Trong đó, hướng nghiên cứu sản xuất sản phẩm kẹo dẻo từ trái bần cũng đem lại tính khả thi cao, do đặc tính quả bần có vị chua, thanh, kết hợp với các nguyên liệu khác sẽ mang đến một sả
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong suớt quá trình học tập và hoàn thành đồ án, em đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cơ, các anh chị, các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin được bày tỏ lới cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu trường ĐH Kỹ Thuật Cơng Nghệ, các thầy cơ trong khoa cơng nghệ thực phẩm và đặc biệt là GVHD cơ Trần Thị Thu Trà, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong quá trình học tập và hoàn thành đồ án Vàphịng thí nghiệm hĩa sinh trường ĐH Bách Khoa TP.HCM đã tạo điều kiện cho em được tiến hành các thí nghiệm một cách thuận lợi nhất
Với sự hướng dẫn tận tình của thầy cơ trong thời gian qua đã giúp em ngày một trưởng thành và hồn thiện mình hơn và phát huy được những yếu tố của mình Biết thêm những điều mới, cĩ thêm sự nỗ lực, ý thức nghiêm túc hơn trong học tập với mong muơn sau bốn năm học sẽ trang bị cho mình những kiến thức mà thấy cơ, trường lớp đã mang đến cho mình trong thời gian qua
Và đây cũng là thời điểm quan trọng để đánh dấu và khẳng định chính mình,
em mong muốn sẽ thể hiện được nhiều nhất những gì mình học được trong bài tốt nghiệp cuối khĩa này
Em xin chân thành cảm ơn!!!
TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012
SVTH: TRẦN THỊ THU TUYỀN
Trang 2
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài: bần một loại cây quen thuộc với người dân đồng bằng
sông Cửu Long và huyện duyên hải Cần Giờ Bần là loại cây sinh trưởng trong tự nhiên, ven các kênh, quả của loại cây này cũng là loại quả sinh trưởng tự nhiên theo mùa, không hề nhiễm phân bón, thuốc trừ sâu hay bất kỳ loại hóa chất nào Tại nhiều nước trên thế giới, quả bần đã được người dân tìm hiểu và khai thác thành công Tuy nhiên, tại Việt Nam giá trị của quả bần vẫn chưa được nghiên cứu, xét đến số lượng không nhỏ của loại quả này vẫn thường bị bỏ đi một cách lãng phí Vì thế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu sản xuất một số sản phẩm sử dụng nguyên liệu chính là quả của cây bần Trong đó, hướng nghiên cứu sản xuất sản phẩm kẹo dẻo
từ trái bần cũng đem lại tính khả thi cao, do đặc tính quả bần có vị chua, thanh, kết hợp với các nguyên liệu khác sẽ mang đến một sản phẩm có hương vị độc đáo, ngon miệng Nếu sản phẩm thành công có thể biến nó thành một món ăn đặc sản của vùng nguyên liệu, đem lại hiệu quả kinh tế cho bà con ở vùng nguyên liệu
2 Tình hình nghiên cứu: hiện tại ở một số tỉnh miền Tây đã có cơ sở sản xuất các
sản phẩm từ trái bần (bột nấu canh chua, mứt) tuy nhiên quy mô chỉ là hộ gia đình, dụng cụ thô sơ và chưa có hướng nghiên cứu sâu về các đặc tính, hàm lượng và các chất dinh dưỡng trong quả bần, sản phẩm chỉ làm theo mùa nên sản lượng chưa cao
Từ đó có thể thấy ta chưa khai thác hết được những tiềm năng, nguồn lợi mà trái bần mang lại
3 Mục đích nghiên cứu: đa dạng hóa sản phẩm (sản phẩm kẹo dẻo hương vị trái
cây, sản phẩm thực phẩm chế biến từ trái bần)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu: Tổng quan tài liệu về bần và sản phẩm kẹo dẻo, nghiên
cứu xác định công thức phối chế, đề xuất quy trình sản xuất với các thông số sản xuất phù hợp So sánh với những sản phẩm cùng loại, từ đó đưa ra kết luận về quy trình và sản phẩm cuối cùng
5 Phương pháp nghiên cứu: áp dụng phương pháp nghiên cứu truyền thống, tìm
giá trị tối ưu ở các công đoạn để xây dựng quy trình hợp lý
Trang 36 Dự kiến kết quả nghiên cứu: xây dựng quy trình sản xuất kẹo dẻo từ trái bần.
7 Kết cấu của ĐA/KLTN:
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về cây bần
1.1.1 Phân loại thực vật
Tên Việt Nam: Bần chua
Tên Latin: Sonneratia caseolaris
Cụm hoa ở đầu cành, có 2 – 3 hoa Đài hợp ở gốc, có 6 thùy dày và dai, mặt ngoài màu lục, mặt trong màu tím hồng Nhị có chỉ hình sợi, bao phấn hình thận Bầu hình cầu dẹt, vòi dài, đầu hơi tròn
Quả mọng, đường kính 4 – 8cm, cao 2.8 – 4cm, gốc có thùy đài xòe ra Hạt nhiều, dẹt [15], [ 16]
Hình 1.1: Cây bần [15]
Trang 5Hình 1.2: Lá, hoa và quả bần [15]
Hình 1.3: Quá trình hình thành từ hoa đến quả bần [17]
Trang 6
Cây phân bố ở rừng ngập mặn Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Mianma, Indonexia, Philippin, Bắc Châu Đại Dương, Niughnia
Ở Việt Nam, cây mọc ở nước lợ gần các cửa sông ngập một mùa trong năm Cây thường mọc chung với các loài cây khác như Trang, Sú, Giá, Nấm, Cóc Cũng có khi mọc thành rừng thuần loại như ở Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh Sự phong phú của quần thụ này tùy theo mức nước lợ và chế độ thủy triều [15], [16]
1.1.4 Thành phần hóa học của trái bần
Theo nghiên cứu của Englberger và cộng sự (2003), Ramulu và Rao (2003),
Li và cộng sự (2002), Sanchez-Castillo và cộng sự (1998), khi tiến hành khảo sát hàm lượng xơ hòa tan, xơ không tan, P và Ca trong một số trái cây nhiệt đới thì
quả Sonneratia caseolaris nằm trong nhóm có hàm lượng cao nhất Các giá trị này
được thể hiện qua bảng 1.1
Bảng 1.1: Thành phần hóa học của puree bần [7]
Trang 7Hình 1.4: Cấu tạo 9 hợp chất hoạt tính sinh học được chiết tách từ quả bần
Trang 8Bảng 1.2: Hàm lượng 9 hợp chất hoạt tính sinh học được chiết tách từ quả bần [8]
Theo nghiên cứu về tác dụng chống oxi hóa, ức chế quá trình oxi hóa lipid
và kích thích hoạt động enzyme quinone reductase của 32 cây ở rừng ngập mặn được tiến hành bởi Nuntavan Bunyapraphatsara và cộng sự (2003) họ nhận thấy:
18 cây ở rừng ngập mặn chứa chất có hoạt tính chống oxi hóa
với ED50<10µg/ml, trong đó quả Sonneratia caseolaris có ED50=4.17µg/ml.
26 cây chứa chất có hoạt tính ức chế sự oxi hóa chất béo với
IC50<10µg/ml Trong đó 6 cây có hoạt tính mạnh với IC50<1µg/ml và quả
Sonneratia caseolaris có hoạt tính mạnh nhất với IC50=0.083µg/ml.
Về khả năng kích thích hoạt động của enzyme quinone reductase, là
một enzyme giải độc được ứng dụng trong chữa bệnh ung thư thì quả Sonneratia caseolaris không được đánh giá cao.
1.1.5 Công dụng và các sản phẩm thực phẩm chế biến từ trái bần
Theo y học dân gian, quả Sonneratia caseolaris là thuốc độc đối với ấu trùng muỗi (Devi và cộng sự, 1997) Quả Sonneratia caseolaris được sử dụng
làm thuốc cầm máu, chữa bệnh trĩ, ho, trị giun, làm thuốc đắp bong gân (Bandaranayake, 2002) Ngoài ra, nó còn chứa chất có hoạt tính bảo vệ gan
Trang 9(Charoenteeraboon và cộng sự, 2007) Bên cạnh đó, oleanolic acid có tác dụng ức chế mạnh enzyme α-glucosidase, cũng có mặt trong quả Sonneratia caseolaris đã
được nghiên cứu chiết tách để ứng dụng vào thuốc trị bệnh tăng đường huyết (Ashok Kumar Tiwari và cộng sự, 2010)
Sonneratia caseolaris được biết đến trong hệ sinh thái rừng ngập mặn Mặc
dù, hệ thống rừng ngập mặn bảo vệ môi trường sinh thái của trái đất, đem lại nhiều lợi ích về kinh tế cho loài người, nhưng diện tích của chúng vẫn giảm trên bề mặt trái đất (Kathiresan và Bingham, 2001) và được xếp vào loại bị đe dọa nhiều nhất của môi trường ven biển, đó là do sự phát triển của các quốc gia trong khu vực nhiệt đới (Saenger và cộng sự, 1983) Sự hủy hoại chúng không được kiểm soát đúng mức, mặc dù đã có nhiều điều luật và chính sách nhằm bảo vệ rừng ngập mặn (Foell, Harison và Stirat, 1999) Do đó, việc tạo động lực thúc đẩy người dân sống
ở các vùng này bảo vệ rừng ngập mặn bằng cách giúp cho họ có việc làm, kiếm được nguồn thu nhập từ chúng có thể là cách làm hiệu quả nhất để bảo vệ rừng ngập mặn
Xuất phát từ ý tưởng trên, quả Sonneratia caseolaris đã được các nhà công
nghệ chú ý vì nó không những có nhiều hoạt chất có lợi cho sức khỏe mà khi chín còn có hương thơm và vị rất đặc trưng có thể được sử dụng để tạo ra những sản phẩm thực phẩm có giá trị về dinh dưỡng và cảm quan Tuy nhiên, theo
L.P.Jayatissa và cộng sự (2006) thì vì một số lý do sau mà quả Sonneratia caseolaris mới chỉ được bắt đầu nghiên cứu từ những năm gần đây:
Quả Sonneratia caseolaris ở một số vùng bị tấn công bởi một loại côn
trùng lạ, mà không có biểu hiện nào khác thường từ bên ngoài, nên rất khó cho việc phân loại
Lớp vỏ ngoài của quả rất mỏng phải được loại bỏ, đây là công việc chưathể cơ giới hóa
Quả Sonneratia caseolaris khi chín không thể bảo quản ở nhiệt độ phòng
quá một ngày
Mỗi quả có rất nhiều hạt nhỏ nằm lẫn trong phần ăn được Nếu sử dụng
Trang 10máy nghiền với lực lớn có thể nghiền nát chúng và tạo ra vị đắng cũng như làm đổi màu của thịt quả.
Sự hóa nâu cùng với mùi vị lạ của thịt quả phát triển rất nhanh Khảnăng thu nhận puree với cách thông thường trong vòng 12h không thể áp dụng
Sử dụng máy nghiền với áp lực lớn cũng làm gia tăng tốc độ hóa nâu
Theo một nghiên cứu năm 2010 nhằm mục đích bảo vệ diện tích rừng ngập mặn được tiến hành ở Sri Lanka, WSS Abeywickrama và MCN Jayasooriya đã khắc phục được các vấn đề trên để chế biến thành công sản phẩm nước uống từ
quả Sonneratia caseolaris và được cấp bằng sáng chế
Hình 1.5: Sản phẩm nước uống từ quả bần [6], [8]
Bên cạnh đó, bà Võ Thị Cúc, xã Long Đức (TP Trà Vinh) đã chế biến được bột bần nấu canh chua và mứt bần Với những trái bần vừa chín tới, bà gọt sạch vỏ
và chà xát vào rổ, tách hạt, tạp chất để lấy bột Từ nguyên liệu bột bần cho thêm các gia vị như ớt, muối, bột ngọt và dùng lửa nhỏ để đun cho ráo nước, dùng để
Trang 11nấu canh chua, lẩu cá Còn bột bần pha chế thêm đường phèn, mạch nha cho ra sản phẩm mứt bần Hai sản phẩm này hiện nay đang được bày bán tại siêu thị CO.OPMART với giá 15.000VNĐ/hộp, sản phẩm mứt bần (350g/hộp), bột bần (300g/hộp) [13], [14].
Hình 1.6: Sản phẩm bột bần nấu lẩu (bên trái) và mứt bần (bên phải)
Về mặt cảm quan, tinh thể các chất tạo vị ngọt phải có kích thước nhỏ để khi sử dụng, về mặt cảm quan không cảm nhận ra
Độ ẩm sản phẩm thấp ≤ 30%, dẫn đến kết quả là kẹo có thể hút ẩm trongkhông khí
Sau khi nấu, thì ngoài hai thành phần chính là đường sacarose và mạch nha
sẽ có thêm một lượng đường khử là kết quả của sự nghịch đảo đường trong quá trình nấu
Trang 12Tuy nhiên định nghĩa trên không đề cập được những tính chất vật lý đặc trưng
mà các nhà sản xuất kẹo cần phải nắm bắt để kiểm soát chất lượng của sản phẩm Khái niệm sau có thể làm rõ hơn về cấu trúc kẹo:
Kẹo là một thể trạng thái vô định hình, quá bão hoà, không bị kết tinh của hỗn hợp đường đun sôi Đặc điểm các loại kẹo phụ thuộc vào tỉ số giữa đường sacarose/mạch nha và lượng nước còn lại trong kẹo.
1.2.2 Lịch sử phát triển
Việc sản xuất kẹo đã có từ thời Ai Cập cổ đại cách đây khoảng 3500 năm Cuộc khai quật của Herculaneum cho thấy đã có những phân xưởng kẹo với rất nhiều dụng cụ tương tự với những thứ mà chúng ta sử dụng để sản xuất kẹo ngày nay Các chứng cứ cho thấy hầu hết kẹo trong thời Ai Cập cổ được sản xuất bằng mật ong, còn ở Ấn Độ hay Trung Hoa cổ thì sử dụng các loại đường thu được bằng cách cho bốc hơi một số loại nước cốt trái cây
Nhờ mía và củ cải đường được trồng ngày càng phổ biến, vào thế kỷ thứ VII đường mía ra đời tại Persia Đến thế kỷ thứ XIII, nhờ giao thông đường biển phát triển, mía đã được trồng lan rộng từ vùng Địa Trung Hải đến các nước Châu Mỹ La Tinh và dần đến Châu Á Nói chung mía được trồng ở khắp các nước trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
Đến thế kỷ thứ XVI nhờ thương mại hoá việc chế biến đường thành kẹo, mứt trở nên ngày càng phổ biến Rồi dần dần, bên cạnh nguyên liệu truyền thống là đường để làm kẹo, hàng loạt nguyên liệu khác được sử dụng làm cho kẹo ngày càng trở nên phong phú về chủng loại như kẹo trái cây, kẹo socola, kẹo sữa…Bên cạnh
đó các dây chuyền công nghệ mới ra đời đã giúp cho việc sản xuất có thể diễn ra một cách liên tục và tự động hoá
Năm 1519, khi các nhà thám hiểm Tây Ban Nha tìm ra cây cacao, đã đánh dấu
sự phát triền đáng kể trong lịch sử của kẹo Từ đó trở đi, chocolate trở thành thành phần chính trong các sản phẩm kẹo
Ngày nay, kẹo đã được sản xuất ra trên khắp thế giới Nó đã trở thành một loại
“thức ăn chơi” phổ biến của mọi người, nhất là đối với trẻ em
Trang 13Tại Việt Nam, ngành kẹo phát triển rực rỡ Không chỉ nhiều vế số lượng mà còn phong phú về chủng loại, mẫu mã, giá thành cũng như chất lượng Kẹo không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn là một mặt hàng xuất khẩu.
1.2.3 Phân loại kẹo
1.2.3.1 Dựa vào hàm ẩm kẹo: có 3 loại
Bảng 1.3: Phân loại kẹo dựa vào hàm ẩm trong kẹo [6]
Nguyên liệu chính: đường saccharose, mật tinh bột
Nguyên liệu phụ: đường khử, acid citric (tạo vị, tạo RS)
Nguyên lý sản xuất: phá vỡ trạng thái tinh thể đường saccharose, kếttinh trở lại dưới dạng vô định hình
Sản phẩm điển hình: kẹo bạc hà, kẹo cứng hương vị trái cây, kẹo gậy
Hình 1.7: Các loại kẹo cứng trên thị trường [18]
Kẹo mềm
Cấu trúc: mềm hoặc mềm xốp, béo
Nguyên liệu chính: đường saccharose, chất tạo keo đông, mật tinh bột
Nguyên liệu phụ: đường khử, acid citric (tạo vị, tạo RS), chất béo và
Trang 14 Sản phẩm điển hình: kẹo sữa, kẹo chocolate, kẹo mềm hạnh nhân
Hình 1.8: Các loại kẹo mềm trên thị trường [18]
Kẹo dẻo
Cấu trúc: mềm dẻo, đàn hồi
Nguyên liệu chính: đường saccharose, chất tạo keo đông, mật tinh bột
Nguyên liệu phụ: đường khử, acid citric (tạo vị, tạo RS), chất béo và
Trang 15 Sản phẩm điển hình: kẹo dẻo jelly, kẹo dẻo ZOO, kẹo dẻo
HARIBO
Hình 1.9: Các loại kẹo dẻo trên thị trường [19]
1.2.3.2 Dựa vào thành phần nguyên liệu chủ yếu hoặc có vai trò quyết định: có 3 loại
Kẹo chocolate
Gồm tất cả các loại kẹo có chứa chocolate trong thành phần nguyên liệu, thường là dạng chocolate thanh hay viên
Kẹo chocolate bao gồm: 2 loại
Kẹo được phủ lớp vỏ bọc bằng chocolate
Kẹo toàn bằng chocolate
Mỗi loại kẹo trên còn có thể chia thành hai loại nhỏ: kẹo chocolate thường và kẹo chocolate sữa
Trang 16Hình 1.10: Các loại kẹo chocolate trên thị trường [18]
Kẹo trái cây
Bao gồm các loại kẹo có bổ sung hương, màu các loại trái cây và các loại kẹo được bổ sung jam, jelly từ trái cây…
1.2.3.3 Đặc điểm hình dạng bên ngoài
Bao gồm các loại kẹo có hình: chữ nhật, hình thú, hình hoa…
1.2.3.4 Công nghệ sản xuất – phương thức sản xuất
Liên tục hay gian đoạn, chân không hay áp xuất thường
1.2.4 Nguyên lý sản xuất kẹo
Đường saccharose ở dạng kết tinh được hòa tan trong nước thành dung dịch đường, sau đó được gia nhiệt và đun sôi bốc hơi nước đến khi tạo thành syrup đường Quá trình này, được gọi là quá trình nấu kẹo, được thực hiện tới một nhiệt
độ, nồng độ và màu sắc của syrup đường xác định, phụ thuộc vào quy trình sản xuất kẹo
Các phụ liệu như chất tạo mùi, tạo vị, tạo màu có thể được thêm vào syrup đường trước quá trình nấu kẹo, trong quá trình nấu kẹo hay sau quá trình nấu kẹo Mục tiêu của quá trình nấu kẹo là điều khiển quá trình tái kết hợp các phân tử đường saccharose sau khi bị phân tách từ các tinh thể đường Để thực hiện mục tiêu
Trang 17này các nhà sản xuất phải thiết lập một công thức phối chế và quy trình sản xuất kẹo hợp lý.
Từ đó, người ta đã phân loại thành hai loại kẹo dựa trên mục tiêu của nhà sản xuất kẹo Đó chính là kẹo kết tinh và không kết tinh Đối với kẹo không kết tinh thì quá trình tái kết tinh đường là không mong muốn, nhưng đối với kẹo kết tinh thì quá trình tái kết tinh đường là mong muốn để tạo nên các tinh thể đường có kích thước rất nhỏ dạng hạt mịn
1.3 Tổng quan về kẹo dẻo
1.3.1 Lịch sử hình thành kẹo dẻo
Kẹo dẻo là món kẹo được làm từ gelatin, chất tạo ngọt, hương vị và phẩm màu
“Cha đẻ” của món kẹo này là Hans Riegel, người Đức, ông chủ của công ty bánh kẹo Haribo nổi tiếng Ông là người đầu tiên làm ra các chú gấu kẹo dẻo năm 1922 Đến năm 1980, kẹo dẻo được mang sang Mỹ và nhanh chóng chiếm được cảm tình của rất nhiều người
Từ đó trở đi, ngày một nhiều các công ty bánh kẹo theo bước Haribo sản xuất kẹo dẻo
Hình 1.11: Những chú gấu kẹo dẻo HARIBO đầu tiên trên thị trường [20]
Từ những viên kẹo dẻo hình chú gấu ban đầu, kẹo dẻo ngày nay đã được "thiên biến vạn hóa" thành "muôn hình vạn trạng" với nhiều loại kích cỡ, màu sắc: các viên tròn như hạt đậu, những chú khủng long tí hon, các que xoắn dài hay hình hoa quả… chưa kể là cả những hình “độc đáo” như chiếc bánh kẹp nhỏ xíu
Trang 18Hình 1.12: Sự đa dạng của kẹo dẻo [20]
Vì đối tượng tiêu thụ kẹo dẻo nhiều nhất là trẻ em nên kẹo dẻo ngày nay còn
được bổ sung thêm vitamin C cũng như các vitamin khác có lợi cho sức khỏe Kẹo còn chứa nhiều chất cần thiết cho cơ thể như cacbonhydrat, chất béo, chất khoáng, vitamin…Cacbonhydrat chủ yếu là polysaccharide, disaccharide (saccharose, mantose…) mà dạ dày có thể hấp thu khá dễ dàng, đặc biệt trẻ em sử dụng rất thích hợp
1.3.2 Một số quy trình sản xuất kẹo dẻo
Trang 19Hình 1.13: Sơ đồ quy trình sản xuất kẹo dẻo
Trang 20Hình 1.14: Sơ đồ quy trình sản xuất kẹo dẻo chanh dây 1.3.3 Nguyên liệu sản xuất kẹo dẻo
1.3.3.1 Đường Saccharose
Saccharose là chất ngọt thường dùng nhất trong sản xuất kẹo, thường gọi là đường kính, sản xuất từ mía hay củ cải đường, thường bổ sung với mục đích điều
vị, tăng giá trị cảm quan cho sản phẩm
Saccharose có công thức phân tử là C12H22O11, là disaccharide do hai monosaccharide là D – glucose và D – fructose tạo thành, khối lượng phân tử: M= 342, khối lượng riêng d=1.5879g/cm3
Trang 21Hình 1.15: Hình dạng tinh thể đường saccharose dưới kính hiển vi [10]
Với sự có mặt của ion H+ hoặc 1 số enzyme đặc hiệu, dung dịch saccharose sẽ phân giải tạo thành hợp chất gồm 1 phân tử α – D – glucose và 1 phân tử β – D – fructose Hợp chất này gọi là đường nghịch đảo Một lượng đường nghịch đảo nhất định có thể phá hoại tính kết tinh của saccharose Nếu tiếp tục phân giải sẽ tạo thành những hợp chất hữu cơ sẫm màu khác như glucose anhidrit, oxitmetilfucfurol,… Gia nhiệt saccharose với sự có mặt của ion OH- , saccharose sẽ phân giải tạo thành fucfurol, aceton, acid lactic, acid formic, acid acetic và các chất khác có màu tương đối sẫm
Saccharose rất dễ tan trong nước Ở nhiệt độ thường có thể tan trong nước với
tỉ lệ nước:đường là 1:2 Độ tan tăng dần theo nhiệt độ Vì vậy trong quá trình làm kẹo, khi hòa tan đường ta phải cấp nhiệt Ở nhiệt độ khác nhau, độ hòa tan của saccharose cũng khác nhau
Bảng 1.4: Sự thay đổi độ hòa tan của đường saccharose nhiệt độ [3]
Nhiệt độ, 0 C Độ hòa tan, % Nhiệt độ, 0 C Độ hòa tan, %
Trang 2250 72.2 100 82.9
Khi nấu kẹo, dung dịch đường và các phụ liệu sẽ được gia nhiệt tới một nhiệt
độ xác định Tại nhiệt độ này, đường saccharose vẫn ở trạng thái hòa tan mặc dù có một lượng nước bốc hơi đáng kể, làm tăng hàm lượng saccharose trong dung dịch Chỉ khi khối kẹo sau khi nấu được làm nguội thì đường mới ở trạng thái quá bão hòa Trạng thái quá bão hòa là trạng thái không bền Các phân tử đường sẽ có thể tái kết tinh lại, đặc biệt khi ta khuấy trộn khối kẹo Thông thường, quá trình tái kết tinh đường là không được mong muốn trong quá trình sản xuất kẹo
Để ngăn cản quá trình tái kết tinh đường, người ta thường sử dụng thêm một số loại đường khác như glucose và fructose Các phân tử đường này sẽ bao quanh các phân tử đường saccharose Hơn nữa, các phân tử có kích thước và hình dạng khác nhau cũng khó tạo thành mạng tinh thể
Hình 1.16: Trạng thái kết tinh của đường saccharose [10]
Có thể sử dụng acid để nghịch đảo saccharose thành 2 phân tử đường đơn giản
là glucose và fructose
Thêm vào một số chất không phải là saccharose cũng hạn chế được tái kết tinh đường, như mật tinh bột chứa chủ yếu glucose Một số loại kẹo cứng que sử dụng 50% mật tinh bột để ngăn cản quá trình tái kết tinh đường làm hỏng cấu trúc kẹo
Trang 23Chất béo có trong kẹo cũng giúp hạn chế tái kết tinh đường Nguyên liệu giàu béo thường sử dụng là bơ, kẹo bơ mềm có chứa một lượng bơ khá lớn, vừa giúp tạo
độ bóng và tạo cảm giác ngon miệng, đồng thời cũng hạn chết được quá trình tái kết tinh đường
Bảng 1.5: Chỉ tiêu chất lượng Saccharose dùng trong sản xuất kẹo dùng trong
công nghiệp (theo TCVN 1696-87)
Chỉ tiêu cảm quan
đối đồng đều, tơi khô không vón cục
Mùi vị
Tinh thể đường hoặc dung dịch đường trong nước có vị ngọt, không có mùi vị lạ
nước cất cho dung dịch trong suốt
Khối lượng giảm khi sấy ở
Trang 24Mạch nha là một dung dịch đậm đặc và đã qua chế biến của đường D- glucose
và maltose cũng như các polyme khác của D- glucose thu được từ quá trình thủy phân không hoàn toàn tinh bột Các loại tinh bột dùng để sản xuất mạch nha là tinh bột bắp, tinh bột khoai tây hay lúa mạch mà trong đó ở Việt Nam thì bột khoai mì được dùng phổ biến hơn cả Thực tế cho thấy nếu thuỷ phân tinh bột bằng enzyme thì mạch nha thu được có chất lượng cao hơn so với thuỷ phân bằng acid
Thành phần mạch nha:
Glucose
Công thức cấu tạo: C6H12O6 (M=180)
Glucose là đường khử trong mạch nha tồn tại dưới dạng vô định hình
Glucose ít hút ẩm nhưng sau khi được gia nhiệt thì khả năng hút ẩm tăng
lên, đặc biệt là khi nó đạt tới nhiệt độ tới hạn (1350C) Thông thường hàm lượng glucose trong mạch nha là 25 – 30% Rất dễ hấp thụ và là thành phần cố định trong máu
Công thức cấu tạo: C12H22O11 (M=342)
Maltose cũng là đường khử thuộc loại disaccharide Khi hoà tan vào n ước tạo
ra dung dịch có tính nhớt Maltose ít hút nước nhưng khi được đun nóng đến 90 –
1000C thì bắt đầu phân huỷ diễn ra mãnh liệt và hút nước rất mạnh
Trong mạch nha thì hàm lượng maltose vào khoảng 10 - 15% Tạo vị ngọt
thanh, tránh hiện tượng tái kết tinh đường
Fructose
Công thức cấu tạo: C6H12O6
Frutose không trực tiếp hình thành khi thuỷ phân tinh bột mà nó được tạo thành là do sự chuyển hoá glucose thành fructose (sự chuyển hóa này thường xảy ra trong môi trường acid và nhiệt độ cao) vì vậy hàm lượng frutose trong mạch nha không nhiều Fructose mang tính hút ẩm
Dextrin
Công thức cấu tạo: (C6H10O5)n
Trang 25Dextrin thuộc loại polysaccharide, không có tính ngọt, có khối lượng phân tử lớn nên dextrin có độ nhớt cao và tính dính Dextrin có khả năng tạo keo tốt Trong mạch nha hàm lượng dextrin thường vào khoảng 35 – 40%.
Mạch nha thường dễ bị lên men tạo ra vị chua và mùi rượu Để tránh tình trạng này người ta thường cô đặc mạch nha cho đến nồng độ chất khô khoảng 80%, nếu đạt nồng độ chất khô cao hơn thì rất khó cô đặc đồng thời cũng khó sử dụng khi lấy mạch nha ra khỏi bao bì
Để đánh giá mức độ thủy phân của tinh bột trong chế biến mạch nha người ta đưa ra chỉ số DE Chỉ số DE là chỉ số đặc trưng cho khả năng khử của các sản phẩm thủy phân từ tinh bột, liên quan đến các đầu khử Chỉ số này được mô tả bằng số gam đường khử qui thành D-glucose trên 100 gam chất khô của sản phẩm và vì thế đường D- glucose theo định nghĩa có chỉ số DE là 100 Các loại mật từ đường glucose (syrup glucose) đã sấy khô là sản phẩm thủy phân tinh bột khô có chỉ số DE lớn hơn 20 và maltodextrin có chỉ số DE từ 20 trở xuống
Mạch nha cũng có thể được phân làm 2 nhóm: ngọt và không ngọt
Nhóm ngọt có DE cao bao gồm nhiều maltose, fructose,glucose nên kẹo dễ hút ẩm
Nhóm không ngọt có DE thấp, nghĩa là hàm lượng dextrincao nên kẹo có tính keo, truyền nhiệt kém
Bảng 1.6: Chỉ tiêu chất lượng mạch nha dùng trong sản xuất công nghiệp theo
(TCVN 1676-87)
Chỉ tiêu cảm quan
Màu sắc Không màu hoặc vàng nhạt, trong suốt
Trang 26Tính chất của nước có thể ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kẹo Nước nhiễm acid sẽ không kiểm soát được hàm lượng đường nghịch đảo tạo ra và sự thay đổi màu của syrup đường trong suốt quá trình nấu kẹo
Các chỉ tiêu của nước sử dụng trong sản xuất kẹo như sau:
Bảng1.7: Chỉ tiêu hóa lý của nước [7]
Bảng 1.8: Chỉ tiêu vi sinh của nước [7]
1.3.3.4 Chất mùi
Vi sinh vật hiếu khí trong 1ml nước <100
Trang 27Hương liệu dùng cho kẹo là những hợp chất như este, andehyte, acid, rượu,…,
bổ sung vào với mục đích cải thiện hương vị sản phẩm Phần lớn là những chất bay hơi, khi sử dụng nên dùng chất định hương để cố định thành phần của hương liệu, làm cho hương liệu phân bố đều trong kẹo
Mùi thơm của kẹo được hình thành từ mùi thơm bản thân các nguyên liệu có trong kẹo, mùi từ sản phẩm của các phản ứng xảy ra trong quá trình nấu kẹo và mùi hương liệu đưa vào
Lượng hương liệu đưa vào trong kẹo phải vừa phải Nếu bỏ quá nhiều hương liệu thì khi ăn kẹo sẽ có cảm giác xốc mũi, khó chịu, mất cảm giác hài hòa, êm dịu của hương thơm, còn nếu bỏ quá ít hương liệu thì hương thơm không đủ, không đạt hiệu quả cần có
Chất mùi tự nhiên
Hương liệu tự nhiên
Có nguồn gốc từ trái cây, chủ yếu từ dịch trái cây cô đặc hay từ quá trình chưng cất thu hồi hương Hàm lượng sử dụng thường rất nhiều, do đó cần phải sử dụng kết hợp với các chất tạo hương khác
Tinh dầu trái cây Chất lượng của tinh dầu trái cây phụ thuộc vào nơi trồng và thời điểm thu hái loại trái cây đó Tinh dầu khi để ngoài không khí rất dễ bị biến mùi và khi tiếp xúc với kim loại như sắt, đồng thì nó mất hẳn khả năng tạo mùi Trong sản xuất kẹo dẻo, sử dụng tinh dầu trái cây có thể làm cho kẹo bị đục
Vanilla Vanilla là chất tạo hương được sử dụng đầu tiên trong sản xuất kẹo Vanilla tự nhiên được trích ly từ vỏ quả vani và có giá thành cao Vanilla tổng hợp đã được sản xuất ra để thay thế vanilla tự nhiên và được ứng dụng trong sản xuất một số loại kẹo chocolate Hàm lượng sử dụng thường là 0.01 – 0.03% Vanilla có nhiệt độ nóng chảy 820C và dễ bay hơi
Chất mùi tổng hợp
Bảng1.9: Nhóm chất mùi tổng hợp [4]
Trang 28Nhóm Tên Phối chế Đặc tính mùi
Phenol Eugenol Dầu đinh hương,
chuối, quế, ca cao,
Mùi đại hồi, thảo mộc
Carbonyl Acetanisole Hạt đại hồi, cà chua,
trà
Mùi hoa, đắng
Furan Maltol Rau diếp, dâu, bánh
mì
Mùi trái cây, ngọt
Thiazole Trimethyl Khoai tây, cà phê Mùi chocolate, mùi hạt
Mùi hoa nhẹ, béo
Acetal Acetal Táo, nho, whisky,
rum
Mùi quả tươi
1.3.3.5 Chất màu
Bổ sung vào nhằm cải thiện màu sắc sản phẩm Màu có thể là màu tự nhiên hay màu tổng hợp
Màu tự nhiên: tách từ nguyên liệu tự nhiện, tạo màu tự nhiên cho
sản phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng và không gây độc hại cho cơ thể, tuy nhiên nó có những nhược điểm sau:
Số lượng màu bị hạn chế và màu không sáng
Thường không bền với ánh sáng, nhiệt độ, acid hay các chấtkhử như SO2 và acid ascorbic
Hàm lượng sử dụng nhiều
Giá thành cao
Trang 29Bảng1.10: Nhóm chất màu tự nhiên [4]
Antocyanin Vỏ quả nho
Betalain Củ cải đường, củ cải, xương rồng, hoa giấy,…
Annatto Hạt của cây Bixa orellana
Canthaxanthin Nấm, loài giáp xác, cá, tảo biển
β-apocarotenal Cam, rau xanh
Cholorophyll Rau xanh
Carmine Coccus cacti insect
Màu bán tổng hợp: tổng hợp chất màu chủ yếu trong tổ hợp màu tự nhiên, tạo màu giống 90% so với màu tự nhiên, khá an toàn
Bảng1.11: Nhóm chất màu bán tổng hợp [4]
Chỉ số QT Tên phụ gia SP có dùng phụ gia ML (giới hạn max cho
phép)
160aii Caroten tự nhiên Đậu xanh đóng hộp
Dưa chuột dầm dấm
100300
Chất màu tổng hợp: tổng hợp bằng phương pháp hóa học, có một
số ưu điểm sau:
Hàm lượng sử dụng ít
Tạo màu sáng và số lượng màu rất đa dạng
Độ bền màu cao và độ hòa tan tốt
Trang 30Các chất màu tổng hợp thường không gây ngộ độc cấp tính mà có tác dụng tích lũy lâu dài cho nên việc ngộ độc thực phẩm rất khó phát hiện và điều trị.
Do đó các nhà sản xuất kẹo phải chú ý đến liều lượng tối đa của màu thực phẩm mà
cơ thể có thể tiếp nhận trong ngày tính bằng đơn vị mg/1kg thể trọng cơ thể gọi là chỉ số ADI (Acceptable Daily Intake)
132 Indigotine (xanh) Mứt thạch TC, xốt táo 200
Theo quy định, lượng màu đưa vào kẹo nhiều nhất không vượt quá 0.01% khối lượng kẹo Các chất màu phải chứa trong bình đóng kín, nếu không sẽ hút ẩm, vón cục, ảnh hưởng đến độ hòa tan của chất màu Nếu chất màu bị vón cục, phải nghiền nhỏ trước khi sử dụng Chỉ tiêu chất lượng của chất màu thực phẩm dùng sản xuất kẹo như sau :
Bảng 1.13: Chỉ tiêu chất lượng của chất màu thực phẩm (TCVN 5516-1991)
Chất bay hơi (ở 1350C)Chất không tan trong nướcArsen (tính theo AS2O3)Chì
10%
0.5%
1.4ppm10ppm
1.3.3.6 Acid hữu cơ
Trang 31Các acid hữu cơ được sử dụng làm chất điều vị cho các loại kẹo trái cây Tuy nhiên khi sử dụng acid sẽ làm tăng lượng đường nghịch đảo trong kẹo Để hạn chế
sự nghịch đảo đường này, ta cần hạn chế thời gian tiếp xúc của acid với đường ở nhiệt độ cao
Acid acetic: được sử dụng trong một số loại kẹo dẻo dai cứng
Acid lactic và hợp chất đệm của acid lactic: acid lactic được sử dụngkhông nhiều trong sản xuất kẹo Hợp chất đệm của acid lactic là dung dịch của sodium lactate và acid lactic Trong sản xuất một số loại kẹo cứng, khi ở nồng độ cao, hợp chất này có thể điều vị cho kẹo mà không làm tăng lượng đường nghịch đảo trong quá trình nấu kẹo
Acid malic: sản phẩm thương mại thường có dạng tinh thể ngậm nướchay dạng bột, có nhiệt độ nóng chảy ở 130 – 1320C, và nó rất dễ tan trong nước (độ hòa tan khoảng 50% w/w ở 200C) Nó có vị chua dịu hơn acid citric (khi ở cùng nồng độ) và thường được dùng trong sản xuất một số loại kẹo đường
Acid citric: có độ hòa tan cao (59.2% w/w) và có vị chua dịu Hàmlượng sử dụng cho kẹo dẻo trong là 0.5% và một số loại kẹo mềm là 1%
Bảng1.14: Các chỉ tiêu cảm quan của acid citric (TCVN 5516-1991)
Mùi Dung dịch acid trong nước cất nồng độ 20g/dm3, không có
mùiCấu trúc Rời và khô
Trang 32Các chất tạo cấu trúc ảnh hưởng đến độ mềm dẻo của sản phẩm Các phụ gia tạo cấu trúc dẻo cho kẹo có thể là gelatin, albumin, tinh bột và tinh bột biến tính, pectin, agar,…, trong đó thường dùng nhất là gelatin và tinh bột Việc chọn chất tạo gel nào phụ thuộc vào loại thành phẩm và yêu cầu công nghệ của nhà sản xuất.
Gelatin
Gelatin là loại phụ gia tạo cấu trúc gel thường hay sử dụng nhất trong công nghệ sản xuất kẹo Nó là một chế phẩm của protein được thu nhận từ quá trình thủy phân collagen của xương và da động vật Gelatin là sản phẩm phụ của ngành chế biến thịt như da, lông, xương Ngoài tác dụng tạo cấu trúc, gelatin còn cung cấp một
số acid amin cần thiết cho cơ thể người như: tyrosin, cystine, tryptophan…
Trong kẹo, gelatin giữ vai trò:
Chất tạo bọt: làm giảm sức căng bề mặt của pha lỏng
Chất ổn định: tạo độ bền cơ học cần thiết tránh biến dạng
Chất liên kết: liên kết một lượng nước lớn kéo dài thời gianbảo quản sản phẩm
Kẹo có tính đàn hồi (nồng độ > 10% tạo ra ứng lực 2 kg/cm) Cấu tạo mạch của phân tử gelatin gồm 18 loại acid amin, trong đó có cả 9 loại acid amin cần thiết cho cơ thể người Chúng liên kết nhau bằng liên kết peptide tạo thành các mạch polypeptide với mỗi mạch chứa khoảng 1000 acid amin
Cấu trúc của phân tử gelatin điển hình bao gồm –Ala-Gly-Pro-Arg-Gly-Glu-4Hyp (4-hydroxyproline)-Gly-Pro-
Hình1.17: Cấu trúc điển của phân tử gelatin [7]
Trang 33Cấu tạo phân tử gelatin sẽ quyết định khả năng tạo gel của nó Cấu trúc tổng thể của gelatin là cấu trúc bậc 4, được tạo nên bởi sự kết hợp của các cấu trúc bậc 1,
2 và 3 của các mạch polypeptide Trong đó, mạch polypeptide có khối lượng phân
tử (MW – Molecular Weight) thấp, MW = 100 – 200kD, là thành phần quyết định khả năng tạo gel của gelatin Những mạch polypeptide có MW lớn hơn, từ 200kD trở lên thì ít ảnh hưởng đến khả năng tạo gel nhưng lại ảnh hưởng nhiều đến độ nhớt của dung dịch gelatin
Thành phần acid amin của gelatin rất khác nhau phụ thuộc vào nguyên liệu và quá trình sản xuất, nhưng thông thường là: glycine 21%, proline 12%, hydroxyproline 12%, glutamic acid 10%, alanine 9%, arginine 8%, aspartic acid 6%, lysine 4%, serine 4%, leucine 3%, valine 2%, phenylalanine 2%, threonine 2%, isoleucine 1%, hydroxylysine 1%, methionine và histidine <1% với tyrosine <0.5%
Do đó, gelatin không phải là nguồn protein hoàn hảo vì nó thiếu tryptophan và
ít methionine, tuy nhiên, tính dễ tiêu hóa của nó tốt và hàm lượng lysine khá cao (4%) nên nó cũng được sử dụng trong thức ăn cho người bệnh
Một số nghiên cứu cho thấy, tiêu thụ 7 – 10g gelatin/ngày có thể làm tóc và móng mọc nhanh Gelatin cũng rất tốt cho người bị viêm khớp
Hiện nay, trên thị trường, người ta phân loại gelatin dựa trên khả năng tạo gel của nó Khả năng tạo gel của gelatin được xác định bằng phương pháp Bloom theo tiêu chuẩn của Anh (British Standard 757 năm 1975) và được biểu thị bằng độ Bloom
Độ Bloom là độ lớn của lực cần tác động lên một piston có đường kính 12,5mm để piston đó nén được một đoạn 4mm vào 112g khối gel tạo bởi dung dịch gelatin 6% (w/v) ở 100C Do độ lớn của lực tác động này có đơn vị là gram nên độ Bloom cũng có đơn vị là gram
Gelatin có độ Bloom càng lớn thì khả năng tạo gel của nó càng lớn Do đó, trong cùng một sản phẩm thực phẩm, nếu sử dụng gelatin độ Bloom cao hơn thì hàm lượng sử dụng để tạo gel cho sản phẩm ít hơn
Chúng ta có thể tính toán lượng gelatin sử dụng theo công thức sau:
Trang 34Bảng 1.15: Phân loại gelatine dựa trên độ Bloom [12]
Loại gelatin Độ Bloom, gram Phạm vi ứng dụng
Bloom trung bình 130 – 150 Kẹo mềm gelatin
Bảng 1.16: Chỉ tiêu chất lượng gelatin dùng cho sản xuất kẹo [7]
Trang 35Pectin là sản phẩm phụ của ngành chế biến rau quả, chủ yếu thu được từ bã ép
cà chua và các loại vỏ trái cây citrus, nhiều nhất là vỏ bưởi và vỏ cam
Pectin khó tan trong nước, do đó người ta thường trộn nó với đường saccharose với tỉ lệ pectin : saccharose = 1 : 5 rồi mới khuấy tan hỗn hợp vào nước Thời điểm tạo gel của pectin phụ thuộc vào pH của dung dịch và sự có mặt của các chất rắn hòa tan khác Sự gia nhiệt quá mức có thể làm phá hủy cấu trúc gel của pectin
Khi pectin đã tan trong dung dịch và dung dịch được gia nhiệt đến điểm sôi, thì phải nhanh chóng bổ sung acid vào, tạo điều kiện cho pectin tạo gel Sự bổ sung acid quá trễ hay quá sớm (khi dung dịch chưa sôi) có thể sẽ làm giảm khả năng tạo gel của pectin
Người ta sử dụng pectin trong kẹo với mục đích tạo cấu trúc mềm và ít dai cho kẹo dẻo pectin, nhưng cần lưu ý là giá thành pectin cao hơn rất nhiều so với các loại phụ gia tạo gel khác
Bảng 1.17: Phân loại pectin [9]
gel
Low methoxyl (tạo gel
nhanh)
Tạo gel với saccharose 2.9 – 3.5
Agar
Agar là 1 trong 3 loài keo tảo được biết đến nhiều nhất
Agar là những phức polysacchant mạch thẳng chứa < 1000 gốc đường trong mỗi phân tử Các gốc đường cơ bản là β.D-galactopyranose và 3.6-arhydro-α-L galactopyranose
Agar được dùng trong phạm vi pH rất rộng (pH = 5 ÷ 8), bền vững trong xử lý nhiệt, thậm chí trên 1000C vì thế các sản phẩm chứa agar cho phép được thanh trùng Cũng có tài liệu cho rằng khả năng gel hóa của agar giảm khi đun nấu lâu trong môi trường acid Dung dịch nước/agar 15% đóng thạch ở nhiệt độ 32 ÷ 430C
Trang 36và không hóa lỏng dưới 800C Agar hòa tan dễ dàng trong nước ở nhiệt độ 95÷1000C, cho dung dịch trong, hơi nhớt.
Agar có các đặc tính trễ nhiệt, do đó nhiệt độ gel hóa của Agar xảy ra ở điểm bình thường thấp hơn nhiều so với nhiệt độ nóng chảy của gel Agar có cấu trúc gel thuận nghịch ở xấp xỉ 320C, và sẽ nóng chảy trở lại ở trên 850C Thạch agar rất bền, không có mùi vị, nó đồng hóa và có vị của sản phẩm hỗn hợp với nó
Trong sản xuất bánh kẹo, agar được đưa vào như là một tác nhân chống lão hóa cấu trúc Ở một số nước, agar được xem như là một tác nhân tạo tính ổn định hay là chất nhũ hóa cho kem, gel phết bánh kẹo
Theo TCVN và 3590-81 agar được phân cấp theo 4 loại Các chỉ tiêu cảm quan
và lý hóa của agar theo quy định trong bảng sau:
Vàng nhạt
Vàng đến trắng
Vàng nâu đến trắng
2 Hàm lượng tạo chất theo
khối lượng không lớn
Không cho phép
Không cho phép
Không cho phép
Không cho phép
3 Độ ẩm (tính theo% khối
lượng) không lớn hơn
4 Hàm lượng tro (tính theo
khối lượng ) không lớn hơn
5 Hàm lượng chất không tan
trong nước nóng (tính theo %
khối lượng) không lớn hơn
Trang 37Là dầu thực vật đã được tinh luyện và hydro hóa Shortening có một số tính chất sau:
Nhiệt độ nóng chảy cao khoảng 40 – 420C
Dạng rắn, có màu trắng đục, bề mặt bóng, trơn láng
Có tính dẻo, khả năng tan chảy tốt, có độ ổn định cao
Ít bị ôi, trở mùi, ít bị oxy hóa trong thời gian dài ở nhiệt độ cao
Các sản phẩm chiên, nướng dùng dầu shortening thì tốt hơn các dầu khác về nhiều mặt như giá trị cảm quan, chất lượng sản phẩm và thời gian bảo quản Do shortening đã được hydro hóa giúp giảm sự oxy hóa của không khí lên nối đôi Trong sản xuất kẹo dẻo, shortening có vai trò làm bóng bề mặt kẹo, hạn chế
sự chảy kẹo và các viên kẹo dính lại với nhau
Bảng 1.19: Tiêu chuẩn kỹ thuật dầu shortening ở công ty Dầu thực vật Tường An
CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nguyên liệu sản xuất kẹo dẻo bần
2.1.1 Trái bần
Trang 38Bảng 2.1: Tiêu chuẩn chất lượng đường tinh luyện Biên Hòa (TCVN 3590-81)
Trang 39Hình 2.1: Đường nha 2.1.4 Gelatin
Trong sản xuất kẹo dẻo, loại gelatin 250 Bloom được sử dụng phổ biến nhất vì
nó tạo được cấu trúc dai và dẻo tốt cho kẹo thành phẩm
Loại gelatin 250 Bloom được chúng tôi sử dụng trong quá trình sản xuất là sản phẩm của công ty Rousellot – Pháp, được bán ở cửa hàng hóa chất Thanh Thảo (trên đường Tô Hiến Thành) Sản phẩm ở dạng bột có màu vàng nhạt và sáng Giá thành 280.000VNĐ/kg
Hình 2.2: Gelatin Bảng 2.2: Đặc điểm chất lượng của sản phẩm gelatin 250 Bloom (Rousellot -Pháp)
[21]
Trang 40Hàm lượng SO2, ppm 32
Khả năng tạo gel của dung dịch gelatin 6.67% ở 10±0.10C,