Chất lượng hạt cacao Việt Nam đă được nhiều doanh nghiệp đánh giá cao so với cacao của nhiều quốc gia khác trên thế giới.. Đến thế kỉ XVI, cacao bắt đầu phát triển ra các nước khác trên
Trang 11
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Các sản phẩm từ bột ca cao là thực phẩm phổ biến với thành phần dinh dưỡng khá cao
Cacao là cây trồng đang phát triển tại Việt Nam và đang được đánh giá là giống cây trồng chủ lực, hiệu suất thu hoạch cao, đem lại hiệu quả kinh tế cao Chất lượng hạt cacao Việt Nam đă được nhiều doanh nghiệp đánh giá cao so với cacao của nhiều quốc gia khác trên thế giới
Nhưng ca cao ở Việt Nam mới chỉ phát triển ở mức xuất khẩu dạng thô, còn những sản phẩm được chế biến từ cacao vẫn còn hạn chế Loại nguyên liệu này được đánh giá là một trong những loại thực phẩm có lợi cho sức khỏe con người
Với ý tưởng trên, áp dụng các kiến thức đã học tôi quyết định thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới quy trình rang và kiềm hóa trong công nghệ chế biến bột cacao”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian rang đến chất lượng cảm quan của sản phẩm
- Khảo sát ảnh hưởng lượng dung dịch K2CO3 8% và thời gian xử lý trong giai đoạn kiềm hóa đến chất lượng cảm quan của bột cacao
1.3 Nội dung nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu của đề tài, tôi tiến hành thực hiện các công việc sau:
- Tham khảo tài liệu, tìm hiểu về những lĩnh vực có liên quan
- Xây dựng bố trí thí nghiệm
- Tiến hành thực hiện thí nghiệm
- Xử lý số liệu và rút ra nhận xét
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Thông qua các thí nghiệm khảo sát, ta có thể tìm ra chế độ rang tốt nhất và lượng dung dịch
K2CO3 tối ưu cho vào trong giai đoạn kiềm hóa nhằm tăng giá trị cảm quan với người dùng ở quy mô phòng thí nghiệm nhằm từng bước tiến tới quy mô công nghiệp
Trang 22
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về cây cacao
2.1.1 Lịch sử phát triển cây cacao
Cây cacao (Theobroma cacao) thuộc về thứ Theobroma cacao L thuộc họ Sterculiaceae Thứ Theobroma cacao L có hơn 20 loài, trong đó chỉ có Theobroma cacao được trồng và sử dụng
rộng rãi Có nguồn gốc từ những khu rừng nhiệt đới ẩm ướt của Amazon nằm ở Nam và Trung
Mỹ, những người Mayas và Azteques là những người đầu tiên trồng và sử dụng cacao từ thế kỉ thứ VI Cacao từng được sử dụng như một loại tiền tệ trong trao đổi, buôn bán
Đến thế kỉ XVI, cacao bắt đầu phát triển ra các nước khác trên thế giới, trước hết là Nam Mỹ và vùng biển Caribê như Venezuela, Jamaica, Haiti Đầu thế kỉ XVII, cacao được trồng ở Philippin sau đó tiếp tục mở rộng qua Ấn Độ và Srilanka, lúc này loài Criollo được trồng chủ yếu Braxin
và Ecuado là những nước đầu tiên phát triển Forastero (Phạm Trí Thông, 1999)
Từ 1985, các nước ở Châu Á mới bắt đầu phát triển cacao Hiện nay Indonesia là nước có sản lượng cacao lớn nhất Châu Á
Ở Việt Nam ca cao được du nhập rất sớm, từ những năm đầu thập niên 40 của thế kỉ XIV, theo chân các nhà truyền giáo phương Tây Hiện tại, cây được trồng rộng rãi ở nhiều nơi, vùng Tây Nguyên vẫn được đánh giá là có điều kiện lý tưởng nhất cho phát triển cây ca cao
Cây cacao được xem là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, đang trong giai đoạn phát triển mạnh So với cà phê, cacao có những hiệu quả vượt trội cả về sinh thái và kinh tế
2.1.2 Phân loại:
Ca cao được chia thành hai loài phụ là:
- Criollo: có nhiều ở vùng nam mỹ (Venezuela, Ecuado, Colombia)
Với đặc điểm là: nhị hoa có màu hồng nhạt, hạt hơi tròn Quả có màu đỏ hoặc xanh trước khi chín, thường có hình dạng dài, dưới rất nhọn, mang 10 khía đều nhau có khi phân thành hai nhóm xen kẽ Vỏ thường sần sùi mỏng dễ cắt, lớp trong mỏng và ít mô gỗ Hạt tươi có màu trắng
Trang 33
hoặc hơi vàng, hạt khô mùi thơm mạnh, ít đắng, 20 - 40 hạt/quả Là giống cacao có thể làm ra loại chocolate ngon nhất chiếm 5% thị trường thế giới
- Forastero: có nhiều ở Châu Phi (Ivory Coast, Ghana, Nigeria)
Với các đặc điểm là: nhị hoa màu tím, quả màu xanh lá cây, vàng khi chín,hình dài, nhọn, ít khía, mặt trơn, phôi nhũ tươi, màu đỏ đậm hạt hơi lép, tử diệp có màu tím đậm lúc tươi có vị chát hay đắng, 30 – 60 hạt/quả Là loại cacao có chất lượng trung bình, năng suất cao, kháng sâu bệnh tốt chúng có sản lượng cao nhất thế giới 80% thị trường
Trinitario: là loài được lai tạo giữa hai loài trên, xuất sứ trinidat với các đặc điểm trung gian giữa hai loài criollo và forastero, phôi nhũ màu tím nhạt, quả dẹt, >40 hạt/quả, có rãnh sâu không
rõ nét
Hình 2.1: Các loại cacao 2.1.3 Đặc tính thực vật chung của cây cacao
- Thân cây: Cây cacao là cây thân gỗ nhỏ, chiều cao trung bình 5 - 7m, đường kính thân 10 – 18
cm Thời kỳ kinh doanh hiệu quả 25 - 40 năm
- Rễ cây: Bộ rễ thuộc loại rễ chùm, gồm một rễ trụ chính dài 2 m, hệ thống rễ phụ nằm chủ yếu ở tầng đất mặt, không ăn sâu vào lòng đất Trồng thích hợp ở các vùng đất mùn xốp, nơi các mạch nước ngầm không quá sâu, độ cao không quá 700 m so với mực nước biển
Trang 44
- Lá cây: Lá non phát triển theo từng đợt, sau mỗi đợt ra lá, đỉnh cành vào trạng thái ngủ Cacao trồng không bóng che ra lá nhanh hơn khi trồng có bóng che Nhưng lá cacao, đặc biệt là lá non cũng rất dễ bị tổn thương nếu bị gió lay liên tục do cuống lá dài, phiến lá rộng, nên cũng cần phải
có mức độ che bóng cần thiết trong giai đoạn phát triển
- Hoa và trái: Hoa xuất hiện trên sẹo, lá ở thân, cành, hoa có cuống dài 1-3 cm, có 5 cánh đều đặn Hoa ra vào mùa mưa, nếu được cung cấp đủ nước, cây sẽ ra hoa quanh năm Dáng bầu dục thuôn dài có chiều dài khoảng 15 tới 25 cm và đường kính khoảng từ 7 – 10 cm Trong mỗi trái
có 5 dãy 13 hột mỗi dãy khoảng 25 tới 50 hột (mỗi hột khô nặng khoảng 1 gram)
- Hạt cacao: Hạt cacao gồm hai lá mầm và một phôi nhỏ, tất cả nằm trong lớp vỏ bảo vệ Lá mầm dự trữ thức ăn cho quá trình sinh trưởng của cây
Cacao là loại cây rất nhạy cảm với sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ Nhiệt độ ban đêm không dưới 20 °C, ban ngày khoảng 30 °C là nhiệt độ lý tưởng cho sự phát triển của cacao Khi nhiệt
độ xuống dưới 16 °C có thể dẫn tới tình trạng các mầm nụ non bị thui chột, gây mất mùa, thất thu.Cây thích hợp trồng ở những vùng nhiệt độ trung bình 25-280C, độ ẩm trung bình 85 %, lượng mưa hàng năm 1.500-2.000 mm
a) Quả ca cao cắt dọc b) Quả ca cao cắt ngang
Hình 2.2: mặt cắt quả ca cao
Trang 5Criollo: Mexico, Nicaragua, Guatemala, Venezuela, Colombia, một ít ở Caribean, Trinidad, Jamaica, Grenada, và nó cũng được trồng ở Ấn Độ Dương chẳng hạn Java, Madagascar, Comoros
Forastero: Peru, Ecuador, Colombia, Brazil, Guyana, French Guyana và phía Nam Venezuela Tây Phi: Ivory Coast, Ghana, Cameroon và Đông Nam Á: Malaysia, Indonesia
Trinitario: Java, Papua-New-Guinea, Srilanka ở Ấn Độ Dương
Hiện nay, các nước Tây Phi sản xuất 70% tổng sản lượng ca cao trên thế giới trong đó các nước sản xuất chính là Bờ Biển Ngà, Ghana, Nigeria và Cameroon Nam Mỹ sản xuất 10% với hai nước chính là Brazil và Ecuador Châu Á – Thái Bình Dương, 20% với các nước Indonesia, Papa New Guiné và Mã Lai Tổng sản lượng ca cao thế giới đã đạt được 3 700 000 tấn vào năm 2007(Bảng 2.1)
Bảng 2.1: Sản lượng của các nước sản xuất ca cao chính trên thế giới (đơn vị tính 1000 tấn)
Trang 77
tăng rất nhanh từ năm 1999 đến năm 2002, nhưng lại giảm trong năm 2003 Tuy nhiên đến năm
2007, giá ca cao lại tăng cao trở lại
Việc lấy dữ liệu thống kê về cacao trên thế giới là khó khăn Ngày 21 tháng 05 năm 2010, tổ chức cacao quốc tế ( ICCO) ước tính rằng thế giới sản xuất 3.56 triệu tấn năm 2009- 2010
(Nguồn: www.investmenttools.com) Chú thích:
Màu xanh là đường biểu diễn sản lượng ca cao thế giới cứ 50 ngày cập nhập 1 lần
Màu đỏ là đường biểu diện sản lượng ca cao thế giới trung bình 200 ngày
Hình 2.4: Biểu đồ sản lượng ca cao thế giới
Trang 88
Hình 2.5: Những quốc gia tiêu thụ cacao mạnh trên thế giới (5/2004) 2.1.4.2 Tình hình ở Việt Nam
Ca cao đã được người Pháp du nhập từ lâu và trồng rải rác ở nhiều vùng địa lý khác nhau từ đồng bằng sông Cửu Long đến cao nguyên Nam Trung Bộ Tuy nhiên vì nhiều l ý do khác nhau, trước đây ca cao ở Việt Nam chưa bao giờ được trồng đến quy mô sản xuất hàng hóa Vào những năm 1980, với sự khuyến khích của nhà nước, ca cao được trồng rộng rãi ở các tỉnh miền Trung
và miền Nam Tuy nhiên, vào thời điểm đó, các doanh nghiệp nhà nước hỗ trợ cho chương trình này không xây dựng được một kênh thu mua và thị trường cho sản phẩm nên toàn bộ ngành sản xuất ca cao đã sụp đổ
Vào đầu những năm 1990, công ty Mars và Hiệp hội Ca cao Thế giới (WFC) đã đề nghị Việt Nam nên trồng lại ca cao do tình hình trong nước cũng như thế giới thay đổi theo chiều hướng thuận lợi để phát triển cây công nghiệp này Vào thời gian này (1993), Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Mỹ là nước tiêu thụ tiêu thụ ca cao chính trên thế giới, nhu cầu ca cao trên thế giới tăng đều trong khi vùng sản xuất ca cao chính là Nam Mỹ và Tây Phi lại có nhiều biến động
về chính trị, thời tiết và dịch bệnh, làm giới hạn sự phát triển và nguồn cung cấp ca cao
Trang 99
Khoảng năm 1994, một dự án của nhà nước về trồng cây cacao qui mô 10.000 hecta được thực hiện, chủ yếu ở Quảng Ngãi nhưng đã thất bại vì nhiều lý do Mong muốn phát triển trồng cây cacao tương tự như cây cà phê không thành
Năm 1995, Ban điều phối cacao trực thuộc bộ NN & PTNT Việt Nam được thành lập
Đến 1999, cây cacao được qui hoạch và phát triển trở lại
Khoảng năm 2002, tổ chức SuccessAlliance có dự án phát triển cây cacao mà khởi đầu từ Bến Tre
Ở thời điểm hiện tại, những tỉnh có diện tích trồng ca cao nhiều nhất cả nước là Bến Tre và Đắk Lăk Những tỉnh trồng ca cao quan trọng khác gồm có Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Bình Phước và Bình Định Sản lượng ca cao Việt Nam trong năm 2007 khoảng 300 tấn
Các thị trường giao thương ca cao đang từng bước hình thành với sự tham gia của các công ty nước ngoài như Cargill, ED&F Man, Armajaro, các công ty trong nước và mạng lưới thu mua nhỏ ở các địa phương có trồng ca cao cao
Bảng 2.2: Diện tích ca cao hiện nay ở Việt Nam (05/2007)
Trang 102.1.5 Thành phần hóa học của ca cao
Bảng 2.3: Thành phần hóa học của hạt ca cao
Trang 11Bảng 2.4: Thành phần hóa học của hạt sau khi lên men và sấy (nguồn:www.vinacacao.com.vn)
Thành phần hóa học Mảnh ca cao nghiền % Tối đa Vỏ % Tối đa
Trang 1212
Số liệu trên bảng 2.4 chỉ có tính tham khảo vì chúng sẽ thay đổi tùy theo loại hạt, chất lượng của quá trình lên men và sấy cũng như các quá trình tiếp theo sau đó
2.1.6 Thu hoạch và quy trình sau thu hoạch hạt cacao:
2.1.6.1 Thu hoạch
- Thời điểm thu hoạch cacao:
Bắc xích đạo: tháng 9-12, tháng 4-6
Tây phi: tháng 6-11
- Mật độ thu hoạch: 10-15 ngày/lứa
- Yêu cầu quả: chuyển màu vỏ quả từ xanh vàng (forastero), xanh vàng đỏ (criollo)
- Yêu cầu thu hái: không gây tổn thương cành rụng hoa, không leo
- Phương pháp thu hái: dùng dao cắt cuống trái, không được bứt tước cuống
Hình 2.6: Thu hoạch ca cao
Trang 1313
2.1.6.2 Quá trình sau thu hoạch
a) Quy trình sau thu hoạch ca cao
Hình 2.7: Sơ đồ quy trình sau thu hoạch ca cao
b) Tồn trữ quả
- Sau khi hái, tồn trữ 7-9 ngày
+ 7 ngày đối với criollo + 9 ngày đối với forastero
- Phương pháp tồn trữ: trong các thùng gỗ đóng chắn bằng song, giỏ cần xé…
- Yêu cầu: dụng cụ chứa đựng phải thoáng chịu va đập được để tránh hiện tượng giập vở trái Chú ý khi tồn trữ điều kiện không thích hợp có thể làm thối, hư hỏng trái
Trang 1414
- Lấy hạt: lách hai ngón tay theo chiều dài và cả hai bên phôi nhũ, hạt sẽ dễ dàng tách ra
- Có thể tách vỏ bằng máy:
Máy cacaoette ( Pháp)
Máy zumex ( Tây Ban Nha)
Máy Dinhanlense ( Brazil)
Máy W Zinke ( costa Rica)
Năng suất : khoảng từ 3.000- 10.000 trái/h
d) Lên men
- Mục đích:
Loại bỏ lớp vỏ nhầy
Dừng quá trình hô hấp và nảy mầm của hạt cacao
Tạo màu sắc, các hợp chất tiền hương
Làm mềm lớp vỏ cứng
- Phương pháp lên men
Lên men trong thúng: thích hợp cho nông trại nhỏ, kích thướt thúng có thể chứa 10-15
Kg lên men trong thúng người ta thường lót thúmg bằng lá chuối đảo trộn bằng cách đổ
từ thúng này sang thúng khác
Hình 2.8: Lên men trong thúng
Trang 1515
Lên men trong khay gỗ: kích thướt khay: 75x75x10cm, Hai khay cách nhau 0.5cm, chồng
10 khay, đặt lên hệ di động, lớp hạt cao ½ khay, không cần đảo trộn
Hình 2.9: Lên men trong khay gỗ
Lên men trong thùng gỗ: thích hợp cho các trang trại vừa, kích thướt 45 x 45 x 45cm đến
2 x 2 x 0.7m lượng caocao chứa không quá 0.5m, có lót lá chuối xung quanh thùng, cách mặt đất >10cm, thiết kế nhiều tần từ trên cao xuống để cào từ thùng trên xuống(để đảo trộn khối hạt trong quá trình lên men)
Hình 2.10: lên men trong thùng gỗ
Trang 1616
Lên men đổ đống: yêu cầu theo phương pháp này khối cacao phải đủ nhiều, lót lá chuối trên sàn gỗ hoặc nền, đổ đống cacao tươi lên gập lá chuối lại che kín khối hạt lên men lại đảo trộn bằng cách cào từ đống chỗ này sang chỗ khác
Hình 2.11: Lên men ủ thành đống
Ngoài ra còn có phương pháp lên men đặc biệt cho loài cacao “nacional” nhóm forastero
ở equado tạo ra loại Arriba hảo hạng
- Các phương pháp hỗ trợ quá trình lên men: làm sạch lớp nhầy để rút ngắn thời gian lên men Hay đem ép thủy lực để loại nhớt tăng đọ yếm khí, hay dùng máy tách nhớt
- Hệ vi sinh vật lên men
Nấm men: Saccharomyces Cerevisiea là chủ yếu (ngoài ra người ta còn tìm thấy có 12
loại nấm men khác nữa có mặt trong khối lên men ca cao nhưng số lượng không nhiều)
Vi khuẩn acetic: Acertobacter rancens, Acertobacter xylinum, acertobacter ascendens, acertobacter lovanniensis, Gluconobacter oxydans
Vi khuẩn lactic: Lactobacillus platarum, Lactobacillus mali, Lactobacillus collinoide, lactobacillus fermentum, Leuconostoc ssp., Streptococcus thermophillus
Nấm mốc: Aspergillus fumigatus, Aspergillus glaucus, Aspergillus niger, Aspergillus flavus, Aspergillus tarmarii, penicilium ssp., Mucoz ssp
Trang 1717
Bacillus ssp: Bacillus subtilis, Bacillus circular, Bacillus lincheniformis, bacillus megaterium, Bacillus stearothermophilus, Bacillus pumula, Bacillus coagulans
Vi sinh vật khác: Pseudomonas, Enterobacter, Escherichia
Bảng 2.5: Chỉ tiêu hạt ca cao sau lên men ở Việt Nam (Nguồn TCVN 7519:2005)
Loại Chỉ tiêu
Trang 18 Nhân công nhiều
Không thích hợp cho sản suất theo quy mô lớn, quy mô công nghiệp
Thực hiện trải hạt dày 3-4cm trên nền xi măng hoặc trên những phên gỗ
Đảo trộn các khối hạt trong suốt quá trình phơi
Thời gian 5-7 ngày
Sấy nhân tạo:
Sấy nhanh (làm hạt chua)
Có mùi khói hay vị hắc
Nhiệt độ sấy 50-600C
Sấy tốc độ chậm (sấy gián đoạn)
Thời gian sấy 10-12h
Thiết bị: máy sấy samoan, thùng quay, sàng phẳng…
Chú ý: quá trình này rất dễ nảy sinh ra độc tố do vi sinh vật sinh ra
Bảng 2.6: Tiêu chuẩn chất lượng cacao sau phơi sấy
Tiêu chuẩn Mô tả Số lượng
hạt/100g
Lỗi (%) Khiếm
khuyết (*)
Ẩm (%) Lẫn tạp
chất Hạt mốc Hạt đen
FAO Model
Ordinance
Loại 1
Trang 19* : các khiếm khuyết là do lỗi sâu bọ, hạt nảy mầm hay nhạt màu
**: lỗi do sâu bọ được tính gộp vào lỗi bị mốc
***: lượng tối đa nhiễm mốc và sâu bộ là 6 %
f) Phân loại cacao
- Mục đích: tạo những khối cacao có kích thướt đồng đều dễ xử lí chế biến
g) Bảo quản cacao
Cacao hạt làm ra nếu chưa được sữ dụng ngay ta cần bảo quản tránh hư hỏng chất lượng hạt ca cao
Đóng bao: Bằng bao đay hoặc bao PE Đảm bảo ẩm 7%
Sự phát triển của vi sinh vật như nấm mốc, côn trùng như sâu bướm sâm nhập dạng ấu trùng, phát triển thành kén sau đó phát triển hoàn chỉnh, phá vỡ hạt, làm giảm chất lượng hạt
Bảo quản tại hộ sản xuất: bảo quản trong các bao đay, tránh xa nguồn khói được che đậy cẩn thận, không nên cho tiếp xúc với mặt đất Nên có khu vực bảo quản cacao riêng
Trang 2020
Đảm bảo tại nơi xuất khẩu: kiểm tra ẩm, đảm bảo không khí ban ngày nhiệt độ 280C, độ ẩm 70% Có thể bảo quản bằng hầm ngầm, nạp khí trơ
2.2 Tổng quan bột cacao
2.2.1 Lịch sử:
Cách đây hàng ngàn năm người Maya và Aztec cổ đã biết sử dụng hạt ca cao lên men làm thức uống bổ dưỡng Người Aztec gọi thức uống từ hạt ca cao lên men là Xocolatl, nhưng người Tây Ban Nha không thể phát được cái tên như vậy nên biến thành Chocolat, và đến người Anh thì gọi
là Chocolate Tuy nhiên, lúc này thức uống ca cao chỉ được uống dưới dạng nóng vì trong bột ca cao vẫn còn nguyên bơ ca cao, dễ bị kết tinh thô nhám khi bị lạnh Giữa thế kỷ 17, người Anh cho bột ca cao vào bánh Năm 1828, một nhà hóa học người Hà Lan tên Johannes Van Houten phát minh ra phương pháp ép bơ ca cao ra khỏi bột ca cao Lúc này, người ta có thể uống lạnh thức uống ca cao với mùi vị thơm ngon
2.2.2 Bột cacao:
Bộ phận chính được sử dụng là hạt cacao Trong hạt cacao có:
- Hơn 300 hợp chất dễ bay hơi: Những hợp chất tạo mùi quan trọng nhất là những estersaliphatic, Polyphenols, Carbonyls thơm Các polyphenols tan trong nước (5 – 10 %) như epicatechol, leucoanthocyanins và anthocyanins, bị phân hủy trong các giai-đoạn chế biến, tạo thành màu đỏ đặc biệt là 'cocoa red'
- Các amine có hoạt tính sinh học: Phenyl-ethyl amine, Tyramine, Tryptamine, Serotonine…
- Các alkaloids: Theobromine (0.5-2.7 %) , Caffeine (0.025 %), Trigonelline…Một alkaloid mới nhất vừa được ly trích từ Cacao là Anandamine có tác dụng tạo sự khoan khoái dễ chịu
- Bơ cacao chứa các glyceride, phần chính gồm các acids oleic, stearic và palmitic
Khoảng 3/4 các chất béo trong bơ ca cao ở dạng monosacharide Bơ ca cao, được xem là một chất chống oxy-hóa, có tác dụng trung hoà cholesterol trong máu nhờ ở hàm lượng cao stearic acid, không làm tăng LDL nhưng làm tăng HDL
Vị đắng của ca cao là do ở phản ứng giữa các Diketopiperazines với Theobromine trong quá trình rang Theobromine là chất đặc thù của ca cao, nó có tác dụng tương tự như caffeine, gây
Trang 2121
kích thích, tăng cường các hoạt động của cơ bắp Cacao được xem là hoàn toàn không có độc tính trong những liều lượng bình thường có chứa một lượng rất nhỏ Safrole một chất gây ung thư Hạt sau khi rửa sạch, sẽ được rang sau đó xay nhuyễn trong điều kiện gia nhiệt đến 50 – 600C thành dung dịch sền sệt màu nâu gọi là bột nhão cacao có tỷ lệ chất béo 55 - 58 % Để làm bột cacao ta phải tìm cách giảm bớt lượng chất béo bằng cách sử dụng máy ép thủy lực áp suất cao
300 - 400 bar Bột cacao ra khỏi máy ép chứa 20 - 23 % chất béo, sau đó sẽ được phơi khô và nghiền thành bột
Bảng 2.7: Hàm lượng thành phần dinh dưỡng trong bột cacao
Bảng 2.8: Hàm lượng các chất khoáng trong bột cacao
Trang 22Dựa theo thành phần hóa học
- Cacao giàu béo (high fat cocoa powder): 22 % chất béo
- Cacao độ béo trung bình (medium fat cocoa powder) : 12 – 22 % chất béo
- Cacao ít béo (low fat cocoa powder) : 10 – 12 % chất béo
Dựa theo kích cỡ, hình dạng
- Bột Cacao (cocoa powder)
- Bánh Cacao mảnh (kibble cocoa cake)
- Cacao đóng bánh (cocoa press cake)
Dựa theo màu sắc
- Đỏ vừa (mid-red)
- Đỏ dịu (mild red)
- Đỏ nâu (reddish brown)
- Nâu sáng (light brown)
- Nâu vừa (mid-brown)
- Nâu vàng (yellow brown)
- Nâu xám (gray brown)
Trang 2323
- Nâu đen (drak brown)
Dựa theo hương vị
- Hương vị tự nhiên của cacao
- Hương vị đắng
- Hương vị truyền thống đặc trưng của từng vùng trồng trọt và chế biến cacao ( Anh, Pháp, Bỉ,
Hà Lan, Đan Mạch, Tây Phi, Nam Mỹ, Châu Á )
Dựa theo yếu tố khác
- Cacao tự nhiên chưa kềm hóa (Natural Cocoa)
- Cacao đã kềm hoá (Dutch Cocoa, Alkalised Cocoa)
Theo các cách phân loại khác:
- Cacao ít béo - Low fat cocoa: trong đó không quá 10% bơ cacao
- Cacao béo vừa - Medium fat cocoa: chức từ 10-22% bơ cacao
- Cacao để uống và ăn sáng – Drinking or breakfast cocoa: chứa hơn 22% bơ cacao
- Cacao Hà Lan - Dutch cocoa: là cacao đã được trung hòa acid tự nhiên, có màu hơi sẫm và vị khác với cacao thông thường
2.2.4 Lợi ích của bột cacao
- Tác dụng trên tim mạch: đây là lợi ích đầu tiên mà các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu đến Giáo sư, Tiến sĩ Norman Hollenberg, Đại học Y Khoa Harvard đã nghiên cứu trên diện rộng và cho ra kết quả chất phenolic có trong bột cacao thiên nhiên có tác dụng ngăn ngừa và hạn chế các nguy cơ rủi ro có thể xảy đến với hệ tim mạch
- Tác dụng chống ung thư: nghiên cứu mới đây của Trường ĐH California, San Francisco, USA cũng đã cho kết quả khả năng ngừa ung thư của bột cacao là rất rõ ràng Sở dĩ như vậy là vì trong thành phần của cacao có chứa nhiều chất chống oxy hóa, chất khoáng và vitamin
- Tác dụng trên não: thực tế cho thấy, sử dụng cacao khiến con người ta hưng phấn, sảng khoái Nguyên nhân là do thực phẩm này có chứa cafein nên có tác dụng gần giống như khi ta uống chè, cà phê Trường Đại học Y khoa Hall York (Anh) khẳng định thường xuyên sử dụng cacao
Trang 2424
sẽ giúp giảm hội chứng mệt mỏi mãn tính, chất polyphenols trong cacao có tác dụng cải thiện nồng độ serotonin trong não, chất serotonin có nồng độ không ổn định sẽ dẫn đến hội chứng mệt mỏi mạn tính và trầm cảm Serotonin, endorphine còn tạo cảm giác thoải mái, hưng phấn
-Tác dụng khác: ngoài các ứng dụng y khoa, cacao thiên nhiên là thức uống lý tưởng cho người
ăn kiêng, giảm béo, nhưng vẫn duy trì đầy đủ dưởng chất cần thiết cho cơ thể Cacao còn dùng trong mỹ phẩm, các chuyên gia chăm sóc sắc đẹp tại Chennai (Ấn Độ) phát minh cách pha chế cacao, chăm sóc da cho phái nữ, ngăn ngừa bệnh lão hoá da Việc tắm Cacao từ lâu luôn được ưa chuộng