BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP HỒ CHÍ MINH KHOA CHÍNH TRỊ LUẬT o0o BÀI TẬP CUỐI KỲ TÊN ĐỀ TÀI QUY ĐỊNH CHUNG CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CHỦ THỂ CỦA TỘI PHẠM LÀ CÁ NHÂN V[.]
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA CHÍNH TRỊ - LUẬT
-o0o BÀI TẬP CUỐI KỲ TÊN ĐỀ TÀI: QUY ĐỊNH CHUNG CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CHỦ THỂ CỦA TỘI PHẠM LÀ CÁ NHÂN VÀ LIÊN HỆ
THỰC TIỄN
NHÓM: 5
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2021
Trang 2BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HỒ CHÍ MINH
Phan Minh Tân
Ngô Nguyễn Anh Thư
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2021
Trang 3Lời cam đoan
Chúng em xin cảm đoan đề tài: Quy định chung của pháp luật hình sự Việt Nam vềchủ thể của tội phạm là cá nhân và liên hệ thực tiễn do nhóm 5 nghiên cứu và thực hiện
Chúng em đã kiểm tra dữ liệu theo quy định hiện hành
Kết quả bài làm của đề tài uy định chung của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm là cá nhân và liên hệ thực tiễn là trung thực và không sao chép từ bất kỳ bài tập của nhóm khác
Các tài liệu sử dụng trong tiểu luận có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Phan Minh Tân
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 2
1 Quy định chung của pháp luật Hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm là cá nhân 2
1.1 Khái niệm của chủ thể tội phạm theo quy định của bộ luật hình sự hiện nay 2
1.2 Các quy định chung của pháp luật hình sự việt nam về chủ thể của tội phạm cá nhân 5 2 Liên hệ thực tiễn Quy định chung của pháp luật Hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm là cá nhân 10
2.1 Một số vụ án bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở Việt Nam 10
2.2 Tình hình tội phạm hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh 16
PHẦN KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
PHỤ LỤC 22
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài quy định chung của pháp luật Hình sự Việt Nam về chủ thể củatội phạm là cá nhân và liên hệ thực tiễn Chủ thể tội phạm theo quy định của Luật Hình sựViệt Nam phải là con người cụ thể chứ không chấp nhận chủ thể của tội phạm là tổ chức
Tổ chức không bị truy cứu trách nhiệm hình sự Chỉ có cá nhân cụ thể trong tổ chức phạmtội mới phải chịu trách nhiệm hình sự, đây là sự khác biệt của Luật Hình sự Việt Nam sovới Luật Hình sự ở một số nước trên thế giới Chủ thể của tội phạm phải là một người cụthể đang sống Khi người phạm tội còn sống họ mới nguy hiểm cho xã hội, cần giáo dục
để họ trở thành người có ích cho xã hội Chỉ con người đang sống mới cần cải tạo, giáodục Luật Hình sự Việt Nam quy định chủ thể là con người cụ thể thực hiện hành vi phạmtội, vậy pháp luật Hình sự không cho phép người khác chịu trách nhiệm hình sự thay chongười phạm tội, kể cả họ là người thân thích ruột thịt Đây là nguyên tắc cá nhân hóa, cụthể hóa trách nhiệm hình sự Pháp luật Hình sự không cho phép truy cứu trách nhiệm hình
sự người đã chết Sau khi phạm tội, trước khi bị khởi tố nếu người phạm tội đã chết thìkhông được khởi tố vụ án hình sự Trong quá trình điều tra, nếu người phạm tội đã chếtthì phải đình chỉ vụ án với họ
- Chủ thể của tội phạm phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự Chỉ nhữngngười đủ năng lực trách nhiệm hình sự mới hiểu rõ hành vi của mình đúng hay sai, mớiđiều khiển được, tự chủ được hành vi của mình Người đủ năng lực trách nhiệm hình sự làngười không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh tật làm mất khả năng nhận thức hoặc tự chủhành vi của mình Pháp luật Việt Nam dựa vào 2 tiêu chuẩn để xác định năng lực tráchnhiệm hình sự: tiêu chuẩn y học và tiêu chuẩn tâm lý Theo tiêu chuẩn y học chủ thể tộiphạm phải là người không đang trong thời kỳ mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèokhác làm mất khả năng nhận thức và tự chủ hành vi của mình Theo tiêu chuẩn tâm lý:chủ thể tội phạm phải là người nhận thức và tự chủ được hành vi của mình, là người hiểuđược bản chất hành vi, điều khiển được hành vi
Trang 6- Chủ thể tội phạm phải là người đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Điều 12 Bộ luậtHình sự quy định: người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tộiphạm; người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Độ tuổi theoquy định của Bộ luật Hình sự là tuổi tròn tính từ ngày tháng năm sinh đến ngày tháng nămsinh Việc xác định độ tuổi được căn cư vào giấy khai sinh, sổ hộ khẩu Trường hợpkhông xác định được độ tuổi thì phải tiến hành giám định độ tuổi
Ngoài những dấu hiệu nói trên, có những tội phạm phải do chủ thể có điều kiện đặc biệtmới thực hiện được Những chủ thể có dấu hiệu ấy được gọi là chủ thể đặc biệt Dấu hiệuchủ thể đặc biệt bao gồm dấu hiệu về chức vụ, quyền hạn; dấu hiệu nghề nghiệp, tính chấtcông việc; dấu hiệu giới tính, dấu hiệu quan hệ gia đinh, họ hàng
Nhân thân người phạm tội tuy không phải là dấu hiêu của chủ thể, nhưng khi truy cứutrách nhiệm hình sự bao giờ cũng phải làm rõ những đặc điểm về nhân thân người phạmtội, điều đặc biệt coi trọng là những đặc điểm về lai lịch tư pháp của họ như tiền án, tiền
sự áp dụng hình phạt thỏa đáng, nhằm đạt hiệu quả giáo dục, cải tạo người phạm tội
PHẦN NỘI DUNG
1 Quy định chung của pháp luật Hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm là cá nhân.
1.1 Khái niệm của chủ thể tội phạm theo quy định của bộ luật hình sự hiện nay.
* Sơ lược về chủ thể của tội phạm
Tội phạm trước hết là một hành vi Chính vì thế, tội phạm bao giờ cũng được thực hiệnbởi chủ thể xác định Không thể có hành vi xuất hiện ngoài thế giới khách quan mà không
có chủ thể Các tác động trong thế giới vật chất gây ra những thiệt hại “đáng kể”, như sấmsét, lũ lụt, động đất, núi lửa…xảy ra từ tự nhiên thì không được gọi là hành vi Theo từđiển, hành vi được hiểu là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài củamột con người trong một hoàn cảnh cụ thể Theo nghĩa rộng, hành vi còn bao gồm cả
Trang 7những biểu hiện của tất cả các loài vật nói chung khi chúng ta quan sát chúng Như vậy,tội phạm phải có chủ thể thực hiện Luật hình sự của nhân loại trong mọi thời điểm lịch sửđều xây dựng trên nguyên tắc này Tuy nhiên, trong những điều kiện lịch sử khác nhau,chủ thể của tội phạm có thể được xem là khác nhau phụ thuộc vào ý chí của giai cấpthống trị Thời cổ đại, không chỉ người mà cả súc vật hay những vật vô tri cũng có thể làchủ thể của tội phạm Thời trung cổ, ta vẫn còn thấy những súc vật hay đồ vật bị lên án vàtrừng phạt khi chúng gây thiệt hại cho người Một vài di tích của thời đại này đã để lại ởmột số bộ tộc chưa được khai hoá tồn tại cả ở thời hiện đại Tại miền Trung đảoMadagascar có tục trừng phạt cá sấu khi nó ăn thịt người Con vật thủ phạm bị kéo lên bờsông, rồi họ tổ chức một buổi lễ long trọng, lên án và xử tử con cá sấu đó.Thời cận đại vàhiện đại, ngoại trừ một số bộ tộc chưa tiếp cận với thế giới văn minh, loài người thườngchỉ thừa nhận hành vi phạm tội phải thông qua con người Bộ Quốc triều hình luật củanước ta vào thế kỷ thứ XV đã quy định chủ thể của tội phạm là cá nhân con người Tất cảmọi người khi có hành vi phạm tội thì phải bị xét xử Mặc dù luật có quy định quy chếmiễn, giảm áp dụng hình phạt đối với người phạm tội đã lớn tuổi hoặc nhỏ tuổi nhưngkhông giới hạn tuổi phải gánh chịu hình phạt Nghĩa là con người từ khi mới sinh ra đã cóthể là chủ thể của tội phạm (Điều 16 Quốc triều hình luật) Nói như thế không phải takhẳng định rằng, các nhà làm luật thời Hồng Đức không quan tâm đến vấn đề mục đíchcủa việc xử lý hành vi phạm tội và lỗi của chủ thể Suy cho cùng, pháp luật được Nhànước đặt ra là để điều chỉnh các mối quan hệ, những hành vi chống đối xã hội, giảm và cóthể được thì loại trừ chính chủ thể đã có hành vi đi ngược với ý chí của Nhà cầm quyền.Các nhà làm luật thời Hồng Đức cũng không thoát ra khỏi mục đích đó khi đưa ra BộQuốc triều hình luật Điều 14 Bộ luật này quy định: “Những quan viên quân dân phạm tộinếu vì sự sơ suất lầm lỗi từ tội lưu trở xuống thì cho chuộc tội bằng tiền ” Điều đó chothấy, nhà làm luật vẫn hết sức chú ý đến yếu tố lỗi của chủ thể Hiện nay, Luật hình sựcủa một số nước trên thế giới không chỉ dừng lại ở việc xem xét chủ thể của tội phạm là
cá nhân con người mà họ còn xem xét các tổ chức
Trang 8(organisation) Theo họ, các tổ chức mà pháp luật gọi là pháp nhân (legal person) cũng có
đủ tư cách và điều kiện trở thành chủ thể của tội phạm và phải chịu hình phạt Trên thực
tế, hiện nay nhiều quốc gia như Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore, Úc, Pháp đã xempháp nhân là chủ thể của tội phạm Muốn tìm hiểu vấn đề này, chúng ta có thể tìm đọc cácchuyên đề về trách nhiệm hình sự của pháp nhân
*Khái niệm chủ thể tội phạm theo luật hình sự Việt Nam hiện nay
Luật hình sự Việt nam hiện hành xác định chủ thể của tội phạm chỉ có thể là cá nhân conngười Trong nhiều quy định của Bộ luật hình sự hiện hành đã thể hiện một nguyên tắc cơbản là: chỉ “người” nào phạm một tội đã được Luật hình sự quy định mới phải chịu tráchnhiệm hình sự Điều này xuất phát từ nguyên tắc lỗi và nguyên tắc chịu trách nhiệm cánhân Tuy nhiên, không phải mọi cá nhân đều có thể là chủ thể của tội phạm Chỉ ngườinào có năng lực trách nhiệm hình sự mới có thể là chủ thể của tội phạm.75 Dấu hiệu nàyđược rút ra từ các thuộc tính của tội phạm Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự: “Tội phạm làhành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lựctrách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý” Như vậy, chủ thể của tội phạmtrước hết là con người và con người đó phải có năng lực trách nhiệm hình sự Cụm từ
“năng lực trách nhiệm hình sự” đã bao hàm người đó phải đạt tuổi chịu trách nhiệm hình
sự Năng lực trách nhiệm hình sự là năng lực tự ý thức ý nghĩa xã hội của hành vi nguyhiểm cho xã hội, khả năng điều khiển hành vi đó của mình cũng như khả năng gánh lấyhậu quả là trách nhiệm hình sự từ hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình Con người từkhi mới sinh ra có thể đã có năng lực nhận thức về thế giới Tuy nhiên, phải đạt đến độtuổi nhất định thì con người mới có năng lực trách nhiệm hình sự Yêu cầu này phù hợpvới nguyên tắc lỗi mà luật hình sự Việt nam đã xác định khi truy cứu trách nhiệm hình sựđối với người phạm tội, đồng thời cũng phù hợp với nguyên tắc quyết định hình phạt vàchính sách hình sự của nước ta Chỉ có con người cụ thể, phát triển bình thường đến một
độ tuổi nhất định thì mới có thể nhận thức được những gì mình làm (lỗi) và việc áp dụnghình phạt đối với họ mới mang lại hiệu quả (cải tạo, giáo dục) được
Trang 91.2 Các quy định chung của pháp luật hình sự việt nam về chủ thể của tội phạm cá nhân.
Chủ thể của tội phạm là cá nhân được ghi nhận ở pháp luật hình sự của tất cả các quốc giatrên thế giới Pháp luật hình sự Việt Nam đã xác định cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự
là con người cụ thể khi thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định, các điều kiện đó là:
có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định theo luật định
* Năng lực trách nhiệm hình sự
Năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành
vi và điều khiển được hành vi của người phạm tội
Luật hình sự không xác định ai là người có năng lực hành vi phạm tội nhưng các quy địnhcủa pháp luật hình sự lại xác định điều kiện có năng lực hành vi phạm tội
- Điều kiện đầu tiên là người phạm tội phải đủ tuổi theo quy định của pháp luật hình sự.Luật hình sự thừa nhận một người thực hiện một hành vi nhất định ở độ tuổi nhất định,nhận thức được mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả đã xảy ra (hoặc có thể xảy ra),điều khiển hành vi của mình theo yêu cầu của xã hội và pháp luật
- Điều kiện thứ hai là người phạm tội khi đủ tuổi luật định, không mắc bệnh làm mất khảnăng nhận thức, mất khả năng điều khiển hành vi Những bệnh này được luật hình sự quyđịnh cụ thể
Tóm lại, có thể hiểu, người có năng lực trách nhiệm hình sự là người đạt độ tuổi theo luậtđịnh và không mắc các căn bệnh làm mất khả năng nhận thức, mất khả năng điều khiểnhành vi
* Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự là một bộ phận rất quan trọng để xác định trách nhiệmhình sự của cá nhân chủ thể Quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thể hiện quan
Trang 10điểm của Nhà nước về cách xử lý người phạm tội, vừa đảm bảo trật tự an toàn xã hội, vừađạt được mục tiêu bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền của người dưới 18 tuổi kể cảkhi họ phạm tội Những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội.
BLHS Việt Nam được xây dựng trên cơ sở thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm,kinh nghiệm của một số nước, kết quả nghiên cứu tâm lý con người và các bằng chứngkhoa học Chính sách hình sự trong thời kỳ lịch sử của đất nước, Điều 12 Bộ luật Hình sựnăm 2015 quy định: “1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọitội phạm, trừ những tội có quy định khác của Bộ luật này Từ 14 tuổi trở lên Người dướimười sáu tuổi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt là các Điều 123, 134, 141, 142, 143,Điều 144, Điều 150, Điều 151, Điều 168, Điều 169, Điều 170, 171, 173, 178, 248, 249,
250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này "
Như vậy, luật hình sự Việt Nam không quy định độ tuổi tối đa phải chịu trách nhiệm hình
sự, mà chỉ quy định độ tuổi tối thiểu chịu trách nhiệm hình sự là tròn 14 tuổi Tuy nhiên,
có những quy định về điều kiện để áp dụng trách nhiệm hình sự, cụ thể:
- Đối với người từ 16 tuổi trở lên “phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừnhững tội phạm có quy định khác trong Bộ luật này” Theo sự phát triển chung về thể chất
và tâm lý của người Việt Nam, người từ đủ 16 tuổi trở lên là người nhận thức được sựnguy hiểm của mọi hành vi mình làm và có khả năng kiểm soát các hành vi này Vì vậy,hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm do mình gây ra Tuy nhiên, để xácđịnh tính phù hợp và tính linh hoạt của việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một sốtội phạm cụ thể, luật hình sự có những quy định riêng đối với những tội phạm nhất định,
và độ tuổi cụ thể được đề cập trong cấu thành cơ bản của tội phạm Chẳng hạn, Điều 145khoản 1 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nào giao cấu với người chưa đủ 13tuổi mà chưa đủ 16 tuổi hoặc giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác thì
bị bị phạt tù có thời hạn Từ 01 tuổi đến 05 tuổi ”, do đó, độ tuổi tối thiểu để thực hiệnhành vi phạm tội này là từ 18 tuổi trở lên
Trang 11- Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi “phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạmrất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123,
134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252,
265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.” Với quy định này, điềukiện để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi baogồm: (1) Tội phạm thực hiện phải là tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, tức
là mức cao nhất của khung hình phạt trên 07 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tửhình1; (2) Tội phạm thực hiện phải thuộc tội danh được quy định tại các điều 123, 134,
141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265,
266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật Hình sự Quy định này trong Bộ luậtHình sự năm 2015 đã thu hẹp phạm vi đối tượng người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổichịu trách nhiệm hình sự và đã khắc phục hạn chế của các Bộ luật Hình sự trước đó Bộluật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự năm 1999 đều xác định loại tội phạm và lỗi làdấu hiệu bắt buộc để truy cứu trách nhiệm hình sự2 mà không có sự phân loại các tộiphạm cụ thể ³ực tế, người trong độ tuổi này dễ bị lôi kéo, dụ dỗ để thực hiện tội phạm và
họ không nhận thức được hoặc nhận thức không đúng tính chất, mức độ nguy hiểm củahành vi mình thực hiện, ví dụ như các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm chiếntranh… Do đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã giới hạn một cách cụ thể, rõ ràng các loại tộiphạm và tội phạm cụ thể mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệmhình sự Quy định này phù hợp với nguyên tắc truy cứu trách nhiệm hình sự dựa vào yếu
tố lỗi và truy cứu trách nhiệm hình sự phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế kháchquan, đảm bảo quyền con người đặc biệt là quyền của người dưới 18 tuổi nói chung vàngười từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nói riêng
Pháp luật hình sự xác định nguyên tắc tính tuổi tròn đối với chủ thể của tội phạm là cánhân ³uật ngữ “từ đủ” trong điều luật đã xác định một nguyên tắc khi tính tuổi là phảitròn ngày, tròn tháng, tròn năm Ví dụ: Nguyễn Văn A sinh ngày 20/10/2002, vậy em tròn
14 tuổi vào ngày
Trang 1220/10/2016 và 16 tuổi vào ngày 20/10/2018 Nếu không xác định được ngày sinh, thángsinh của người phạm tội Sau đó, ngày cuối cùng của tháng sẽ được chọn, nếu tháng sinhđược xác định, hoặc ngày cuối cùng, tháng cuối cùng của quý, nếu xác định năm sinh,hoặc ngày cuối cùng, tháng cuối cùng của năm, nếu xác định năm sinh, ví dụ: 2019 Ngày20/5 Trần Văn B phạm tội giết người quy định tại Điều 123 khoản 1 Bộ luật Hình sự
2015 Sau khi xác minh, B sinh tháng 5/2005, nhưng ngày sinh thì không được được xácđịnh Trong trường hợp này, theo luật hình sự, ngày cuối cùng của tháng 5 năm 2005được coi là ngày sinh của B, tức là ngày sinh của B Ngày 31 tháng 5 năm 2005 Do đó Bchưa đủ 14 tuổi nên B không phải chịu trách nhiệm hình sự Quy định này xuất phát từnguyên tắc tố tụng hình sự đối với người phạm tội là có lợi và nhân đạo cho người phạmtội
* Chủ thể đặc biệt của tội phạm
Chủ thể đặc biệt của tội phạm là thuật ngữ dùng để chỉ người phạm tội ngoài điều kiện cónăng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định phải thỏa mãn thêm một số dấuhiệu thuộc về nhân thân dùng để định tội trong một số tội phạm cụ thể
Các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt là các đặc điểm phản ánh nhân thân người phạm tộiđược thể hiện ở đặc điểm sinh học, đặc điểm tâm lý và đặc điểm xã hội, dùng làm dấuhiệu để định tội, cụ thể:
- Về đặc điểm sinh học: Một số tội phạm quy định dấu hiệu tình dục là dấu hiệu của tộiphạm, như tội giết hoặc vứt xác con mới đẻ (Điều 124 BLHS năm 2015) yêu cầu ngườiphạm tội phải là mẹ đẻ, trực tiếp sinh ra đứa trẻ - nạn nhân bị giết hoặc bị bỏ rơi, vì vậy
đó phải là phụ nữ
- Về đặc điểm tâm lý: dấu hiệu tâm lý của người phạm tội là dấu hiệu bắt buộc ở nhiều tộiphạm, như các tội quy định tại Điều 125 và Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 2015 Khiphạm tội được yêu cầu ở nhà, họ rất hưng phấn, trạng thái tinh thần Khi phạm tội
Trang 13- Về đặc điểm xã hội: các dấu hiệu thuộc đặc điểm này được dùng làm dấu hiệu để địnhtội, rất phổ biến trong các tội phạm do luật hình sự quy định như dấu hiệu về gia cảnh.Mục 184 thi hành tội loạn luân, hoặc dấu hiệu của chủ sở hữu Địa vị, quyền hạn là dấuhiệu bắt buộc của tội phạm tham nhũng…
Trong một số tội phạm của Bộ luật hình sự, chủ thể cụ thể được xác định để xác địnhhành vi phạm tội, và chủ thể được xác định là điều kiện của việc truy cứu trách nhiệmhình sự cá nhân, điều này thể hiện tính linh hoạt và phù hợp Do đặc điểm nhân cách củangười phạm tội có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện tội phạm nên khi truy cứu tráchnhiệm hình sự cần xem xét kỹ lưỡng và phù hợp chức năng pháp lý của dấu hiệu nhânthân tùy theo tình huống tội phạm cụ thể
* Vấn đề thân nhân người phạm tội trong luật hình sự
Tuy tính cách của chủ thể tội phạm và người phạm tội không hoàn toàn giống nhau nhưnglại có quan hệ mật thiết với nhau Chủ thể của tội phạm là khái niệm dùng để chỉ mộtngười cụ thể có năng lực trách nhiệm hình sự và đã đủ tuổi (dấu hiệu của chủ thể) khithực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội Nhân thân của tội phạm là nhân cách xã hội,
là đặc điểm chủ thể bao hàm khái niệm chủ thể tội phạm
Nhân thân của tội phạm là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt để phân biệt tội phạm vớinhững người khác và có ảnh hưởng nhất định đến quá trình phạm tội
Việc xác định tội phạm có ý nghĩa pháp lý quan trọng:
- Về định tội danh: một số tội phạm đòi hỏi phải có chủ thể đặc biệt, các dấu hiệu của chủthể đặc biệt hầu hết phản ánh đặc điểm nhân thân của người phạm tội
- Về khung hình phạt và quyết định xử phạt: Nhiều tình huống định khung và tình huốngtăng nặng, giảm nhẹ là những tình huống được phản ánh bằng những dấu hiệu thuộc vềnhân cách của người phạm tội
Trang 14- Về mặt thực tiễn: Việc xác định nhân thân người phạm tội giúp cơ quan tố tụng làm rõnhiều tình tiết của vụ án, từ đó giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự Có thểthấy, nhân thân của tội phạm là tổng hợp để phân biệt đặc điểm riêng biệt của tội phạmvới những người khác, có ảnh hưởng nhất định đến quá trình thực hiện tội phạm.
2 Liên hệ thực tiễn Quy định chung của pháp luật Hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm là cá nhân.
2.1 Một số vụ án bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở Việt Nam.
* Vụ sát hại 6 người ở tỉnh Bình Dương
Theo cáo trạng, do có mâu thuẫn tình cảm với Nguyễn Thị Ánh Linh nên Dương đã lên kếhoạch sát hại gia đình bạn gái Trước khi vụ thảm sát xảy ra Dương rủ thoại đến nhà ông
Lê Văn Mỹ là cha của chị Linh để giết người cướp tài sản và được Thoại đồng ý
Rạng sáng ngày 5 tháng 7 năm 2015 cả hai chạy xe đến từ huyện Hóc Môn thành phố HồChí Minh đến nhà ông Mỹ nhưng do không thể đột nhập vào bên trong nên cả hai ra về.Tuy nhiên, hôm sau, Thoại không tham gia cùng Dương nữa với lý do về quê, trước khi
về quê thoại đưa cho dương một con dao thái lan do Thoại mua để gây án (sau này dươngdùng để đâm bà Nga tử vong)
Rạng sáng ngày 7 tháng 7 dương và tiến vào nhà ông Mỹ ra tay sát hại 6 người trong giađình nạn nhân và cướp một số tài sản
Trong vụ án này Dương và Tiến đạt chiếm đoạt tại số tài sản gồm 5 chiếc điện thoại, mộtiPad, một máy tính xách tay, hơn 4 triệu đồng tiền mặt cùng một số đồ vật khác (tổng giátrị hơn 49 triệu đồng) cơ quan điều tra cũng đã trưng cầu ý kiến giám định tâm thần đốivới Dương và Tiến kết quả khẳng định cả hai đều không có bệnh tâm thần đủ năng lựcchịu trách nhiệm hình sự trước trong và sau khi gây án
Đến 19:20 ngày 17 tháng 12 năm 2015 phiên tòa xét xử vụ án giết người cướp tài sản đốivới các Bị cáo Nguyễn Hải Dương (24 tuổi quê An Giang) Vũ Văn Tiến (24 tuổi quê