Thành phần hóa học của Rau má tuy ít các chất nhóm đường, bột nhưng bù lại có rất nhiều các thành phần, vitamin, chất xơ, chất khoáng và các nhóm chất hỗ trợ tiêu hóa.. Với mong muốn đa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
Trang 2LỜI CẢM ƠN Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lởi cảm ơn đến cô Đống Thị Anh Đào, cô đã giúp đỡ và hướng dẫn em tận tình trong suốt quá trình hoàn thành đồ án
Em xin gửi lởi cảm ơn đến các thầy cô, trong bộ môn Công Nghệ Thực Phẩm, đã tận tình truyền đạt cho em những kiến thức cơ bản về Thực Phẩm học trong suốt những ngày tháng trên giảng đường đại học
Em cũng xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Nguyên đã giúp đỡ
và tạo điều kiện cho em trong quá trình em thực nghiệm thí nghiệm tại PTN B10 của trường Đại Học Bách Khoa TPHCM
Xin cảm ơn gia đình, là chỗ dựa, động viên, khuyến khích em trong suốt thời gian qua
Và cuối cùng, tôi rất cám ơn các bạn trong lớp 06DTP1, đã là nơi chia
sẻ và hỗ trợ tôi không những trong 12 tuần làm luận văn mà hơn nữa
là khoảng thời gian 4 năm qua, khi chúng ta ngồi chung một giảng đường
TPHCM, ngày 14/8/2010
Sinh viên Lâm Đức Cường
Trang 3TÓM TẮT Rau má từ lâu là thành phần thực phẩm không được sử phổ biến trong bữa ăn của người Việt Nam Thành phần hóa học của Rau má tuy ít các chất nhóm đường, bột nhưng bù lại có rất nhiều các thành phần, vitamin, chất xơ, chất khoáng và các nhóm chất hỗ trợ tiêu hóa Thành phần cellulose trong phần lớn các loại rau má là chất làm tăng nồng độ các HDLP HDLP là nhóm các chất hóa học giúp làm giảm nguy cơ các bệnh về đường tim mạch, bệnh về xơ cứng động mạch
Hiện nay người tiêu dùng chỉ sử dụng Rau má dưới hai dạng là ăn sống và xay ra làm nước giải khát Rau má tươi có rất nhiều ưu điểm như cung cấp rất nhiều các hoạt chất sinh tố và khoáng, cung cấp một hàm lượng nước nhất định cho cơ thể Tuy nhiên, đối với Rau má tươi thì thời gian bảo quản ngắn, vì thế việc cung ứng Rau má cho sản xuất công nghiệp bị hạn chế Vì thế, khía cạnh sử dụng Rau má cho các ngành công nghiệp còn bỏ ngỏ Với mong muốn đa dạng hóa sản phẩm Rau má có trên thị trường, đồng thời gải quyết một phần vấn đề việc đưa Rau má
thành nguyên liệu cho công nghiệp, em đã thực hiện đề tài” Nghiên cứu sản xuất Rau má sấy
khô” Em hy vọng rằng, đề tài của mình sẽ góp phần làm phong phú thêm số lượng sản phẩm rau
má có trên thị trường
Đề tài của em tập trung nghiên cứu sản xuất Rau má dạng khô mà vẫn đảm bảo được các chỉ tiêu về chất lượng theo quy định của bộ Y Tế Hơn thế nữa, hạn chế tối đa sự thất thoát các khoáng chất có trong Rau má tươi nguyên liệu, đồng thời kéo dài thời gian bảo quản Rau má
Sau thời gian thí nghiệm, em đã cho ra được sản phẩm tối ưu Tuy nhiên, do kiến thức của
em còn hạn hẹp, luận văn không tránh được đôi chỗ còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được các ý kiến và đóng góp của quý thầy cô
Trang 4MỤC LỤC
Trang bìa i
Nhiệm vụ đồ án Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh sách hình vẽ vii
Danh sách bảng biểu ix
Danh sách các từ viết tắt xi
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RAU MÁ 1
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ RAU MÁ 1
1.2 THỰC VẬT HỌC RAU MÁ 2
1.2.1 Mô Tả 2
1.2.2 Phân loại rau má 5
1.2.2.1 Hai loài Rau Má chính 6
1.2.2.2 Các loài rau có tên Rau Má 6
1.2.3 Phân bố Rau má 10
1.2.3.1 Các vùng chuyên canh Rau má ở nước ta 11
1.2.3.2 Phân bố rau má trên Thế Giới 15
1.2.4 Thành phần hoá học của Rau Má 15
1.2.4.1 Vallarine 16
1.2.4.2 Triterpene 16
1.2.4.3 Sự phụ thuộc của hàm lượng các chất hóa học trong rau má đối với các vùng địa lý khác nhau 27
Trang 51.2.5 Bảo quản sau thu hoạch Rau má 28
1.2.5.1 Đặc điểm của rau má và nguyên nhân gây hư hỏng 28
1.2.5.2 Biện pháp kỹ thuật bảo quản má tươi 29
CHƯƠNG II NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 NGUYÊN LIỆU 30
2.1.1 Rau má 30
2.1.2 Nước 30
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.2.1 Quy trình công nghệ đề xuất 31
2.2.1.1 Quy trình công nghệ 31
2.2.1.2 Thuyết minh quy trình 32
2.2.2 Sơ đồ và nội dung nghiên cứu 34
2.2.2.1 Sơ đồ nghiên cứu 34
2.2.2.2 Nội dung nghiên cứu 35
2.2.3 Các phương pháp phân tích 36
2.2.3.1 Xác định hàm ẩm 36
2.2.3.2 Các phương pháp phân tích vi sinh thực phẩm 37
2.2.3.3 Các phương pháp phân tích hóa lý 37
2.2.3.4 Các phương pháp phân tích cảm quan 37
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 40
3.1 KHẢO SÁT NGUYÊN LIỆU 40
3.2 KHẢO SÁT CÁC THÔNG SỐ KỸ THUẬT CỦA QUY TRÌNH SẢN XUẤT RAU MÁ SẤY KHÔ 41
3.2.1 Quá trình chần 41
Trang 63.2.1.1 Chần ngập nước 41
3.2.1.2 Hấp 44
3.2.2 Khảo sát quá trình sấy 46
3.2.2.1 Độ ẩm không khí 46
3.2.2.2 Lưu thông của không khí 47
3.2.2.3 Độ dày của lớp sấy 47
3.2.2.4 Độ ẩm cân bằng 48
3.2.2.5 Khảo sát quá trình sấy 50
3.2.3 Đánh giá cảm quan sản phẩm 50
3.2.3.1 Độ trương nở 50
3.2.3.2 Độ giòn 52
3.2.3.3 Độ dai 53
3.2.3.4 Màu sắc 55
3.2.3.5 Kết luận cảm quan 56
3.2.4 Đánh giá thị hiếu sản phẩm 57
3.3 KHẢO SÁT THỜI GIAN BẢO QUẢN 58
3.4 KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM 59
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61
4.1 KẾT LUẬN 61
4.2 ĐỀ NGHỊ 61
4.2.1 Nguyên liệu 61
4.2.3 Hút ẩm và bảo quản 61
4.2.3 Sản phẩm 61
TLTK, PHỤ LỤC
Trang 7DANH SÁCH HÌNH VẼ
Hình 1.1: Rau má 3
Hình 1.2: Thực vật học rau má 4
Hình 1.3: Rau má thường 5
Hình 1.4: Lá hai loại rau má 5
Hình 1.5: Rau má lá rau muống 6
Hình 1.6: Rau má sen 6
Hình 1.7: Rau má núi 7
Hình 1.8: Rau má long 8
Hình 1.9a + b: Rau má ngọ 9
Hình 1.10: Rau má suối 10
Hình 1.11: Phân bố rau má ở Châu Á, Châu Úc 15
Hình 1.12: Công thức chung của Triterpene, 3 vị trí nối đôi C 12 – C 13 , C 13 – C 18 , C 20 – C 21 Hình 1.13: Công thức hóa học của Asiaticoside 18
Hình 1.14: Công thức hóa học của Asiatic acid 18
Hình 1.15: Công thức phân tử Madecassoside 19
Hình 1.16: Công thức hóa học của Madecassic acid 19
Hình 1.17: Công thức hóa học chung của nhóm C 12 – C 13 20
Hình 1.18: Công thức hóa học Centellasapogenol A 20
Hình 1.19:Hình ảnh chụp lại trên kính hiển vi các điểm nơ ron Hippocampal CA3 trong não chuột cái mang thai 24
Hình 1.20: Tác dụng hình thành collagene 25
Hình 3.1: Rau má chần ngập nước 43
Hình 3.2: Rau má hấp 45
Trang 8Hình 3.3: Động học quá trình sấy Rau má, nhiệt độ sấy 65 0
C 50
Hình 3.4: Mẫu thử độ trương nở của Rau má sấy khô 51
Hình 3.5: Mẫu thử độ giòn của Rau má sấy khô 53
Hình 3.6: Mẫu thử độ dai của Rau má sấy khô 54
Hình 3.7: Mẫu thử màu sắc của Rau má sấy khô 56
Hình 3.8: Điểm trung bình mức độ yêu thích của người tiêu dùng đối với sản phẩm Rau má sấy khô 57
Hình 3.9 : Kết quả phân tích ANOVA 58
Hình 4.1: Sản phẩm rau má sấy khô 74
Trang 9DANH SÁCH BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Danh pháp khoa học Rau má sen 9
Bảng 1.2: Phân ngành sinh học rau má núi 7
Bảng 1.3: Phân ngành sinh học rau má long 8
Bảng 1.4: Phân loại sinh học rau má ngọ 9
Bảng 1.5: Phân loại sinh học rau má suối 10
Bảng 1.6: Diện tích, năng suất, sản lượng rau các vùng kinh tế trọng điểm 12
Bảng 1.7: Thành phần hóa học rau má tự nhiên 18
Bảng 1.8: Hoạt tính kháng khuẩn của các chất chiết xuất từ rau má 26
Bảng 1.9: Tính độc của các chất chiết từ rau má 27
Bảng 1.10: Tính độc các chất chiết từ rau má với tert-butyl-1-hydroxytoluene và ascorbic acid Bảng 1.11: Sự thay đổi thành phần hóa học của rau má theo vùng địa lý 28
Bảng 2.1: Tiêu chuẩn nước sinh hoạt của bộ Y tế Việt Nam 30
Bảng 3.1: Thành phần hóa học tự nhiên của Rau má 40
Bảng 3.2: Sự thay đổi cấu trúc, màu lá theo nhiệt độ chần 41
Bảng 3.3: Sự thay đổi cấu trúc, màu lá theo thời gian chần 42
Bảng 3.4: Sự thay đổi cấu trúc, màu lá theo nhiệt độ hấp 44
Bảng 3.5: Sự thay đổi cấu trúc và màu lá theo thời gian hấp 44
Bảng 3.6: Sự biến đổi ẩm trong nguyên liệu theo thởi gian và nhiệt độ sấy 48
Bảng 3.7: Sự biến đổi ẩm trong 5 giờ sấy 49
Bảng 3.8:Tiêu chí đánh giá cảm quan độ trương nở của Rau má sấy khô 51
Bảng 3.9: Kết quả cảm quan độ trương nở Rau má sấy khô 51
Bảng 3.10:Tiêu chí đánh giá cảm quan độ giòn của Rau má sấy khô 52
Bảng 3.11: Kết quả đánh giá cảm quan độ giòn Rau má sấy khô 53
Trang 10Bảng 3.12:Tiêu chí đánh giá cảm quan độ dai của Rau má sấy khô 54
Bảng 3.13: Kết quả cảm quan độ dai của Rau má sấy khô 55
Bảng 3.14:Tiêu chí đánh giá cảm quan độ dai của Rau má sấy khô 55
Bảng 3.15: Kết quả cảm quan màu sắc Rau má sấy khô 56
Bảng 3.16 : Kết luận cảm quan Rau má sấy khô 56
Bảng 3.17: Kết quả phân tích chất lượng sản phẩm 59
Trang 11DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
EC50: Half maximal effective concentration, là nồng độ của 1 loại hóa dược, gây ra phản ứng
tích cực trên 50 % số bệnh nhân giữa 2 mức Mức bệnh nhân tối thiểu mà loại hóa dược trên phải
có tác dụng và số bệnh nhân tối đa mà loại hóa dược trên có thể gây ra phản ứng tích cực
TI: Therapeutic index (hoặc therapeutic ratio) là chỉ số giữa số lượng 50% bệnh nhân có biểu
hiện tiêu cực với hóa dược, và 50% bệnh nhân có biểu hiện tích cực với hóa dược
LC50 : Lethal Concentration, thành phần nồng độ tối thiểu mà hóa chất tiêu diệt 50% các thể sinh
vật trong dung dịch nước
P – 388: Tế bào ung thư bạch cầu
L – 1210: Tế bào ung thư bạch cầu có nguồn gốc từ lymphocytic B, trong hình thái lymphoblasts
A – 549: tế bào ung thư biểu bì
HCT – 8: Tế bào ung thư da
KB: Tế bào ung thư biểu mô
ED50: Effective dose, số lượng thuốc mà hơn 50% số người điều trị cho kết quả tốt
HX: n-hexane, CT: carbon tetrachloride , CF: chloroform, AQ: aqueous
Kan: kanamycin, thuốc kháng sinh liều cao
Vincristine sulphate: hóa chất được sử dụng là chất hóa trị trong phương pháp chữa trị các tế bào
ung thư máu
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RAU MÁ
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ RAU MÁ [1,2,4]
Từ xa xưa, con người đã biết sử dụng nhiều loại cây có trong thiên nhiên vào mục đích chữa trị các vết thương, hồi phục sức khoẻ Trong lịch sử phát triển của loải người, từ đông sang tây, đã ghi nhận sự xuất hiện của rất nhiều nền y học cổ truyền nổi tiếng, có thể kể tới như nền y học cổ truyền Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản, Ai Cập…và bao gồm cả Việt Nam Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, có tiếng nói và ngôn ngữ riêng, có sự phát triển, tập quán sinh sống khác biệt Nhưng trong các tài liệu cổ về dược học của các nền Y Học cổ truyền khác nhau, Rau Má được nhắc tới rất nhiều lần với nhiều chức năng, khi sử dụng để ăn tươi hoặc nấu chín, các bài thuốc cũng như cách chế biến Một vài ví dụ tiêu biểu như sau:
Y học Dân Tộc Việt Nam cho đây là 1 loại thuốc mát, vị đắng, hơi ngọt, tính bình hòa, có tác dụng thanh nhiệt, thông tiểu, giải độc Tổ tiên ta dùng rau má ở dạng rau tươi, ăn trực tiếp hay nấu canh để ăn, làm nước giải khát để uống và làm thuốc chữa những bịnh thông thường:
Cảm cúm, sốt, khát nước, nhức đầu
Viêm họng, cổ đau và sốt
Đau bụng lưng khi hành kinh, lợi sữa cho sản phụ mới sanh
Dùng khoảng 30-40 gam lá tươi, vò nát rồi vắt lấy nuớc uống
Dân Tích Lan (Sri Lanka) dùng Rau Má như 1 món rau ăn hàng ngày, để được khoẻ và trẻ lâu
Người Thái Lan thường uống 1 ly nước rau má sau khi ngủ trưa, để thấy tỉnh táo, hăng say làm việc tiếp
Từ nhiều ngàn năm nay Rau Má là 1 môn thuốc hữu hiệu trong y học dân tộc của Ấn Độ
và Trung Hoa Ayuverda Medicine, nền y học cổ truyền nổi tiếng của Ấn Độ, coi rau má là 1 loại
cỏ làm cho tươi trẻ, trường thọ, tăng cường não bộ vì giúp cho dễ tập trung tư tưởng để ngồi Thiền, trí nhớ được bền lâu và đầu óc minh mẫn Rau má còn được dùng để chữa các bịnh phong cùi, bịnh ngoài da, eczema Trung Y thấy rau má có khả năng bổ gan ích thận, và coi đây là 1 loại thuốc quý, để chữa trị nhiều chứng bệnh kinh niên hay phong thấp, thấp khớp Hơn nữa, Trung Y thấy rau má có tác dụng như nhân sâm, có thể bồi bổ cho cơ thể suy nhược vì bịnh tật hay tuổi cao Thần Nông Bản Thảo ghi rau má là một thuốc trường sinh
Trang 13Đối với Phương Tây, Rau Má được biết đến lần đầu vào thế kỷ thứ 18 Tuy nhiên từ vài thập kỷ gần đây, với sự giao lưu của 2 nền văn hoá Đông và Tây, Y Học Phương Tây mới chú ý nghiên cứu về tính chất của Rau Má, tiêu biểu như:
Rau Má có tác dụng hữu ích cho bệnh dãn nở tĩnh mạch, với bệnh do tuần hoàn trì trệ nên
tế bào ở bàn chân có thể bị hủy hoại, và các bệnh cao áp huyết, an thần, bớt lo âu, dễ tập trung tư tưởng và tăng trí nhớ Với 1 số trẻ bi tật bẩm sinh đần độn, rau má đã làm tăng chỉ số thông minh Rau má cón có thể giúp cho trẻ em bị bệnh khó tập trung ý chí (ADD: Attention Deficit Disor-der) Khả năng của rau má giúp trị bệnh lãng trí (Alzheimer) đang được nghiên cứu ở nhiều nơi (nghiên cứu của Đại Học Y khoa Maryland, Úc)
Vì tác dụng vào tuần hoàn và làm tế bào da vững mạnh, rau má được dùng làm kem bôi mặt ở Pháp để làm bớt những vết nhăn, giảm những chứng đau đớn vì phong thấp và thấp khớp Tuy nhiên, đối với Phương Tây, việc tìm hiểu về Rau Má cũng còn nhiều hạn chế, và hiếm có các ứng dụng trong thực phẩm
Ngoài ra, đối với Việt Nam ta, Rau Má còn có 2 chi tiết đáng ghi nhớ:Vào thế kỷ 18, linh mục Bồ Đào Nha João de Loureiro, nghiên cứu cây cỏ, đã cho rau má 1 danh từ khoa học là Cen-talla Trisenthus Cochinchinensis, vi Cochinchine là tên của nam bộ Việt Nam hồi đó Tây phương gọi là “Pharmacy In One Herb”, giống như sự săn sóc chu toàn về nhiều mặt của người
lá Cánh hoa màu đỏ hoặc tía
Trang 14Thân cây rau má gầy và nhẵn, là loại thân bò lan, màu xanh lục hay llục ánh đỏ, có rễ ở các mấu Nó có các lá hình thận, màu xanh với cuống dài và phần đỉnh lá tròn, kết cấu trơn nhẵn với các gân lá dạng lưới hình chân vịt Các lá mọc ra từ cuống dài khoảng 5-20 cm Bộ rễ bao gồm các thân rễ, mọc thẳng đứng Chúng có màu trắng kem và được che phủ bằng các lông tơ ở
rễ
Hoa rau má có màu từ ánh hồng tới đỏ, mọc thành các tán nhỏ, tròn gần mặt đất Mỗi hoa được bao phủ một phần trong 2 lá bắc màu xanh Các hoa lưỡng tính này khá nhỏ (nhỏ hơn 3 mm), với 5-6 thùy tràng hoa Hoa có 5 nhị và 2 vòi nhụy Quả có hình mắt lưới dày dặc, đây là điểm phân biệt nó với các loài trong chi Hydrocotyle có quả với bề mặt trơn, sọc hay giống như mụn cơm Quả của nó chín sau 3 tháng và toàn bộ cây, bao gồm cả rễ, được thu hái thủ công
Trên phương diện sinh học Rau Má được phân loại như sau:
Trang 15Hình 1.2: Thực vật học rau má 1: Hình thức phát triển
2: Cánh hoa
3: Hoa
4: Nhị hoa
5: Cuống hoa 6: Mặt cắt của hạt 7: Mặt cắt nhụy hoa 8: Hạt trên cuống hoa
9: Chùm hạt
10, 11: Hạt trưởng thành 12: Ngọn hoa
Trang 161.2.2 Phân loại rau má
Rau má là loại rau quen thuộc với nhân dân ta từ rất lâu Vì thế hiện nay trong dân gian, người dân gọi tên 7 loài rau là Rau Má Cách gọi này bắt nguồn từ việc 8 loài rau này có đặc điểm hình thái bên ngoài hao hao rau má Tuy nhiên, theo danh pháp khoa học thì chúng là 6 loại hoa màu khác nhau, bao gồm 2 loài Rau Má thật sự cùng họ và 6 loài rau có đặc điểm hình thái rất giống rau má nhưng kỳ thật chúng không thuộc họ Rau Má, mà thậm chí còn khác rất xa về phân loại thực vật
1.2.2.1 Hai loài Rau Má chính
1 Rau Má thường
Danh pháp khoa học: Centella asiatica
Tên thông dụng: Rau Má, Rau má rừng, Rau Má thìa
Thuộc họ asiatica
Đặc điểm: chiều dài lá trung bình 7.85 cm Hình 1.3: Rau má thường
2 Rau Má lá nhỏ
Danh pháp khoa học: Hydrocotyle sibthorpioides
Tên thông dụng: Rau Má lá nhỏ, Rau Má dại, Rau Má
chuột, Rau Má mơ
Thuộc họ asiatica
Đặc điểm: chiều dài lá trung bình 3.75 cm
Hình 1.4: Lá hai loại rau má
A Rau má thường
B Rau Má lá nhỏ
Trang 171.2.2.2 Các loài rau có tên Rau Má
i Rau Má Lá Rau Muống
Danh pháp khoa học: Emilia sonchifolia (L) DC
Tên thông dụng: Rau Má lá rau muống, rau chua lè, cỏ huy, Rau Má
Tía
Thuộc họ Cúc (Asteracea)
Hình 1.5: Rau má lá rau muống
ii Rau Má Sen
Tên thông dụng: Rau má sen, Rau má kiểng, Rau má dù, Whorled
Pennywort, Shield Pennywort
Đặc điểm: thuộc nhóm hoa, mọc nhiều ở bắc và nam Mỹ, tây Ấn
Độ Phát triển bằng dạng dây leo, ưa thích môi trường ẩm Rau Má
sen chủ yếu được sử dụng để trang trí như trong các hồ cá, hay là
hoa trang trí trong các hòn non bộ
Kingdom Plantae – Plants – thực vật.
Subkingdom Tracheobionta – Vascular plants – cây có mạch.
Superdivision Spermatophyta – Seed plants – cây có hạt.
Division Magnoliophyta – Flowering plants – cây ra hoa.
Class Magnoliopsida – Dicotyledons – cây hai lá mầm.
Family Apiaceae – Carrot family – họ cà rốt.
Genus Hydrocotyle L – hydrocotyle
Species Hydrocotyle verticillata
Trang 18iii Rau Má Núi
Danh pháp khoa học: Glechoma hederacea L
Tên thông dụng: Rau má núi
Đặc điểm: phân bố chủ yếu ở châu Âu, tây nam châu Á, mọc
nhiều ở khu vực đồi núi, đất hoang, đồng cỏ
Bảng 1.2: Phân ngành sinh học rau má núi
Hình 1.7: Rau má núi
Kingdom Plantae – Plants – thực vật
Subkingdom Tracheobionta – Vascular plants - cây có
mạch Superdivision Spermatophyta – Seed plants – cây có hạt
Division Magnoliophyta – Flowering plants – cây có
hoa
Class Magnoliopsida – Dicotyledons – cây hai lá
mầm Subclass Asteridae
Order Lamiales
Family Lamiaceae – Mint family – họ bạc hà
Genus Glechoma L – glechoma P
Species Glechoma hederacea L – ground ivy – cây
thường xuân trên mặt đất
Trang 19iv Rau Má Lông
Danh pháp khoa học: Glechoma longituba (Nakai) Kupr
(G brevituba Kupr)
Tên thông dụng: Rau Má lông
Đặc điểm: Loài của Trung Quốc, Triều Tiên và Bắc Việt
Nam Ở nước ta, cây mọc ở Cao Lộc (Lạng Sơn) và
được trồng ở vùng rừng núi
Bảng 1.3: Phân ngành sinh học rau má lông
Hình 1.8: Rau má lông
Superdomain Neomura
Domain Eukaryota – Sinh vật nhân điển hình
king dom Plantae – Thực vật
Division Angiospermae - Thực vật có hoa
Trang 20v Rau Má Ngọ
Danh pháp khoa học: Polygonum perfoliatum L
Tên thông dụng: rau sông chua dây, thồm lồm gai, trong Đông y
Trung Quốc gọi là "Giang bản quy"
Đặc điểm: Rau má ngọ mọc hoang ở khắp những nơi ẩm thấp, vùng
đồng bằng cũng như vùng cao đều có Để làm thuốc, có thể dùng
toàn cây, hoặc chỉ dùng lá, rễ, dùng tươi hoặc phơi khô Hình 1.9a: Rau má ngọ
Bảng 1.4: Phân loại sinh học rau má ngọ
Hình 1.9b: Rau má ngọ
Kingdom Plantae – Plants – Thực vật
Subkingdom Tracheobionta – Vascular plants
Superdivision Spermatophyta – Seed plants
Division Magnoliophyta – Flowering plants
Class Magnoliopsida – Dicotyledons – Cây
hai lá mầm Subclass Caryophyllidae
Order Polygonales
Family Polygonaceae – Buckwheat family –
họ Kiều mạch Genus Polygonum L – knotweed
Species Polygonum perfoliatum L – Asiatic
tearthumb
Trang 21vi Rau Má Suối
Danh pháp khoa học: Gymnotheca chinensis Decne
Tên thông dụng: Diếp cá suối, lá giấp suối
Đặc điểm: là loài cây đặc hữu của Việt Nam, thường
mọc chỗ ẩm mát ven suối miền núi Lạng Sơn và Ninh
Bình
Bảng 1.5: Phân loại sinh học rau má suối
Hình 1.10: Rau má suối
1.2.3 Phân bố Rau Má
Đặc điểm chung của 6 loại hoa màu có hình dạng giống Rau Má, và 2 loại Rau Má chính
đó là chúng đều là những cây có tính xâm thực cao Do đó, ở bất cứ đâu ta đều có thể tìm thấy rau má Mặt khác, hiện nay với chiến lược phát triển nền nông nghiệp nước nhà, Đảng và Nhà Nước đã có những chính sách phát triển các vùng chuyên canh hoa màu chất lượng cao Không nằm ngoài xu thế đó, hiện nay trên cả nước có rất nhiều vùng chuyên canh hoa màu Tuy nhiên, những vùng chuyên canh rau má hiện nay còn khiêm tốn Trên phạm vi cả nước, hiện nay có 3 vùng chuyên canh cây rau má Đầu tiên là Tiền giang, điển hình là Hợp Tác Xã Rau Thân Cửu Nghĩa, địa chỉ ở Ấp Cửu Hòa, Xã Thân Cửu Nghĩa, Huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang Thứ nhì đó là làng Phước Yên thuộc xã Quảng Thọ, Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên - Huế Cuối cùng là
Trang 22Phường Nhơn Phú (TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định) Đây là 3 khu vực đã hình thành các vùng chuyên canh Rau Má, đã có sản phẩm Rau má tươi ra thị trường và thu về lợi nhuận
Ngoài ra, rau má còn là biểu trưng của người dân tỉnh Thanh Hoá, đến nỗi có một câu tục ngữ về hiện tượng này là “dân Thanh Hóa ăn rau má phá đường tàu” Nhưng thật đáng tiếc, bởi
vì dù Thanh Hoá là tỉnh nổi tiếng về rau má Nhưng hiện tại, Thanh Hoá vẫn không hề có một vùng chuyên canh rau má theo hướng chuyên nghiệp, mà chủ yếu là các hộ gia đình trồng với quy mô nhỏ, giá trị kinh tế tương đối không cao
1.2.3.1 Các vùng chuyên canh Rau má ở nước ta
1 Giới thiệu chung về ngành Rau Việt Nam
Với đặc điểm khí hậu đa dạng, miền Bắc có đầy đủ bốn mùa xuân hạ thu đông, miền Nam chỉ có hai mùa là mùa mưa và mùa khô, các sản phẩm rau của Việt Nam rất đa dạng, từ các loại rau nhiệt đới như rau muống, rau ngót, rau cải… đến các loại rau xứ lạnh như xu hào, bắp cải, cà rốt
Tính đến năm 2005, tổng diện tích trồng rau các loại trên cả nước đạt 635,8 nghìn ha, sản lượng 9640,3 ngàn tấn; so với năm 1999 diện tích tăng 175,5 ngàn ha (tốc độ tăng bình quân 3,61%/năm), sản lượng tăng 3071,5 ngàn tấn (tốc độ tăng bình quân 7,55%/năm)
Nhiều vùng rau an toàn (RAT) đã được hình thành đem lại thu nhập cao và an toàn cho người sử dụng đang được nhiều địa phương chú trọng đầu tư xây dựng mới và mở rộng: Hà Nội, Hải Phòng (An Lão), TP Hồ Chí Minh, Lâm Đồng (Đà Lạt)…
Vùng sản xuất rau lớn nhất là ĐBSH (chiếm 24,9% về diện tích và 29,6% sản lượng rau
cả nước), tiếp đến vùng ĐBSCL (chiếm 25,9% về diện tích và 28,3% sản lượng rau của cả nước)
Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu rau quả, trong những năm gần đây những loại rau được xác định có khả năng phát triển để cung cấp sản phẩm cho xuất khẩu là cà chua, dưa chuột, đậu rau, ngô rau phát triển mạnh cả về quy mô và sản lượng, trong đó sản phẩm hàng hoá chiếm tỷ trọng cao Hiện nay rau được sản xuất theo 2 phương thức: tự cung tự cấp và sản xuất hàng hoá, trong đó rau hàng hoá tập trung chính ở 2 khu vực:
Vùng rau chuyên canh tập trung ven thành phố, khu tập trung đông dân cư Sản phẩm chủ
Trang 23loài chủ lực), hệ số sử dụng đất cao (4,3 vụ/năm), trình độ thâm canh của nông dân khá, song mức độ không an toàn sản phẩm rau xanh và ô nhiễm môi trường canh tác rất cao
Vùng rau luân canh: đây là vùng có diện tích, sản lượng lớn, cây rau được trồng luân canh với cây lúa hoặc một số cây màu Tiêu thụ sản phẩm rất đa dạng: phục vụ ăn tươi cho cư dân trong vùng, ngoài vùng, cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu
Bảng 1.6: Diện tích, năng suất, sản lượng rau các vùng kinh tế trọng điểm
Stt Vùng Diện tích ( 1000 ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (1000 tấn)
2 Vùng trồng rau tỉnh Tiền Giang
Hiện nay, diện tích rau của Tiền Giang lên đến 30.000 ha, mỗi năm cho sản lượng xấp xỉ 450.000 tấn với tổng thu nhập khoảng 150 tỷ đồng Trong số các địa phương trồng rau trọng điểm của Tiền Giang, sản lượng rau, củ, quả hằng năm của huyện Châu Thành chiếm hơn 100
Trang 24tổng diện tích cả năm hơn 8 nghìn ha Mặt hàng rau, củ, quả của Châu Thành rất phong phú, nhiều chủng loại, trung bình mỗi ngày có hơn 300 tấn hàng xuất đi các tỉnh miền tây, miền đông
và TP Hồ Chí Minh Chợ rau tại Châu Thành hoạt động nhộn nhịp quanh năm, tập trung ở các điểm đầu mối như: thị trấn Tân Hiệp, ngã tư Lương Phú, Bình Ðức, Tam Hiệp
HTX Rau An Toàn Thân Cửu Nghĩa
Thân Cửu Nghĩa là vùng chuyên canh rau má lớn nhất của huyện Châu Thành với tổng diện tích canh tác trên 300 ha, chiếm trên 50% diện tích rau má toàn huyện, sản lượng trên 16 ngàn tấn/năm
Hiện nay, Hợp tác xã Rau an toàn xã Thân Cửu Nghĩa đã ký hợp đồng tiêu thụ được ở 9 công ty kinh doanh rau quả, thực phẩm ở thành phố Hồ Chí Minh và mặt hàng rau màu này đã có mặt ở các siêu thị Co.opMart và các nhà hàng, quán ăn trong tỉnh Mỗi ngày Hợp tác xã thu mua được hơn 10 tấn rau an toàn của nông dân và cung ứng cho thị trường thành phố Hồ Chí Minh Tính trong một huyện mỗi ngày có hàng chục thương lái đến thu mua hoa màu cung ứng cho thị trường thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền ngoài
3 Vùng trồng rau tỉnh Thừa Thiên – Huế
Diện tích sản xuất rau toàn tỉnh trên 4.700 ha, song phân bố không đều, manh mún, nhỏ
lẻ, sản xuất mang tính tự cấp theo thời vụ, chỉ có một số vùng trồng tập trung, chuyên canh chủ yếu ở thành phố Huế và một số xã như: Điền Lộc - huyện Phong Điền, Quảng Thành, Quảng Thọ
- huyện Quảng Điền, Hương Xuân, Hương Chữ, Hương An - huyện Hương Trà, Phú Mậu - huyện Phú Vang, Hương Lộc, Hương Phú - huyện Nam Đông
Làng Rau Má Phước Yên
Phước Yên có 315 hộ, hộ nào cũng có vườn trồng rau má, có hộ trồng đến 2.500m2 Hiện nay, mỗi ngày làng Phước Yên đưa ra thị trường khoảng 10 tấn rau má Rau tươi thu hoạch xong, thương lái tìm đến mua tại chân ruộng Tại các siêu thị, chợ ở Thừa Thiên-Huế, rau má đều được bày bán như loại rau đặc sản Ngoài bán trong tỉnh, còn mang tiêu thụ ở Quảng Nam, Đà Nẵng,
Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Kon Tum
4 Làng rau má Phường Nhơn Phú (TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định)
Phường Nhơn Phú (TP Quy Nhơn) là địa phương nổi tiếng về nghề trồng rau má Làng
Trang 25diện tích trồng rau của cả phường) và trải dài trên 3 khu vực: 3, 4, 5 kề nhau Ở đây có khoảng
250 hộ trồng rau má, tập trung đông nhất ở khu vực 3 Trung bình người dân ở đây trồng từ 3000- trên 5000m2 rau má, thu hoạch mỗi năm trên 10 tấn rau màu
Ngoài bán trong tỉnh, rau má Nhơn Phú còn được mang đi tiêu thụ ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Huế, Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Kon Tum Rau Nhơn Phú nói chung và rau má nói riêng đã có tiếng trên thị trường, nhưng xây dựng cho rau má Nhơn Phú một thương hiệu thì cho đến nay vẫn là câu hỏi chưa có lời đáp
5 Nhận xét chung
Hiện nay, nước ta đã phát triển các vùng chuyên canh cây rau má, với diện tích lớn Tuy nhiên, sản lượng rau má vẫn chưa đủ cung cấp cho nhu cầu trong nước sự ra đời của mô hình RAT là rất cần thiết cho sự phát triển cùa các ngành nông nghiệp Mặc dù thế, đầu ra của sản phẩm rau RAT vẫn còn bấp bênh, do giá thành còn cao Trong tương lai, với định hướng phát triển các vùng RAT của nhà nước và bộ NN&PTNT, sẽ là cơ hội cho người nông dân thoát nghèo bằng việc trồng Rau Má
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, nghề trồng rau má cũng gặp không ít rủi ro do giá
cả rau má thường thay đổi theo chu kỳ, hàng năm rau thường chỉ có giá trong các tháng 5,9,10 và tháng 11( âm lịch ), mức giá cao nhất dao động từ trên 4 ngàn đến 6 ngàn đồng/kg; những tháng còn lại giá từ 1.000- 1.500 đồng/kg, thậm chí có lúc bán không được phải phát bỏ hay phơi khô
để bán thuốc nam thì xem như chịu lỗ Vì thế, một giải pháp căn cơ để tìm đầu ra cho cây rau má
ở các vùng chuyên canh RAT đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu
Trang 261.2.3.2 Phân bố rau má trên Thế Giới
Rau má là một loài rau có tính xâm thực, do đó chúng có khả năng thích nghi rất cao với môi trường Một số nghiên cứu cho rằng Rau Má bắt nguồn từ Australia, nhưng hiện nay, quan điểm này vẫn còn nhiều điểm không rõ ràng Tuy nhiên, một sự thật là Rau Má có thể được tìm thấy ở bất cứ đâu tại Châu Á Từ các đảo Thái Bình Dương, New Guinea, Melanesi đến các vùng lãnh thổ rộng lớn như Ấn Độ và Trung Hoa Do có mặt ở nhiều vùng đất khác nhau nên Rau Má cũng có rất nhiều tên gọi khác nhau
Hình 1.11: Phân bố rau má ở Châu Á, Châu Úc
1.2.4 Thành phần hoá học của Rau Má
Tiến hảnh phân tích thành phần hóa học của Rau má, người ta thấy tỷ lệ các chất tính theo
% như sau: Thành phần hoá học của Rau Má có 88.2% là nước, 4,5% là Cellulose, chất khô trong rau má chỉ có khoảng 7,3% Tây Y xếp rau má vào nhóm cây có dược tính Cũng như trong y học dân tộc ta xếp rau má thuộc nhánh dược liệu Và từ đó, không chỉ đơn giản là một loại rau, Rau má đã đóng vai trò như là một loại dược phẩm trong suốt một thời gian dài của lịch sử ẩm thực nước ta
Trang 27Phân tích chất khô Rau má, có mặt chủ yếu các chất sau
Vallarine Bảng 1.7: Thành phần hóa học rau má
Trang 28Hình 1.12: Công thức chung của Triterpene, 3 vị trí nối đôi C 12 – C 13 , C 13 – C 18 , C 20 – C 21
Trong các phương pháp chữa trị truyền thống, người ta thường lấy rau má nấu thành nước uống, ăn sống, hay phơi khô và sử dụng chung với các thảo dược khác Rau má mọc ở khắp nơi
trên thế giới vì thế, để tổng hợp được chính xác thành phần các chất hoá học có mặt trong
Triter-penoids là không thể Do đó, các hợp chất được liệt kê ở trên chỉ có giá trị tham khảo, đó là các
chất mà đến ngày hôm nay dựa vào nghiên cứu người ta đã chứng minh được sự tồn tại của
chúng
Trang 29Trong tổng số các chất hóa học của triterpenoids, được phân làm 3 nhóm lớn Sự phân
chia này chủ yếu là sự khác nhau về vị trí nối đôi trong công thức cấu tạo chung Có 3 vị trí nối đôi khác nhau, vị trí C12 – C13, C13 – C18, C20 – C21
Trong mỗi nhóm lớn lại có các nhánh khác nhau, sự phân nhánh này nhằm mục đích phân loại hóa chất Các hóa chất có cùng vị trí nối đôi, thuộc cùng một nhóm sẽ có tính chất hóa học tương tự nhau
Hình 1.13: Công thức hóa học của Asiaticoside
Là chất mà trong đông y được chứng minh là có khả năng chữa bệnh phong, Asiaticoside
làm tan hoàn toàn lớp bao nhầy của nhóm trực khuẩn hủi Làm mỏng dần cấu trúc tế bào của chúng và khiến chúng dễ bị phá huỷ Khi nhóm vi khuẩn hủi được khống chế, các u nang hủi sẽ chết, và do đó ngăn ngừa hiện tượng di căn bệnh hủi sang các bộ phận khác của cơ thể
Asiaticoside D , Asiaticoside F , Asiaticoside E Trong công thức cấu tạo có cùng liên kết:
COO-glc-glc-rha, ở gốc R9 Giống nhau ở các gốc R5, R6, R7, R8
Liên kết acid thuộc nhóm Asiaticoside:
Trang 30Madecassoside có tác động kích thích sinh tổng hợp
col-lagen từ các nguyên bào sợi của thành tĩnh mạch và da
người, do đó góp phần làm cho sự dinh dưỡng của mô
liên kết được tốt nhất
Hình 1.15: Công thức phân tử Madecassoside
Hóa chất thuộc nhóm madecassoside chỉ có: Isothankuniside Trong công thức cấu tạo có cùng
liên kết: COO-glc-glc-rha, ở gốc R9 Giống nhau ở các vị trí R2, R4, R5, R6, R7, R8
Liên kết acid thuộc nhóm Madecassoside:
Liên kết rượu thuộc nhóm Madecassoside:
Brahmol Hình 1.16: Công thức hóa học của Madecassic acid
CAS Number: 20016-54-0
Liên kết este thuộc nhóm Madecassoside: Methyl brahmate
Trang 31Hiện nay, Centellasapogenol A đang được định
danh khoa hoc, những nghiên cứu sơ khảo về
Centellasapogenol A cho thấy chúng hỗ trợ quá
trình hình thành collagen trên da người
Hình 1.18: Công thức hóa học Centellasapogenol A
Các hóa chất thuộc nhóm Centellasapogenol A:
Centellasaponin D
Công thức phân tử: C48H78O19
CAS number: 386223-77-4
Trang 32Là những hợp chất mới được phát hiện gần đây, vì thế thong tin về nhóm hóa chất có nối đôi ở
C20 và C21 tương đối hạn chế Cho đến ngày hôm nay người ta đã phát hiện 2 hoạt chất có nối
đôi ở vị trí C20 và C21, bao gồm: Scheffuroside B và 2α,3ß,23-trihydroxy-urs-20-en-28-oic acid
Hoạt tính của triterpene:
Thành phần triterpenoid như asiaticosid, madecassosid, asiatic asid, madecassic acid là những
hoạt chất có khả năng giảm u hạt Đặc biệt asiaticosid rất hiệu nghiệm trong việc phòng chữa
phong hủi Cùng với các liên kết triterpene - glycosid khác như brahmosid, brahminosid, nó còn
có tính chất chống co thắt, chống căng thẳng Những triterpenoid còn có khả năng gây chồi trên
các mạch trung phôi bì, từ đấy tăng cường sự kết sẹo, xúc tiến cuộc biểu mô hóa Còn
thanku-nisid, một triterpenglosid, là một tác nhân chống sinh sản ( đã thử nghiệm thành công trên chuột
cái)
Hoạt dược của triterpenoids (Pharmacological activities of triterpenoids)
Công thức cấu tạo chủ yếu của triterpenoids là vòng skeleton C30, các liên kết chiếm số đông
trong hỗn hợp triterpenoids là 3β-hydroxytriterpenoids, liên kết 3S-isomer, vòng squalene và
liên kết 2,3-epoxide
Các nhà khoa học dự báo có khỏang 4000 hợp chất khác nhau trong triterpene, nhưng ngày nay
các nhà nghiên cứu mới chỉ nhận dạng được hơn 40 chất khác nhau
Nghiên cứu của GS Dr Ludger Wessjohann và GS Dr Karsten Krohn, Đại học
Martin-Luther-Universität Halle - CHLB Đức, đã tìm ra một một số hoạt chất vi lượng thuộc nhóm triterpenoids
có tác dụng ngăn chặn đối với virus HIV và các tế bào ung thư
Trang 33Anti – HIV
Chống ung thư
Trang 34Trong suốt quá trình mang thai, sự phát triển của bộ não thai nhi trong bụng mẹ là hết sức
quan trong Đặc biệt là quá trình hình thành khu vực Đồi hải mã (Hippocampal ), khu vực tạo ra
sự nghi nhớ, tác động tới khả năng tư duy và học hỏi sau này của trẻ nhũ nhi
Trong suốt quá trình mang thai, sự ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm lý, các yếu tố về xã hội
lên thai phụ, sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình hình thành Hippocampal, gây ra sự mất, hiện
tượng phá hủy một lượng tế bào nơ ron nhất định, ảnh hưởng tới khả năng học hỏi sau này của trẻ
em
Trong đông y, Rau má được biết tới như một vị thuốc hạ huyết, làm mát nên được khuyến cáo sử dụng thường xuyên nhằm mục đích hạ nhiệt, tạo trạng thái an bình cho cơ thể Điều này không những được ghi chú trong các sách đông y cổ của nước ta, mà còn là lời khuyên của các thầy thuốc trong nhiều nền y học cổ truyền khác như: Trung Hoa, Ấn Độ…
Một nghiên cứu của giáo sư Madhyastha S, Viện sinh học quốc gia Ấn Độ, đã tiến hành trích lấy chất chiết từ rau má và thử nghiệm trên chuột cái mang thai Nhằm đo lường mức độ ảnh hưởng của rau má lên quá trình hình thành não bộ của chuột con
Kết quả đã cho thấy rau má không có khả năng bảo vệ khiến cho cơ thể chuột cái mang thai không phản ứng với các xung động từ bên ngoài, rau má chỉ đơn giàn là làm tối thiểu các tế bào
nơ ron bị chết khi xảy ra xung động, trong khu vực CA3 và CA4 của hippocampal Và đẩy nhanh tiến trình tái hình thành các nơ ron bị phá hủy
Đối với thai nhi người, thì mức độ ức chế tâm lý của các bà mẹ càng mạnh, dẫn đến mức
độ xung động thần kinh càng cao, càng ảnh hưởng nhiều đến tư duy của trẻ sau nay, điều này rất nguy hiểm Rau má không những tối thiểu hóa các xung động thần kinh này mà còn tạo ra một sự thích nghi cho cơ thể Nghĩa là cơ thể bà mẹ sẽ tự triệt tiêu các yêu tố tâm lý bất lợi bằng cách thức là dễ dàng quên mọi chuyện buồn bực trong cuộc sống hằng ngày
Các nhà nghiên cứu còn tiến hành đo lường mức độ ảnh hưởng của rau má lên thần kinh chuột cái mang thai thông qua 2 tiêu chí:
Số lượng các điểm nút nơ ron thần kinh
Số lượng các đường nối các điểm nơ ron thần kinh
Trang 35Kết quà thí nghiệm được chụp dưới kính hiển vi cho thấy có sự gia tăng trung bình có ý
nghĩa từ 47 – 118% các điểm nơ ron Hippocampal CA3, và sự gia tăng trung bình có ý nghĩa 47 – 90% số lượng các đường nối các điểm nơ ron thần kinh Hippocampal CA3
Hình 1.19:Hình ảnh chụp lại trên kính hiển vi các điểm nơ ron Hippocampal CA3 trong não
chuột cái mang thai 1, 2 là 2 phương pháp chụp khác nhau
A: Chuột bình thường B: Chuột được tiêm thêm các chất chiết từ rau má, thời gian tiêm là 6 tuần, liều lượng 2 ml/kg C: Chuột được tiêm thêm các chất chiết từ rau má, thời gian tiêm là 6 tuần, liều lượng 4 ml/kg D: Chuột được tiêm thêm các chất chiết từ rau má, thời gian tiêm là 6 tuần, liều lượng 6 ml/kg
Tất nhiên, những thí nghiệm trên chuột cái mang thai không nói lên được điều gì với cơ thể
Trang 36Các nghiên cứu khoa học trên chuột,
và các thí nghiệm lâm sàng trên người
đã cho thấy được tác dụng của
Triterpe-noids trong quá trình hồi phục màng
col-lagene Triterpenoids xúc tác cho các
phản ứng bên ngoài màng tế bào hoại tử,
giúp cho việc hình thành các nguyên bào
sợi dạng cơ bản hay nhóm các tế bào
collagene I Trong đó, Asiatic acid chịu
trách nhiệm tổng hợp collagene I, song
song đó madecassic acid tổng hợp nên
các tế bào collagene III, đẩy nhanh sự
cứng vững của màng collagene Hình 1.20: Tác dụng của madecassoside lên da
Hình 1.20: Tác dụng hình thành collagene
Là thành phần chính trong quá trình tạo khung collagene, collagene III đóng vai trò như là bộ khung của cấu trúc mạng lưới collagene Ngoài ra, một số nghiên cứu còn chứng minh được sự
tham gia của asiaticoside trong việc tái cấu trúc mạng lưới collagene Trong đó, khác với Asiatic
acid, asiaticoside không tác dụng bên ngoài tế bào chết, mà tác dụng tới các tế bào sống bên phần
ngoại vi của vết thương Asiaticoside gây ra sự hình thành các tế bào collagene I tại các mô sống thông qua việc kích thích protein TGF- β sản xuất các enzyme độc lập kinase Các enzyme này sẽ
Trang 37xúc tác cho sự hình thành collagene I TGF- β sản xuất ra các enzyme kinase bằng con đường sinh tổng hợp Smad ( Smad pathway )
Khả năng ức chế VSV của nhóm chất chiết từ rau má (Antimicrobial)
Các hóa chất chiết từ rau má được phân tích và thực hiện thí nghiệm này bao gồm nhóm các
chất chiết xuất từ rau má: n-hexane(HX), carbon tetrachloride (CT), chloroform (CF) và aqueous
(AQ) Các hóa chất sau khi chiết, sử dụng với nồng độ 400 µg/ đĩa, được sấy nhẹ để hòa tan các
phần dư Hóa chất kiểm chứng là Kanamycin (30 µg/disc)
Bảng 1.8: Hoạt tính kháng khuẩn của các chất chiết xuất từ rau má
Có thể thấy các thành phần trong rau má có khả năng ức chế VSV khá cao Vùng ức chế VSV
của các hóa chất này đạt khoảng từ 30 – 50 % so với tác dụng ức chế VSV của kanamycin (
ka-namycin là thuốc kháng sinh liều cao)