1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

tài liệu tham khảo thẩm định dự án đầu tư

72 426 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài liệu Tham khảo Thẩm định Dự án Đầu tư
Tác giả Ths. Nguyễn Thanh Minh
Trường học Trường Đại học Nguyễn Tất Thành TP. HCM
Chuyên ngành Kế hoạch và Thẩm định Dự án Đầu tư
Thể loại Tài liệu tham khảo
Năm xuất bản 2009
Thành phố TP. HCM
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 504,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tài liệu tham khảo thẩm định dự án đầu tư

Trang 1

TÀI LIỆU THAM KHẢO THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Ths Nguyễn Thanh Minh

TP HCM 9/2009

Trang 2

MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN DỰ ÁN ĐẦU TƯ

I Đầu tư & hoạt động đầu tư :

1 Khái niệm về đầu tư :

Trong thực tế hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về đầu tư, thông thường có 3 quan niệm cơ bản sau :

Theo quan niệm thông thường :

Đầu tư là hoạt động bỏ vốn ra để thu lợi

Theo quan điểm của chủ doanh nhiệp :

Đầu tư là hoạt động bỏ vốn ra để tạo nên một tài sản nào đó (có thể là tài sản vật chất hay tài chính …) và khai thác nó để kiếm lời

Theo quan điểm của nền kinh tế-xã hội :

Đầu tư là hoạt động sử dụng các tài nguyên (lao động, đất đai, tư bản, bí quyết công nghệ ) trong thời gian nhất định để sản xuất ra sản phẩm hay dịch vụ nhằm thu về lợi ích tài chính hay lợi ích kinh tế - xã hội

Mỗi quan niệm tiêu biểu cho một góc độ nghiên cứu khác nhau và lĩnh

vực áp dụng nhất định Trong tài liệu này đầu tư được hiểu” là hoạt động bỏ vốn

và huy động các tài nguyên nhằm tạo nên tài sản nào đó để khai thác nó nhằm thu về lợi ích tài chính hay lợi ích kinh tế xã hội.”

Khái niệm này được coi là chủ đạo, xuyên suốt quá trình lập và thẩm định dự án

2 Các đăc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư :

Hoạt động đầu tư có bốn đặc trưng cơ bản Đây là cơ sở để phân biệt hoạt động đầu tư với các hoạt động khác, đồng thời qua đó thấy rõ yêu cầu và nội dung cơ bán của dự án Các đặc trưng đó là:

Trang 3

 Đầu tư là hoạt động bỏ vốn nên quyết định đầu tư trước hết là quyết định tài chính

Đầu tư trước hết là hoạt động bỏ vốn ra để thu lời nên vấn đề bỏ vốn ra như thế nào , ở đâu v.v là vấn đề được chủ đầu tư cân nhắc thận trọng trong từng góc độ, trong từng lĩnh vực, trong mỗi yếu tố cụ thể… Nhằm tránh những chi phí, tốn kém không cần thiết và bảo đảm đồng vốn bỏ ra mang về hiệu quả kinh tế cao nhất có thể có

Từ vốn nhà đầu tư có thể huy động các nguồn lực khác, nên quyết định đầu tư thường phải là các quyết định tài chính như chi phí bao nhiêu, lời bao nhiêu, có khả năng thu hồi được không…Sự hạn chế của vốn đầu tư sẽ dẫn đến những hạn chế về nguồn lực và phương tiện, do vậy nhiều dư án khả thi về mặt kinh tế, xã hội nhưng vẫn không thể thực hiện được vì thiếu vốn

 Đầu tư là các hoạt động mang tính chất lâu dài

Khác với các hoạt động thương mại, các hoạt động chi tiêu tài chính khác, đầu tư luôn luôn là hoạt động có tính chất lâu dài, thực hiện trong nhiều năm, thậm chí hàng chục, hàng trăm năm Đây là điểm đặêc trưng có ảnh hưởng

cơ bản và quan trọng đến các hoạt động đầu tư Do tính chất lâu dài nên mọi dự trù đều là dự tính cho tương lai, nhưng tương lai là không chắc chắn nên hoạt động đầu tư phải có rủi ro Mặt khác do chịu nhiều tác động của các nhân tố khác chưa lường hết nên hoạt động đầu tư chịu một xác xuất biến đổi nhất định so với định hướng ban đầu Chính điều này là một trong những vấn đềø hệ trọng phải tính trong mọi nội dung phân tích, đánh giá của quá trình soạn thảo và thẩm định dự án đầu tư

 Đầu tư là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai

Đầu tư về một phương diện nào đó là một sự đánh đổi, hi sinh lợi ích trong hiện tại để thu về lợi ích lớn hơn ở tương lai Vì vậy, luôn luôn có sự so sánh, cân nhắc giữa lợi ích hiện tại và lợi ích tương lai Để ra quyết định lựa chọn nhà đầu tư thường dựa vào một hệ thống các tiêu chuẩn so sánh lợi ích hiện tại với lợi ích dự tính thu được ở tương lai

 Đầu tư là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro

Đầu tư là hoạt động hướng về tương lai nên hoạt động đầu tư là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro Bản chất của sự đánh đổi lợi ích và thời gian thực hiện d0ầu tư dài không cho phép nhà đầu tư lượng hết những thay đổi có thể xảy

Trang 4

ra trong quá trình thực hiện đầu tư so với dự tính Vì vậy, chấp nhận rủi ro trong khả năng lượng định là bản năng cơ bản của nhà đầu tư Các nhà đầu tư thành công bao giờ cũng có những cách thức, biện pháp để ngăn ngừa hay hạn chế để khả năng rủi ro là ít nhất

Những đặc trưng nói trên cũng đặt ra cho người phân tich, đánh giá dự án chẳng những quan tâm về mặt nội dung xem xét mà còn tìm các phương pháp, cách thức đo lường, đánh giá để có được những kết luận giúp cho việc lựa chọn và ra quyết định đầu tư một cách có căn cứ

3 Phân loại đầu tư :

Có nhiều cách phân loại đầu tư khác nhau Sau đây là một số cách phân

loại thông dụng

3.1 Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp :

3.1.1.Đầu tư trực tiếp :

Đầu tư trực tiếp là phương thức đầu tư mà chủ thể đầu tư vừa là người bỏ vốn vừa là người sử dụng vốn Chính chủ thể này chịu hoàn toàn trách nhiệm về kết quả đầu tư của mình

3.1.2 Đầu tư gián tiếp:

tư là pháp nhân chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư Hoạt động đầu tư gián tiếp như hoạt động tín dụng của các tổ chức ngân hàng, tài chính …

Hiện nay đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thuộc phạm vi điều chỉnh cuả luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 29/12/97 (sửa đổi ngày 30/6/1990, ngày 23/12/1992) Còn đầu tư gián tiếp không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật này

3.2 Phân loại theo tính chất sử dụng vốn đầu tư :

Trang 5

3.2.1 Đầu tư phát triển :

Đầu tư phát triển là phương thức đầu tư trực tiếp trong đó việc bỏ vốn nhằm gia tăng giá trị tài sản qua đó tạo ra những năng lực sản xuất mới hoặc cải tạo nâng cấp năng lực sản xuất cũ hiện có

Đối với các nước đang phát triển, đấu tư phát triển đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triễn kinh tế Nó là phương thức căn bản để mở rộng sản xuất, gia tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động…

3.1.2 Đầu tư dịch chuyển :

Đầu tư dịch chuyển là phưong thức đầu tư trực tiếp trong đó việc bỏ vốn nhằm dịch chuyển dịch quyền sở hữu giá trị tài sản từ người này sang người khác Hoạt dộng đầu tư dịch chuyển được thực hiện thông qua việc mua bán chứng khoán trên thị trường tài chính Thông qua hoạt động đầu tư này sẽ thu hút các dòng chảy tài chính từ khắp nơi trên thế giới để phục vụ cho hoạt động đầu tư trong nước Trong đầu tư dịch chuyển không tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế, không tạo ra năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế

3.3 Phân loại theo tính chất đầu tư :

3.3.1 Đầu tư có xây dựng cơ bản và đầu tư không có xây dựng cơ bản :

 Đầu tư có xây dựng cơ bản là các hoạt động đầu tư có liên quan đến việc xây dựng cơ bản như: xây dựng nhà xưởng, lắp đặt thiết bị, xây dựng đường xá, đê điều, v.v

 Đầu tư không có xây dựng cơ bản là các hoạt động đầu tư không gắn liền với hoạt động xây dựng cơ bản Đầu tư không có xây dựng cơ bản là các hoạt động mua sắm tàu thuyền, máy bay, xe tải v.v

3.3.2 Đầu tư mới và đầu tư theo chiều sâu :

 Đầu tư mới: Đầu tư mới là hoạt động đầu tư mang tính chất mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng mới nhà xưỡng công trình Hình thức đầu tư này cùng với việc hình thành nên các công trình mới đòi hỏi có vốn đầu tư mới, bộ máy quản lý mới, và có tác dụng tạïo nên năng lực sản xuất mới

 Đầu tư theo chiều sâu: Đầu tư theo chiều sâu là đầu tư mang tính chất thay đổi công nghệ cải tạo, mở rộng, nâng cấp, hiện đại hoá dây chuyền sản xuất dịch vụ trên cơ sở các công trình có sẵn để nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động Trong đầu tư chiều sâu hoạt động đầu tư là tiến hành cải tạo, nâng cấp các công trình hiện có trên cơ sở bộ máy quản lý đã có

Trang 6

3.3.3 Đầu tư tự khởi và đầu tư ứng lập :

 Đầu tư tự khởi là hoạt động đầu tư mang tính chất sáng tạo ra nhu cầu mới

 Đầu tư ứng lập là hoạt động đầu tư nhằm đáp ứng sự gia tăng nhu cầu về sản phẩm hay dịch vụ đang có sẵn trên thị trường

Sự phân biệt đầu tư tựï khởi và đầu tư ứng lập chỉ mang tính chất tương đối vì hoạt động đầu tư sản xuất ra sản phẩm không bao giờ mới hoàn toàn mà là dựa trên việc thỏa mãn các nhu cầu sẵn có trên thị trường

Việc phân loại này rất có ý nghĩa vì nó giúp cho nhà đầu tư hoặc nhà tài trợ nhận dạng được rủi ro cơ bản mà dự án đầu tư của họ có thể phải đương đầu Và giúp cho nhà nước tiên đoán được diễn tiến của chu kỳ kinh doanh để đưa ra các quyết định đầu tư phù hợp

3.4 Phân theo lĩnh vực đầu tư :

Bao gồm các hình thức đầu tư :

 Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của nền kinh tế gồm : Hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội

 Đầu tư phát triển các nghành của nền kinh tế như : Đầu tư phát triển công nghiệp, đầu tư phát triển nông nghiệp, đầu tư phát triển dịch vụ

4 Nguồn hình thành vốn đầu tư :

4.1 Nguồn vốn trong nước:

a.Khái niệm :

Vốn trong nước là vốn hình thành từ nguồn tích lũy nội bộ của nền kinh tế quốc dân, Vốn này có thể là của các doanh nghiệp, của các tổ chức tài chánh, của ngân sách nhà nước hoặc của nhân dân

Trang 7

Từ tích lũy nội bộ của nền kinh tế quốc dân, vốn ngân sách có ý nghĩa quyết định cho đầu tư công ích; vốn của các thành phần kinh tế khác và trong nhân dân rất quan trọng trong đầu tư kinh doanh

c Các thành phần vốn trong nước :

c1/ Vốn ngân sách nhà nước :

Vốn ngân sách nhà nước là nguồn vốn thường được sử dụng để xây dựng những công trình công ích, những công trình trọng điểm của quốc gia đòi hỏi vốn đầu tư lớn Ở Việt Nam hiện nay quy định vốn ngân sách nhà nước được sử dụng để đầu tư theo kế hoạch nhàø nước đối với:

 Các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng;

 Các dự án trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên

 Các dự án xây dựng công trình văn hoá, xã hội, phúc lợi công cộng, quản lý nhà nước khoa học – công nghệ, quốc phòng, an ninh

 Các dự án trọng điểm của nhà nước do chính phủ quyết định, mà không có khảû năng trực tiếp thu hồi vốn

c2/ Vốn tín dụng ưu đãi thuộc ngân sách nhà nước :

Vốn tín dụng ưu đãi thuộc ngân sách nhà nước là vốn từ ngân sách không cấp phát mà cho vay những công trình trọng điểm của quốc gia có tác dụng lớn đối với việc thúc đẩy phát triễn nền kinh tế và có khả năng tạo được nguồn thu để hoàn vốn

Hiện nay ở Việt Nam nguồn vốn này được sử dụng để đầu tư đối với :

 Các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, các cơ sở sản xuất tạo việc làm

 Các dự án đầu tư trọng điểm của nhà nước trong từng thời kỳ (điện, xi măng, sắt thép, cấp thoát nước…)

 Các dự án khác của các ngành, có khả năng thu hồi vốn, đã được xác định trong cơ cấu kế hoạch của nhà nước

 Việc bố trí đầu tư cho các dự án trên do chính phủ quyết định cụ thể cho từng đối tượng trong thời kỳ kế hoạch

c3/ Vốn tín dụng thương mại :

Vốn tín dụng thương mại là nguồn vốn của các tổ chức tài chính như Ngân hàng, quỹ đầu tư…trong nước huy dộng từ nguồn vốn nhàn rỗi, nguồn tích lũy của các thành phần kinh tế đem cho vay Lãi suất trong quan hệ này thường

Trang 8

rất cao so với các nguồn tài trợ khác, chúng thường được dùng để đầu tư xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, đổi mới kỹ thuật và công ghệ các dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ có hiệu quả, có khả năng thu hồi vốn và có đủ điều kiện vay vốn theo quy định

Vốn tín dụng thương mại được áp dụng theo cơ chế tự vay, tự trả; thực hiện đầy đủ các thủ tục đầu tư và điều kiện vay, trả vốn

c4/ Vốn tự huy động của các doanh nghiệp:

Vốn tự huy động của các doanh nghiệp có thể dưới nhiều hình thức khác nhau như huy dộng vốn của công nhân viên trong công ty, của dân chúng…Hiện nay ở Việt nam chỉ doanh nghiệp nhà nước mới dược phép tự huy động Các doanh nghiệp nhà nước phải sử dụng theo đúng các chế độ quản lý vốn đầu tư này Doanh nghiệp nhà nước thuộc tổ chức quản lý nào thì tổ chức quản lý đó chịu trách nhiệm kiểm tra chặc chẽ, đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả Nguồn vốn này được dùng để đầu tư cho phát triển sản xuất – kinh doanh, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm

c5/ Vốn đầu tư của các tổ chức kinh tế và vốn đầu tư của dân :

Đây là nguồn vốn tích lũy của các doanh nghiệp, của các gia đình dùng cho hoạt động đầu tư Hiện nay Việt Nam quy định đối với hoạt động đầu tư xây dựng mới chủ đầu tư phải lập thủ tục trình cơ quan có thẩm quyền xem xét để cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp, giấy phép kinh doanh, giấp phép sử dụng đất, giấy phép xây dựng…

c6/ Vốn đóng góp của nhân dân :

Vốn này do nhân dân đóng góp bằng công sức lao động, bắng tiền, vật liệu cho các dự án đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi công cộng phục vụ trực tiếp cho người góp vốn, theo các điều kiện trực tiếp khi huy động vốn

c7/ Vốn khác:

Được huy động cho mục đích cứu trợ nhân đạo, hoạt động từ thiện…

4.2 Nguồn vốn ngoài nước:

a Định nghĩa :

Trang 9

Vốn nước ngoài là vốn hình thành từ nguồn tích lũy từ bên ngoài, không bằng nguồn tích lũy nội bộ của nền kinh tế quốc dân thông qua nhiều con đường khác nhau được sử dụng cho hoạt động đầu tư trong nước

b Ý nghĩa :

Nguồn vốn nước ngoài là rất quan trọng trong công cuộc đầu tư phát triễn kinh tế, xây dựng đất nước của các quốc gia đang phát triển đang rất thiếu vốn để đáp ứng cho các nhu cầu đầu tư Tuy nhiên, Khi nền kinh tế sản xuất chưa phát triễn đủ mạnh để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng, việc chi tiêu quá nhiều cho đầu

tư sẽ gia tăng sức mua tạo nên nhiều áp lực cho nền kinh tế như: nguy cơ lạm phát rất dễ xãy ra, nhu cầu ngoại tệ thường xuyên thiếu hụt, cán cân thanh toán quốc tế thường xuyên thiếu hụt.v.v Do vậy khi sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài tạo động lực cho phát triễn kinh tế luôn cân nhắc thận trọng, cân đối với khả năng đáp ứng của nền kinh tế

c Các thành phần vốn ngoài nước :

c1.Vốn hỗ trợ phát triển chính thức: (Official Development Assistance - ODA)

Là vốn do chính phủ các nước, hay các tổ chức quốc tế hổ trợ trực tiếp cho chính phủ các nước đang phát triễn thông qua hai hình thức chủ yếu :

 Hỗ trợ 2 bên, gồm :

 Viện trợ không hoàn lại ;

 Hợp tác koa học – kỹ thuật công nghệ;

 Cho vay không lấy lãi hoặc có lãi suất thấp

 Hỗ trợ nhiều bên gồm:

 Hỗ trợ trực tiếp thông qua các chính phủ nước ngoài ;

 Hỗ trợ thông qua các tổ chức quốc tế như: Chương trình phát triển của Liên hợp quốc, Tổ chức lương nông Liên hợp quốc; Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc; Tổ chức y tế thế giới; Chương trình lương thực thế giới; Cơ quan cao ủy liên hợp quốc về người tị nạn; Quỹ Liên hợp quốc về các vấn đề các hoạt động dân số …

Hiện nay ở Việt Nam nguồn vốn ODA được quản lý thống nhất theo Nghị định số 20/CP ngày 15 tháng 03 năm 1994 của chính phủ

c2.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: (Foreign Direct Investment - FDI)

Trang 10

Là ngồn vốn do các tổ chức kinh doanh ở nước ngoài dầu tư trực tiếp váo Việt nam dưới các hình thức như xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, liên doanh, liên kết với doanh nghiệp trong nước khai thác các tài nguyên để kiếm lới Hiện nay đầu tư trực tiếp ở nước ngoài được điều chỉnh theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, ngày 29 tháng 12 năm 1987 (đã sữa đổi, bổ sung – 1990, 1992)

Trường hợp các doanh nghiệp nhà nước được phép góp vốn liên doanh với nước ngoài bằng quyền sử dụng (thuê) đất, mặt nước mặt biển, nhà xưởng thiết bị và càc công trình khác thuộc quyền sở hữu nhà nước phải được cấp có thẩm quyền cho phép và làm thủ tục nhận vốn, để có trách nhiệm hoàn trả vốn cho nhà nước theo quy định

Việc quản lý vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài được thực hiện theo Nghị định số 18/CP, ngày 16 tháng 04 năm 1993 của chính phủ“Quy định chi tiết về việc thi hành luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”

c3 Vốn vay thương mại từ nước ngoài :

Là vốn vay với lãi suất kinh doanh của cá tổ chức tài chính, ngân hàng, doanh nghiệp, cá nhân ở nước ngoài Điều kiện vay thực hiện theo các thông lệ quốc tế

c4 Vốn đầu tư của các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và các cơ quan nước ngoài khác :

Vốn này được hình thành khi các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, cơ quan nước ngoài đầu tư phục vụ cho các hoạt động của họ Ở Việt Nam hiện nay loại vốn này Được quản lý theo hiệp định hoặc thỏa thuận đã được ký kết giữa chính phủ Việt Nam vớc các chính phủ các nước hoặc các cơ quan, tổ chức nước ngoài được nêu trên và haọt động đầu tư đó được phép thực hiện trên đất nước Việt Nam

c5 Nguồn tài trợ khác từ nước ngoài:

Các nguồn này thường được hình thành thông qua các hoạt động như cứu trợ nhân đạo, hoạt động từ thiện, bồi thường chiến tranh …

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Trang 11

1.1 Nguồn gốc của dự án :

Đầu tư theo dự án là hình thức đầu tư bắt đầu phát triển và đưa vào sử dụng từ sau chiến tranh thế giới thứ II, chủ yếu là nhờ công lao của Ngân Hàng Thế Giới (NHTG ) Lý do để NHTG phải cho vay theo dự án vì :

Thứ nhất : Rút kinh nghiệm của việc cho vay kém hiệu quả trong những

năm 1920 và 1930

Thứ hai : sau chiến tranh thế giới thứ II, sự đầu tư và hợp tác quốc tế đã

phát triển với quy mô chưa từng thấy nên yêu cầu một hình thức quản lý phù hợp

Thứ ba : Do khủng hoảng kinh tế chính phủ các nước quan tâm nhiều hơn

đến việc nâng cao trình độ quản lý quốc gia

Các lý do cơ bản nêu trên đã dẫn đến một hình thức quản lý mới ra đời - quản lý theo dự án Thực tế cách tiếp cận dự án ngày càng trở nên linh hoạt và phát triển Ngày nay Ngân hàng thế giới và Ngân hàng phát triển Châu Á sẽ không phát tiền vay nếu không có các dự án được thông qua

1.2 Khái niệm dự án :

Cho đến nay có nhiều cách định nghĩa dự án khác nhau, sau đây là một số định nghĩa thông dụng

 Xét về mặt nội dung :

 Quan niệm thông thường (quan niệm tĩnh):“Dự án là hình tượng về một tình huống hay một trạng thái mà ta muốn đạt tới ở tương lai”

 Quan niệm theo từ điển về quản lý dự án AFNOR (quan niệm động):“Dự án là một hoạt động đặc thù tạo nên một cách có phương pháp và định tiến với các phương tiện (nguồn lực) đã cho nên một thực tế mới”

 NHTG định nghĩa: "Dự án là một tập hợp riêng biệt những hoạt động đầu tư, vạch chính sách, xây dựng thể chế và các hoạt động khác được trù tính để thực hiện một hoặc một nhóm mục tiêu trong thời gian nhất định"

 Quan điểm Việt Nam “Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản

Trang 12

phẩm hay dịch vụ nào đó trong thời gian xác định” (theo điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo nghị định số 42/CP ngày 16 tháng 7 năm 1996 của chính phủ về bổ sung sửa đổi nghị định 177/CP ngày 20/10/1994)

 Có thể hiểu dự án một cách đơn giản hơn: "Dự án là một loạt hoạt động có mục đích được hoạch định cụ thể nhằm tạo ra lợi ích cho người thụ hưởng trong một khoảng thời gian nào đó"

 Về hình thức :

“Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày về một cách chi tiết và hệ thống, một kế hoạch, một chương trình hành động trong tương lai phù hợp với các nội dung yêu cầu nói trên.”

1.3 Đặc điểm của dự án :

- Dự án là nhất thời ,có điểm khởi đầu và điểm kết thúc riêng: Dự án là

một hệ thống kín luôn có điểm khởi đầu và điểm kết thúc và chịu những hạn chế chung về nguồn lực và phương tiện

- Dự án không là một dự định hay phác thảo và có tính cụ thể và mục tiêu xác định nhằm đáp ứng một nhu cầu chuyên biệt: Khác với một dự định hay một

phác thảo mục tiêu thường chung chung, chưa cụ thể, mục tiêu cuả dự án là cụ thể, rõ ràng, xác thực nhằm đáp ứng một nhu cầu chuyên biệt và có thể đo lường được Các nhu cầu đó có thể là nhu cầu có sẵn đang gia tăng trên thị trường, hoặc là nhu cầu mới phát sinh

- Dự án là một thực thể ở tương lai nên luôn có rủi ro: Dự án là một phác

thảo về tương lai, vì tương lai rất khó dự đoán chính xác nên dự án tất có rủi ro, rủi ro của dự án thường cao

- Dự án là một thực tế mơí mà trước đó chưa có một nguyên bản tương đương: Dự án không là nghiên cứu trừu tượng hay ứng dụng mà cấu trúc nên một

thực tế mớỉ mà trước đó chưa có nguyên bản tương đương Dự án có tính sáng tạo riêng, việc sản xuất hàng loạt theo mẫu trước đó không nên xem là dự án

- Dự án khác với dự báo: Dự báo không có ý định can thiệp vào sự cố

nhưng dự án ngược lại

- Thời gian hoạt động của dự án dài: Một dự án thường trải qua 7 giai

đoạn khác nhau kéo dài nhiều năm, thậm chí hàng chục, hàng trăm năm

Trang 13

- Các dự án cũng dược phân biệt với các công việc khác ở chổ chúng phải hoạt động trong bốn điều kiện ràng buộc là ngân sách, nguồn lực, thời hạn và kết quả, (xem hình 2) Ở mức độ nào đó, một chức năng quản lý đều phải hoạt động trong khuôn khổ bốn điều ràng buộc này

Thí dụ, phòng của bạn có thể phải hoạt động và tạo ra những kết quả nhất định ; nhưng bị khống chế về ngân sách và công việc nó thực hiện phải theo đúng hạn cuối cùng

Hình 2:

Nguồn lực Ngân sách

Thời hạn Kết quả

1.4 Ưu nhược điểm của phương pháp đầu tư theo dự án :

Ưu điểm : thể hiện trên hai khía cạnh cơ bản :

 Phương pháp đầu tư theo dự án là một công cụ có hiệu quả để hợp lý hóa và cải tiến các quy trình đầu tư

 Phương pháp đầu tư theo dự án nếu được áp dụng đúng đắn sẽ tạo ra kết quả phát triển kinh tế rõ rệt ở các nước trong tình trạng khan hiếm nguồn đầu tư

Nhược điểm : có thể nêu ba nhược điểm cơ bản :

 Hồ sơ dự án dù chính xác đêán đâu và chặt chẽ đến mức nào chăng nữa thì cũng không thể có độ tin cậy cao

 Lập dự án thông thường cần phải có đội ngũ các chuyên gia và có trình độ nhất định

 Công việc soạn thảo dự án thường phức tạp, tốn nhiều thời gian và không phải ai cũng có thể làm được

1.5 Nội dung của dự án:

 Nghiên cứu thị trường, sản phẩm của dự án

 Nghiên cứu kỹ thuật công nghệ của dự án

Trang 14

 Nghiên cứu tổ chức quản lý cuả dự án

 Nghiên cứ tài chính của dự án

 Nghiên cứu lợi ích kinh tế xã hội của dự án

1.6 Chu kỳ dự án :

1.6.1 Khái niệm :

Chu kỳ dự án còn được gọi là chu trình dự án, là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án phải trải qua từ khi dự án mới là ý đồ cho đến khi dự án hoàn thành đưa vào sử dụng và chấm dứt hoạt động

1.6.2 Nội dung của chu kỳ dự án:

Có nhiều cách phân chia chu kỳ dự án khác nhau, nhưng dù là cách phân chia nào thì nội dung các giai đoạn của chu kỳ dự án đều phải thể hiện được 5 nội dung cơ bản dưới đây ở những mức độ khác nhau tùy theo mức độ yêu cầu của từng nội dung đối với từng dự án cụ thể Các nội dung đó là:

 Nghiên cứu thị trường, sản phẩm của dự án

 Nghiên cứu kỹ thuật công nghệ của dự án

 Nghiên cứu tổ chức quản lý cuả dự án

 Nghiên cứ tài chính của dự án

 Nghiên cứu lợi ích kinh tế xã hội của dự án

1.6.3 Các giai đoạn của chu kỳ dự án:

Có nhiều cách phân chia các giai đoạn trong chu kỳ dự án khác nhau, tuy vậy về mặt nội dung cơ bản các cách phân chia này không có những khác biệt đáng kể Sau đây là cách phân chia thông dụng và chi tiết thường được sử dụng trong nghiên cứu dự án Theo cách phân chia này một chu kỳ dự án thường trải qua 4 thời kỳ hay 7 giai đoạn khác nhau:

 Thời kỳ 1: Chuẩn bị dự án Thời kỳ này gồm 3 giai đoạn:

 Giai đoạn 1: Nghiên cứu cơ hội đầu tư

 Giai đoạn 2: Nghiên cứu tiền khả thi

 Giai đoạn 3: Nghiên cứu khả thi

 Thời kỳ 2: Thực hiện dự án Gồm 2 giai đoạn:

 Giai đoạn 4: Chuẩn bị đầu tư

 Giai đoạn 5: Xây dựng dự án

Trang 15

 Thời kỳ 3: Khai thác dự án Thời kỳ này gồm 1 giai đoạn:

 Giai đoạn 6: Khai thác dự án

 Thời kỳ 4: Đánh giá dự án sau thực hiện, thanh lý và đưa ra ý tưởng mới Thời kỳ này gồm 1 giai đoạn:

 Giai đoạn 7: Đánh giá dự án sau thực hiện, thanh lý và đưa ra ý tưởng mới

Giai đoạn 1: Nghiên cứu cơ hội đầu tư

Đây là giai đoạn đầu tiên và quan trọng liên quan đến việc xác định ý đồ dự án Trong hoạt động kinh tế các ý đồ đầu tư thường bắt đầu từ một ý tưởng, đó là một nghiên cứu, một phát minh hay một cơ hội được chủ đầu tư nắm bắt Ý tưởng này được khẳng định về tính khả thi thông qua các bước hay các giai đoạn khác nhau Trong giai đoạn đầu - giai đoạn nghiên cứu cơ hội đầu tư - là nhằm thẩm định về tính hiện thực của ý tưởng Công việc này là cơ sở để xem có nên tiếp tục phát huy ý tưởng đó hay không Việc phân tích tính hiện thực của ý tưởng rất quan trọng, nó nhằm làm rõ tính độc đáo, khả năng tồn tại, phát triển và lợi ích của ý tưởng

Giai đoạn này thể hiện sự ưu tiên trong việc huy động và khai thác các nguồn lực hạn chế để nắm bắt những cơ hội phát hiện trong việc thực hiện một hay một số mục tiêu của chủ đầu tư

Sản phẩm của giai đoạn này là bản nghiên cứu cơ hội đầu tư

Giai đoạn 2 : Nghiên cứu tiền khả thi

Đây là bước nghiên cứu tiếp theo của giai đoạn nghiên cứu cơ hội đầu tư Đây là giai đoạn nghiên cứu nhằm khẳng định thêm lần nữa về tính khả thi của ý tưởng đầu tư ban đầu Giai đoạn này nghiên cứu chi tiết và chuyên sâu một số nội dung mà chủ đầu tư hay người soạn thảo xem là quan trọng, hoặc nghiên cứu sâu hơn các khía cạnh mà khi xem xét cơ hội đầu tư còn thấy phân vân chưa chắc chắn Qua đo,ù tiếp tục lựa chọn, sàng lọc các cơ hội đầu tư một cách cụ thể chi tiết và chính xác hơn để đi đến quyết định là nên tiếp tục nghiên cứu giai đoạn tiếp theo hay không Giai đoạn này khác với giai đoạn nghiên cứu khả thi vì có thể chỉ có một số nội dung được phân tích chi tiết, các nội dung khác có thể chưa được xem xét một cách đầy đủ hoặc chi tiết vì chưa cần thiết Việc này nhằm giảm bớt những chi phí nghiên cứu không cần thiết cho chủ dự án Câu trả lời ở giai đoạn này là “ ý tưởng dự án là không khả thi hay không thể thực hiện được” Giai đoạn này thường chỉ thực hiện đối với việc nắm bắt các cơ hội đầu tư có quy

Trang 16

mô đầu tư lớn, phức tạp về mặt kỹ thuật, thời gian thu hồi vốn lâu, có nhiều yếu tố rủi ro hay bất định tác động Đối với các cơ hội đầu tư có quy mô nhỏ, kỹ thuật

ít phức tạp, ít rủi ro, bất định và triển vọng đem lại hiệu quả là rõ ràng thì có thể bỏ qua

Nội dung của giai đoạn này gồm soạn thảo, thẩm định dự án tiền khả thi và ra quyết định nên tiếp tục nghiên cứu các giai đoạn tiếp theo hay không Sản phẩm của giai đoạn này là hồ sơ dự án tiền khả thi đã được duyệt

Giai đoạn 3: Nghiên cứu khả thi :

Đây là giai đoạn sàng lọc lần cuối cùng để khẳng định tính khả thi của ý tưởng đầu tư ban đầu

Trong giai đoạn này, Các khía cạnh của ý tưởng ban đầu đều được xem xét ở phương diện tỉnh và động về 5 nội dung nghiên cứu nêu trên Các nội dung này được xem xét ở mức độ chi tiết, đầy đủ và chính xác hơn so với giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi

Mục đích chính của giai đoạn này là làm rõ lợi ích, chi phí và tính khả thi của dự án Tức là xác định xem thực hiện ý tưởng đó ta được gì, mất gì? Chi phí như thế nào, lợi ích ra làm sao? Các phương án khác nhau về thị trường, kỹ thuật, tài chính, địa điểm, nhân sự… được đưa ra để lựa chọn, quyết định; Việc phân tích có tính đến tác động của yếu tố thời gian, của các yếu tố rủi ro, bất định khác theo từng nội dung nghiên cứu Những sự phân tích đó nhằm giúp cho chủ dự án, nhà thẩm định có sự hiểu biết tường tận hơn, qua đó đưa ra các lựa chọn phù hợp để khai thác cơ hội đầu tư một cách có hiệu quả

Nội dung của giai đoạn này gồm: soạn thảo, thẩm định dự án khả thi, và

ra quyết định đầu tư Sản phẩm của giai đoạn này là hồ sơ dự án khả thi được duyệt

Tất cả ba giai đoạn nghiên cứu nói trên của giai đoạn 1 phải được tiến hành đối với các dự án đầu tư lớn nhằm đảm bảo từng bước phân tích sâu hơn, đầy đủ và chi tiết hơn Phát hiện và khắc phục dần những sai sót ở các giai đoạn nghiên cứu trước thông qua việc tính toán lại, đối chiếu các dữ kiện, các thông số, thông tin thu nhập được qua mỗi giai đoạn Điều này sẽ đảm bảo cho các kết quả nghiên cứu khả thi đạt được mức độ chính xác cao

Trong 3 giai đoạn nêu trên các nội dung đều dược nghiên cứu lập lại với mức độ ngày càng chi tiết, đầy đủ, tỉ mỉ và khoa học hơn, trong đó giai đoạn 3 là

Trang 17

hoàn thiện nhất Có thể hình dung trong 3 giai đoạn này các nội dung được hoàn thiện từng bước như quá trình phát triển của củ hành tây, từ một mầm ban đầu các tép hành lờn lên, bổ sung thêm nhiều tép mới, làm cho củ hành ngày càng hoàn thiện về nội dung lẫn hình thức cho đến khi đạt yêu cầu

Nội dung cơ bản của 3 giai đoạn nói trên là nhằm xem xét một cách đầy đủ và chi tiết tất cả các khía cạnh khác nhau nhằm làm rõ lợi ích và tính khả thi của dự án Đối với các dự án đầu tư nhỏ, ít quan trọng có thể bỏ qua giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi và thực hiện nghiên cứu khả thi

Giai đoạn 4 : Chuẩn bị đầu tư:

Giai đoạn này là giai đoạn chuyển tiếp từ khi kết thúc thời kỳ chuẩn bị dự án, hồ dự án khả thi đã được chủ dự án thông qua và các cấp có thẩm quyền phê duyệt cho đến khi triển khai xây dựng dự án tạo ra các công trình đầu tư Giai đoạn này bao gồm các công việc: đàm phán, ký kết các hợp đồng kinh tế như: Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thiết kế, thi công, hợp đồng cung cấp vật tư, nguyên liệu… Đây là giai đoạn chuẩn bị đầy đủ các cơ sở pháp lý, nguồn lực cho việc xây dựng công trình nhằm đảm bảo công trình hoàn tất đúng tiến độ và đúng chất lượng như dự kiến

Giai đoạn 5: Xây dựng dự án:

Thời kỳ này bắt đầu từ khi triển khai thi công xây lắp công trình cho đến khi công trình hoàn tất, chạy thử, nghiệm thu đưa vào khai thác, sử dụng Điểm quan trọng nhất trong giai đoạn này là thực hiện việc giám sát các mặt công việc, các hoạt động đang tiến triển của chủ đầu tư và của người tài trợ theo tiến độ và theo kế hoạch đầu tư Nếu có sai sót xảy ra lập tức có ngay những biện pháp khắc phục hoặc sửa chữa Giai đoạn này rất quan trọng nó quyết định chất lượng công trình đầu tư, như thế nghĩa có quyết định cho việc nắm bắt cơ hội đầu tư, quyết định chất lượng, số lượng sản phẩm đầu ra và như thế cũng có nghĩa quyết định sự thành công hay thất bại của dự án

Sản phẩm của giai đoạn này thường được gọi là sản phẩm đầu tư, đó là các công trình xây lắp, máy móc thiết bị đã hoàn tất đủ điều kiện cho việc khai thác sử dụng

Khoảng thời gian từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc giai đoạn xây dựng dự án được gọi là thời gian xây dựng dự án Khoảng thời gian này thường được theo dõi giám sát chặt chẽ bằng một kế hoạch cụ thể thường được gọi là kế

Trang 18

hoạch tiến độ nhằm đảm bảo công trình dự án hoàn tất đúng theo kế hoạch quy định

Giai đoạn 6: Khai thác dự án:

Giai đoạn này tiếp theo sau giai đoạn 5, khi quá trình xây dựng dự án hoàn tất Đây là giai đoạn dự án được đưa vào vận hành sử dụng nhằm thực hiện các mục tiêu của dự án Hiệu quả của giai đoạn này tùy thuộc trực tiếp vào quá trình tổ chức hoạt động của chủ dự án nếu các giai đoạn trước đó đã tạo ra kết quả tốt

Sản phẩm của giai đoạn này là sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ mà dự án sản xuất ra cung cấp cho thị trường trong nước, ngoài nước

Trong giai đoạn này khoảng thời gian từ khi bắt đầu vận hành tạo ra sản phẩm, dịch vụ cho đến khi kết thúc hoạt động gọi là thời gian khai thác dự án hay vòng đời sản phẩm của dự án Việc xác định độ dài thời gian khai thác dự án rất quan trọng, nó ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của chủ đầu tư Trong giai đoạn này thường những năm đầu dự án hoạt động chưa đạt hết công suất thiết kế, những năm sau khi dự án đi vào sản xuất ổn định thì công suất thực tế có thể bằng công suất dự kiến

Khoảng thời gian từ khi bắt đầu triển khai xây dựng dự án ( khởi đầu giai đoạn 5 ) cho đến khi kết thúc việc khai thác dự án (kết thúc giai đoạn 6) được gọi là thời gian dự án hay vòng đời dự án Vòng đời dự án gồm thời gian xây dựng dự án và thời gian khai thác dự án

Giai đoạn 7: Đánh giá dự án sau thực hiện, thanh lý và đưa ra ý tưởng mới

Trong suốt vòng đời dự án, sau một thời gian dài khai thác, dự án hao mòn hữu hình lẫn vô hình và vì thế hiệu qủa của dự án không cao Chi phí cơ hội của dự án tăng dần, các nguồn lực huy động cho hoạt động của dự án trở nên lãng phí vì hiệu qủa thấp Vì thế cần đánh giá lại dự án để làm cơ sở cho việc ra quyết định nên tiếp tục khai thác dự án cũ hay không, hoặc nghiên cứu tìm cơ hội đầu tư mới Mặt khác, cần xem xét các mục tiêu của dự án đã được đã hoàn thành tốt hay chưa qua việc đối chiếu giữa quá trình thực hiện dự án với hồ sơ dự án qua đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho những dự án tương tự trong tương lai

Trang 19

Khi dự án không còn hoạt động có hiệu qủa do khả năng sinh lời thấp hoặc do chi phí cơ hội cao, dự án cần được thanh lý để thực hiện những dự án khác có hiệu qủa hơn Trong giai đoạn này đồng thời với việc thanh lý là triễn khai nghiên cứu thực hiện ý đồ dự án mới

Sản phẩm của giai đoạn này là biên bản đánh giá họat động trong suốt vòng đời của dự án, hồ sơ thanh lý dự án vá ý tưởng hay bản nghiên cứu cơ hội đầu tư mới

Quá trình thực hiện các giai đoạn kế tiếp nhau của dự án thực chất là quá trình thu thập và bù đắp thêm thông tin ở mức độ chi tiết, nông sâu và tinh tế khác nhau của ý đồ dự án ban đầu với 5 nội dung - thị trường sản phẩm, quản lý, kỹ thuật, tài chính, kinh tế - xã hội được nghiên cứu lặp đi lặp lại Có thể hình dung rằng chu kỳ của các giai đoạn của dự án lặp đi lặp lại như chu kỳ trái đất quay quanh mặt trời, và các nội dung của dự án như chu kỳ của mặt trăng quay quanh trái đất

Tóm tắt nộïi dung các giai đoạn của chu kỳ dự án:

Nghiên cứu khả thi

Thực hiện dự án

Vận hành dự án đầu

Đánh giá dự án

Thanh lý dự án

Trang 20

- Xác định lợi ích và tính khả thi của

cơ hội đầu tư

- Nhận dạng các rủi ro cơ bản

- Phân tích chi tiết các nội dung cơ bản: Thị trường, kỹ thuật- công nghệ, tổ chức quản lý và nhân sự, tài chính, hiệu quả kinh tế -xã hội

- Xây dựng các phương án lựa chọn

- Các hoạt động:

Đàm phán, ký kết hợp đồng, thiết kế , thi công…

- Nghiệm thu bàn giao công trình dự án hoàn thành

- Hoạt động khai thác dự án

- Đánh giá dự án về phương diện hiệu qủa kinh doanh

-Phân tích chi phí cơ hội của dự án

-Rút ra các bài học kinh nghiệm

- Thanh lý dự án

- Đưa ra ý tưởng và phát hiện cơ hội đầu

- Bộ máy soạn thảo dự án gồm

Chủ nhiệm và các chuyên gia

soạn thảo thuộc các lĩnh vực liên

quan

- Hội đồng thẩm định dự án

-Bộ máy quản lý công trình

-Hội đồng nghiệm thu

-Bộ máy quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh

-Hội đồng kiểm tra đánh giá

-Hội đồng thanh lý dự án

Bản hồ sơ dự án khả thi được duyệt

- Các hợp đồng ký kết

-Biên bản nghiệm thu bàûn giao

- Biên bản thanh lý hợp đồng

- Công trình hoàn thành

- Các hợp đồng kinh doanh

- Sản phẩm và dịch vụ dự án sản xuất ra

- Biên bản đánh giá

- Biên bản thanh lý

tưởng mới

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM CỦA DỰ ÁN

2.1 Khái niệm , vai trò và mục tiêu của việc nghiên cứu thị trường :

2.1.1 Khái niệm :

Trang 21

Nghiên cứu thị trường sản phẩm của dự án là nghiên cứu một cách tổng hợp, chi tiết, khách quan, khoa học những vấn đề có liên quan đến thị trường sản phẩm, dịch vụ mà dự án dự định sản xuất Bắt đầu từ việc nghiên cứu nhu cầu của người tiêu thụ, khả năng cung ứng của nền kinh tế, khả năng cung ứng của nhà đầu tư … qua đó đưa ra quyết định sản xuất mặt hàng cụ thể (khối lượng, quy cách, phẩm chất); quyết định lựa chọn thị trường, lựa chọn phương thức bán, phương thức khuyến mãi hoặc khuyến thị…nhằm đảm bảo tính khả thi của dự án về phương diện thị trường trong hiện tại và tương lai

2.1.2 Vai trò:

Phân tích thị trường sản phẩm của dự án là vấn đề đầu tiên và quan trọng nhất trong phân tích dự án, nó nhằm chứng minh tính khả thi của dự án về phương diện thị trường, qua đó nhằm trả lời câu hỏi sự cần thiết phải đầu tư cho dự án

Việc nghiên cứu thị trường giúp chúng ta nhận ra được những cơ hội và rủi ro từ ý tưởng ban đầu đang nắm bắt, qua đó đề ra những biện pháp hữu hiệu về kỹ thuật, kinh tế, tổ chức, các biện pháp phòng chống rủi ro… cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường hiện tại và tương lai Mặt khác việc nghiên cứu thị trường của dự án giúp xác định chính xác các yếu tố quan trọng liên quan đến dự án như lựa chọn quy mô, vốn, kỹ thuật phù hợp với khả năng và nhu cầu của chủ đầu tư

Thông qua nội dung phân tích thị trường của dự án giúp cho các cấp tham gia thẩm định dự án đưa ra các nhận định chuẫn xác về cơ hội, ruỉ ro, hiệu quả kinh tế xã hội, cũng như khả năng, vai trò và tầm quan trọng của dự án đối với sự phát triển kinh tế đất nước, qua đó ra quyết định nên hoặc không nên đầu tư

Dưới góc độ của nhà tài trợ phân tích thị trường sản phẩm của dự án là một trong những nội dung quan trọng cung cấp những thông tin chuẫn để đánh giá hiệu quả và mức độ rủi ro của dự án làm cơ sở cho việc đưa ra các quyết định tài trợ

2.1.3 Mục tiêu:

Việc nghiên cứu thị trường của dự án nhằm xác định chính xác hơn những

cơ hội và điều kiện mà chủ đầu tư có thể nắm bắt từ ý đồ ban đầu Thông qua việc phân tích thị trường chủ đầu tư sẽ xác định chính xác, rõ ràng, cụ thể hơn thị trường tiêu thụ sản phẩm dự án dự định sản xuất, qua đó xác định các phuơng pháp, giải pháp hữu hiệu để khai thác thị trường một cách có hiệu quả, đưa ra các chiến lược sách lược phù hợp Ngoài ra thông qua việc phân tích thị trường sản

Trang 22

phẩm của dự án sẽ giúp chủ dự án có được những thông tin ban đầu khá chi tiết và cụ thể để làm cơ sở cho việc ra quyềt định cụ thể hơn cho những bước tiếp theo (như: xác định công suất hiện tại và tương lai của dự án; xác định qui mô vốn đầu tư v.v.)

2.2 Nội dung cơ bản trong nghiên cứu thị trường sản phẩm của dự án:

Phân tích kỹ lưỡng về phương diện thị trường là một trong những công việc quan trọng nhất khi nghiên cứu xây dựng dự án Qua phân tích thị trường giúp cho các bên tham gia dự án thấy được những triễn vọng về thị trường trong hiện tại và tương lai làm cơ sở cho những quyết định lựa chọn địa điểm của dự án; công suất của dự án, máy móc thiết bị cho dự án; xác dịnh nhu cầu vốn đầu

tư, nhu cầu lao động, mô hình tổ chức, quản lý của dự án…và nhiều vấn đề khác cần thiết cho dự án

Các câu hỏi cơ bản thường được quan tâm xem xét là:

1 Đặc tính kỹ thuật, thương mại của sản phẩm dự án có đáp ứng toàn bộ hay một phần cho một nhu cầu thực tế của thị trường hay không?

2 Khu vực thị trường nào tiêu thụ sản phẩm của dự án? khách hàng tiêu thụ sản phẩm của dự án là ai?

3 Thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án lớn như thế nào?

4 Triễn vọng tăng trưởng của thị trường dự kiến ra sao?

5 Dự án sẽ chiếm lĩnh bao nhiêu phần của thị trường này?

6 Những ai là đối thủ cạnh tranh với dự án?

7 Cách thức tổ chức bán hàng, phân phối, khuyến mãi, khuyến thị v.v

ra làm sao?

2.2.1 Thẩm định tính hiện thực của sản phẩm:

Dự án cung cấp hàng hóa dịch vụ gì? Câu hỏi này đã được trả lời từ ý tưởng ban đầu của chủ dự án Tuy nhiên, những tính chất, đặc điểm, tính ưu việt… của sản phẩm hay dịch vụ chưa được định hình cụ thề từ các bứơc đầu tiên Do vậy, trong nộäi dung này căn cứ trên nhu cầu của thị trường, trình độ kỹ thuật công nghệ dự kiến, khả năng của nhà đầu tư… những đặc điểm, tính chất

cơ bản của sản phẩm được làm rõ, qua đó chứng minh tính hiện thực của sản phẩm dự án trên thị trường Nghĩa là, với kỹ thuật nào đó sản phẩm của dự án phải được sản xuất ra và hướng đến đáp ứng một hay một số nhu cầu cụ thể nào đó Nói cụ thể hơn, sản phẩm của dự án không là thứ viễn vông xa vời, nó phải được tạo ra và phải bán được trên thị trường Xác định tính hiện thực của sản

Trang 23

phẩm là cơ sở giúp cho nhà đầu tư, nhà tài trợ, hội đồng thẩm định … xác định tính khả thi của sản phẩm dự án trên thị trường

Xác định tính hiện thực của sản phẩm dự án nhằm thấy rõ lợi ích của sản phẩm, những thách thức hiện tại, lâu dài và những rủi ro gắn liền với sản xuất Ngoài ra, xác định tính hiện thực của sản phẩm liên quan mật thiết đến việc xác định sự tồn tại của thị trường và khách hàng tiềm năng, và là cơ sở đầu tiên chứng minh tính khả thi về phương diện thị trường sản phẩm của dự án

Xác định tính hiện thực của sản phẩm dự án , trước tiên cần xác định rõ sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm dự án dự định sản xuất Cụ thể cần xác định rõ: tên, ký hiệu, mã hiệu, đặc điểm, tính năng, quy cách, mức chất lượng, hình thức bao bì, đóng gói của sản phẩm dự định sản xuất Phân tích những đặc điểm chủ yếu của sản phẩm được lựa chọn từ đó đánh giá khả năng và mức dộ thành công của sản phẩm dự án trên thị trường

Khi xác định tính hiện thực của sản phẩm dự án cần phân biệt sản phẩm dự án dự định cung cấp là sản phẩm hiện có hoặc là sản phẩm đổi mới toàn bộ hay một phần, hay là sản phẩm mới xuất phát từ phát minh sáng chế nào đó

Đối với sản phẩm đã có trên thị trường - thường là những sản phẩm có nhu cầu đang gia tăng trong hiện tại và tương lai, không nhất thiết phải mô tả chi tiết sản phẩm nhưng cần phải chứng minh nó có những lợi thế cụ thể nào đó so với vài sản phẩm cùng chức năng đang bán trên thị trường, đặc biệt là chứng minh ưu thế về giá thành

Các lợi thế đó cần thể hiện qua so sánh với sản phẩm nội địa hoặc nhập khẩu cùng chức năng trên thị trường về các mặt như: chất lượng, mẫu mã, thị hiếu, giá cả, khả năng phân phối… Nếu sản xuất thay thế nhập khẩu cần chứng minh thêm những lợi thế so với sản phẩm nhập khẩu như về thuế quan, chế độ bảo hộ mậu dịch, chi phí vận chuyển, bảo quản v.v

Ngoài ra cần phân tích những yếm thế (bất lợi) của sản phẩm dự án so với các sản phẩm nội địa, nhập khẩu cùng chức năng trên thị trường giúp cho nhà đầu tư, nhà tài trợ, hội đồng thẩm định … nhận dạng được rủi ro có thể có và nêu lên những phương án khắc phục những rủi ro đó

Hiện nay ở các nước đang phát triễn như Việt Nam nhu cầu về sản phẩm hiện có đang tăng nhanh nên các dự án đầu tư ứng lập rất hấp dẫn nhà đầu tư bởi các lý do:

Trang 24

Thứ nhất, dự án sản xuất ra những sản phẩm đạt tiêu chuẫn cạnh tranh

với hàng nhập khẩu nhằm thay thế hàng nhập khẩu Những dự án này thường được chính phủ các nước đang phát triễn cấp cho nhiều ưu đãi như ưu đãi về thuế, về trợ giúp vốn đầu tư, về xin giấy phép đầu tư v.v

Thứ hai, là các dự án sản xuất các sản phẩm có nhu cầu thị trường đang

tăng trưởng nhanh mà hiện tại khả năng sản xuất của các doanh nghiệp trong nền kinh tế chưa đáp ứng nổi

Thứ ba, trong nước có những sản phẩm mà hiện đang được sản xuất với

quy trình thủ công, hoặc với máy móc thiết bị, qui trình công nghệ lạc hậu… nên sản phẩm sản xuất ra có giá thành cao, chất lượng kém…và dự án được đề xuất khắc phục được những nhược điểm cơ bản đó như sản phẩm dự án sản xuất ra có chất lượng tốt hơn, giá cả rẽ hơn v.v

Đối với dự án sản xuất các sản phẩm mới hoặc sản phẩm đổi mới toàn bộ hay một phần cần phải xác định khả năng sản xuất sản phẩm là có thực, nó được sản xuất ra từ dự án Người soạn thảo phải mô tả sản phẩm cụ thể, chi tiết về các đặc tính kỹ thuật, thương mại Trường hợp cần thiết phải có sản phẩm mô phỏng hoặc hình vẽ thiết kế, hoặc ảnh, hoặc sản phẩm mẫu chứng minh việc sản xuất sản phẩm như dự kiến là có thực

Việc mô tả sản phẩm phải thể hiện được một số hay toàn bộ các nội dung sau:

 Công dụngï chủ yếu và thứ yếu của sản phẩm

 Các ưu điểm của sản phẩm

 Các tiêu chuẩn kỹ thuật: kích thước, hình dáng, quy cách

 Các đặc tính lý, hóa

 Chất lượng

 Bao bì đóng gói

 So sánh tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật của quốc gia và quốc tế đối với sản phẩm của dự án, đánh giá trình độ sản xuất trong và ngoài nước

 Các dịch vụ đi kèm

 Tính an toàn, dễ dùng và dễ bảo trì khi sử dụng

 Các khả năng đáp ứng và biến đổi của sản phẩm

 Đăng ký nhãn hiệu và bảo vệ bản quyền sản phẩm bằng một bằng sáng chế, phát minh

 Sản phẩm mẫu, hình ảnh, bản vẽ…

 Ưu thế cạnh tranh

Trang 25

Thứ hai, thực hiện phân tích chu kỳ vòng đời sản phẩm của dự án, xác định sản phẩm đang nằm trong giai đoạn nào, đồng thời dự báo về tuổi thọ còn

lại của sản phẩm qua vòng đời của nó Nếu sản phẩm nằm trong 3 giai đoạn đầu

vòng đòi dự án thì chủ dự án có thể đầu tư nếu các điều kiện khác hội đủ Ngược lại, nếu sản phẩm của dự án nằm trong giai đoạn suy thoái thì cần cân nhắc thận trọng khi ra quyết định tiếp theo Trong trường hợp này tốt nhất dự án cần có chương trình phục hồi( chương trình nâng cao chất lượng sản phẩm; chương trình quãng cáo …) thể hiện rõ những ưu điểm của sản phẩm so với các sản phẩm khác đồng loại có trên thị trường

Trong qúa trình nghiên cứu, lựa chọn sản phẩm của dự án cần gắn với nhu cầu thị trường; kỹ thuật, công nghệ lựa chọn; đặc tính của thị trường tiêu thụ, tâm lý khách hàng.v.v

2.2.2 Thẩm địmh tính hiện thực của thị trường:

2.2.2.1 Nghiên cứu lựa chọn thị trường và khách hàng tiêu thụ sản phẩm

của dự án

Nghiên cứu lựa chọn thị trường và khách hàng tiêu thụ sản phẩm của dự

án chính là nhằm thẩm định tính hiện thực của thị trường Mục đích của người

tiêu dùng là muốn mua những sản phẩm mà họ cần chứ không phải mua sản phẩm doanh nghiệp có Do vậy, chủ dự án phải nắm bắt thật chính xác ý muốn của khách hàng sau đó xem xét nghiên cứu tìm cách sản xuất sản phẩm của mình đáp ứng những yêu cầu đó Vì lẽ đó tính hiện thực của sản phẩm là điều kiện cần và tính hiện thực của thị trường là điều kiện đủ để chứng minh cho tính hiện thực

của ý tưởng ban đầu của chủ đầu tư

GĐ I TRIỄN KHAI

GĐII TRƯỞN

G

GĐIII CHÍN MUỒI GĐIV

SUY THOÁI

Doanh

thu

Phục hồi

Trang 26

Thị trường tiêu thụ là vấn đề sống còn của một dự án, không có thị trường tiêu thụ sản phẩm dự án không thể thực hiện được Trong thực tế nhiều dự án cho thấy rằng thị trường chưa được xây dựng, hoặc thị trường còn quá nhỏ mà sản phẩm của dự án vẫn được tiêu thụ hết Đây là trường hợïp thường thấy ở các nước đang phát triễn đối với các dự án sản xuất các sản phẩm trung gian được một một doanh nghiệp bao tiêu đầu ra, hoặc cung cấp sản phẩm cho xí nghiệp nước ngoài theo hợp đồng đặt hàng dài hạn Tuy nhiên các dự án may mắn như trên chỉ là số

ít

Đối với dự án sản xuất sản phẩm đã có trên thị trường cần phải chứng minh được nhu cầu sản phẩm ngày càng tăng lên, khả năng phát triển của thị trường

Đối với dự án sản xuất các sản phẩm mới hoặc sản phẩm đổi mới toàn bộ hay một phần thì triễn vọng thị trường là vấn đề nan giải trong đó chi phí và thời gian cho việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ là vấn đề khó khăn Đối với các dự án này cần phải tổ chức điều tra thăm dò thị trường qua các phiếu thăm dò Trong các phiếu điều tra hai vấn đề quan trọng cần được làm rõ là thăm dò mức chất lượng sản phẩm mà người tiêu dùng yêu cầu cũng như mức gía họ có khả năng thanh toán

Nhiều dự án mặc dù đã được nghiên cứu kỹ càng về thị trường nhưng do xác định không chính xác về khu vực thị trường và khách hàng tiêu thụ đã gặp nhiều khó khăn và có thể ngừng hoạt động Ví dụ Trong những năm đầu của thời kỳ mở cửa lượng du khách và thương gia vào tham quan, thăm dò thị trường, nghiên cứu các cơ hội đầu tư… khá đông, trong khi đó lượng nhà hàng khách sạn đủ tiêu chuẫn theo yêu cầu của khách nước ngoài còn khan hiếm Trước triễn vọng thị trường hấp dẫn như vậy, các năm 1989, 1990, 1991, 1992 nhiều dự án nhà hàng, khách sạn tiêu chuẫn quốc tế được xây dựng nhằm chờ đón các du khách, thương gia sang trọng từ nước ngoài Song thực tế không như dự kiến Thành phần du khách trên thế giới đã có nhiều biến đổi Khách du lịch ba lô đến Việt Nam nhiều hơn so với khách thương gia Thị hiếu của du khách cũng có nhiều thay đổi Họ thích du lịch kiểu dân dã để ngắm cảnh thiên nhiên, tìm hiểu phong tục tập quán dân địa phương hơn là ở trong phòng lạnh đầy đủ các tiện nghi mà họ đã quá quen thuộc Trong tình hình đó việc tất yếu sẽ xãy ra là cung về dịch vụ khách sạn nhà hàng tăng quá nhanh so với mức tăng của cầu Trong những năm 1996, 1997, 1998 các khách sạn chỉ hoạt động chưa đến 50% công suất, nhiều khách sạn phải chuyển các phòng trọ thành những dịch vụ khác Giá phòng trọ giảm trên dưới 50% mà vẫn không giải quyết được khó khăn Trong khi đó ngược lại, các gia đình có phòng trọ cho thuê với gía bình dân vẫn tồn tại và phát triễn được trong điều kiện cạnh tranh gay gắt

Trang 27

Trong phân tích khu vực thị trường điều quan trọng là phải nghiên cứu chính xác giới hạn địa dư của thị trường Đó là thị trường địa phương hay thị trường của toàn nền kinh tế; thị trường trong nước hay ở ngoài nước Vì khi giới hạn địa dư của thị trường thay đổi có thể làm thay dổi nhu cầu, thị hiếu về sản phẩm; thay đổi chi phí phát sinh như: chi phí vận chuyển…Mặt khác, có thể do dự án áp dụng công nghệ mới làm giảm chi phí sản xuất, hoặc áp dụng phương tiện vận chuyển mới làm giảm chi phí chuyên chở… những yếu tố này làm cho khu vực thị trường dự án dự định tiêu thụ có những tính toán và quyết định khác với các doanh nghiệp cạnh tranh khác, và do đó giới hạn địa dư lựa chọn cho dự án cũng khác với doanh nghiệp cạnh tranh khác trên thị trường

Ngoài ra khi lựa chọn thị trường phải tính đến các yếu tố khác như tập quán, tâm lý tiêu dùng, mức thu nhập tại địa phương…Các yếu tố này xác định thái độ của người tiêu dùng đối với sản phẩm của dự án, và đôi khi chúng trở nên rất quan trọng có thể quyết định sự thành công hay thất bại của một dự án

Trong thực tế nhiều dự án muốn đảm bảo vững chắc khả năng thành công cần thiết phải xác định rõ địa chỉ cụ thể của khách hàng tiêu thụ sản phẩm của dự án

Ở giai đoạn này, cần phải đưa ra các lập luận và dữ kiện dự kiến cho các vấn đề nêu trê để nâng cao tính tin cậy của dự án Chủ dự án cũng cần chứng minh các nguồn thông tin đã nêu ra: các tổ chức và tên những người đối thoại để liên lạc và cả số lượng khách hàng đã phỏng vấn

2.2.2.2 Phân tích quy mô thị trường sản phẩm của dự án :

A Phân tích quy mô thị trường hiện tại :

Phân tích quy mô thị trường hiện tại của dự án nhằm trả lời cho câu hỏi thứ hai

Quy mô thị trường hiện tại là mức tiêu thụ sản phẩm đồng loại (hoặc thay thế) với sản phẩm của dự án trên thị trường trong hoặc ngoài nước ở thời điểm hiện tại

A1 Nghiên cứu quy mô thị trường hiện tại trong nước :

Nếu sản phẩm của dự án là sản phẩm hiện đã được các doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ trên thị trường thì quy mô thị trường hiện tại trong nước được tính như sau:

Trang 28

Yht = Ysx + Ynk - Yxk (3.1)

Trong đó:

 Y ht : Quy mô thị trường hiện tại

 Ysx : Khối lượng hàng đồng loại với sản phẩm của dự án sản xuất

trong nước ở thời điểm hiện tại

 Y nk : Khối lượng hàng đồng loại với sản phẩm của dự án nhập khẩu

kể cả nhập khẩu không hợp lệ

 Y xk : Khối lượng hàng đồng loại với sản phẩm của dự án xuất khẩu

kể cả xuất khẩu không hợp lệ

Để cho việc phân tích thêm chặt chẽ và có cơ sở số liệu cho việc dự báo nhu cầu tương lai cần phân tích thêm các số liệu trong quá khứ để dễ dàng nhận thấy xu hướng phát triễn và xu thế tiêu thụ của dân chúng với sản phẩm dự định sản xuất

Nếu sản phẩm của dự án dự định sản xuất là sản phẩm lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường thì cần nghiên cứu diễn biến thị trường tại những nước liên quan Có thể đó là những nước có điều kiện kinh tế xã hội có nhiều nét tương đồng hoặc nước có nền kinh tế phát triễn hơn chúng ta một chút đã sản xuất và tiêu thụ sản phẩm này Ví dụ dự án sản xuất máy vi tính tại Việt Nam nhất thiết phải nghiên cứu việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm này tại các nước đi trước chúng ta như: Thái Lan, Indonexia, Mã lai…Đặc biệt nghiên cứu diễn biến cạnh tranh sản phẩm nội địa với sản phẩm nhập khẩu và thị hiếu tiêu dùng của dân cư

Nếu sản phẩm dự định sản xuất là sản phẩm nhằm thay thế hoặc cạnh tranh với một sản phẩm thay thế khác - như gạch Cremit sẽ gặp sự cạnh tranh của gạch Bông – chúng ta cần phải phân tích nhu cầu thị trường sản phẩm cạnh tranh với sản phẩm của dự án và xem xét đánh giá diễn biến phát triễn thị trường, diễn biến cạnh tranh… của các sản phẩm này trên thị trường của các nước tương ứng

Nếu sản phẩm dự định sản xuất là các sản phẩm trung gian dùng làm nguyên liệu đầu vào cho việc sản xuất các sản phẩm khác Trong trường hợp này chúng ta cần phân tích diễn biến thị trường cung cầu sản phẩm của các doanh nghiệp sử dụng mặët hàng của dự án làm nguyên liệu Ví dụ khi lập một dự án sản xuất phân bón nhất thiết phải phân tích diễn biến thị trường trong hiện tại và tương lai của các loại cây trồng, xu hướng phát triễn nông nghiệp trong khu vực thị trường dự án dự định cung ứng

Trang 29

Việc phân tích cung cầu thị trường sản phẩm dự án dự định sản xuất cần lưu ý đến các tác động do các chính sách điều tiết vĩ mô của nhà nước, tác động của độc quyền… làm sai lệch cung cầu thực sự Như chính sách bảo hộ hàng nội địa sẽ làm giới hạn nhu cầu nhập khẩu nên chưa cho thấy mức cầu thực sự của dân chúng Hay do độc quyền làm giá hàng hoá qúa cao, chúng ta phải phân tích nhu cầu thực sự khi giá gỉam ở mức phải chăng…

A2 Nghiên cứu quy mô thị trường hiện tại ở nước ngoài :

Hiếm khi có dự án mà thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu có tầm quang trọng như nhau Thường người ta chỉ chú trọng đến một trong hai thị trường – hoặc thị trường xuất khẩu hoặc thị trường nội địa Dự án sản xuất sản phẩm xuất khẩu là dự án luôn được chính phủ của nhiều quốc gia khuyến khích Thị trường xuất khẩu có nhiều điểm khác hẵn với thị trường nội địa nên cần phải có sự phân tích riêng lẽ, kỹ lưỡng nhiều mặt khác nhau

Để phân tích thị trường ngoài nước cần phải nắm vững những thông tin về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đó trên toàn cầu, đặc biệt là những thông tin về thị trường, thông tin về cạnh tranh ở khu vực thị trường sản phẩm dự án dự định cung ứng

Một dự án sản xuất sản phẩm xuất khẩu chỉ có thể thành công ở thị trường nước ngoài khi có những ưu thế nhất định Ở các nước đang phát triễn những ưu thế đó thường là những ưu thế về giá thành nhờ những ưu thế về nguyên liệu, nhân công, nhiên liệu…Ví dụ như các dự án chế biến gạo xuất khẩu dựa trên ưu thế về giá nguyên liệu đầu vào là lúa thu mua của nông dân trong nước rất rẻ do điều kiện thiên nhiên ở Việt nam rất thuận lợi cho việc trồng lúa Mặt khác, nhờ chi phí nhân công ở Việt Nam rất rẻ so với nhiều nước khác trong khu vực

Ngoài những ưu thế từ giá thành, các dự án sản xuất sản phẩm xuất khẩu còn được hưởng những ưu thế như quy chế ưu đãi đầu tư dưạ trên chính sách khuyến khích đầu tư của chính phủ nước sở tại, như luật khuyến khích đầu tư nước ngoài tại Việt Nam … Mặt khác, ưu thế cũng có thể có được là nhờ dự án đặt tại địa điểm gần thị trường tiêu thụ hơn so với các doanh nghiệp khác nên chi phí chuyên chở thấp.v.v

Do vậy, khi nghiên cứu thị trường ngoài nước các dự án xuất khẩu đều phải phân tích thật kỹ những ưu thế mà mình có, đặc biệt là ưu thế về giá thành và so sánh nó với những dự án cùng loại ở nước ngoài

Trang 30

Một dự án có ưu thế về giá thành bao giờ cũng dễ dàng tìm được thị trường dù đó là thị trường trong nước hay xuất khẩu Những dự án như vậy thường không sợ những de doạ từ sự cạnh tranh hoặc đã xây dựng được nền móng vững chắc trước khi cạnh tranh trở thành mối nguy cơ đe doạ Và như vậy nếu không có sự bảo vệ của hàng rào quan thuế hay sự gíup đỡ khác của nhà nước các dự án này cũng rất vững vàng

Ngược lại các dự án không có những ưu thế về giá thành thường gặp đe doạ của sự cạnh tranh và có nhiều nguy cơ thất bại Nếu các dự án này dựa trên những ưu thế khác như sự trợ giúp của nhà nước, sự bảo hộ của hàng rào thuế quan…thì cũng rất bấp bênh vì các ưu thế này thường không được duy trì quá lâu Hiện nay các dự án sản xuất các sản phẩm nằm trong danh mục giảm thuế khi việt nam gia nhập AFTA vào năm 2003 sẽ mất những ưu thế này và đứng trước nguy cơ cạnh tranh gay gắt với những doanh nghiệp nước bạn có những ưu thế hơn hẵn về chất lượng, về giá thành, về trình độ tổ chức phân phối…

Việc nghiên cứu thị trường ngoài nước về cơ bản cũng dựa trên những nguyên tắc như nghiên cứu thị trường trong nước Tuy nhiên cần phải lưu ý những vấn đề sau :

Thứ nhất là những chi phí vận chuyển chuyên chở, chi phí trong thanh toán, bảo hiểm

Thứ hai là những rủi ro có thể gặp do những thể chế nhập khẩu của nước ngoài, thuế quan, định mức nhập khẩu (quota), tỷ giá hối đoái dùng trong thanh toán…

Thứ ba là vấn đề cạnh tranh với những nhà sản xuất ở nước sở tại và những nhà sản xuất ở nước khác về sản phẩm đồng loại cũng như sản phẩm thay thế

B Phân tích quy mô thị trường tương lai của sản phẩm của dự án

B1 Nội dung và yêu cầu dự báo nhu cầu thị trường tương lai cho dự án :

Quy mô thị trường tương lai sản phẩm của dự án là lượng sản phẩm đồng loại của dự án dự kiến sẽ được tiêu thụ ở tương lai trong nước và xuất khẩu

Nghiên cứu xong về thị trường qúa khứ và hiện tại của dự án chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu thị trường tương lai Thị trường tương lai của dự án

Trang 31

có thể thay đổi nhiều so với hiện tại do nhiều yếu tố khác nhau tác động, do bối cảnh kinh doanh, nhu cầu thị trường thay đổi… theo hướng có lợi hoặc bất lợi cho dự án Vì vậy cần phải dự báo nhu cầu tương lai và những yếu tố có thể tác động đến việc tiêu thụ sản phẩm của dự án nhằm nắm bắt được thời cơ hoặc quản lý hay phòng chống được những rủi ro có thể

Qúa trình thực hiện dự báo cho thị trường tương lai cần dựa trên những giả thiết khác nhau Gỉa thiết thứ nhất là giả thiết về sự tăng trưởng của thị trường dựa trên xu hướng phát triễn của thị trường quá khứ vá hiện tại; Giả thiết thứ hai là sản phẩm của dự án có thể ngày dược sử dụng rộng rãi hơn do có tác dụng thay thế cho những sản phẩm khác bởi vì nó tốt hơn hoặc giá cả rẽ hơn Giả thiết thứ ba là sản phẩm có những công dụng mớiø nên nhu cầu về sản phẩm sẽ tăng lên Ngoài các giả thiết cơ bản này nhiều giả thiết khác tùy theo từng dự án được đặt ra và phân tích rõ để thấy được khuynh hướng, hay diễn biến của thị trường

Về nội dung cụ thể, việc dự báo cần làm rõ về số lượng và giá cả hàng bán ra; Dự báo khả năng cạnh tranh với các nhà sản xuất trong và ngoài nước, khả năng thâm nhập thị trường; xác định hướng lựa chọn, phát triễn thị trường tương lai cho dự án

Việc dự báo trên phương diện lý thuyết là phải tính toán hàng năm cho các năm trong vòng đời dự án Tuy nhiên, đối với những dự án vòng đời khá dài nên có thể tính theo từng giai đoạn từ 10 đến 15 năm, song cần tính toán cụ thể cho từng năm cho đến khi dự án đi vào sản xuất ổn định

Hiện nay có khá nhiều các phương pháp dự báo khác nhau, song mỗi phương pháp có phạm vi tác dụng, phù hợp cho từng đối tượng cụ thể, cho nên lựa chọn phương pháp dự báo phù hợp là một yêu cầu cơ bản trong công tác dự báo thị trường cho dự án

B2 Các yếu tố tác động đến dự báo nhu cầu :

Việc xác định các giả thiết cần dựa trên sự phân tích tác động của những yếu tố khác nhau đến nhu cầu thị trường Thường được chia làm hai nhóm: Nhóm thuộc môi trường nội bộ hay môi trường bên trong Nhóm thuộc môi trường bên ngoài

a Nhóm yếu tố thuộc môi trường bên trong:

Bao gồm các yếu tố :

- Chất lượng thiết kế sản phẩm

Trang 32

- Cách thức phục vụ khách hàng

- Chất lượng sản phẩm

- Giá bán

b Nhóm yếu tố thuộc môi trường bên ngoài:

b1 Nhóm yếu tố thị trường :

Bao gồm các yếu tố:

- cảm tình của người tiêu dùng đối với sản phẩm

- Số lượng dân cư

- Sự cạnh tranh trên thị trường khu vực

- Các yếu tố khác

b.2 Nhóm yếu tố thuộc môi trường kinh tế:

Bao gồm các yếu tố:

- luật pháp

- Tình trạng của nền kinh tế

- Chu kỳ kinh tế

Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài là những yếu tố mà doanh nghiệp khó có thể kiểm soát được Tuy nhiên ,doanh nghiệp cần nắm vững khi tiến hành dự báo, vì chúng có thể tạo cho doanh nghiệp cơ hội hoặc rủi ro

2.2.2.3 Phân tích khả năng Thỏa mãn nhu cầu thị trường và khả năng

chiếm lĩnh thị trường của dự án:

A Phân tích khả năng cung ứng và các doanh nghiệp cạnh tranh:

Sau khi dự báo nhu cầu thị trường và tiên đoán được khả năng phát triễn thị trường, cần phải xác định dự án có khả năng đáp ứng nhu cầu đó trong hiện tại và tương lai trên thị trường Do vậy cần phải nghiên cứu kỹ các nhà cạnh tranh

Trứơc hết đó là các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm đồng loại với sản phẩm của dự án trên thị trường cũng như các dự án sản xuất sản phẩm tương tự

đã và sẽ xuất hiện trong tương lai Việc nghiên cứu các doanh nghiệp hiện tại và

tương lai này cần phải liệt kê và xem xét kỹ càng trên các mặt như: tên doanh nghiệp, địa chỉ,công suất máy móc thiết bị, trình độ công nghệ, loại máy móc thiết bị sử dụng, cách thức tổ chức quản lý, chiến lược phát triễn, cách thức tổ chức bán hàng, khả năng vốn đầu tư, tình trạng tài chính, điểm mạnh, điểm yếu, sự thay đổi gần đây nhất và nhiều vấn đề khác nữa

Thứ hai, Phân tích tình hình sản xuất các sản phẩm thay thế cạnh tranh với sản phẩm của dự án trên thị trường trong hiện tại và tương lai

Trang 33

Thứ ba, Liệt kê và phân tích những sản phẩm đồng loại nhập khẩu trong những năm vừa qua, những sản phẩm thay thế có khả năng nhập khẩu, phân tích những thuận lợi và trở ngại trong hoạt động của những doanh nghiệp này về số lượng nhập, chất lượng sản phẩm nhập khẩu…phân tích những vấn đề khác như: chế độ bảo hộ mậu dịch hiện hành đối với sản phẩm, hàng rào thuế quan …

Thứ tư, phân tích khả năng quản lý cửa khẩu, quản lý hàng nhập lậu đối với sản phẩm đồng loại hay sản phẩm thay thế sản phẩm của dự án nhập khẩu

Khi phân tích các doanh nghiệp này cần kết hợp với phân tích vùng thị trường của doanh nghiệp đó, vì vùng thị trường của một doanh nghiệp sẽ bị giới hạn bởi chi phí vận chuyển sản phẩm Thông thường thị trường càng xa nhà máy thì chi phí vận chuyển càng cao

B Phân tích thị phần dự án chiếm lĩnh:

Sau khi xác định được mức tiêu thụ hiện tại và dự báo được nhu cầu thị trường cho các năm ở tương lai, dựa trên quy mô của dự án ta có thể dự kiến đưọc khối lượng sản phẩm mà dự án có thể sản xuất hàng năm trên cơ sở đó có thể tính được khả năng chiếm lĩnh thị trường như sau :

Khối lượng sản phẩm Khối lượng sản phẩm dự định sản xuất – dự định xuất khẩu Khả năng (năm tính toán) (năm tính toán)

thị trường(%) Mức tiêu thụ hàng năm (năm tính toán)

Thông qua phân tích khả năng chiếm lĩnh thị phần của dự án sẽ cho chúng ta thấy vị thế cạnh tranh của dự án trên thị trường

2.2.2.4 Các yếu tố khác:

Ngoài các yếu tố trên các yếu tố quan trọng khác cần làm rõ khi phân tích tính hiện thực của thi trường:

 Sự biến động của thị trường từ 3-5 năm gần đây và xu thế của nhu cầu

 Các loại và đặc tính của khách hàng

 Khối lượng tiêu dùng

 Khối lựơng của thị trường tiềm tàng

 Thị trường và khách hàng tiêu thụ sản phẩm của dự án có đủ triễn vọng đáp ứng sự phát triễn của sản phẩm trong tương lai hay không

 Các đối thủ cạnh tranh

Trang 34

 Chính sách kinh doanh của các đối thủ cạnh tranh

 Các đặc tính sản phẩm của họ: giá, chất lượng, ưu điểm

 Vị trí của sản phẩm, của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh

2.2.3 Phân tích kế hoạch marketing hổn hợp:

Kế hoạch marketing hổn hợp là sự bổ sung cần thiết của nghiên cứu thị trường Kết quả của nghiên cứu thị trường cho phép nhà sáng nghiệp xác định chính sách và mục tiêu của bán hàng Tuy nhiên, chủ dự án phải xác định các phương tiện để thực hiện chính sách và đạt mục tiêu bán hàng đã ấn định; nói cách khác, phải thiết lập kế hoạch Marketing hỗn hợp Đó là các chính sách: sản phẩm, giá, phân phối, truyền thông và lực lượng bán hàng Mỗi yếu tố của Marketing hỗn hợp đều có liên quan chặt chẽ với yếu tố còn lại

2.2.3.1 Chính sách sản phẩm

Chủ dự án cần phải phân tích sự tiến triển và đòi hỏi của thị trường để có chính sách cần thiết đáp ứng thường xuyên cho yêu cầu của khách hàng

 Định vị sản phẩm, có nghĩa là tất cả những gì cho phép phân biệt sản phẩm này với sản phẩm cạnh tranh trong tâm trí người tiêu thụ

 Gom sản phẩm do doanh nghiệp bán

 Chính sách thương mại và sản phẩm cạnh tranh

 Phản hồi của người tiêu thụ và người phân phối

 Bao bì, đóng gói sản phẩm

 Dịch vụ bảo hành gắn liền với sản phẩm (nhất là dịch vụ sau bán hàng)

 Những đặc trưng khác của sản phẩm: kiểu dáng, chất lượng, dễ sử dụng…

2.2.3.2 Chính sách giá

Aán định giá là một yếu tố cơ bản của chiến lược doanh nghiệp, nó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh Khi xác định chính sách giá cần phải xem xét những nhân tố sau:

 Giá của nhà cạnh tranh

Nhằm mục đích đối đầu với cạnh tranh, doanh nghiệp có thể có một trong những chiến lược sau:

 Chiến lược giá nhằm thâm nhập thị trường: theo chiến lược này giá được xác định thấp hơn giá của nhà cạnh tranh để thâm nhập thị trường qua việc mở rộng thị phần

 Chiến lược giá nhằm chắt lọc thị trường: theo chiến lược này giá được xác định cao hơn giá cạnh tranh nhằm mục đích nâng cao lợi nhuận

 Doanh nghiệp mới thành lập không nên áp dụng chiến lược này

Trang 35

 Chiến lược giá thích nghi: doanh nghiệp ấn định giá theo khung giá của các doanh nghiệp cạnh tranh

 Đó là trường hợp nhà sáng nghiệp muốn đạt mục tiêu an toàn

 Mối quan hệ giữa cầu với giá: Mối quan hệ này có tính đến

 Mức độ co giãn cầu theo giá, là sự thay đổi cuả cầu khi giá biến động+ 1%

 Giá chấp nhận Giá được xác định trên cơ sở phân tích ý kiến trả lời của khách hàng tiềm năng với những câu hỏi sau:

Ơû mức độ giá thấp nào, anh(chị) sẽ nghĩ rằng sản phẩm có chất lượng thấp?

Ơû mức độ giá cao nào, anh(chị) sẽ nghĩ rằng sản phẩm này quá đắt?

 Tính giá thành sản phẩm

Tiến trình và yếu tố hình thành nên chi phí và giá bán được thể hiện sau: Phân tích giá thành sản phẩm

Phân tích giá bán cho nhà bán buôn

Phân tích giá bán cho công chúng

CHI PHÍ NHẬP HÀNG

GIÁ THÀNH SẢN XUẤT

GIÁ MUA

CHI PHÍ MUA HÀNG

GIÁ THÀNH SẢN XUẤT

GIÁ THÀNH SẢN XUẤT CHI PHÍ PHÂN PHỐI CHI PHÍ HÀNH CHÍNH

GIÁ VỐN

GIÁ BÁN CHO NHÀ B/BUÔN

LÃI CỦA D/NGHIỆP

+

GIÁ BÁN CHO NHÀ BÁN BUÔN LÃI CỦA NHÀ BÁN BUÔN

LÃI BÁN CHO NHÀ BÁN LẺ LÃI CỦA NHÀ BÁN LẺ

GIÁ BÁN LẺ (chưa VAT) THUẾ V.A.T

+

+

+

Trang 36

Khi định giá bán phải tính đến tất cả các yếu tố có ảnh hưởng đến giá Ngoài ra, giá bán có thể thay đổi theo thời gian, theo mùa, theo từng trường hợp như giá khuyến mãi, giá giảm cho khách hàng mua khối lượng lớn, giá thấp cho khách hàng trả tiền mặt thay vì trả chậm, trả góp, v.v…

2.2.3.3 Chính sách phân phối

Kênh phân phối sản phẩm là một yếu tố khá quan trọng hoạt động kinh doanh Chọn kênh phân phối mà sản phẩm đến tay khách hàng

Nhà sáng nghiệp thường đứng trước sự lựa chọn hai vấn đề sau:

 Đảm bảo kênh phân phối ngắn (không qua trung gian) từ đó kiểm soát tốt hơn hoạt động phân phối sản phẩm;

 Kênh phân phối dài, có sự tham gia trung gian, cho phép tiếp thị tốt hơn nhưng kiểm soát hoạt động phân phối khó hơn

Nhà sáng nghiệp chọn trong những chiến lược phân phối sau:

 Chiến lược phân phối mở rộng bao gồm nhiều điểm bán

 Chiến lược phân phối chọn lọc gồm một số điểm bán

 Chiến lược phân phối chọn lọc dựa trên những nhà bán lẻ chuyên doanh

Hai loại chiến lược phân phối sau, nhìn chung, phù hợp với doanh nghiệp ở giai đoạn khởi động hoạt động

2.2.3.4 Chính sách truyền thông

Chính sách truyền thông được thể hiện bằng toàn bộ các phương tiện hổ trợ để thông tin về doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh Các phương tiện hỗ trợ này bao gồm:

 Chính nhà sáng nghiệp là người thông tin về doanh nghiệp và sản phẩm của mình;

 Lực lượng bán: những người đại diện, người bán hàng của doanh nghiệp;

 Những nhà trung gian: nhà phân phối, nhà cung cấp,…

 Chính khách hàng của doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm đến bạn bè của họ;

 Phương tiện thông tin đại chúng nhằm kéo khách hàng đến với sản phẩm (action pull);

 Bán hàng tận nhà;

Ngày đăng: 23/04/2014, 15:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tóm tắt xác định kế hoạch tiêu thụ: - tài liệu tham khảo thẩm định dự án đầu tư
Sơ đồ t óm tắt xác định kế hoạch tiêu thụ: (Trang 42)
Bảng tính nhu cầu nguyên vật liệu, bán thành phẩm: - tài liệu tham khảo thẩm định dự án đầu tư
Bảng t ính nhu cầu nguyên vật liệu, bán thành phẩm: (Trang 44)
Bảng phân tích các công việc thực hiện dự án: - tài liệu tham khảo thẩm định dự án đầu tư
Bảng ph ân tích các công việc thực hiện dự án: (Trang 59)
Hình thức này có ưu điểm là phát huy được ưu điểm của cả hai cấu  trúc chuẫn – trực tuyến và chức năng - tài liệu tham khảo thẩm định dự án đầu tư
Hình th ức này có ưu điểm là phát huy được ưu điểm của cả hai cấu trúc chuẫn – trực tuyến và chức năng (Trang 66)
Đây  là  kiểu  quản  lý  vận  dụng  kết  hợp  2  hình  thức  quản  lý  trên,  trong đó các chủ nhiệm dự án chịu trách nhiệm chung, các phòngban quản  lý từng mặt của dự án - tài liệu tham khảo thẩm định dự án đầu tư
y là kiểu quản lý vận dụng kết hợp 2 hình thức quản lý trên, trong đó các chủ nhiệm dự án chịu trách nhiệm chung, các phòngban quản lý từng mặt của dự án (Trang 67)
Hình cấu trúc trực tuyến chức năng: - tài liệu tham khảo thẩm định dự án đầu tư
Hình c ấu trúc trực tuyến chức năng: (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w