mọi trường hợp Trong nhóm tuổi này việc quy định trách nhiệmbôi thường thiệt hại có sự phân bổ giữa hai độ tuổi khác nhau là người chưa thành
niên dưới 15 tuổi và người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi
a) Năng lực bồi thường thiệt hài của người dưới 15 tuổi
Như đã nói ở trên, người chưa thành niên dưới 15 tuổi là người chưa cónăng lực hành vi dânsự (dưới 6 tuổi) hoặc năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ(từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi), về nguyên tắc thì những người chưa thànhniên dưới 15 tuổi gây thiệt hại và người chưa thành niên đó còn cha mẹ thì cha
mẹ buộc phái bồi thường toàn bộ thiệt hại vả tham gia tố tụng dân sự với tư cách
là bị đơn Trong trường hợp này thì người có trách nhiệm chính và chủ yếu phảithực hiện nghĩa vụ bồi thường chính là cha, mẹ của người đã gây thiệt hại, vì
theo quy định của pháp luật “Người chưa thành niên từ đủ 6 đến chưa đủ 18
tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ trường hợp giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phải phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác” (điều
20 khoản 1 Bộ luật Dân sự 2005) còn “người chưa đủ 6 tuổi không có năng
lực hành vi dân sự Giao dịch dân sự cứu người chưa đủ 6 tuổi phải do người đại diện theo Pháp luật xác lập, thực hiện” (điều 21 Bộ luật Dân sự 2005).
Những người chưa thành niên dưới 15 tuổi không những chưa có năng lực hành
vi dân sự và năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ mà những người này còn chưa
có năng lực hành vi lao động để tham gia vào các quan hệ lao động để tạo ra thunhập và có tài sản riêng Vì vậy, phần lớn những người nằm trong độ tuổi nàykhông có tài sản và khả năng kinh tế độc lập để tự chịu trách nhiệm bồi thườngnhững thiệt hại do mình gây ra Việc quy định trách nhiệm bồi thường nhữngthiệt hại thuộc về cha, mẹ của người gây thiệt hại được quy định rõ tại khoản 2
điều 606 Bộ luật Dân sự 2005 “Người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt
hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại”.
Trang 15Nghiên cứu về năng lực bồi thường thiệt hại của người chưa thanh niêndưới 15 tuổi ngoài việc Pháp luật quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hạithuộc về cha mẹ của người gây thiệt hại thì tại khoản 2 điều 606 Bộ luật Dân sự
2005 cũng quy định “Nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con
chưa thành niên có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu”, về nguyên tắc người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại thì trách
nhiệm bồi thường thuộc về cha, mẹ của người đã gây ra thiệt hại Việc pháp luậtquy định cho phép cha, mẹ có thể dùng tài sản của con chưa thành niên để bồithường phần còn thiếu là nhằm mục đích thực hiện nguyên tắc bồi thường thiệt
hại phải " Toàn bộ và kịp thời" để đảm bảo quyền lợi cho người bị thiệt hại, bởi
trong nhiều trường hợp người chưa thành niên tuy chưa tự làm được ra tài sảnnhưng lại được thừa kế, được tặng cho tài sản Và việc cho phép cha, mẹ củangười chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại được phép lấy tài sản của con
họ để bù vào phần bồi thường còn thiếu không có nghĩa người chưa thành niên
phải “liên đới” cùng cha, mẹ để bồi thường thiệt hại.
Một vấn đề nữa được đề ra là thời điểm mà pháp luật quy đinh cho cha,
mẹ của người chưa thành niên được lấy tài sản của họ để bồi thường phần cònthiếu là thời điểm nào? Là thời điểm người chưa thành niên gây thiệt hại hay làthời điểm Tòa án quyết định trách nhiệm bồi thường Đặt giả sử vào thời điểm
mà người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại thì họ không có tài sảnriêng đồng thời cha, mẹ của những người này cũng không có hoặc không đủ tàisản để bồi thường Đến thời điểm mà tòa án quyết định trách nhiệm bồi thườngthì người chưa thành niên đã có tài sản riêng nhưng cha, mẹ họ lại không có tàisản để bồi thường thì có thể lấy tài sản của người chưa thành niên để bồithưởng hay không ? Điều này bộ luật dân sự không quy đinh rõ, nhưng nênhiểu rằng nghĩa vụ bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi người chưa thành niêngây thiệt hại, nếu như sau khi thiệt hại xảy ra ngay lập tức cha, mẹ của ngườichưa thành niên thực hiện việc khắc phục bù đắp một cách đầy đủ thiệt hại đãxảy ra thì sẽ không làm phát sinh trách nhiệm của người chưa thành niên Do
Trang 16vậy, việc quy định "Nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường mà con
chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản thì lấy tài sản đó bồi thường phần còn thiếu” (khoán 2 điều 606) là thời điểm Tòa án quyết định trách nhiệm bồi
thường mà không phải là thời điểm người chưa thành niên gây ra thiệt hại
Nếu ở thời điểm mà Tòa án quyết định trách nhiệm bồi thường nhưng cha, mẹkhông đủ tài sản để bồi thường đồng thời người chưa thành niên cũng không cótài sản riêng để bồi thường thì trách nhiệm bồi thường sẽ vẫn thuộc về cha, mẹcủa người đã gây thiệt hại Trong mọi trường hợp, dù người chưa thành niêndưới 15 tuổi gây thiệt hại có hay không có tài sản bồi thường thì trách nhận bồithường vẫn phải được xác định là của cha, mẹ người chưa thành niên đã gây rathiệt hại mà không phải là của họ
Việc người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại thì không phải trongmọi trường hợp cha mẹ của người gây thiệt hại đều phải chịu trách nhiệm bồi
thường, đó là trường hợp “Người dưới 15 tuổi trong thời gian học tại trường mà
gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra" (Khoản 1 điều 621).
Thời gian mà người dưới 15 tuổi học tại trường học chính là thời gian mà theoquy định của nghề nghiệp trường học phải có trách nhiệm quản lý, giáo dụcngười chưa thành niên dưới 15 tuổi do vậy trong thời gian người dưới 15 tuổihọc tại trường học mà gây ra thiệt hại thì nhà trường sẽ phải chịu trách nhiệmbồi thường vì nhà trường đó không hoàn thành nhiệm vụ của mình trong việcquản lý và giáo dục học sinh Tuy nhiên, nếu trường học chứng minh đượcmình không có lỗi trong việc quản lý và trong việc để thiệt hại xảy ra thì trườnghọc sẽ không phải bồi thường và trong trường hợp này thì cha, mẹ hoặc ngườigiám hộ của người chưa thành niên sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệthại Việc chứng minh không có lỗi để giải trừ trách nhiệm bồi thường là nghĩavụ của nhà trường và việc chứng minh này không dễ chút nào vì thông thườnglỗi trong các trường hợp này lả lỗi suy đoán Trong thời gian học tập tại trường
mà người dưới 15 tuổi gây thiệt hại thì suy đoán là nhà trường đã không thựchiện tốt chức năng quản lý của họ
Trang 17Một trường hợp nữa, là nếu như người dưới 15 tuổi gây thiệt hại trênđường đi học về thì trách nhiệm thuộc về ai? Trong khoảng thời gian này,trường học không có trách nhiệm quản lý vì học sinh đã ra khỏi trường nên tráchnhiệm không thuộc về họ, nhưng trong thời gian đó người gây thiệt hại cũngchưa về đến nhà, vậy cha mẹ có trách nhiệm gì trước thiệt hại mà con họ gây ra
không? Khoản 3 điều 621 quy đinh “Nêu trường học chứng minh được mình
không có lỗi trong quản lý thì cha, mẹ người giám hộ của người dưới 15 tuổi phải bồi thường” Theo cách hiểu của điều luật này thì, nếu trường học không
có lỗi trong việc quản lý thì cha mẹ phải bồi thường Từ đây có thê suy ra nếungườl dưới 15 tuổi gây thiệt hại trên đường đi học về thì trách nhiệm khôngthuộc về trường học mà cha mẹ của người gây thiệt hại phải bồi thường cho con
họ Mặc dù người dưới 15 tuổi chưa về đến nhà Nhưng theo quy định của khoản
3 điều 621 chỉ cần chứng minh được họ không có lỗi thi ngay cả khi người dưới
15 tuổi đang học ở trường mà gây thiệt hại thì cha mẹ họ cũng phải bồi thường
b Năng lực bồi thường thiệt hại của người từ đu 15 tuổi đến dưới 18 tuổi
Người từ đủ 1 5 tuổi đến dưới 1 8 tuổi cũng là người trong độ tuổi chưathành niên, nhưng khi quyết định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì đây lại làmột trường hợp đặc biệt đối với người chưa thành niên Sở dĩ như vậy là vì tuytrong cùng độ tuổi chưa thành niên nhưng việc quy định trách nhiệm bồi thườngthiệt hại của người dưới 15 tuổi nếu gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường sẽ
thuộc về cha, mẹ của họ Pháp luật quy định rõ ràng “Cha mẹ phải bồi thường
thiệt hại” nhưng người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi mà gây thiệt hại thì Pháp
luật quy đinh "phải bồi thường bằng tài sản của mình, nếu không đủ tài sản đế
bồi tlnường thì cha mẹ phải bồi thường bằng tài sản của minh " Như vậy, trong
trường hợp này trách nhiệm chính lại thuộc về người gây thiệt hại mà khôngphải cha, mẹ của họ Chỉ khi nào người gây thiệt hạt không đủ tải sản đế bồithường thì mới phát sinh trách nhiệm của cha, mẹ họ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người từ đủ 15 đến dưới 8 tuổidường như ngược hẳn với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người dưới 15
Trang 18tuổi gây ra Lý do, pháp luật quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại củangười đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi như vậy là vì: Mặc dù ở trong độ tuổi chưathành níên chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nhưng so với người dưới 15tuổi về mặt nhận thức họ đã phát triển hơn, mặt khác, người từ đủ 15 đến dưới
18 tuổi theo quy định của luật lao động đã có thể tham gia vào quan hệ pháp luậtlao động Chính vì vậy họ có thể phát sinh thu nhập và có tài sản riêng, nên cóthể thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại của mình
Mặc dù quy định trách nhiệm chính thuộc về người gây thiệt hại, nhưng xét
về mặt năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì họ chưa có, nên họ cần phải có ngườiđại diện cho mình trong việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự Do vậy.cha mẹ của người gây thiệt hại van không thể loại trừ hoàn toàn trách nhiệm củamình Họ có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại cho con mình khi nó gây thiệthại cho người khác mà không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường.Việc quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người từ đủ 15 tuổi đếnchưa đủ 18 tuổi gây ra là trách nhiệm chính và chủ yếu của người gây ra thiệthại và nếu người gây thiệt hại không đủ hoặc không có tài sản đê bồi thường thìcha mẹ phải bồi thường bằng tài sản của mình (Nghĩa vụ bắt buộc của cha, mẹ)
sẽ xác định được một cách cụ thể trách nhiệm là của ai trong trường hợp khi tòa
án quyết định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì cả người gây thiệt hại và cha
mẹ của họ cũng không có tài sản để thực hiện nghĩa vụ bồi thường Nếu xảy ratrường hợp này thì chính người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18tuổi gây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường khi có tài sản vì trách nhiệmbồi thường đầu tiên thuộc về họ Tuy nhiên theo quy định của điều 606 khoản 2
vi nghĩa vụ bồi thường thiệt hại phần còn thiếu của người từ đủ 15 đến chưa đủ
18 của cha mẹ là nghĩa vụ bắt buộc nên nếu hiện tại cả con họ và họ không đủtải sản để bồi thường thì sau này ai là người có tài sản trước thì sẽ lấy tải sản đó
để bồi thường cho người bị thiệt hại để đảm bảo một cách tốt nhất quyên lợi chongười bị hại