So sánh khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu và năng suất của một số giống lạc có triển vọng trong vụ xuân năm 2008 trên đất bạc màu Vịêt Yên - Bắc Giang
Trang 1Lời cảm ơn
Trong thời gian thực tập tốt nghiêp tại trường CĐ Nông Lâm, ngoài
sự cố gắng của bản thân, tôi luôn nhận được sự quan tâm hướng dẫn và chỉ bảo của:
Th.S Nguyễn Thị Mỹ Yến (giáo viên khoa trồng trọt - trường CDNL Bắc Giang) đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khoá luận này.
Thầy giáo Lê Thanh Hải (giáo viên khoa sư phạm kỹ thuật - Trường CDNL Bắc Giang) đã giúp tôi hiểu biết về cây lạc và nhiều kinh nghiệm, thông tin liên quan khi tiến hành nghiên cứu đề tài.
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất!
Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành tới:
Các thầy cô giáo trong khoa, nhà trường luôn giúp đỡ và tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi tiến hành nghiên cứu đề tài.
Gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Bắc Giang, ngày 12 tháng 06 năm 2008
Sinh viên
Trang 2- 33,7% chất đạm, 2 - 4,3% chất xơ và 1,8 - 4,6% chất khoáng Đặc biệt cácloại đạm trong lạc có nhiều đạm dễ tiêu như amin, chất đường bột trungbình 15% Ngoài ra trong lạc còn chứa nhiều loại vitamin quý nhưVitaminA, B1, B2, B6, PP…có vai trò rất lớn trong việc chữa bệnh như cácbệnh về tim mạch Do có nhiều thành phần dinh dưỡng và cung cấp nănglượng lớn (trong 100g lạc cung cấp 590 calo trong khi đó đậu tương chỉcung cấp 411 calo, thịt lợn nạc 286 calo, trứng vịt 189 calo) nên lạc có thểthay thế một phần thịt trong bữa ăn hằng ngày và là nguồn cung cấp chủyếu chất béo, chất đạm cho người có chế độ ăn kiêng Lạc có thể dùng
để ăn dưới nhiều hình thức như luộc, rang, làm nhân bánh, làm kẹo, làmgiá…ngoài ra còn được làm dưới dạng bơ lạc đóng hộp
Không những là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, lạc còn lànguyên liệu quan trọng trong công nghiệp chế biến Dầu lạc dùng để chếbiến thức ăn thay thế cho mỡ là loại thực phẩm dễ gây ảnh hưởng đến sứckhoẻ con người Dầu lạc còn được dùng đóng hộp với rau cá; dầu lạc tinhchế được dùng để chế biến nhiều loại dược phẩm y tế và thú y, chế biến một
số loại mỹ phẩm, trang sức Dầu lạc có nhiệt độ đông đặc ở -50C nên có thểdùng làm dầu bôi trơn máy mọc, trục xe, động cơ Ngoài ra dầu lạc còndùng để chế biến xà phòng Vỏ quả có nhiều chất xơ dùng làm chất đốt, chếbiến sợi nhân tạo, ủ lên men để chế biến rượu
Bên cạnh những giá trị trên thì khô dầu lạc và các bộ phận của câylạc còn được dùng làm thức ăn tinh cung cấp chất đạm cho gia súc (vì trongkhô dầu lạc còn chứa 47% chất đạm, 24 - 26% chất đường bột, 6 - 7% chấtbéo), 425kg khô dầu có thể làm tăng trọng 100kg thịt Vỏ lạc, thân lá làmthức ăn tốt cho đại gia súc (theo nghiên cứu cây lạc chứa đến 47% chất
Trang 3đường bột, 11,5% chất đạm, 1,8% chất béo, tính theo trọng lượng chất khô).Thân lá lạc làm phân xanh bón cho đất rất tốt (tỷ lệ N trong thân lá lạc caohơn phân chuồng 2,5 lần; tỷ lệ lân cao hơn 1,1 lần; kali 0,92 lần).
Cây lạc còn là cây có ý nghĩa rất lớn đối với việc cải tạo, bảo vệ đất.Lạc có bộ rễ phát triển và ăn sâu vào đất Đặc biệt trên rễ lạc có nhiều nốtsần có khả năng hút đạm tự do trong không khí, giữ lại và cung cấp cho đất.Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, lượng đạm cố định của lạc cóthể đạt 70 - 110kg/ha/vụ Vì vậy sau khi thu hoạch rễ cây lạc để lại cho đấtmột lượng đạm khá lớn Ngoài ra còn có vai trò bảo vệ đất chống xói mònlàm tăng độ phì nhiêu của đất, tăng vụ ở tất cả các vùng từ đồng bằng đếntrung du, miền núi
Hiện nay ở nước ta tiềm năng mở rộng diện tích và khả năng thâmcanh nâng cao năng suất cây lạc còn nhiều Nhất là trong giai đoạn hiện naynhu cầu về sử dụng lạc tăng lên lớn Với vai trò là một trong những câytrồng mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế, cải tạo đất và tăng thunhập cho người dân Nhưng năng suất lạc vẫn chưa tương xứng với năngsuất tiềm năng của các giống; năng suất lạc còn phụ thuộc rất lớn vào nhiềuyếu tố ngoại cảnh khác nữa Một trong những yếu tố quyết định đến năngsuất đó là điều kiện tự nhiên nơi sản xuất
Việt Yên - Bắc Giang là vùng có tiềm năng lớn để sản xuất lạc đemlại hiệu quả kinh tế cao nhưng việc mở rộng diện tích, năng suất vẫn còn bịhạn chế do thời vụ, giống, thổ nhưỡng đất… đặc biệt là đất có ảnh hưởng rấtlớn Chính vì vậy để khắc phục được điều đó, tìm ra được giống phù hợp với
điều kiện của vùng, đem lại hiệu quả sản xuất cao chúng tôi tiến hành thựchiện đề tài:
So sánh khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu và năng suất của một số giống lạc có triển vọng trong vụ xuân năm 2008 trên đất bạc màu Vịêt Yên - Bắc Giang
II Mục đích- yêu cầu của đề tài
1 Mục đích
Đánh giá chọn ra được một gịống có khả năng sinh trưởng và phát triển tốtcho năng suất cao phù hợp với điều kiện đất bạc màu Việt Yên- Bắc Giangtrong vụ xuân 2008
Trang 42 Yêu cầu
- Theo dõi một số đặc điểm hình thái và đánh giá khả năng sinh
trưởng, phát triển của một số giống lạc nghiên cứu
- Xác định khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt, héo xanh và điều kiệnngọai cảnh bất lợi của các giống lạc
- Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giốngnghiên cứu
- Chọn ra được giống lạc phù hợp nhất với với điều kiện của vùng.III ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1 ý nghĩa khoa học
Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp một số dẫn liệukhoa học về khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, tiềm năng năngsuất của các giống lạc nghiên cứu
2 ý nghĩa thực tiễn
Tìm ra các giống lạc có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt cho năngsuất cao, phẩm chất tốt để đưa ra sản xuất đại trà thúc đẩy sản xuất nôngnghiệp của địa phương phát triển
Trang 5Phần II Tổng quan tài liệu
I Nguồn gốc cây lạc
Nguồn gốc cây lạc được khẳng định khi Sikê (E- G Seoquier 1877)tìm thấy lạc trong những ngôi mộ cổ Ancon ở gần bờ biển Lima - thủ đôPheru Tại đây người ta đã thấy những vại bằng đất nung đựng nhiều loạithực phẩm khác nhau còn được bảo vệ tốt, trong đó có nhiều vại đựng củ lạc.Niên đại của các ngôi mộ này từ 1500 - 2000 năm trước công nguyên.Engen lại cho rằng lạc được trồng cách đây 2000 năm thuộc thời kỳ đồ gốm(Lashadas) Các nhà tự nhiên học Châu Âu biết đến cây lạc vào thế kỷ XVII.Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà sinh lý học, thực vật học đã mô tảchính xác tỉ mỉ đặc điểm của hoa, lá và hạt của cây lạc Năm 1742, trạmBaple Stelabat đã đưa ra một bảng mô tả cây lạc và ghi một danh sách cácthực phẩm làm nguyên liệu trong đó có cây lạc Ngoài cách dùng làm thựcphẩm thông thường lạc còn làm xà phòng, dầu thắp đèn Tất cả các nhàthực vật học, tự nhiên học Châu Âu đều thừa nhận nguồn gốc cây lạc ởChâu Mỹ và từ đó đưa sang những vườn thực vật ở Châu Âu Những bằngchứng khảo cổ học, dựa trên sự phân tích tỷ số cacbon ở thung lũngChicama (Pêru) cho biết cây lạc đã có khoảng 1500 - 2000 năm trứơc côngnguyên Người Tây Ban Nha tìm thấy lạc là một trong 40 loại thực phẩmcủa nước này Và vào thế kỷ thứ XVI những thổ dân Châu Mỹ vùng thượngParagoay đã trồng lạc như một loại rau chính
Những bằng chứng trên đã khẳng định Nam Mỹ là cái nôi của lạc vàlạc được phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới cùng với thời giankhám phá ra Châu Mỹ Sau đó lạc được phổ biến sang Châu Âu, tới vùngbiển Châu Phi, Châu á rồi tới quần đảo Thái Bình Dương và cuối cùng tới
đông nam Hoa Kỳ
Tuy lịch sử trồng trọt của cây lạc trên thế giới so với nhiều loại câytrồng khác là chưa lâu, chỉ mới 3 - 4 trăm năm nhưng cây lạc phát triển rấtnhanh, diện tích trồng lạc được mở rộng vượt xa các loại đậu đỗ khác
Hiện nay lạc được trồng trên 100 nước với giới hạn từ 40 vĩ độ Bắc
Trang 6đến 40 vĩ độ Nam Năm 1994, Uỷ ban quốc tế và Quỹ gen thực vật đã điềutra ở Nam Mỹ và thống kê được 1438 dạng lạc trồng và 340 loài hoang dại.
II Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc trên thế giới.
1 Tình hình sản xuất
Cây lạc tuy đã được trồng lâu đời ở nhiều nơi trên thế giới nhưng đếngiữa thế kỷ XVIII, sản xuất lạc vẫn còn có tính tự cấp cho từng vùng Chotới khi công nghiệp ép dầu lạc phát triển mạnh, việc buôn bán lạc trở nêntấp nập và đã trở thành động lực thúc đẩy sản xuất lạc phát triển mạnh Dovậy giá trị kinh tế của cây lạc mới thực sự được xác định từ cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX và được coi là cây họ đậu có giá trị lớn
Đến những năm 50 của thế kỷ XX, diện tích trồng lạc của thế giới
đã có 10 triệu ha với tổng sản lượng là 20 triệu tấn quả lạc Vào thời kỳ đótình hình sản xuất lạc được phân bố như sau:
- Châu á sản xuất 76% tổng sản lượng của thế giới Nhiều nhất là 3nước: Trung Quốc, ấn độ, Indonexia
- Châu Phi có sản lượng chiếm 17,3% của thế giới Trồng nhiều nhất
là 2 nước Xênêgan và Nigiêria
- ở Bắc Mỹ có sản lượng chiếm 5% toàn thế giới Trong đó trồngnhiều nhất là: Hoa Kỳ, Mêhicô, Cuba
- Châu Âu có sản lượng chiếm 0,67% toàn thế giới
- Châu Đại Dương có sản lượng chiếm 0,03% toàn thế giới
- Nam Mỹ có sản lượng chiếm 0.02% toàn thế giới Nhiều nhất là 2nước Achentina, Braxin
Vào những năm 80 của thế kỷ XX, trên thế giới có 28 nước ở ChâuPhi, 15 nước Châu á, 8 nước Châu Mỹ, 2 nước Châu Âu và 1 nước Châu ĐạiDương có trồng lạc với diện tích 19.775.000 ha Năng suất lạc quả đạt trungbình 9,55 tạ/ha và tổng sản lượng 18.950.000 tấn ở thời kỳ này Châu á dẫn
đầu về diện tích và tổng sản lượng lạc Các nước dẫn đầu về năng suất lạccủa thế giới là: Ixraen (40,2 tạ/ha), Thổ Nhĩ Kỳ (27,27 tạ/ha, Hy Lạp (24,12tạ/ha), Nhật Bản (19,84 tạ/ha), Trung Quốc (12,49 tạ/ha)
Vào những năm cuối của thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI,sản lượng lạc có một số biến động Trên thế giới diện tích trồng lạc Châu ágiảm xuống, chỉ còn chiếm 60% tổng diện tích lạc thế giới; ở Châu Phi diện
Trang 7tích trồng lạc tăng lên và chiếm 30% tổng diện tích trồng lạc của thế giới.Trên 60% sản lượng lạc của thế giới thuộc về 5 nước sản xuất chính ấn Độsản xuất khoảng 31% sản lượng toàn thế giới, Trung Quốc sản xuất khoảng15% Sau đó đến Xênêgan, Nigêria, Hoa Kỳ Tình hình sản xuất lạc của cácnước trên thế giới trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng.
Bảng 1: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới (2000 - 2005)
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích(1000 ha)
Năng suất(tạ/ha)
Sảnlượng(1000 tấn)
(Nguồn: FAO STAT Database Results, 2005)
Số liệu bảng 1 cho chúng ta thấy diện tích trồng lạc của thế giới có xuhướng tăng nhưng chưa phải là nhiều Từ năm 2000 - 2001 tăng mạnh, năm
2001 so với năm 2000 tăng 2.096 triệu ha Từ năm 2001 đến 2004 diện tíchtăng không nhiều (tăng 1.146 triệu ha) Và đến năm 2005 diện tích trồnglạc thế giới giảm xuống 1.159 triệu ha so với năm 2004 Diện tích giảm donhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là ở Châu á nhiều diện tích trồng lạc
đã chuyển sang trồng đậu tương và một số cây khác
Năng suất lạc bình quần của thế giới không ổn định qua các năm donhiều nguyên nhân khác nhau trong đó nguyên nhân khí hậu, thời tiết thay
đổi thất thường, hạn hán xảy ra liên tục nhất là ở các nước Châu Phi vàChâu á
Từ năm 2001 - 2002, năng suất lạc có xu hướng giảm 14,32 tạ/ha(năm 2001) xuống 13,34 tạ/ha (năm 2002)
Năm 2003 - 2004 năng suất lạc của thế gịới có chiều hướng tăng lên0,2 tạ/ha Năm 2005, năng suất đạt 14,471 tạ/ha, tăng so với 2 năm trước
Trong thời kỳ từ những năm 50 của thế kỷ XX đến nay, năng suất lạc
ở các nước thuộc Châu Mỹ la tinh giảm 2%, các nước Viễn Đông có năng
Trang 8suất tăng 3%, các nước Cận Đông tăng 15%, các nước Bắc Mỹ tăng 47%,các nước Châu Âu tăng 60% và các nước Châu Đại Dương tăng 67% Một
số nước diện tích trồng lạc lớn nhưng năng suất tăng không nhiều, như ấn
Độ năng suất chỉ tăng 3%, Trung Quốc tăng 18%, Xênêgan tăng khoảng10% Trong khi đó năng suất lạc của Ixraen trong 20 năm (1982 - 2002)vẫn luôn ổn định đỉnh ở mức 35 tạ/ha, trên diện tích nhỏ đạt tới 65 tạ/ha).Nhiều nước có năng suất lạc bình quân cả nước trên 30 tạ/ha (như ở Mỹ,Achentina) Bên cạnh đó nhiều nước Châu Phi, Châu á năng suất chỉ đạt 5 -
6 tạ/ha Tình hình tăng năng suất ở một số nước nói lên quá trình thâm canhlạc ở các nước đó được đẩy lên cùng với những tiến bộ khoa học công nghệmới được đưa vào sản xuất
Về sản lượng lạc thế giới, thì tại hội nghị quốc tế về “khí tượng nôngnghiệp đối với cây lạc” được tổ chức tại trung tâm Vensasonac ICRISAT– Niamey - Niger từ 21- 26/3/1985, D - G Gummims nêu lên rằng: Lạc làcây trồng quan trọng của các nước nhiệt đới nửa khô hạn, chính vùng này
đóng góp 67% sản lượng lạc của thế giới Sản lượng lạc của vùng này bị hạnchế bởi những yếu tố kinh tế, xã hội, sinh học và môi trường Tương lai câylạc phụ thuộc vào kết quả nghiên cứu tìm ra giải pháp đối với những hạnchế trên và kết quả của sự chuyển giao công nghệ mới Các nước trồng lạctrên thế giới tuỳ theo điều kiện riêng của mình về cơ sở vật chất, kỷ thuật,trình độ nghiêm cứu khoa học và mục đích sản xuất mà có các công trìnhnghiên cứu và giải pháp khác nhau để nâng cao diện tích, năng suất lạc
Sản lượng lạc thế giới năm 1950 đạt 20 triệu tấn quả, đến năm 1980tổng sản lượng lạc quả là 18,901 triệu tấn và năm 2000 đạt 34,645 triệu tấn.Trong vài năm gần đây sản lượng lạc của thế giới có nhiều thay đổi, trong 2năm 2000 - 2001 sản lượng từ 34,4 triệu tấn tăng lên 36,1 triệu tấn Nhưng
từ năm 2001- 2002 lại có phần giảm sút còn 24,5 triệu tấn do diện tích vànăng suất bình quân của thế giới có sự biến động dẫn đến sản lượng lạc thếgiới cũng bị dao động Đến năm 2004 sản lượng lạc thế giới có bước tăngvọt từ 34,5 triệu tấn lên 36 triệu tấn vì diện tích lạc đang được mở rộng vànăng suất tăng lên (13,67 tạ/ha) Năm 2005 sản lượng lạc thế giới tiếp tụctăng lên 36,492 triệu tấn Nhưng niên vụ 2006 - 2007 sản lượng lạc thế giới
Trang 9chỉ đạt 32,52 triệu tấn, giảm 3,972 triệu tấn so với năm 2005 Sự giảm sảnlượng này do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu do diện tích trồng lạc đượcchuyển sang trồng một số cây đậu đỗ khác.
Nhìn chung diện tích, sản lượng trồng lạc thế giới có nhiều năm giảm
so với năm trước nhưng sự giảm đó chỉ trong một thời gian ngắn sau đó lạitiếp tục tăng trở lại Điều đó chứng tỏ cây lạc thế giới hiện nay và trongtương lai vẫn tiếp tục phát triển theo chiều hướng tốt bởi nhu cầu sử dụng vànhập khẩu ngày một tăng đã khyến khích nhiều nước trên thế giới đầu tưsản xuất với quy mô ngày càng mở rộng
1.1 Tình hình sản xuất lạc của một số nước trên thế giới
Cây lạc được trồng trên khắp thế giới, rải rác ở Châu Mỹ, Châu Âu,Châu úc song tập trung ở Châu á và Châu Phi Châu á đứng đầu cả về diệntích và sản lượng (chiếm 63,17% về diện tích), tiếp theo là Châu Phi chiếm30% còn lại là các châu lục khác
Vùng sản xuất chính của thế giới là vùng nhiệt đới và á nhiệt đới củaChâu á và Châu Phi Trong đó 60% sản lượng lạc thế giới thuộc về 5 nướcsản xuất chính ấn Độ sản xuất khoản 31% sản lương thế giới, Trung Quốckhoản 15%, còn lại là Xênêgan, Nigiêria, Hoa Kỳ Năng suất bình quân củacác nước sản xuất lạc cũng chênh lệch lớn Trung Quốc đạt năng suất khá29,9 tạ/ha, Mỹ đạt 28 tạ/ha riêng Xênêgan có diện tích trống lạc lớn gần 1triệu ha, chiếm trên 50% diện tích canh tác của toàn nước này
Trang 10Bảng 2: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của một số nước trên thế giới.
Trung Quốc 4,99 5,0 5,1 2,89 2,98 2,96 14,42 14,9 15,1Nigeria 1,22 1,23 1,22 1,22 1,23 1,23 1,49 1,51 1,51Serregal 0,92 0,75 0,8 0,98 0,35 0,56 0,9 0,26 0,45Indonexia 0,65 0,65 0,65 1,59 1,59 1,6 1,03 1,04 1,04Myanma 0,59 0,58 0,59 1,25 1,21 1,2 0,73 0,7 0,71Sudan 0,55 0,55 0,55 0,67 0,67 0,67 0,37 0,37 0,37Việt Nam 0,24 0,25 0,25 1,46 1,51 1,67 0,35 0,37 0,4
(Nguồn Foreign Agricultural Service, official UADA Estimates for December 2003).
Qua bảng số liệu 2 ta thấy ấn Độ là nước có diện tích trồng lạc lớnnhất thế giới (đạt 8.300 ngàn ha) song năng suất thấp hơn năng suất trungbình của thế giới Năm 2003 năng suất trung bình của ấn Độ chỉ đạt 7,7tạ/ha Trong khi đó năng suất trung bình của thế giới là 13,34 tạ/ha Vì vậy
mà sản lượng lạc của ấn Độ chưa cao Nguyên nhân chủ yếu là chưa tìm ra
được bộ giống tốt thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng, đồng thời do trình độthâm canh còn thấp chưa đồng đều ở các vùng, thiếu nước Nên qua nhiềunăm ấn Độ chỉ đẩy mạnh sản xuất lạc về năng suất (năm 1978 diện tíchtrồng lạc của ấn Độ là 5.853.600 ha và đến năm 2002 là 8.300.000 ha Tathấy diện tích, năng suất, sản lượng lạc của ấn Độ có xu hướng không tăng.Năm 1987 năng suất lac bình quân đạt 8,5 tạ/ha, năm 2002 giảm xuống còn7,7 tạ/ha, sản lượng 7,6 triệu tấn và đến niên vụ năm 2006 - 2007 sản lượnggiảm còn 5,9 triệu tấn
Trung Quốc là nước đứng thứ 2 thế giới (sau ấn Độ) về diện tíchtrồng lạc với trên 5 triệu ha, song năng suất lạc của Trung Quốc đạt bìnhquân cao nhất khu vực 2,98 tấn/ha (2004) Vào những năm cuối của thế kỷ
XX, cây lạc Trung Quốc có bước phát triển nhanh về năng suất Vào những
Trang 11năm này diện tích trồng lạc của Trung Quốc tăng không nhiều so với thời
kỳ trước đó chỉ đạt trên 3 triệu ha (chiếm khoảng 16% tổng diện tích trồnglạc của thế giới) nhưng sản lượng đạt trên 8 triệu tấn quả, chiếm 34,1% tổngsản lượng lạc thế giới Năng suất lạc trung bình của Trung Quốc năm 1960chỉ đạt 14 tạ/ha nhưng đến năm 1994 đạt 26,9 tạ/ha, tăng so với năm 1960
là 135% và đến năm 2002 năng suất đạt 29 tạ/ha, sản lượng đạt 14.556.600tấn và niên vụ 2006 - 2007 sản lượng lạc của Trung Quốc đạt 14,61 triệutấn Sở dĩ Trung Quốc đã đưa được năng suất tăng nhanh là nhờ áp dụngrộng rãi trong sản xuất các giống lạc cải tiến và áp dụng đồng bộ các biệnpháp kỹ thuật thâm canh Là nước có nhiều thành tựu nổi bật trong việctăng năng suất lạc Theo các nhà khoa học Trung Quốc và thế giới thì thànhtựu nói trên đạt được là nhờ chiến lược đẩy mạnh tiến bộ khoa học kỹ thuậttrồng lạc nhằm phát huy tiềm năng to lớn của cây trồng trong sản xuất
Trung Quốc là nước đặc biệt quan tâm đến công tác nghiên cứu vàchuyển giao tiến bộ kỹ thuật Trong nhiều năm qua đã có tới 60 viện, trựờng,trung tâm nghiên cứu của Trung Quốc triển khai các chương trình nghiêncứu trên cây lạc Cùng với việc đưa các giống có năng suất cao, chống chịutốt thì các biện pháp kỹ thuật nhằm đạt năng suất cao đã được phát triển và
áp dụng rộng rãi Các biện pháp đó là cày sâu, bón phân cân đối, trồng dàyhợp lý, phòng trừ sâu bệnh tổng hợp và đặc biệt kỹ thuật che phủ nilông
được coi là “cuộc cách mạng trắng” góp phần tăng năng suất, sản lượng củaTrung Quốc Kỹ thuật che phủ nilông được áp dụng trên diện tích khoảng400.000 ha/năm, với mức tăng năng suất so với đối chứng (không che phủnilông) từ 20 - 50%
Sau Trung Quốc, Mỹ tuy là nước có năng suất cao 28,9 tạ/ha nhưngdiện tích nhỏ (550.000 ha), sản lượng đạt không cao (1391000 tấn) Năngsuất ở Mỹ có nơi đạt rất cao như Oklahoma năng suất đạt kỷ lục 5630 kg/hatrong 3 năm liền ở diện tích 21,8 ha
Nigiêria là nước có diện tích trồng lạc khá cao trên thế giới (1,23 triệuha) nhưng do năng suất còn thấp (1,23 tấn/ha) Vì vậy mà sản lượng cũngchỉ đạt 1,51 triệu tấn
Achentina là nước có diện tích trồng lạc không lớn (180000 ha) nhưng
Trang 12có nhiều thành tựu nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật đểphát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất lạc Trong thời gian dài từ 1932 -
1982 năng suất lạc của Achentina chỉ đạt 10 tạ/ha nhưng đến năm 1991
đã đạt 20 tạ/ha Tăng gấp 2 lần so với năn 1980 Các giống lạc mới chấtlượng cao được trồng trên 70% diện tích của cả nước Từ đó đã đưa nướcnày trở thành nước đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu lạc (sau Trung Quốc vàMỹ)
Bên cạnh các nước có năng suất lạc cao thì một phần diện tích lớn củacác nước đang phát triển ở Châu á và Châu Phi năng suất lạc vẫn còn rấtthấp (như Sudan chỉ đạt 6,7 tạ/ha)
Cùng với việc đưa các giống có năng suất cao, chống chịu tốt thì cácbiện pháp kỹ thuật nhằm đạt năng suất cao đã được phát triển và áp dụngrộng rãi
Làm tiền đề cho sản xuất phát triển, mặt hàng lạc xuất khẩu trở thànhnguồn thu ngoại tệ lớn cho một số nước đặc biệt là các nước đang phát triển.Lưu lượng lạc xuất khẩu hằng năm trên thế giới từ 1,3 - 1,7 triệu tấn lạc quả,
350 - 400 ngàn tấn dầu Năm 2006 - 2007 xuất khẩu lạc đạt 2,2 triệu tấn.Yêu cầu nhập khẩu về lạc và các sản phẩm từ lạc cũng tăng lên nhiều ởChâu Âu Điều này có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế của nhiều nước đangphát triển trong đó lạc giữ vai trò quan trọng ở Xênêgan, lạc cung cấp 3/4thu nhập của người dân và chiếm 60% giá trị xuất khẩu ở Nigieria lạc vàcác sản phẩm chế biến từ lạc thường chiếm trên 60% giá trị xuất khẩu
2 Tình hình nghiên cứu lạc trên thế giới
Với những ưu điểm nổi bật là cây trồng bồi bổ cho đất, có giá trị kinh
tế cao, chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia.Vìvậy những năm gần đây nhiều nước trên thế giới đã đầu tư sản xuất theovùng chuyên canh, tập trung nghiên cứu để tạo ra các giống lạc mới có năngsuất cao Nhưng nhìn chung việc đầu tư nghiên cứu, chuyển giao tiến bộkhoa học giữa các nước trên thế giới không giống nhau Đều tuỳ thuộc vào
điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, tập quán canh tác cũng như điều kiện cụthể của từng vùng, từng nước
Trung Quốc là nước có nhiều thành tựu nhất trong phát triển sản xuất
Trang 13lạc Ngay từ những năm 90 công tác thu thập nguồn gen, đánh giá bảo quản
đã được triển khai sâu rộng Hơn 600 lượt mẫu được nhập từ nhiều vùngkhác nhau trong và ngoài nước Trong thời gian từ 1982 - 1995 đã có trên 82giống có nhiều ưu điểm nội bật như năng suất, phẩm chất, ngắn ngày, chốngchịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận, thích ứng …được chọn tạo
và đưa ra sản xuất đại trà Diện tích trồng giống mới đạt năng suất caochiếm tới 90 - 95% diện tích trồng lạc của cả nước Đó là các giống Haihual,Xuzbou684, Hua57, Luhoa 9, 11, 12, 8130 tiềm năng năng suất mỗi giống
đạt 7,5 tấn/ha Các giống lạc có chất lượng tốt bao gồm: Baisha 1016,Hua11, Hu17, Lihua10 và 8130 sản xuất chủ yếu để xuất khẩu Một sốgiống kháng bệnh héo xanh vi khuẩn và bệnh gỉ sắt như giống Luhua3,Xchunghua2, Zhunghua4, Yueyou56 đã được trồng rộng rãi trong các vùng
có nguy cơ nhiễm dịch cao nhờ đó mà đạt được năng suất khá tốt
Hiện nay Trung Quốc đã có trên 60 viện và trung tâm nghiên cứutriển khai về cây lạc Viện khoa học nông nghiệp Shantou (Quảng Đông)
đã dùng giống NCAC 17090 dạng hình thực vật Valencia có đặc tính chốngsâu bệnh đốm lá điển hình ở Pêru làm vật liệu để lai tạo Kết quả đã tạo ra
3 dòng có triển vọng: Shanyou 523, Shanyou 337, Shanyou 808 Trong đódòng Shanyou 523 có năng suất cao và ổn định (năng suất đạt trung bình
3831 kg/ha) và được Uỷ ban kiểm định giống cây trồng của Quảng Đôngcông nhận cho khu vực hoá năm 1991 Ngoài ra còn nhiều giống lạc mới
được tạo ra ở các viện nghiên cứu khác của Trung Quốc được chính phủcông nhận và cho phép mở rộng sản xuất như Luhua 6, 8, 9 của viện nghiêncứu lạc Sơn Đông, Zhonghua của viện cây có dầu Vũ Hán
ấn Độ từ những năm 80 đã tập trung nghiên cứu chọn tạo giốnghướng về cải tiến năng suất sau đó nhờ những phân lập được các nguồn genchống lại các loại sâu bệnh chủ yếu ở ICRISAT và các chương trình quốcgia khác cùng với việc nhập nội, lai, đột biến ấn Độ đã tạo ra nhiều giống
có năng suất, chất lượng cao phù hợp chủ yếu cho từng vùng nước trời nhưB95, ICGV96055, 96143 Đặc biệt đã tạo ra giống lạc Birsabold (là giốnglạc dùng để sản xuất bánh kẹo hảo hạng) do trường đại học nông nghiệpBisa (ấn Độ) tạo ra từ tổ hợp lai (BAU x ML3)
Trang 14Giống BAUB có vỏ lụa màu đỏ rất hấp dẫn, năng suất cao (đạt 36tạ/ha), thời gian sinh trưởng 125 ngày, có khả năng kháng trung bình vớinấm acpea, gillus, có đủ một số chỉ tiêu cần thiết cho lạc xuất khẩu đồngthời có tính thích ứng rộng Ngoài ra có 3 giống lạc mới được công nhận ởGuarat đó là giống GG5, GG20, GG13 do trường đại học Gujarat chọn tạo.
Giống GG5, chọn tạo từ tổ hợp lai 27-5-1 x JL24 thuộc giống ngắnngày, thời gian sinh trưởng nhanh, quả có độ đồng đều cao, cây mọc thẳng,quả 2 hạt mà không có eo, khối lượng 100 hạt là 46g, vỏ lạc màu hồng, tỷ lệnhân là 73,7%, hàm lượng dầu là 84,4%, năng suất trung bình là 30 tạ/ha.Giống này không có đặc tính ngủ nghỉ tươi
Giống GG20, được chọn từ tổ hợp lai GAUG x R33-1 là giống ngắnngày (TGST 109 ngày), hạt có độ đồng đều và tỷ lệ hạt hoàn thiện cao, quả
có 2 hạt, eo quả trung bình, khối lượng 100 hạt 65,2g, tỷ lệ nhân 73,4%,hàm lượng dầu 50%, năng suất bình quân đạt 32 - 36 tạ/ha
Tại Indonesia cũng đã tập trung lựa chọn những giống có năng suấtcao, phẩm chất tốt, chín sớm và kháng với bệnh héo xanh do vi khuẩn, đốmlá và gỉ sắt Các giống có triển vọng được đưa vào sản suất từ 1991 làMabese, Badat và Kmodo
Từ những thông tin trên chúng ta thấy các nước trồng lạc trên thế giới
có sản lượng lạc cao đều là những nước chú ý đầu tư nghiên cứu ứng dụngkhoa học kỹ thuật trong chọn giống và sản xuất lạc
Gần đây, do có nhiều thành tựu trong công tác lai tạo giống, nên
đã có những giống lạc cho năng xuất đạt 60 - 70 tạ/ha trong sản xuất Nhiềuthành tựu khác: Kỹ thuật trồng, diệt trừ cỏ dại, phòng trừ sâu bệnh, cơ giớihoá… được áp dụng rỗng rãi trong sản xuất cho nên năng suất lạc tăng lên,công lao động trồng lạc giảm xuống
II Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc ở Việt Nam
1 Tình hình sản xuất
ở Việt Nam, lạc là một loại cây công nghiệp ngắn ngày quan trọnghàng đầu Từ thời xa xưa đã trở thành một loại thực phẩm thông dụng Hiệnnay được sản xuất để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Vì thế màlạc được trồng ở hầu hết các tỉnh từ Bắc chí Nam với năng suất và sản lượng
Trang 15ngày một tăng.
Trong thời gian từ 1960 - 1974, diện tích trồng lạc đều tăng lên qua cácnăm nhưng năng suất tăng chậm và chỉ đạt mức thấp so với năng suất củanhiều nước trên thế giới Vào thời kỳ này năng suất các tỉnh phía Bắc dưới 10tạ/ha, còn ở các tỉnh phía Nam dao động chung quanh 10 tạ/ha Cũng trongthời gian này có nhiều nơi do thực hiện thâm canh tốt đã đạt năng suất khácao như Nam Đàn (Nghệ An), Hậu Lộc (Thanh Hoá), Nam Trực (Nam Định),Thuận Thành (Bắc Ninh), Việt Yên (Bắc Giang) trên hàng trăm ha năng suấtbình quân là 14 - 18 tạ/ha Có nơi đạt 20 - 26 tạ/ha Điều này cho thấy khảnăng tăng năng suất lạc của nước ta còn rất lớn ở các vùng
Từ năm 1981 - 1990, sản xuất lạc có xu hướng tăng cả về diện tíchlẫn sản lượng Diện tích trồng lạc tăng bình quân 7%, năng suất bình quânchỉ giao động trên 10 tạ/ha
Từ năm 1990 - 1998 tốc độ tăng năng suất đạt 3,8%/năm, cao hơntăng diện tích (3,7% năm) Sản lượng tăng 7,7%
Những năm gần đây, nhà nước có chương trình phát triển cây lạc vìvậy diện tích trồng lạc cũng tăng lên rõ rệt Năm 2005, diện tích trồng lạccả nước đạt 269.900 ha, tăng gấp 4 lần so với năm 1974 (76460 ha), năngsuất đạt 17,98 tạ/ha, sản lượng ước đạt 485.500 tấn
Trang 16Bảng 3: Diện tích và sản lượng lạc ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2005
SL(1000tấn)
DT(1000ha)
SL(1000tấn)
DT(1000ha)
SL(1000tấn)
DT(1000ha)
SL(1000tấn)
DT(1000ha)
SL(1000tấn)
DT(1000ha)
SL(1000tấn)
DT(100
0 ha)Cả nước 355,3 244,9 236,9 244,6 400,4 246,7 406,2 243,8 469,0 263,7 485,5 269,9Vùng đồng bằng
Vùng Đông Bắc 35,4 31,6 40,7 32,5 39,5 31,5 42,0 31,4 56,9 34,5 57,3 37,0
Vùng Bắc Trung Bộ 98,3 70,2 105,0 74,9 121,6 74,3 118,8 74,0 138,8 79,2 133,6 82,6Vùng duyên hải
Vùng Tây Nguyên 25,5 21,9 28,8 23,0 27,8 25,4 33,8 24,3 17,3 25,3 32,0 24,8Vùng Đông Nam Bộ 81,5 49,0 73,2 42,1 87,2 43,3 78,5 41,8 97,8 46,0 92,5 43,3Vùng đồng bằng
(Nguồn niên giám thống kê)
Trang 17Qua bảng 3 ta thấy trong 5 năm gần đây 2000 - 2005 diện tích trồnglạc của nước ta luôn biến động (từ 244,9 ngàn ha đến 269,9 ngàn ha ).
Năng suất lạc nước ta cũng không ổn định, một phần do điều kiệncanh tác, khí hậu, và một phần do sử dụng giống Tuy nhiên trong 5 nămgần đây năng suất lạc bình quân của Việt Nam đã tăng đáng kể (từ 14,505tạ/ha lên 17,988 tạ/ha) Như vậy nước ta luôn có năng suất bình quân caohơn năng suất lạc bình quân của thế giới (của thế giới năm 2005 năng suấtbình quân 14,471 tạ/ha )
Cùng với việc tăng năng suất, sản lượng lạc của Việt Nam trongnhững năm gần đây cũng tăng lên đáng kể Tăng từ 355,3 nghìn tấn năm
2000 lên 485,5 nghìn tấn năm 2005 Sở dĩ năng suất lạc của nước ta khôngngừng tăng lên là nhờ đã chọn và nhập nội những giống lạc mới có năngsuất cao, khả năng chống chịu với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh khá vàdần dần thay thế các giống địa phương có năng suất thấp Mặt khác việc ápdụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới kết hợp với thâm canh cao đã gópphần đáng kể trong việc tăng năng suất trong những năm gần đây
Hiện nay, ở Việt Nam lạc đang được trồng hầu hết ở các tỉnh thành và
được phân thành 8 vùng chính
Vùng đồng bằng Sông Hồng: Lạc được trồng chủ yếu ở Vĩnh Phúc,
Hà Tây, Nam Định, Ninh Bình
Vùng Đông Bắc: Trồng chủ yếu ở Bắc Giang, Thái Nguyên, Phú Thọ.Vùng Tây Bắc: Phân bố chủ yếu ở Điện Biên, Sơn La Đây là vùng cónăng suất lạc thấp nhất cả nước chỉ đạt 12,79 tạ/ha (năm 2005)
Vùng Bắc Trung Bộ: Là vùng trọng điểm trồng lạc của Miền Bắc
Đây là vùng có diện tích trồng lạc lớn nhất cả nước với diện tích 82,6 ngàn
ha (năm 2005) Tập trung chủ yếu ở Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh
Vùng duyên hải Nam Trung Bộ
Vùng Đông Nam Bộ: Là vùng có diện tích trồng lạc lớn thứ 2 cả nước(năm 2005 là 43,3 ngàn ha) Phân bố chủ yếu ở Tây Ninh, Bình Thuận,Bình Dương
Vùng đồng bằng sông Cửu Long : Tuy là vùng có diện tích gần thấpnhất cả nước (13,8 ngàn ha - năm 2005) nhưng đây là vùng có năng suất đạtcao nhất cả nước (đạt 29,13 tạ/ha - năm 2005)
Cũng từ bảng 3 ta thấy trình độ thâm canh và sản xuất lạc của nước takhông đều, giữa các vùng còn có sự chênh lệch lớn Nhiều nơi năng suất đạt
Trang 18mức khá như đồng bằng Sông Hồng đạt 21,73 tạ/ha, vùng Đông Nam Bộ21,36 tạ/ha, vùng đồng bằng Sông Cửu Long đạt 29,13 tạ/ha Bên cạnh đócũng có những vùng có năng suất thấp như vùng Tây Bắc, Tây Nguyênnăng suất lạc bình quân chỉ đạt dưới 13 tạ/ha Tuy năng suất lạc của nước tacao hơn năng suất bình quân của thế giới nhưng so với các nước có năngsuất cao (như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Braxin) thì khoảng cách này là rất lớn,không những thế chất lượng lạc của ta so với thế giới còn thấp Để đạt được100g hạt lạc chúng ta cần 210 - 220 hạt trong khi đó Mỹ và Trung Quốc chỉcần 130 - 170 hạt.
Chính vì vậy để diện tích lạc ngày càng được mở rộng, năng suấtngày một nâng cao, đưa lại thu nhập cho người sản xuất Cần phải đầu tưnghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật một cách rộng rãi vàosản xuất trên cơ sở áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật, kinh nghiệmcủa các nước đi trước
2 Tình hình nghiên cứu lạc ở Việt Nam.
Cây lạc được được trồng ở Việt Nam với nhiều vùng sinh thái khácnhau Năng suất lạc thường thấp do nhiều nguyên nhân: Thiếu giống cónăng suất, chất lượng cao thích ứng với từng vùng, sâu bệnh phá hoại, sựthay đổi về điều kiện khí hậu… ; thiếu kỹ thuật canh tác và đầu tư thấp lànhững nguyên nhân cơ bản làm năng suất lạc nước ta chưa cao Do vậy hiệnnay mục tiêu của các nhà chọn tạo là tạo ra các giống có năng suất phẩmchất cao chống chịu các loại bệnh thường phát sinh mạnh và phù hợp với
điều kiện sinh thái của vùng
Hiện nay nhờ việc ứng dụng các phương pháp chọn tạo khác nhaunhư lai hữu tính, phân lập chọn lọc, gây đột biến cùng với việc ứng dụngnhiều thành tựu về di truyền học trong chọn tạo giống đã làm cho công tácchọn tạo giống lạc phát triển lên nhanh
Từ năm 1999 - 2000 trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm đậu đỗviện KHKT nông nghiệp Việt Nam đã nhập trên 1894 giống từ IRISTAT,
250 mẫu nghiên cứu tại viện KHKT Việt Nam Trong đó có 150 mẫu nhập
từ viện nghiên cứu cây trồng toàn liên bang mang tên VAVILOP, 24 mẫunhập từ IRSTAT Từ nguồn giống đó các cơ sở nghiên cứu như trung tâmnghiên cứu đậu đỗ Định Tường, Viện cây lương thực - thực phẩm, ViệnKHKT nông nghiệp Việt Nam, viện di truyền đã nghiên cứu, khảo sát, đánhgiá tập đoàn giống dựa theo hướng dẫn của IRISTAT và có thể phân ra 3
Trang 19nhóm như sau:
+ Giống chín sớm: Thời gian sinh trưởng 80 - 100 ngày
+ Giống chín trung bình : Thời gian sinh trưởng 100 - 120 ngày
+ Giống chín muộn: Thời gian sinh trưởng trên 120 ngày
ở miền Bắc Việt Nam điều kiện không được thuận lợi, thường hạn vàlạnh ở đầu vụ nên ngưỡng thời gian sinh trưởng được chia như sau:
+ Giống ngắn ngày: Thời gian sinh trưởng dưới 120 ngày
+ Giống trung ngày: Thời gian sinh trưởng từ 120 - 140 ngày
+ Giống dài ngày: Thời gian sinh trưởng trên 140 ngày
ở miền Nam và miền Trung ngưỡng thời gian thường chia như sau:+ Giống ngắn ngày: Thời gian sinh trưởng dưới 90 ngày
+ Giống trung ngày: Thời gian sinh trưởng từ 90 - 120 ngày
+ Giống dài ngày: Thời gian sinh trưởng trên 120 ngày
Trong nghiên cứu chúng ta đã tạo ra được nhiều giống có năng suấtcao và có nhiều đặc tính quý
Giống D332 Là giống được chọn tạo bằng cách xử lý đột biến giốngSen lai, do viện di truyền nông nghiệp Việt Nam thực hiện Giống có thờigian sinh trưởng 126 - 130 ngày, năng suất trung bình 18 tạ/ha Thâm canhtốt có thể đạt 20 - 25 tạ/ha, chịu rét và chống đổ tốt, đạt tiêu chuẩn xuấtkhẩu
Giống L02 Được chọn lọc từ giống nhập nội của Trung Quốc, đượcviện KHKT nông nghiệp Việt Nam chọn lọc Giống có thời gian sinhtrưởng vụ xuân 127 ngày, vụ thu 110 ngày Năng suất trung bình đạt 30 - 37tạ/ha, tỷ lệ nhân/quả là 68 - 72%, hàm lượng dầu là 48,4%, protein 26,9%.Giống có đặc tính chống chịu khá với bệnh gỉ sắt, đốm nâu, đốm đen,chống chịu trung bình với bệnh bạc lá đồng thời có tính thích ứng rộng
Giống L14 Là giống có năng suất rất cao, được chọn lọc từ giống lạccủa Trung Quốc do viện KHKT nông nghiệp Việt Nam chọn lọc Thời giansinh trưởng vụ xuân 125 - 135 ngày, ở vụ thu 90 - 110 ngày Năng suấttrung bình 45 - 60 tạ/ha, tỷ lệ nhân/quả là 72 - 75% Giống có đặc tínhchống chịu khá với bệnh đốm nâu, đốm đen, gỉ sắt, khả năng chống đỗ tốt,chịu thâm canh cao
Giống L12 Là giống chịu hạn, được chọn lọc từ giống nhập nội của
Trang 20Trung Quốc Thời gian sinh trưởng ở vụ xuân là 110 - 120 ngày, vụ thu
đông là 95 - 110 ngày Năng suất bình quân đạt 30 - 35 tạ/ha, thích ứngrộng
Giống LDH01 Là giống ngắn ngày, được chọn lọc từ giống lạcTrung Quốc do viện KHKT nông nghiệp Việt Nam chọn lọc Giống có thờigian sinh trưởng vụ xuân 95 - 100 ngày, vụ hè là 90 ngày Năng suất trungbình là 35 - 40 tạ/ha, tỷ lệ nhân/quả là 70 - 72%, có tính thích ứng rộng
Giống 4329 Được tạo ra bằng cách xử lý đột biến phóng xạ tia gamatrên giống lạc Hoa do viện KHKT nông nghiệp thực hiện Cây sinh trưởngkhoẻ, thời gian sinh trưởng 120 - 135 ngày, năng suất đạt trung bình 19 -
21 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 24 - 27 tạ/ha Hạt to đều, có khả năng chốngchịu khá với bệnh thối nhũn, bệnh lở cổ rễ
Giống V79 Được chọn tạo bằng cách gây đột biến giống Bạch Sa vớitia rơnghen do trường Đại Học Nông Nghiệp I và viện KHKT nông nghiệpViệt Nam thực hiện Giống ra hoa tập trung, thời gian sinh trưởng vụ xuân
là 128 - 135 ngày, năng xuất trung bình 27 - 28 tạ/ha, tỷ lệ nhân 74%, hàmlượng dầu trong hạt 48 - 52%, protein 24% Trồng thích hợp trên đất thịtnhẹ, đất bạc màu, đất bãi không bồi hằng năm
Giống lạc L20 Là giống nhập nội từ Trung Quốc, giống được chọnlọc từ tổ hợp lai BG78 x FRSS bằng phương pháp quần thể Giống đượccông nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật Bắc Trung Bộ, năng suất trung bình
đạt 36 - 38 tạ/ha, thâm canh tốt năng suất có thể đạt 42 tạ/ha Là giống chịuthâm canh được trồng trên nhiều loại đất sét pha, đất cát ven biển, đất bạiven sông, đất đồi Có thời gian sinh trưởng 100 - 110 ngày vụ đông, 115 -
120 ngày vụ xuân, có khả năng chịu hạn, chịu sâu bệnh khá (đang tronggiai đoạn khảo nghiệm để sản xuất đại trà)
Giống lạc TB -25 do tập thể tác giả công ty cổ phần giống Thái Bìnhchọn lọc và tiến hành khảo nghiệm Giống có thời gian sinh trưởng ngắnhơn giống L14 từ 5 - 7 ngày, chịu rét khá và chống chịu khá với sâu bệnhhại đặc biệt bệnh gỉ sắt, đốm nâu, héo xanh Giống có khả năng đâm tiakhoẻ, tỷ lệ quả 3, 4 nhân đạt trên 40%, năng suất thực thu 40 tạ/ha
Bên cạnh những giống tốt có nhiều ưu điểm nổi bật trên được đưanhiều vào sản xuất Hiện nay còn nhiều giống mới có tiềm năng năng suấtrất cao (năng suất tiềm năng có thể đạt 50 -70 tạ/ha) và nhiều đặc điểm quýkhác đang được đưa vào khảo nghiệm như giống L24, L26, MD9, BG78, …
Trang 21Cùng với công tác tạo giống, các nghiên cứu về kỹ thuật thâm canhcũng đạt được một số kết quả khả quan Như đã áp dụng nhiễm chế phẩmNitazin cho lạc đã tăng năng suất từ 10 - 15%, bón vôi bột 400 - 600 kg/havới hai thời điểm (50% lúc làm đất và 50% lúc ra hoa rộ) Ngoài ra cònnhiều nghiên cứu khác nữa về liều lượng phân lân, phân vi lượng, mật độ …
Cùng với công tác nghiên cứu Hiện nay việc trồng lạc bước đầu đượccơ giới hoá dần Nhiều thiết bị phục vụ cho sản xuất lạc trên đồng ruộng
được sản xuất riêng như nilông che phủ, phân bón dành riêng cho lạc; máyliên hợp thu hoạch lạc công suất 1,4 ha/h (gồm kẹp cây, bứt củ và đưa vàothùng chứa), đã thay cho 60 lao động thủ công Đặc biệt biện pháp che phủnilông cho lạc được coi là khâu kỹ thuật quan trọng nâng cao năng suất lạclên rất nhiều Biện pháp này cho kết quả cao không những ở những vùng cókhí hậu lạnh, mà còn cho kết quả tốt ở những vùng á nhiệt đới trên mọi loại
đất, với mọi giống lạc khác nhau gieo ở vụ mùa, vụ xuân hay vụ hè
Từ những thông tin trên cho thấy công tác nghiên cứu chọn tạo giống
và kỹ thuật thâm canh lạc ở Việt Nam hiện nay đã đạt được những thànhcông nhất định góp phần đưa cây lạc lên vị thế quan trọng trong hệ thốngnông nghiệp nước ta Và trong tương lai không xa nước ta sẽ rút ngắnkhoảng cách về trình độ sản xuất lạc so với các nước trồng lạc tiến tiến trênthế giới
3 Đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây lạc
3.1 Đặc điểm thực vật học
- Rễ lạc
Rễ lạc thuộc loại rễ cọc gồm 3 phần là cổ rễ, rễ chính và rễ phụ Chiềudài của rễ cấp 1 tăng nhanh từ khi cây có 6 - 7 lá đến khi hết hoa rỗ, và tăngnhanh ở thời kỳ lạc nở hoa, sau đó chậm lại dần Phần lớn rễ tập trung ởphần đất sâu từ 3 - 18 cm Lúc cây có 9 lá trọng lượng của rễ bằng 60% vàlúc cây ra hoa trọng lượng bằng 10% trọng lượng cả cây Trọng lượng của
bộ rễ lạc thay đổi rất lớn, tùy thuộc vào điều kiện đất đai và kỹ thuật canhtác
Trên rễ lạc có đặc điểm không có lớp biểu bì, không có lông hút thật.Nước và chất dinh dưỡng vào cây được đưa trực tiếp qua nhu mô vỏ Khi cây
có 4 lá, rễ phát tiết ra một số chất thu hút vi khuẩn Rhizobium lại gần đểhình thành nên nốt sần Các vi khuẩn này ban đầu sống tự do trong đất Khi
rễ phát triển, nhờ những chất do cây họ đậu tiết ra, chúng theo đầu chóp của
Trang 22các lông rễ mà xâm nhập vào các tế bào của lớp vỏ rễ Vi khuẩn này sinh sôinảy nở trong các tế bào của lớp vỏ rễ ấy làm cho các tế bào đặc lại Tế bàocây ở chỗ đó phân chia ra nhiều và nhanh hơn ở các nơi khác, làm cho trên
rễ có những chỗ phình to ra, tạo thành các nốt sần Vi khuẩn cộng sinh vớilạc cung cấp tới 50 - 70% tổng số đạm cần thiết của cây
2 tạo thành, tầng thứ hai do cành thứ 3 và thứ 4 tạo thành và có thể có tầngthứ ba do cành thứ 5 và thứ 6 tạo thành Nhưng quan trọng nhất là tầng thứnhất và tầng thứ hai sẽ cho hoa hữu hiệu để đâm tia và hình thành quả
Cành cấp II: Thường xuất hiện khi thân chính có 6 - 7 lá và khi cây rahoa thì thường cũng kết thúc ra cành cấp II Thông thường ở lạc có 2 - 4cành cấp II, cành cấp II thường là cành có lá nhỏ, quang hợp kém, khôngcho hoa và quả
- Lá lạc
Lá lạc thuộc loại lá kép lông chim, mỗi lá có 4 lá chét mọc đối nhau
có hình trứng, tròn, bầu dục hay hình thuận ở chân lá kép và lá chét có mô
tế bào có khả năng trữ nước, phía mặt trên lá có một lớp biểu bì thể hiện rất
rõ có nơi ăn sâu xuống phía dưới đến 1/3 bề dày của lá, trên lá ở mặt trên vàdưới đều có khí khổng làm cho lá ban ngày xoè ra hướng theo mặt trời, ban
đêm khép lại Trong vụ xuân, từ lúc lá thứ nhất và thứ hai nhú ra đến khiphiến lá mở phẳng mất khoảng 3 ngày, lá thứ 3 mất khoảng 4 ngày rồi sau
đó 5 - 6 ngày lại thêm một lá Số lượng lá thay đổi tuỳ theo thời vụ Trênthân chính cây lạc số lá có thể 20 - 28 lá Tổng số lá trên cây có thể tới 50 -
80 lá vào thời kỳ thu hoạch
- Hoa và quả lạc
Hoa cây lạc là hoa đầy đủ các bộ phận, có đầy đủ cả tính đực và tính
Trang 23cái, bầu hoa ở trên đài Cuống hoa mọc ra từ nách lá Hoa mọc riêng lẻ từngchiếc một hoặc mọc thành từng chùm 2 - 7 hoa Lạc cũng là cây tự thụ phấnnghiêm ngặt, nhưng tỷ lệ ngoại phấn cũng tới 0,25%, khi hoa nở cây đã thụphấn xong Hoa nở được 11 ngày đầu tia chạm tới mặt đất, sau đó 7 ngàynữa cắm sâu xuống 3 - 5 cm rồi quay ngang Thời gian ra hoa của cây lạcthường dài 25 - 40 ngày tuỳ theo đặc điểm của giống và điều kiện bên ngoàicũng như kỹ thuật canh tác Số lượng hoa trên cây có thể từ 80 - 400 hoa đốivới thân đứng và từ 300 - 1000 hoa đối với thân bò.
Quả lạc thuộc loại quả khô khó tách, có eo hoặc không có eo Mỗiquả có từ 1- 3 hạt tuỳ từng giống Khi hoa nở được 30 ngày vỏ quả hìnhthành xong, 60 ngày hạt lạc hình thành xong Vỏ quả lạc có độ dày, mỏngkhông đều nhau
3.2 Yêu cầu sinh thái của cây lạc
3.2.1 Yêu cầu về nhiệt độ
Lạc là cây có nguồn gốc từ nhiệt đới, phát triển thích hợp trong điềukiện khí hậu ấm áp Nhiệt độ thích hợp cho cho quá trình sinh trưởng củacây lạc khoảng 25 - 300C, thay đổi theo giai đoạn sinh trưởng của cây Tổngtích ôn hữu hiệu 2600 - 4800 thay đổi tuỳ theo giống Trong tổng tích ôncủa cây lạc 70% lượng nhiệt này tập trung vào thời kỳ ra hoa, kết quả Nhiệt
độ là một trong 2 yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ nảy mầm, mọc và tốc độsinh trưởng ban đầu của cây con
+ Thời kỳ nảy mầm cần tổng tích ôn 250 - 3200C Nhiệt độ thích hợpcho nảy mầm nhanh nhất là 32 - 330C Nhiệt độ dưới 180C mặc dù lạc nảymầm nhưng không vượt lên khỏi mặt đất Nhiệt độ cao nhất lạc có thể nảymầm được là 450C nhưng ở nhiệt độ này sức nảy mầm bị giảm, sức sốngcủa cây con yếu Trong sản xuất đặc biệt là trong vụ xuân khi gặp điều kiệnnhiệt độ xuống thấp nên dùng lạc vụ thu để gieo vì hàm lượng tinh bột ở lạcthu cao hơn lạc vụ xuân nên chịu rét tốt hơn, khả năng nảy mầm của lạc thucũng tốt hơn lạc lạc xuân năm trước (vì có thời gian bảo quản ngắn nên chấtlượng hạt giống được đảm bảo)
+ Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, yêu cầu nhiệt độ trung bình 20
-300C Nhiệt độ tối thích trung bình là 250C, ở nhiệt độ này quá trình sinhtrưởng sinh dưỡng thuận lợi nhất đặc biệt là sự phân cành và phát triển bộ rễ;thời gian trước ra hoa của cây lạc được kéo dài thuận lợi cho khả năng tíchluỹ chất khô ở các bộ phân từ đó tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển
Trang 24cơ quan sinh sản Nếu nhiệt độ trong thời kỳ này quá cao 30 - 350C sẽ làmrút ngắn thời kỳ này lại, lượng chất khô được tạo ra ít vì vậy làm số hoa, sốquả ít, trọng lượng giảm.
+ ở thời kỳ sinh trưởng sinh thực, yêu cầu nhiệt độ tương đối cao.Thời gian ra hoa và tổng số hoa, tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào nhiệt độ thời
kỳ này Theo Giller (1968) nhiệt độ thuận lợi cho việc ra hoa của cây lạc là
24 - 330C Tỷ lệ hoa có ích đạt cao nhất (21%) khi nhiệt độ ban ngày là
290C, ban đêm là 230C Nhiệt độ vượt quá 34 - 350C làm giảm số hoa hữuhiệu Nhiệt độ thấp nhất cho quá trình ra hoa kết quả của lạc là 15 - 200C.Thời kỳ ra hoa kết quả lạc đòi hỏi nhiệt độ cao nhất so với các thời kỳ kháctrong chu kỳ sinh trưởng của nó
Quá trình chín của lạc cần nhiệt độ thấp hơn trước, lúc này nhiệt độthích hợp là 25 - 280C Nhiệt độ thấp dưới 200C làm hạn chế khả năng tíchluỹ chất vào hạt và khi nhiệt độ dưới 15 - 160C thì quá trình tích luỹ chấtkhô vào hạt bị dừng hẳn Biên độ nhiệt độ thích hợp nhất trong thời kỳ này
là 9 - 100C (đêm 190C và ngày 210C)
3.2.2 Yêu cầu về ánh sáng
Cây lạc có những phản ứng nhất định đối với tác động của ánh sáng
ở thời kỳ nảy mầm, ánh sáng làm giảm quá trình hút nước của hạt, làmgiảm tốc độ sinh trưởng của rễ phôi và trục phôi Trong quá trình phát triểncủa quả lạc nếu quả được phơi ra ánh sáng thì sẽ phát triển kém, thậm chíkhông phình ra được
Một số thí nghiệm cho thấy: Nếu rút ngắn thời gian chiếu sáng cholạc xuống còn 10 giờ/ngày thì giống lạc muộn có phản ứng mạnh, ra hoasớm hơn bình thường 2 - 3 ngày, năng suất tăng lên đồng thời khối lượngthân lá giảm xuống Các giống lạc sớm và trung ngày không có phản ứng rõ
đối với việc rút ngắn thời gian chiếu sáng Số giờ nắng trong ngày có ảnhhưởng rõ rệt đến sự sinh trưởng và phát dục của lạc Quá trình nở hoa thuậnlợi khi giờ nắng đạt khoảng 200 giờ/tháng
Trong điều kiện vụ xuân ở các tỉnh phía Bắc nước ta, nên bố trí thời
vụ để lạc nở hoa vào tháng 4 Nếu ra hoa sớm vào tháng 3, số giờ nắng thấplàm giảm số hoa nở, kéo dài thời gian nở hoa, làm giảm tổng số hoa
3.2.3 Yêu cầu về nước
Nước là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu đảm bảo cho sinh trưởng và pháttriển của cây lạc Tổng nhu cầu về nước trong suốt thời gian sinh trưởng của
Trang 25lạc là 450 - 700 mm, nhu cầu này có thể thay đổi tuỳ thuộc vào từng giai
đoạn sinh trưởng, giống khác nhau Nhu cầu nước lớn nhất là thời kỳ sinhtrưởng sinh thực và cao nhất ở thời kỳ ra hoa hình thành quả và hạt Nếu ởthời kỳ hình thành hoa bị thiếu nước thì số lượng hoa bị giảm nhiều, các đợthoa rỗ không hình thành được, thời kỳ ra hoa kéo dài, qúa trình thụ phấn bịtrở ngại, tỉ lệ hoa hữu hiệu giảm Tổng lượng mưa và sự phân bố mưa trongsuốt chu kỳ sống của lạc là tác nhân khí hậu có ảnh hưởng lớn nhất đến câylạc Nhu cầu về lượng mưa trong vụ lạc còn phụ thuộc vào khả năng giữnước, thoát nước của đất, địa hình của đồng ruộng
- Yêu cầu về đất đai
Lạc có khả năng thích ứng lớn đối với các loại đất khác nhau, lạckhông yêu cầu khắt khe đối với các đặc tính của đất Các loại đất từ đất cátnhẹ đến đất sét nặng đều có thể trồng được lạc nhưng đối với cây lạc thíchhợp hơn cả là đất cát pha Đất trồng lạc tốt nhất là các chân đất thoát nướctốt, kết cấu xốp và mịn, chưa bị rửa trôi màu Nói chung do đặc điểm sinh
lý của lạc phải đảm bảo đủ tơi xốp để rễ phát triển mạnh cả chiều dọc vàchiều ngang; cần đủ oxi cho vi sinh vật hoạt động cố định nitơ; tia quả đâmxuống đất thuận lợi dễ thu hoạch Trong đó yếu cầu đâm tia và phát triểnquả là yêu cầu đặc thù của cây lạc, do đó lạc trồng trên đất sét nặng tuy cóthể cho năng suất cao nhưng khi gặp mưa tia lạc gặp váng đất khó đâm tiavào đất Hơn nữa trồng trên đất sét lạc không sáng vỏ, ảnh hưởng đến phẩmchất của lạc
Lạc phát triển tốt trên đất có phản ứng trung tính, pH không thấp hơn
6 và có thể chịu được đất mặn vừa, ưa thích đất có chất vôi Lạc sinh trưỏngtốt trên đất sạch cỏ dại, đặc biệt là vào lúc mới mọc (nếu lúc này mà đấtnhiều cỏ thì gây ảnh hưởng nhiều đến quá trình mọc, cây sinh trưởng yếu ớt,
về sau năng suất thấp)
3.2.4 Yêu cầu về dinh dưỡng
+ Nhu cầu đối với N
Lạc chứa một lượng N khá lớn trong lá và trong hạt (mỗi tấn lạc quảlấy đi 46 - 52 kg N) N là thành phần của axit amin cấu tạo nên prôtein củalạc, tập trung ở các bộ phận non của cây, ở mô phân sinh đang hoạt động.Vì vậy thiếu N cây sinh trưởng kém, lá vàng, chất khô tích luỹ giảm, sốlượng và trọng lượng quả giảm
+ Nhu cầu đối với P
Trang 26Lân có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của rễ lạc và các nốt sần trên
rễ Lân thúc đẩy sự ra hoa kết quả của cây và làm giảm tỷ lệ lép Thiếu lâncây lạc bị lùn xuống, bộ rễ kém phát triển
+ Nhu cầu đối với kali
Cây lạc đang sinh trưởng hấp thụ một lượng kali lớn Sự hút kali củacây diễn ra nhanh ở tuần thứ 6 và thứ 8 Nếu thiếu kali sinh trưởng của cây
bị chậm lại, đồng thời làm giảm phẩm chất của hạt (vì kali cần thiết choviệc hình thành chất béo trong hạt lạc)
+ Nhu cầu đối với Canxi
Caxi vừa là yếu tố dinh dưỡng vừa là yếu tố điều tiết pH của đất.Canxi là một nguyên tố rất ít di động có ý nghĩa đặc biệt đối với cây lạc,nhất là những vùng đất bạc màu Vôi có tác dụng cải tạo đất chua, tạo môitrường thích hợp cho vi khuẩn cố định đạm hoạt động Vôi còn còn là chấtdinh dưỡng cần thiết đối với lạc và tham gia vào thành phần vỏ và hạt lạc.Lạc được bón vôi cây mọc khỏe, cứng cáp, vỏ quả mọng, tỷ lệ lép thấp, tăngtính chống chịu của cây đối với kiến, mối, hạn chế đứt quả khi thu hoạch
Đặc biệt bón vôi lúc cây ra hoa rộ giúp tăng chất lượng hạt, tăng khả năngphát triển và sự thành thục của hạt trong quả, do đó tăng khả năng chốngchịu của lạc đối với các bệnh như thối quả, thối tia do nấm Rhizoctnoia gây
ra Ngoài ra bón vôi vào thời kỳ ra hoa rộ còn làm cho lạc trong quá trìnhbảo quản giảm bớt hư hỏng, giữ được sức nảy mầm của hạt trong thời gianbảo quản Canxi giúp cho cây lạc huy động được kali làm cho quả chắc, hạt
đầy Vào lúc ra quả, lạc yêu cầu canxi cao Cây hút canxi qua rễ, qua tia,cũng như qua vỏ đang hình thành Vì vậy mà trong trồng lạc thâm canh vôi
là yếu tố không thể thiếu được
Ngoài những yếu tố dinh dưỡng đa lượng trên nhu cầu của lạc đối vớicác yếu tố trung lượng và vi lượng cũng rất cần thiết Các yết tố vi lượng cóvai trò xúc tác, là thành phần của các enzim đồng thời là chất hoạt hoá của
hệ enzim trong cây lạc
Trang 27Phần II
Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
I Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm 5 giống lạc có triển vọng trên đất bạc màuViệtYên - Bắc Giang như : Giống L14, L26, LDN- 01, L20, MD7
1 L14 Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam
2 L26 Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Hải Dương
3 LDN- 01 Trung tâm nghiên cứu và phát triển đậu đỗ
4 L20 Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp
5 MD7 Viện khoa học kỹ thuật Bắc Trung Bộ
II Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển; khả năng chống chịu
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giốngtham gia thí nghiệm
III Phương pháp nghiên cứu
1 Địa điểm thí nghiệm
Tại trường Cao Đẳng Nông Lâm – Việt Yên - Bắc Giang
1.1 Vị trí địa lý
Đề tài được tiến hành trên khu đất cát bạc màu Trường Cao ĐẳngNông Lâm Việt Yên - Bắc Giang Với vị trí khá thuận lợi:
- Phía Bắc giáp với huyện Tân Yên
- Phía Nam giáp với thành phố Bắc Ninh (tỉnh Bắc Ninh)
- Phía Tây giáp với huyện Yên Phong (Bắc Ninh) và huyện Hiệp Hoà
- Phía Đông giáp với huyện Yên Dũng và thành phố Bắc Giang
Việt Yên nằm trên quốc lộ 37 nối liền từ quốc lộ 1A đến huyện PhúBình (Thái Nguyên) và có đường quốc lộ 1A chạy qua nên có nhiều cơ hộicho việc giao lưu phát triển kinh tế xã hội, phát huy tiềm năng của vùng
1.2 Đặc điểm về điều kiện đất đai
- Diện tích
Riêng với trường Cao Đẳng Nông Lâm tổng diện tích là 64 ha Chủyếu là diện tích mặt nước chiếm 40%, nhà và các công trình chiếm 10% cònlại là vườn cây lâm nghiệp và trồng trọt
Trang 28Bảng 5: Một số chỉ tiêu, tính chất hoá học của hai loại đất vàng đỏ và
đất bạc màu huyện Việt Yên.
(Số liệu phòng Nông Nghiệp huyện Việt Yên)
Qua bảng số liệu cho thấy: Đất ở đây thuộc loại có độ pH thấp (< 5).Nguyên nhân là do quá trình rửa trôi hằng năm diện ra mạnh Hơn nửatrong đất luôn có chứa một lượng kim loại (Fe3+) lớn, đây cũng là nguyênnhân làm cho đất chua
Hàm lượng mùn trong đất rất thấp, thuộc loại đất nghèo mùn, thànhphần cơ giới nhẹ Lý do là huyện Việt Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt
đới nóng ẩm có nền nhiệt độ cao cho nên quá trình mùn hoá trong đất diễn
ra mạnh trong khi đó quá trình rửa trôi hàng năm vẫn diễn ra vì thế đã làmcho hàm lượng mùn giảm
Hàm lượng đạm, lân, kali trong đất đều thấp Nguyên nhân do cây cốilấy đi để đáp ứng nhu cầu sinh trựởng và bị rửa trôi hằng năm Đặc biệt đốivới đất bạc màu khả năng giữ dinh dưỡng rất kém
Trang 29Bảng 5: Diện tích các loại đất tại huyện Việt Yên
(ha)
Tỷ lệ so vớiTDTTN
Đất phù sa được bồi hằng năm trung tính 2.18,00 1,28
Đất xám Feralit phát triển trên đất cát 381,00 2,22
Đất xám Feralit biến đổi do trồng lúa 1.142,00 7,68
(Nguồn số liệu thống kê phòng địa chính huyện Việt Yên)
Qua bảng số liệu ta thấy:
Đất phù sa chiếm một diện tích rất ít, đất loại này chủ yếu được phân
bố ven Sông Cầu, có thành phần cơ giới thịt nhẹ, giàu mùn, pH: 6 - 6,5
Đất phù sa không được bồi đắp hằng năm chiếm 8,21% tổng diện tíchcủa huyện Loại đất này có thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, tỷ lệsét cao, thường bí chặt
Đất phù sa úng nước mùa hè có diện tích 4.282 ha, chiếm 25,05%tổng diện tích tự nhiên, đây là diện tích hầu như đã đưa vào trồng lạc
Đất xám bạc màu trên đất phù sa, nơi thực nghiệm nghiên cứu lạc chủyếu là loại đất này Đây là loại đất có diện tích lớn nhất của huyện (6911,43ha) Đặc điểm của loại đất này: Có thành phần cơ giới hầu hết là thịt nhẹ,nằm trên đất vàn (chiếm 40,44%)
Đất xói mòn trơ sỏi đá: Đây là loại đất nằm trên đồi núi thấp, có độdốc lớn, thảm che phủ ít nên bị xói mòn, rửa trôi mạnh vào mùa mưa Tathấy huyện Việt Yên chủ yếu là đất bạc màu phát triển trên phù sa cổ và có
Trang 30sử dụng đất lên tới 2,7 Đối với đất trồng lạc ở đây có nhiều thuận lợi để
đầu tư thâm canh đưa năng suất lạc lên cao
* Khó khăn:
Dinh dưỡng và chất mùn trong đất thấp, do đó cây trồng không có đủdinh dưỡng để sinh trưởng và phát triển vì vậy để đạt năng suất cây trồngcao cần bổ sung thêm nhiều dinh dưỡng nếu không cây trồng sẽ cho năngsuất thấp
1.3 Điều kiện kinh tế, xã hội
1.3.1 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất phục vụ sản xuất
- Giao thông: Việt Yên có quốc lộ 37, tỉnh lộ 327, quốc lộ 1A chonên có ưu thế trao đổi hàng hoá với các huyện trong tỉnh cũng như ngoàitỉnh Tổng diện tích đất cho giao thông là 831,92 ha chiếm 4,87% tổng diệntích tự nhiên của huyện, trong đó chủ yếu là đường bộ Tổng chiều dài
đường chính là 105,63 km
- Thuỷ lợi:
Hệ thống thuỷ lợi trong huyện bao gồm hệ thống đê sông Cầu và đêbao ngòi Cầu Sim, công trình đầu mối kênh mương và các công trình khác.Tổng diện tích đất của hệ thống thuỷ lợi là 936,68 ha chiếm 5,48% tổngdiện tích tự nhiên của huyện
Chỉ tính riêng xã Bích Sơn có hơn 2000 km kênh mương kiên cố hoádẫn nước đến từng thửa ruộng Mỗi thôn có 1 trạm bơm để phục vụ sản xuất
1.3.2 Điều kiện kinh tế
Nền kinh tế Việt Yên về cơ bản vẫn là nền kinh tế nông nghiệp mangtính tự cung tự cấp còn bộc lộ khá rõ Đây là địa bàn vẫn còn không ít khókhăn về phát triển kinh tế Đất đai kém màu mỡ, mặt khác sản xuất nôngnghiệp còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên; sản xuất còn mang tínhnhỏ lẻ, chưa có quy hoạch rõ ràng đối đối với những vùng sản xuất nôngnghiệp chuyên canh
Tuy nhiên với những thuận lợi cơ bản về điều kiện địa lý, trình độ dântrí tương đối cao, lại có tính cần cù nên những năm gần đây cùng với sựphát triển chung của đất nước Việt Yên đang trên đà phát triển nhanh và đạt
được nhiều thành tựu lớn trong phát triển kinh tế
Trang 312 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Phương pháp bố trí thí nghiệm và các biện pháp kỹ thuật tuân theoquy phạm khảo nghiệm giống lạc của trung tâm khảo nghiệm giống câytrồng TW năm 2006
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn gồm 5 côngthức với 3 lần nhắc lại
Sơ đồ thí nghiệm
Dải bảo vệI
IIIII
- Diện tích toàn thí nghiệm: 15 x 7,5 = 112,5m2 (không kể rãnh và lối
đi xung quanh)
Các công thức tham gia thí nghiệm:
Ruộng thí nghiệm có thành phần cơ giới nhẹ, chủ động tưới tiêu Đất
được cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại, lên luống rộng 1,5m (cả rãnh), cao 20 25cm San phẳng mặt luống, độ ẩm đất lúc gieo là 75 - 80% độ ẩm tối đa
Trang 32- Gieo hạt: Dùng cuốc rạch rãnh bón phân lót sau đó lấp một lớp đấtnhẹ phủ kín phân rồi gieo hạt Độ sâu lấp hạt là 3 - 4 cm, dặm bổ sung khicây có 1- 2 lá thật để đảm bảo mật độ.
- Cách bón:
Bón lót toàn bộ phân hữu cơ và phân lân, 1/2 lượng vôi + 1/2 lượng
đạm + 1/2 lượng kali Toàn bộ phân hoá học được trộn đều và bón vào hàng
đã rạch sẵn sau đó bón phân chuồng
Bón thúc lần 1: Khi cây có 2 - 3 lá thật, dùng 1/2 lượng đạm + 1/2lượng kali
Bón thúc lần 2: Khi cây ra hoa rộ, dùng 1/2 lượng vôi
Giữ độ ẩm đồng ruộng thường xuyên khoảng 65 - 70% độ ẩm tối đa,
đặc biệt là vào hai thời kỳ quan trọng là khi ra hoa (7 - 8 lá) và thời kỳ hìnhthành quả Tưới phun hoặc tưới vào rãnh ngập 2/3 luống để nước ngấm đềusau đó tháo cạn
Trang 33chuyển màu đen và nhăn, vỏ lụa có màu đặc trưng) Thu riêng quả từng ô,phơi đạt độ ẩm hạt khoảng 10%.
4 Một số chỉ tiêu theo dõi và phương pháp đánh giá.
Một số chỉ tiêu theo dõi được đánh giá trực tiếp ngoài đồng rụộng.Các tính trạng mang tính định tính: Đặc điểm hình thái, thời gian sinhtrưởng
4.1 Đặc điểm hình thái
- Dạng cây : Đứng, nửa đứng, bò ngang
Quan sát toàn bộ cây trên ô vào thời kỳ ra hoa rộ
- Màu sắc lá non: Xanh đậm, xanh nhạt, xanh vàng…
Quan sát toàn bộ cây trên ô vào thời kỳ hoa rộ
- Dạng hạt, màu sắc hạt
Dạng hạt: Hình thuận, hình trụ tròn ngắn, hình trụ tròn dài và hìnhtròn
Màu sắc: Vàng pha, đỏ nhạt, trắng nhạt, đỏ tía, đỏ nâu
Quan sát lúc hạt chín (hạt tươi) khi thu hoạch
- Dạng quả: Eo thắt nông, trung bình, sâu hay mỏ nhọn, mỏ hơi nhọn,không có mỏ
Quan sát quả của từng giống khi quả chín
4.2 Thời gian sinh trựởng của các giống.
- Tỷ lệ mọc (%)
- Thời gian gieo đến mọc (ngày) Tính từ khi có 50% số cây mọc trên
ô khi có 2 lá mầm xoè ngang trên mặt đất
Quan sát số cây của toàn ô
- Thời gian gieo đến ra hoa (ngày) Tính từ khi gieo đến khi có 50%
số cây trên ô có ít nhất một hoa nở bất kỳ đốt nào trên thân chính
- Thời gian từ gieo đến chín sinh lý (ngày) Khi có 80 - 85% số quả
có gân điển hình, mặt trong vỏ quả chuyển màu đen, vỏ lụa hạt có màu đặctrưng của giống, tầng lá giữa và gốc chuyển màu vàng và rụng
Quan sát toàn bộ cây trên ô
4.3 Khả năng sinh trưởng và phát triển của cây.
(Phương pháp theo dõi: Lấy ngẫu nhiên liên tiếp trên ô đeo thẻ theo dõi từ1- 10 cây, lấy ở giữa ô)
+ Chiều cao cây (cm) Đo từ đốt lá mầm đến định sinh của thân chínhcủa 10 cây mẫu/ô Đo khi cây có 2 - 3 lá thật sau đó cứ 7 ngày đo 1 lần
Trang 34- Số cành cấp I/cây.
Đếm số cành hữu hiệu (có quả) mọc từ thân chính của 10 cây trên ôvào lúc thu hoạch
Tốc độ tăng trưởng số lá Đếm số lá trên thân chính cùng với thờigian đo tốc độ tăng trưởng chiều cao cây
4.4 Một số chỉ tiêu sinh lý.
- Chỉ số diện tích lá (CSDTL)
Theo dõi vào 3 thời kỳ: Bắt đầu ra hoa, kết thúc ra hoa, quả chắc.Phương pháp làm: Tưới đậm nước vào gốc những cây sẽ nhổ nghiêncứu, dùng dầm xắn gốc 5 cây (lấy cây tương ứng với cây cắm cọc để đo
đếm) và rửa sạch đem về phòng thí nghiệm
Tiến hành theo phương pháp cân nhanh Từ các ô thí nghiệm lấy câytương tự 5 cây mẫu cân 1dm2 lá sau đó cân toàn bộ số lá Ta tách rời toàn
bộ số lá trên cây và cân khối lượng toàn bộ số lá của cây, nhặt 3 loại lá trêncây (già, bánh tẻ, non) để đục lỗ lấy diện tích 1dm2
CSDTL = Pb x số cây/1m2đất
Pa x 5Pa: Khối lượng 1dm2Pb: Khối lượng toàn bộ lá của 5 cây
- Khả năng tích luỹ chất khô (g chất khô/cây)
Thu mỗi ô 5 cây (tiến hành đo cùng chỉ số diện tích lá) cho vào tủ sấy
9 - 12 giờ cân 1 lần, sau 30 phút sấy tiếp cân lần 2, tiếp tục sấy và cân cho
đến khi khối lượng lần trước và lần sau không đổi
Công thức tính: KNTLVCK = Pk/5
Pk: Khối lượng sấy khô của 5 cây
- Sự phát triển của nốt sần
Theo dõi và lấy mẫu ở 3 thời kỳ (cùng với chỉ số diện tích lá): Thời
kỳ bắt đầu ra hoa, kết thúc ra hoa và quả chắc Mỗi ô lấy 5 cây:
+ Đếm tổng số nốt sần+ Xác định số nốt sần hữu hiệu+ Xác định số nốt sần vô hiệu
Phương pháp tiến hành: Trước khi nhổ cây tưới đậm, sau tưới 15 phúttưới lại lần 2 sau đó dùng dầm đánh lên cho vào chậu nước rồi lọc phần nốtsần rụng đem đếm và phần nốt sần còn dính trên rễ