Nhóm 2 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA MARKETING
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA MARKETING
🙣🙣🙣
BÀI TẬP NHÓM
MÔN: Pháp luật đại cương
NHÓM 2
Lớp học phần: Pháp luật đại cương (221)_31
Hà Nội – T5/2021
Trang 2ĐỀ BÀI
Câu 1:Phân tích năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia quan hệ
pháp luật Cho ví dụ minh hoạ
Câu 2: Phân tích năng lực chủ thể của pháp nhân khi tham gia quan hệ
pháp luật Cho ví dụ minh hoạ
Câu 3: Phân biệt cá nhân và người đại diện theo pháp luật của pháp
nhân khi tham gia quan hệ pháp luật
THÀNH VIÊN NHÓM 2
1 Lê Hải Yến – 11216369
2 Vũ Hương Giang – 11211824
3 Nguyễn Minh Quang – 11217304
4 Nguyễn Ngọc Khánh – 11217259
5 Nguyễn Hữu Thể - 11217314
Trang 3MỤC LỤC
Câu 1: Phân tích năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia quan hệ pháp
1 Phân tích năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia quan hệ pháp
1.2 Các bộ phận hợp thành năng lực chủ thể của cá nhân 4
1.3 Mối quan hệ giữa 2 “năng lực pháp luật dân sự” và “năng lực hành
Câu 2: Phân tích năng lực chủ thể của pháp nhân khi tham gia quan hệ pháp
1 Phân tích năng lực chủ thể của pháp nhân khi tham gia quan hệ
2.1 Năng lực chủ thể của pháp nhân 7
2.2 Đặc điểm năng lực chủ thể của pháp nhân 8
2.3 Hoạt động của pháp nhân 9
Câu 3: Phân biệt cá nhân và người đại diện theo pháp luật của pháp nhân khi
Trang 4Câu 1: Phân tích năng lực chủ thể của
cá nhân khi tham gia quan hệ pháp luật Cho ví
dụ minh hoạ
1 Phân tích năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia quan
hệ pháp luật
1.1 Khái niệm
Chủ thể đầu tiên và quan trọng nhất trong các quan hệ pháp luật dân sự là
cá nhân Tính đến hiện nay, định nghĩa về cá nhân vẫn chưa thực sự thống nhất, về cơ bản, các quan niệm về cá nhân khẳng định là cơ thể sống với các
năng lực, thuộc tính tạo nên “nhân vị tính” để nhận diện cá nhân này với cá
nhân khác Mỗi cá nhân là một tế bào của xã hội và tạo nên một chỉnh thể xã hội hiện nay Chính các cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp thiết lập, thực hiện các quan hệ và cũng tạo nên mạng lưới quan hệ xã hội vô cùng đa dạng Khi xem xét cá nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự thì yếu tố đầu tiên, quan trọng nhất là xem xét năng lực chủ thể của cá nhân
Năng lực chủ thể của cá nhân thường được quan niệm là khả năng cá nhân
có và thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự mà pháp luật quy định cho mình
1.2 Các bộ phận hợp thành năng lực chủ thể của cá nhân
Theo lý thuyết chung về năng lực chủ thể, năng lực chủ thể của cá nhân được hợp thành bởi hai bộ phận: năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành
vi dân sự
a, Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Khái niệm: Điều 16 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.” Có nghĩa là, Nhà nước công nhận và trao cho cá nhân quyền cũng như nghĩa vụ dân sự Đây là tiền đề, điều kiện cần thiết để công dân có quyền, có nghĩa vụ; là thành phần không thể thiếu được của cá nhân với tư cách chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, là một mặt của năng lực chủ thể Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết
Ví dụ: Con người ngay từ khi sinh ra đã có quyền được khai sinh, có họ
tên
Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân:
Trang 5● Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản
● Quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản
● Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó
● Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật dân sự, Luật khác có liên quan quy định khác
b, Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Khái niệm: Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân
bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự
Ví dụ: Khi đủ 18 tuổi, con gái có quyền đăng ký kết hôn, trong khi với
con trai là 20 tuổi
Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015 quy định năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Theo đó tùy theo từng điều kiện, năng lực hành vi dân sự của mỗi cá nhân là khác nhau
Người thành niên : Là người chưa đủ 18 tuổi trở nên và có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp mất năng lực hành vi, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, hạn chế năng lực hành vi dân sự
Người chưa thành niên: Là người chưa đủ 18 tuổi
● Giao dịch dân sự của người chưa đủ 6 tuổi do người đại diện theo luật pháp của người đó xác lập, thực hiện
● Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi khi xác lập thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi
● Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động, động sản phải đăng kí và giao dịch dân sự khác theo quy định của pháp luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý
c, Mất năng lực hành vi dân sự
Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Toà án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc
Trang 6của cơ quan, tổ chức hữu quan, Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên
bố mất năng lực hành vi dân sự
Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
d, Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không có đủ khả năng nhân thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành
vi dân sự thì theo yêu cầu của người này hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Toà án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì theo yêu cầu của chính người đó, hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
e, Hạn chế năng lực hành vi dân sự
Người nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, toà án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Toà án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện
Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người
bị Toà án tuyên bố hạn chế hành vi năng lực dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan cho quy định khác
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự
1.3 Mối quan hệ giữa 2 “năng lực pháp luật dân sự” và “năng lực hành vi dân sự”
Hai yếu tố trên là cần và đủ để tạo nên Năng lực chủ thể của cá nhân
Trang 7Năng lực pháp luật là tiền đề pháp lý cho chủ thể thực hiện năng lực hành
vi, được hiểu đây là phạm vi các quyền do pháp luật quy định cho cá nhân, cá nhân chỉ được thực hiện các quyền trong phạm vi đó Cá nhân được phép thực hiện những hành vi nhất định (pháp luật cho phép hoặc không cấm) Năng lực hành vi dân sự là “phương tiện” hiện thực hóa năng lực pháp luật dân sự
Hiểu là: pháp luật ghi nhận các quyền cho chủ thể, chỉ được thành hiện thực
khi chủ thể thực hiện bằng hành vi của mình
Năng lực pháp luật có khi sinh ra, Năng lực hành vi có khi đạt độ tuổi nhất định
Năng lực pháp luật mọi cá nhân là như nhau, Năng lực hành vi không như nhau
Năng lực pháp luật chấm dứt khi cá nhân chết, Năng lực hành vi chấm dứt ngay cả khi cá nhân còn sống Năng lực chủ thể của cá nhân bao gồm năng lực hành vi và năng lực pháp luật
2 Ví dụ minh họa:
Ví dụ về năng lực pháp luật dân sự: Một đứa bé 1 tuổi sẽ có năng lực
pháp luật dân sự, đây chính là tiền đề để đứa bé đó có các quyền dân sự liên quan như: quyền thừa kế di chúc
Ví dụ về năng lực hành vi dân sự của cá nhân: anh Nguyễn Văn A sở hữu
một xe tải có giấy tờ hợp pháp, anh có quyền bán, tặng cho, để thừa kế, thế chấp cho bất kỳ người nào mà không ai được quyền ngăn cản Khi thực hiện các giao dịch trên, anh A có nghĩa vụ chuyển giao tài sản của mình cho người nhận hoặc cơ quan, tổ chức nhận đúng tài sản đã giao kết và các giấy tờ có liên quan đến tài sản đó
Câu 2: Phân tích năng lực chủ thể của pháp nhân khi tham gia quan hệ pháp luật Cho
ví dụ minh hoạ
1 Phân tích năng lực chủ thể của pháp nhân khi tham gia quan hệ pháp luật
2.1 Năng lực chủ thể của pháp nhân
Trang 8Pháp nhân là một chủ thể độc lập, có năng lực chủ thể để tham gia quan
hệ pháp luật một cách bình đẳng với các chủ thể khác Cũng giống như chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự nói chung, năng lực chủ thể của pháp nhân
là khả năng pháp nhân có và thực hiện các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định Năng lực chủ thể của pháp nhân bao gồm hai bộ phận: năng lực pháp luật và năng lực hành vi
Năng lực pháp luật là các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật ghi nhận, thừa nhận và bảo đảm thực hiện cho mỗi pháp nhân riêng biệt Năng lực pháp luật được ghi nhận dựa trên từng ngành, nghề mà nhà làm luật thừa nhận sự tồn tại, khuyến khích sự phát triển Do đó, pháp nhân khi lựa chọn từng ngành, nghề kinh doanh, hoạt động sẽ tương ứng sẽ có các quyền, nghĩa vụ ghi nhận cho từng ngành, nghề kinh doanh, hoạt động đó
Năng lực hành vi của pháp nhân là khả năng pháp nhân thực hiện các quyền, nghĩa vụ mà pháp luật ghi nhận cho mình tương ứng với ngành, nghề
mà pháp nhân lựa chọn kinh doanh, hoạt động Khả năng thực hiện của pháp nhân sẽ lệ thuộc vào năng lực quản lý, năng lực tài chính, nguồn nhân lực và các yếu tố khác của pháp nhân này
Từ sự phân tích trên cho thấy, nếu như cá nhân chỉ cần có điều kiện như nhau thì năng lực pháp luật sẽ như nhau Còn năng lực chủ thể của pháp nhân chịu sự chi phối của ngành, nghề, lĩnh vực mà pháp nhân hoạt động khi xác định năng lực pháp luật và năng lực hành vi
2.2 Đặc điểm năng lực chủ thể của pháp nhân
Không như cá nhân, pháp nhân là một tổ chức và năng lực chủ thể của pháp nhân có những đặc điểm riêng Cụ thể:
Thứ nhất, năng lực giữa các pháp nhân khác nhau thì cũng khác nhau Quyền, nghĩa vụ của từng pháp nhân được ghi nhận lệ thuộc vào ngành, nghê, lĩnh vực mà pháp nhân hoạt động, kinh doanh cũng như phạm vi hoạt động Như vậy, các pháp nhân sẽ không có năng lực pháp luật như nhau vì có
sự khác biệt về ngành nghề hoặc phạm vi hoạt động ngành nghề
Thứ hai, thời điểm phát sinh năng lực pháp luật và năng lực hành vi của pháp nhân là cùng một thời điểm Đây là nét riêng biệt so với năng lực chủ thể của cá nhân - một chủ thể quan trọng, chiếm số lượng lớn trong các quan
hệ pháp luật dân sự Pháp nhân bản thân tên gọi cho thấy đây là một “người pháp lý” tức là sản phẩm của các nhà làm luật thừa nhận sự tồn tại về mặt
Trang 9pháp lý chủ thể này Nên để một pháp nhân tồn tại sẽ dựa vào mốc đăng ký thành lập hoặc quyết định thành lập đối với từng chủ thể này Ngay khi chính thức tồn tại, pháp nhân sẽ mang đầy đủ luôn cả năng lực pháp luật với năng lực hành vi
Theo quy định tại Điều 85 Bộ luật Dân sự năm 2015, hoạt động của pháp nhân sẽ thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo uỷ quyền và thông qua người của pháp nhân
Pháp nhân hoạt động thông qua hành vi của người đại diện theo pháp luật: Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về người đại diện theo
pháp luật của pháp nhân là người được pháp nhân chỉ định trong điều lệ hoặc theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Người đại diện theo điều lệ của pháp nhân: Điều lệ pháp nhân mà thường
là pháp nhân đăng ký thành lập sẽ ghi nhận người đại diện theo pháp luật của pháp nhân Người này có thể là Tổng giám đốc, Giám đốc, Chủ tịch hội đồng thành viên, Chủ tịch hội đồng quản trị tuỳ theo sự lựa chọn, thống nhất của các thành viên sáng lập ra pháp nhân Thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được ghi nhận luôn trong Điều lệ Khi người đại diện theo pháp luật thực hiện nhiệm vụ của mình cũng cần căn cứ vào quy trình, thủ tục mà được quy định cụ thể trong pháp nhân Chính vì là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân nên người đại diện này cũng là người phải chịu trách nhiệm cao nhất cho mọi hoạt động của pháp nhân
Người đại diện theo quyết định thành lập pháp nhân: Đối với các pháp
nhân mà sáng kiến thành lập, quyết định thành lập sẽ do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức có thẩm quyền ban hành thì người đại diện cho pháp nhân cũng được xác định theo quyết định này Phạm vi quyền hạn của người đại diện cho pháp nhân cũng được xác định theo quyết định hoặc xác định theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực tương ứng hoặc trong giao dịch đã được luật quy định
Người đại diện pháp nhân do Toà án lựa chọn: Trường hợp có tranh
chấp phát sinh trong quan hệ dân sự, lao động, thương mại và các tranh chấp khác mà chưa có người đại diện theo pháp luật thì người Tòa án hoặc cơ quan trọng tài chỉ định trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án hay theo quy định về pháp nhân tham gia tố tụng Hành vi của người đại diện của pháp
Trang 10nhân trong quá trình tố tụng được xác định là hành vi của pháp nhân.
Bên cạnh đó, đại diện theo pháp luật của pháp nhân còn lưu ý trường hợp một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân trong thời hạn theo quyết định của
cơ quan có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật Việc đại diện theo pháp luật của pháp nhân trong thời hạn và đại diện của pháp nhân không theo thời hạn chấm dứt trong trường hợp pháp nhân chấm dứt tồn tại
Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật, thì phạm vi đại diện của mỗi người căn cứ vào quyết định của cơ quan có thẩm quyền, điều lệ cùa pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật
Trong trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện, thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch vì lợi ích của pháp nhân, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Pháp nhân hoạt động thông qua người đại diện theo uỷ quyền: Do các lý
do khác nhau, để đảm bảo sự xuyên suốt, ổn định cho hoạt động pháp nhân, nhà làm luật cho phép pháp nhân được hoạt động thông qua người đại diện theo uỷ quyền Người đại diện theo uỷ quyền được xác định tư cách cũng như phạm vi uỷ quyền dựa trên quyết định uỷ quyền hoặc hợp đồng uỷ quyền giữa người đại diện theo pháp luật với người đại diện theo uỷ quyền này Người đại diện theo uỷ quyền chỉ được phép thực hiện các hoạt động, nhân danh pháp nhân trong phạm vi mình được uỷ quyền Trường hợp vượt quá phạm vi uỷ quyền thì người đại diện theo uỷ quyền phải tự chịu trách nhiệm với chính pháp nhân và với bên thứ ba Tuy nhiên, trách nhiệm của người đại diện theo uỷ quyền cũng có thể được xác định khác nguyên tắc trên nếu như các bên có thoả thuận khác
Pháp nhân hoạt động thông qua người của pháp nhân: Người của pháp
nhân có thể là các thành viên sáng lập khác của pháp nhân và thực hiện công việc trong phạm vi được giao, là người lao động ký hợp đồng với pháp nhân trong các vị trí việc làm cụ thể Tương ứng với vị trí công việc, phạm vi công việc được giao, người này phải chịu trách nhiệm với những hoạt động của mình vì bản thân họ đang là người được nhân danh pháp nhân thực hiện Do
đó, pháp nhân cũng phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của thành viên pháp nhân khi thực hiện các công việc được pháp nhân giao
2 Ví dụ minh họa: