Độ sạch Khi thu hái thì các tạp chất không phải nguyên liệu tinh dầu sẽ bị lẫn vào khối nguyênliệu như tạp chất vô cơ có đất, đá, cát sỏi, vụn kim loại, tạp chất hữu cơ có các loại câykh
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Quế là loại nguyên liệu dễ trồng, dễ kiếm, có giá trị kinh tế rất cao Trong sản xuấtthực phẩm, tinh dầu quế được bổ sung vào các loại bánh, kẹo, nước giải khát… nhằmtăng giá trị cảm quan và hương thơm đặc trưng cho sản phẩm
Bên cạnh đó tinh dầu quế rất tốt trong việc chữa cảm cúm và bị lạnh hay co thắt vùngngực hoặc chữa chứng ho Tinh dầu quế có thể làm dừng lại cơn ho trong một vài giờ saukhi thoa tinh dầu lên ngực của mình Chúng ta có thể pha chế tinh dầu quế với một vàiloại kem dưỡng và xoa bóp quanh cổ để chữa đau đầu, có thể sử dụng riêng tinh dầu quếhoặc có thể pha chế cùng với Lavender Tinh dầu quế rất có ích cho việc chữa trị cácchứng đau đầu, căng thẳng hay những chứng bất an, những vấn đề có liên quan đến áplực về tâm lý Tinh dầu quế cũng rất tốt trong việc chữa các chứng bệnh về đường tiêuhóa, tinh dầu quế có thể tạo ra hơi hoặc làm co bóp, thúc đẩy hệ tiêu hóa hoạt động tốthơn sau các bữa ăn
Tuy nhiên để trích ly tinh dầu quế đạt hiệu quả cao cần phụ thuộc vào các yếu tốlà: chế độ nghiền ( kích cỡ ), thời gian chưng cất, tỉ lệ cái/nước và hàm lượng muối
Do đó đề tài: “Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trích ly tinh dầu quế bằngphương pháp chưng cất hơi nước tại phòng thí nghiệm công ty Olam Việt Nam” Nhằmtìm ra các điều kiện tối ưu để trích ly tinh dầu và sử dụng rộng rãi cho các lĩnh vực thựcphẩm, dược phẩm, mỹ phẩm,…
Trang 2Chương 1 – TỔNG QUAN NGUYÊN LIỆU
1.1 Giới thiệu về Quế
Tên khoa học: Cinnamomum cassia.BL
Thuộc giống: Cinnamomum
Họ: Lauraceae
Tên Việt Nam: cây quế
Tên địa phương: Quế Thanh, Quế Quan, Quế Đơn, Quế Bì, Quế Trung Quốc
Tên tiếng Anh: Cinnamon
Phân loại theo tên khoa học của một số loại quế:
Cinnamomum obtusifolium Nees.var Loureirii-Perrot et Ebernh: Quế Thanh
Cinnamomum cassia B.L: Quế Đơn hay Quế Trung Quốc
Cinnamomum tamala Nees et Eberm: cây Quế Sài Gòn
Cinnamomum zeylanicum Blume: Quế Quan ( Vũ Ngọc Lộ và ctv, 2009)
1.2 Đặc điểm chung
Là loài cây thân gỗ, sống lâu năm, ở cây trưởng thành có thể cao trên 15m, đườngkính ngang ngực (1.3m) có thể đạt đến 40cm Quế có lá đơn mọc cách hay gần đối lá có 3gân gốc kéo dài đến tận đầu lá và nổi rõ ở mặt dưới của lá, các gân bên gần như songsong, mặt trên của lá xanh bóng, mặt dưới lá xanh đậm, lá trưởng thành dài khoảng 18 -
20 cm, rộng khoảng 6 - 8 cm, cuống lá dài khoảng 1 cm Quế có tán lá hình trứng, thườngxanh quanh năm, thân cây tròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt rạn theo chiều dọc Trongcác bộ phận của cây quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, đặc biệt trong vỏ cóhàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 5-7% Cây quế khoảng 8 đến 10 tuổi thì bắtđầu ra hoa, hoa quế mọc ở nách lá đầu cành, hoa tự chùm, nhỏ chỉ bằng nửa hạt gạo,vươn lên phía trên của lá, màu trắng hay phớt vàng ( Vũ Ngọc Lỗ và ctv, 2009)
Trang 3Hình 1.1: Cây và hoa quế
1.2.1 Nguồn gốc và sự phân bố trong tự nhiên
Ở nước ta cây quế tự nhiên mọc hỗn giao trong các khu rừng tự nhiên nhiệt đới ẩm, từBắc vào Nam Tuy nhiên cho đến nay quế tự nhiên đã không còn nữa và thay vào đó câyquế đã được thuần hoá thành cây trồng Từ lâu đời nước ta đã hình thành 4 vùng trồngquế, mỗi vùng có những sắc thái riêng tự nhiên về dân tộc và nguồn lợi thu được từ quế (
Vũ Ngọc Lộ và ctv, 2009)
Các vùng trồng quế lớn ở Việt Nam (tính theo diện tích) theo thứ tự như sau:
Yên Bái: Cinnamomum cassia
Quảng Nam, Quảng Ngãi: Cinnamomumcassia
Thanh Hóa, Nghệ An: Cinnamomum Loureirii
Quảng Ninh: Cinnamomum cassia
1.2.2 Thời vụ trồng
Cây trồng bằng hạt (phổ biến), chồi non hoặc chiết cành Hạt lấy từ quả chín đem điươm Sau 18 - 26 tháng, khi cây cao 60 - 70cm thì bứng đem đi trồng Cây được trồngvào 2 mùa chính là mùa xuân và mùa thu ( Vũ Ngọc Lộ và ctv, 2009)
1.2.3 Thu hái
Trang 4Trồng theo mật độ là 3m x 3m thì thu hoạch một lần sau 10 năm (phổ biến) hoặc 1.5m
x 1.5m thì thu hoạch nhiều lần sau 4 – 5 năm
Quế thường thu hoạch vào tháng 4 - 5 (đầu vụ mưa) và tháng 8 - 9 (cuối vụ mưa).Năng suất có thể đạt 2 - 2.2 tấn vỏ/ha/năm, chưa kể cành và lá nhỏ để cất tinh dầu ( VũNgọc Lộ và ctv, 2009)
1.3 Giới thiệu về các loại quế
1.3.1 Quế Thanh
Tên tiếng Anh: Cinnamomum Loureirii Garc.ex BL.
Tên gọi khác: Quế Quỳ
Hình 1.2: Quế thanh
cành mọc có bốn cánh, dẹt, nhẵn, lá hơi hình trứng đầu hẹp lại, hơi nhọn, hoa màu trắngmọc thành chùy ở kẽ lá hay đầu cành, quả hạch hình trứng, lúc đầu xanh lục, khi chín ngảmàu nâu tím, mặt quả bóng (*) Như quế quan, trồng quế thanh có ba cách : gieo hạt, chiếtcành (quế mỏng, kém giá trị) hay bới cây hoang về Sau 5 năm, có thể bắt đầu thu hoạchnhưng theo kinh nghiệm, cây quế càng lâu năm (20-30 năm hay lâu hơn) càng tốt Lúc
trước quế thanh được xếp thành 4 hạng : quế phiến thuộc hạng tốt nhất, thứ đến quế tâm thẻ tương đối nhỏ hơn,, sau là quế bao tức quế vụn và sau cùng quế nhọn là vỏ các cành
nhỏ Theo giáo sư Đỗ Tất Lợi, việc bóc vỏ quế tiến hành vào các tháng 4-5 và 9-10, lúcquế lắm nhựa, dễ bóc, tránh bóc sót lòng bị coi là kém giá trị Phần vỏ lấy từ cách mặt đất
Trang 50,20-0,40 cm đến 1,20 m gọi là quế hạ căn coi là kém Từ 1,20 m trở lên đến chỗ quế chia cành thứ nhất gọi là quế thượng châu được coi là quế tốt nhất Vỏ bóc ở những cành quế to gọi là quế thượng biểu Vỏ bóc ở cành nhỏ gọi là quế chi Một cây quế trung bình
cho 30 kg quế tốt và 10 kg quế vừa Tại Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh, quế hái xong phải đem
ủ Nếu ủ không tốt, quế cũng mất giá trị Quế được cho ngâm nước một ngày, rửa sạch,
để khô, cho vào sọt với lá chuối khô, đậy kỹ, buộc chặt Mùa nóng ủ 3 ngày, mùa lạnh 7
ngày Lúc hơi nước bốc ở quế lên ướt là lúc quế vừa chín Quế được lấy ra, lại đem ngâm
nước 1 giờ rồi cho ép giữa phên nứa cho đến khô Từ khi ủ cho đến khi được quế thườngphải 15-16 ngày (mùa nóng) đến 1 tháng (mùa lạnh), có khi 2 tháng tùy theo cây to, nhỏ.Sau đó quế được quấn vải, cho vào ống kẽm hay hòm gỗ lót kẽm, dưới có mật ong để giữ
độ ẩm vừa, như vậy mới khỏi khô dầu, bảo vệ được hương vị
1.3.2 Quế Quan
Tên tiếng Anh: Cinnamomum zeylanicum Gare Ex BL
Tên gọi khác: Quế Xrilanca
Hình 1.3: Quế quan
cành non hình bốn cạnh, lá mọc đối, dài, cứng, hình trái xoan hay thuôn, nhẵn bóng, hoamàu trắng vàng nhạt, quả mọng hình trứng thuôn Nó được trồng bằng cách chiết cành,hoặc đào cây non mọc hoang trong rừng về nhưng chủ yếu vẫn là gieo hạt, sau 4 năm cóthể tiến hành thu hoạch Năm 1972, nó cùng 22 cây khác được đem từ Việt Nam qua Đứcnghiên cứu tính chất sinh hóa học và sức bền của gỗ, đặc biệt về cellulose và lignin
Trang 6Thành phần hóa học của cây đã được khảo cứu nhiều chục năm nay, đăc biệt phát hiệncinnamaldehyd và linalool, eugenol, benzyl benzoat ở vỏ, terpineol ở rễ, nhưng chỉ gầnđây nhờ kết hợp sắc ký khí và phối ký (GC/MS) mới biết được rõ hơn cấu chất dễ bốc hơicủa tinh dầu (E)-cinnamaldehyd có nhiều nhất ở cành cùng α-phellandren và limonen.
Nó xuất hiện dưới dạng acetat cùng với neryl acetat và β-caryophyllen ở cuống hoa cinnamaldehyd acetat thì được tìm ra ở nụ và hoa cùng với α-humulen, β-cadinen,humulen oxyd, α-muurolol, α-cadinol Còn trái cây thì chứa đựng nhiều linalool bên cạnhα- và β-pinen, β-caryophyllen, γ-cadinen, α-muurolol Hóa chất trong tinh dầu chiết xuất
(Z)-từ lá cây thay đổi với nơi cây mọc : α-ylangen, methyl và ethyl cinnamat ở Sri Lanka,eugenol và benzyl benzoat ở Ấn Độ, α-pinen, β-phellandren, p-cymen, α-carophyllen,benzyl, cinnamyl và eugenyl acetat ở Trung Hoa Ở Brazyl, tinh dầu lá cây chứa đựng(%) 58,7-55,1 eugenol, 29,6-38,5 safrol và dầu vỏ cây 54,7-58,4 cinnamaldehyd
Về mặt dược liệu, quế Sri Lanka là một cây có tính chất sát trùng (5), rất có hiệu quảchống những trùng Gram-âm và Gram-dương với nồng độ 200 và 500 ppm (12) Vỏ câychống nấm mạnh hơn lá cây (5) Tinh dầu cây có tác dụng khử nấm, đặc biệt nấm da (9)
Dầu vỏ cây bên Ấn Độ có khả năng khử những nấm Aspergillus niger, A fumigatus, A nidulans, A flavus, Candida albicans, C tropicalis, C pseudotropicalis và Histoplasma capsulatum gây bệnh trong các ống hô hấp nên có thể dùng hơi dầu để chữa bệnh nấm
nầy ; hoạt chất được xác định là cinnamaldehyd (6) Dầu cây ở Pakistan, ngoài Aspergillus niger, A flavus, Candida albicans, còn rất hiệu nghiệm chống những nấm Fusarium oxysporum, Microsporum canis, Pseudallescheria boydii, Trichophyton mantagrophytes,
chứa đậu phụng do các loài nấm như Aspergillus flavus, A parasiticus, A niger, A candidus, A tamarii, A ochraceous, Fusarum spp., Penicillum spp., Mucor sp.,
những nấm trong các bao dự trữ ngũ cốc, làm cho gạo có phần ngon hơn (7), vì vậy nó đãđược dùng làm gia vị và trong mỹ phẩm (4,14) Tinh dầu còn có tính chất chống viêm (4),chống oxy hóa (15) với hiệu quả 55,94% và 66,9 % khi dùng nồng độ 100 và 200 ppm (11)
Ở Việt Nam, quế và tinh dầu quế là những vị thuốc kích thích tiêu hóa, hô hấp và tuần
Trang 7hoàn Quế có tác dụng làm co mạch, làm tăng bài tiết, tăng co bóp tử cung, tăng nhu độngruột Người ta dùng quế dưới hình thức rượu quế, xi rô hay rượu cất.
1.3.3 Quế Đơn
Tên tiếng Anh: Cinnamomum cassia Nees ex BL.
Tên gọi khác: Quế Trung Quốc
Hình 1.4: Quế đơn
trung bình 12-17 m, lá mọc sole, dài và cứng, cuống to, hoa mọc thành chùy ở kẽ những
lá phía trên, quả hình trứng, thuôn, phía dưới có đài tồn tại hoặc nguyên hoặc hơi chiathùy (ĐTL) Phần chiết nước chứa đựng cinzeylanin, cinzeylanon, anhydrocinzeylanin,anhydrocinzeylanon Có tính chất suy giảm miễn dịch, nó gồm có coumarin, t-cinnamicacid, α-sitosterol và protocatechuic acid Những chất nầy cũng được tìm ra trong cànhcây Vỏ cành cây chứa cinnamic acid, coumarin, cinnamyl acetat, hydroxycinnamaldehyd… bên cạnh thành phần chính (62,4%) cinnamaldehyd Chất nầy cũng làthành phần chính của dầu vỏ cây với eugenol, coumarin, t-cinnamic acid, α-sitosterol, …
Quế đơn đem từ Việt Nam qua trồng bên Trung Hoa có tên là C cassia macrophyllum :
số lượng dầu chiết xuất nói chung vượt hẳn quế bản xứ (%) : 2,0 (so với 1,98) ở vỏ ; 0,36(so với 0,69) ở cành ; 1,96 (so với 0,37) ở lá ; cinnamaldehyd sản xuất cũng lớn hơn (%) :
Trang 861,20 (so với 52,92) ở vỏ ; 77,34 (so với 64,75) ở lá Người Trung Hoa đánh giá quế tatốt hơn quế họ để sản xuất thuốc chữa bệnh (19).
Về mặt dược liệu, quế Trung Quốc là một thuốc khử nấm (26), chống dị ứng (17), ungthư dạ dày, tiêu chảy, làm đổ mồ hôi (18), kháng những chất gây đột biến benzopyren vàcyclophosphamid Chống oxi hóa, nó kháng lại H2O2 phá hoại tế bào V-79-4 , chất 1,1-diphenyl-2-picryl hydrazyl có tính chất ngăn chặn mọi hoạt động của prolylendopeptidase với nồng độ 40 ppm, hơn 80% hoạt động của aldose reductase ở chuột với0,01 mg/mL ; những nhà khảo cứu Hàn Quốc đề nghị dùng nó làm thuốc chữa bệnh đáitháo đường Riêng cinnamaldehyd giảm sự cấu tạo malondialdehyd và hoạt độngglutathion S-transferase ở chuột Vỏ cây có tính chất hạ sốt, kháng ung thư Trong liềuthuốc Tàu Duhuojisheng, quế đơn là một trong 15 cây thuốc đã được xác định cùng với
hương độc hoạt Angelica pubescens và nhân sâm Panax ginseng ; hoạt chất chính được
chiết xuất là columbianetin acetat
1.4 Sự ảnh hưởng của nguyên liệu đến chất lượng tinh dầu
1.4.1 Độ tươi
Nguyên liệu càng tươi thì hàm lượng tinh dầu càng cao, tổn thất do bay hơi tự nhiêncàng ít Do đó, thời gian vận chuyển nguyên liệu từ nơi thu hái về cơ sở chế biến càngsớm càng tốt để đảm bảo độ tươi tốt của nó Tốt nhất là khi vận chuyển nên xếp nguyênliệu vào sọt có trọng lượng vừa phải, phủ vải bạt để che mưa nắng ( Lê Ngọc Thạch,2003)
1.4.2 Độ sạch
Khi thu hái thì các tạp chất không phải nguyên liệu tinh dầu sẽ bị lẫn vào khối nguyênliệu như tạp chất vô cơ có đất, đá, cát sỏi, vụn kim loại, tạp chất hữu cơ có các loại câykhông phải cây tinh dầu khi khai thác, chế biến sẽ ảnh hưởng đến phẩm chất của tinh dầu.Công ty sau khi thu mua quế nguyên liệu về sẽ tiến hành phân loại bằng mắt để loại bỏtạp chất và sử dụng sàng để loại bỏ tạp chất.( Lê Ngọc Thạch, 2003)
Trang 91.5 Tổng quan về tinh dầu quế
1.5.1 Khái niệm
Tinh dầu là hỗn hợp các nhiều chất dễ bay hơi, có mùi đặc trưng tùy thuộc vào nguồngốc nguyên liệu cung cấp tinh dầu, chứa chủ yếu trong thực vật, chỉ một số ít có nguồngốc động vật Tinh dầu có mùi đặc trưng, tồn tại trong trạng thái lỏng ở nhiệt độ bìnhthường, bay hơi hoàn toàn mà không bị phân hủy
Mỗi tinh dầu có các hằng số vật lý đặc trưng như tỷ trọng (d), chiết suất (n), độ quaycực (α) và các chỉ số hóa học như chỉ số acid, chỉ số ancol toàn phần, chỉ số este, chỉ sốcacbonyl ( Nguyễn Văn Ninh, 1978)
Trong thực vật, tinh dầu được tạo ra và tích trữ trong các mô dưới những tên gọi khácnhau như:
Tế bào tiết: tế bào tiết ra tinh dầu rồi giữ luôn trong lòng tế bào (mô tiết), ví
dụ: cánh hoa hồng, củ gừng, củ nghệ, hạt tiêu…( Lê Ngọc Thạch, 2003)
Hình 1.5: Tế bào tiết
Lông tiết: giống tế bào tiết nhưng nằm nhô ra ngoài bề mặt thực vật thường có
ở các họ hoa môi, cúc, phong lữ, cà…( Lê Ngọc Thạch, 2003)
Trang 10Hình 1.6: Lông tiết
Túi tiết: các tế bào tiết ra tinh dầu như không giữ lại bên trong mà dồn chung chứa
vào một xoang trống, tròn nằm dưới biểu bì, ví dụ như các túi chứa tinh dầu trong vỏcác trái cam, chanh, quýt, bưởi…( Lê Ngọc Thạch, 2003)
Hình 1.7: Túi tiết
Ống tiết: cách tạo thành giống túi tiết nhưng nằm sâu bên trong phần thân gỗ và chạy
dài theo sớ gỗ, thường thấy trong các cây thông, thiên tuế, trắc bá diệp…( Lê Ngọc Thạch, 2003 )
Hình 1.8: Ống tiết
Trang 11Vị của tinh dầu thường cay và hắc, một số có vị ngọt như tinh dầu quế.
Tinh dầu không tan hoặc tan ít trong nước, tan tốt trong cồn, dầu béo hay trong cácdung môi hữu cơ khác, có thể tan một phần trong các dung dịch kiềm nên ta có thể dùngmột số dung môi đó để chiết xuất một số loại tinh dầu
Tinh dầu thường nhẹ hơn nước nên khi cất thì tinh dầu nổi lên trên, nhưng có một sốtinh dầu nặng hơn nước như tinh dầu đinh hương, quế… Tỷ trọng tinh dầu thay đổi tùytheo thành phần hóa học
Tinh dầu có chỉ số khúc xạ cao, thường có năng suất quay cực Chỉ số khúc xạ của tinhdầu vào khoảng 1.45 - 1.56 Chỉ số khúc xạ cao hay thấp tùy theo các thành phầnhydrocarbon no, không no hoặc nhân thơm Nếu tinh dầu có nhiều thành phần chứa nhiềudây nối đôi thì chỉ số khúc xạ lớn
Tinh dầu không có nhiệt độ sôi nhất định Điểm sôi của tinh dầu thay đổi theo hợpchất Khi chưng cất có thể lấy riêng từng thành phần trong tinh dầu
Khi hạ nhiệt độ một số tinh dầu có thể kết tinh như tinh dầu hồi, bạc hà, xả…
Tinh dầu là những hợp chất dễ biến đổi mùi Trong quá trình cất tinh dầu, nếu đun lên
ở nhiệt độ cao có thể làm biến đổi một số thành phần hóa học của tinh dầu, kéo theo biếnđổi cả hương thơm
Trang 12Tinh dầu không tan hoặc ít tan trong nước ( Lê Ngọc Thạch, 2003)
1.5.2.2 Tính chất hóa học
Nhiều thành phần có chứa các nhóm chức khác nhau có thể tham gia phản ứng hoá học
có thể làm thay đổi tính chất của tinh dầu
Dưới ảnh hưởng của nhiệt độ, ánh sáng, không khí, nước tinh dầu dễ bị oxi hóa và biếnthành nhựa Khi bị oxy hoá các thành phần dễ thay đổi như alcol biến thành aldehyd,aldehyd biến thành acid
Các hợp chất aceton và aldehyd dễ bị andol hoá để biến thành nhựa khi có mặt kiềm.Các hợp chất có nối đôi dễ tham gia phản ứng cộng Các dạng phản ứng khác nhau tùytheo điều kiện phản ứng, xúc tác, nhiệt độ… làm biến đổi những chất trong tinh dầuthành những chất khác nhau
Tinh dầu không gây hại môi trường và dễ phân hủy
+ Thành phần hóa học của tinh dầu
Trang 13 Phenol và ete phenolic : aneton, safrol tymol, anetol, eugenol …… có tính chất sát trùng và được sử dụng để điều chế các chất tẩy trùng Các phenol khác có đặc tính estrogen hay kìm hãm nội tiết tố.
Aldehyde: có tính khử trùng, diệt vi khuẩn, nên thường dùng trong các chất diệtcôn trùng, chất tẩy uế
− Xeton : mentol, campho, ionon
− Ester
− Acid tự do
− Các hợp chất chứa sulfua, nitơ, halogen …
Trang 141.5.3 Hoạt tính sinh học
Hoạt tính kháng khuẩn
Hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu trong điều kiện phòng thí nghiệm được hiểu như làkhả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn thông qua việc đo đường kính vòng vô khuẩn.Tinh dầu quế có hoạt tính kháng khuẩn ở nồng độ cao Mỗi loại tinh dầu quế sẽ có hoạttính kháng lại một số chủng vi khuẩn nhất định Tinh dầu thường tác dụng lên tế bào chấtcủa vi sinh vật, để tiêu diệt chúng Do trong tinh dầu quế có thành phần cinnamal có khảnăng kháng khuẩn chiếm tỉ lệ cao trong tinh dầu quế
Hoạt tính kháng oxy hoá
Tinh dầu có hoạt tính kháng oxy hóa do có chứa dẫn xuất của phenol là cấu phầnchính Những hợp chất này bắt lấy gốc tự do, không cho phản ứng peroxid xảy ra, bảo vệcác lipid
1.5.4 Sự tạo thành và biến đổi tinh dầu trong thực vật
Tinh dầu được tạo thành trong thực vật trước hết là từ các chất gluxit và protein, sau
đó chịu ảnh hưởng của hàng loạt biến đổi hóa học trong bản thân thực vật Những biếnđổi đó thường có tính qui luật và luôn luôn giống nhau
Tinh dầu của các loại quả, trong quá trình phát triển của cây thì chỉ số chiết quang vàkhối lượng riêng tăng dần, đồng thời góc quang cực giảm dần Nếu xét về mặt biến đổihóa học thuần túy thì trong quả cây có xu hướng tích lũy dần các hợp chất chứa oxy nhưanetol, metyl savicol ( Lê Ngọc Thạch, 2003)
1.5.5 Vai trò của tinh dầu quế
Làm dung môi hữu cơ cho một số hợp chất hữu cơ có hoạt tính sinh học, hoà tan cácchất hữu cơ và đưa đi khắp cơ thể
Giảm căng thẳng : Tinh dầu quế sẽ giúp làm dịu sự mệt mỏi về tinh thần, giảm lo âu,trầm cảm và căng thẳng thần kinh
Trang 15Tinh dầu có nhiều tác dụng trị bệnh khác nhau Tác dụng lên hệ thần kinh trung ương,
hỗ trợ cho hệ tiêu hóa làm ta ăn ngon và giúp tiêu hóa tốt Tinh dầu quế có thể giúp giảmđau do viêm khớp, thấp khớp và đau cơ Quế được dùng như một chất khử trùng cao đểlàm nước súc miệng bởi do chứa hàm lượng phenol cao
Hiện nay, tinh dầu còn sử dụng nhiều trong các ngành như thực phẩm (làm gia vị,bánh kẹo…), hương liệu - mỹ phẩm (xà bông thơm, nước hoa…), dược phẩm (thuốc sáttrùng, giảm đau, hương liệu…) ( Afamily.vn, 2009)
1.5.6 Ứng dụng tinh dầu quế trong đời sống
Giảm và ngăn ngừa bệnh tiểu đường
Lượng đường máu cao gây ra nhiều bệnh nguy hiểm như: tiểu đường, béo phì và cácbệnh tim mạch
Quế giúp điều chỉnh hàm lượng đường máu bằng cách tăng cường tiêu hóa glucose,kích thích hấp thụ isulin tốt cho cơ thể
Trang 16Kết hợp dùng quế với chế độ ăn uống và tập luyện điều độ sẽ giảm đáng kể nguy cơmắc bệnh liên quan đến tim mạch.
Tốt cho hệ tiêu hóa
Quế là loại gia vị nóng vì thế rất phù hợp với những người hay bị lạnh bụng, uống tràcho thêm chút quế và gừng sẽ rất dễ chịu
Giảm Cholesterol
Tiêu thụ một lượng quế nhỏ có thể giúp làm giảm Cholesterol LDL (Cholesterol xấu).
Đơn giản, chúng ta chỉ cần ăn nửa thìa cà phê bột quế hằng ngày hoặc thêm quế vào càphê hoặc trà như một chất làm ngọt dịu nhẹ
Chữa bệnh nhức đầu và loại bỏ chứng đau nửa đầu
Quế là một biện pháp tự nhiên khắc phục và loại trừ cơn đau đầu và giảm chứng đaunửa đầu
Chữa ho và cảm lạnh thông thường
Y học Trung Quốc từ lâu đã sử dụng quế như một phương thuốc tự nhiên điều trịhiệu quả chứng ho và cảm lạnh thông thường
Chữa bệnh sâu răng
Quế đã được biết đến với tác dụng giúp giảm đau nhức răng Đơn giản chỉ cần thựchiện một miếng dán sử dụng 5 muỗng cà phê mật ong trộn với 1 muỗng cà phê bột quế
Áp dụng để hỗn hợp bột này dán trực tiếp lên răng đau 2 hoặc 3 lần/ngày cho đến khi cơnđau thuyên giảm
Ứng dụng trong mỹ phẩm và làm đẹp
Ngăn ngừa lão hóa
Chế biến hỗn hợp này thành trà theo cách sau: 4 muỗng canh mật ong, 1 muỗng cà phêbột quế cùng với 3 ly nước Uống từ 3 đến 4 lần trong ngày, mỗi lần khoảng 1/4 ly để
Trang 17giúp giảm bớt quá trình lão hóa của cơ thể, giữ da luôn mềm mại và tăng tuổi thọ.(Vương Ngọc Chính, 2005)
Mụn và vết nám ở da
Thoa hỗn hợp gồm 3 muỗng canh mật ong và 1 muỗng cà phê bột quế lên vùng da bịmụn hoặc sạm, nám trước khi ngủ và rửa sạch vào sáng hôm sau (Vương Ngọc Chính,2005)
Cẩn trọng với những tác dụng phụ của quế
Một số nghiên cứu gần đây ở châu Âu đã chỉ ra rằng quế có nguồn gốc từ cây Cassialoại cây chứa một hợp chất độc hại như Coumarin Hợp chất này được biết như là chấtgây nguy hại cho gan và thận của chúng ta nếu sử dụng quá liều cho phép Do đó, khi sửdụng quế, chúng ta nên tránh tiêu thụ quế với liều lượng quá cao
Thực tế, quế có tác dụng chống đông máu vì thế cũng nên thận trọng khi sử dụng tinhdầu quế khi kết hợp với các sản phẩm làm loãng máu như Aspirin Ngoài ra, phụ nữmang thai nên tránh tiêu thụ quế số lượng lớn vì nó có thể ảnh hưởng xấu đến tử cung củahọ
Trang 181.6 Các phương pháp chiết tinh dầu
Phương pháp cơ học chủ yếu áp dụng để ly trích tinh dầu vỏ của các trái thuộc họRutaceae như: chanh, cam, quýt, bưởi, tắc…vì trong trường hợp này các túi tinh dầu nằmsát mặt ngoài vỏ và hàm lượng tinh dầu thường rất cao Có nhiều cách tiến hành ly tríchhoặc bằng tay hoặc bằng máy như : vắt, ép, nạo xát
Trang 19lỏng trong một khoảng thời gian nhất định, tùy theo các loại hoa, làm nhiều lượt cho tớikhi dung môi bão hòa tinh dầu Dầu hoặc mỡ bão hòa tinh dầu này, được gọi là “sáp hoa”
có thể sử dụng thẳng trong kỹ nghệ mỹ phẩm hoặc ly trích lại với ethanol để điều chế
“tinh dầu tuyệt đối”
Tẩm trích bằng dung môi dễ bay hơi
Phương pháp này không những được áp dụng để trích ly cô kết (concrete) từ hoa mà
còn dùng để tận trích khi các phương pháp khác không trích ly hết hoặc dùng để trích ly
các loại nhựa dầu (oleoresin) gia vị.
Nguyên tắc
Dựa trên hiện tượng thẩm thấu, khuếch tán và hòa tan của tinh dầu có trong các môcây đối với các dung môi hữu cơ
Yêu cầu đối với dung môi
− Hòa tan hoàn toàn và nhanh chóng các cấu phần có mùi thơm trong nguyên liệu
− Hoà tan kém các hợp chất khác như sáp, nhựa dầu có trong nguyên liệu
− Không có tác dụng hóa học đối với tinh dầu
− Không biến chất khi sử dụng lại nhiều lần
− Hoàn toàn tinh khiết, không có mùi lạ, không độc, không ăn mòn thiết bị, không tạothành hỗn hợp nổ với không khí và có độ nhớt kém
Trang 20− Nhiệt độ sôi thấp vì khi chưng cất dung dịch ly trích để thu hồi dung môi, nhiệt độsôi cao sẽ ảnh hưởng đến chất lượng tinh dầu Điểm sôi của dung môi nên thấp hơn điểmsôi của các cấu phần dễ bay hơi trong tinh dầu
Yêu cầu cao về thiết bị
Thất thoát dung môi
Quy trình tương đối phức tạp
đó, khi hoa tiếp xúc với các chất béo có trong một khoảng thời gian nhất định, hươngthơm do hoa tiết ra sẽ được chất béo hấp thụ ( Nguyễn Quỳnh Như, 2009)
Ưu điểm
Phương pháp này cho hiệu suất ly trích cao đối với những loại hoa sau khi hái vẫn còntạo thêm tinh dầu Vì tiến hành ở nhiệt độ thường nên sản phẩm sẽ giữ được mùi thơm tựnhiên của hoa
Trang 21 Khuyết điểm
Phương pháp thủ công, khó cơ giới hóa Chất béo khó bảo quản Đối với loại hoa saukhi thu hái không tạo thêm tinh dầu thì phương pháp này cho hiệu suất bình thường Sảnphẩm thiếu chất định hương tự nhiên nếu không nhập phần tẩm trích vào
Phương pháp hấp thụ động học
Nguyên tắc
Khi thổi không khí vào giữa các lớp hoa, tinh dầu trong hoa sẽ bay hơi theo không khí.Nếu không khí này được dẫn ngang qua một cột chứa than hoạt tính (than gỗ hoặc thanxương), hơi tinh dầu sẽ bị than hấp thụ Thường xác hoa sau đó được tẩm trích tiếp tục
bằng dung môi hữu cơ (để lấy thêm những cấu phần khó bay hơi) ( Nguyễn Quỳnh Như,
Phương pháp chưng cất hơi nước
Nguyên tắc
Phương pháp này dựa trên sự thẩm thấu, hoà tan, khuếch tán và lôi cuốn theo hơi nướccủa những hợp chất hữu cơ trong tinh dầu chứa trong các mô khi tiếp xúc với hơi nước ởnhiệt độ cao Khi áp suất của hơi nước cộng với áp suất của tinh dầu bằng với áp suất khí
Trang 22quyển thì hỗn hợp sôi, tinh dầu được lấy ra cùng với hơi nước Hơi nước và hơi tinh dầuđược kéo sang bình làm lạnh, ngưng tụ thành chất lỏng Tại đây, nước và tinh dầu sẽ tựphân ra thành hai pha do tính không tan lẫn vào nhau và sự khác biệt về tỷ trọng củachúng Tinh dầu sẽ được chiết ra, còn nước sẽ được hồi lưu trở lại bình chưng Quá trìnhtiếp tục diễn ra cho đến khi không còn tinh dầu qua bình ngưng Trong công nghiệp dựatrên thực hành người ta chia phương pháp chưng cất hơi nước ra làm ba loại chính:
Chưng cất bằng nước
Nguyên liệu và nước được cho vào cùng một thiết bị, đem đun tới sôi, nước bay hơi sẽcuốn theo hơi tinh dầu Đem làm lạnh để ngưng tụ lại, ta sẽ thu được tinh dầu sau khiphân ly tách nước
Chưng cất bằng nước và hơi nước
Phương pháp này khác phương pháp trên ở chỗ, nguyên liệu và nước tuy cho vào cùngmột thiết bị, nhưng có ngăn cách nhau bằng một lớp vỉ nồi Nước ở đáy nồi được đun sôibốc hơi lên qua lớp vỉ rồi đi vào lớp nguyên liệu và qua đó kéo theo lớp hơi tinh dầu đi rathiết bị làm lạnh ( Nguyễn Quỳnh Như, 2009)
Chưng cất bằng hơi nước
Những ảnh hưởng chính trong sự chưng cất hơi nước
Sự khuếch tán
Ngay khi nguyên liệu được làm vỡ vụn thì chỉ có một số mô chứa tinh dầu bị vỡ vàcho tinh dầu thoát tự do ra ngoài theo hơi nước lôi cuốn đi Phần lớn tinh dầu còn lạitrong các mô thực vật sẽ tiến dần ra ngoài bề mặt nguyên liệu bằng sự hòa tan và thẩmthấu
Trong quá trình chưng cất hơi nước, tại nhiệt độ nước sôi, tinh dầu trong tế bào thựcvật sẽ khếch tán ra ngoài bề mặt nguyên liệu và bị hơi nước cuốn đi Còn nước thẩm thấuvào trong nguyên liệu theo chiều ngược lại và tinh dầu lại tiếp tục bị cuốn vào lượng
Trang 23nước này Quy trình này lặp đi lặp lại cho đến khi tinh dầu trong các mô thoát ra ngoàihết”.
Như vậy, sự hiện diện của nước rất cần thiết, cho nên trong trường hợp chưng cất sửdụng hơi nước quá nhiệt, chú ý tránh đừng để nguyên liệu bị khô Nhưng nếu lượng nước
sử dụng thừa quá thì cũng không có lợi, nhất là trong trường hợp tinh dầu có chứa nhữngcấu phần tan dễ trong nước
Ngoài ra, vì nguyên liệu được làm vỡ vụn ra càng nhiều càng tốt, cần làm cho lớpnguyên liệu có một độ xốp nhất định để hơi nước có thể đi xuyên ngang lớp này đồng đều
và dễ dàng
Vì các cấu phần trong tinh dầu được chưng cất hơi nước theo nguyên tắc nói trên chonên thông thường những hợp chất nào dễ hòa tan trong nước sẽ được lôi cuốn trước.(F.M.C Gamarra và ctv, 2007)
Sự thủy giải
Những cấu phần ester trong tinh dầu thường dễ bị thủy giải cho ra acid và alcohol khiđun nóng trong một thời gian dài với nước Do đó, để hạn chế hiện tượng này, sự chưngcất hơi nước phải được thực hiện trong một thời gian càng ngắn càng tốt ( Trần XuânNgạch, 2007 )
Nhiệt độ
Nhiệt độ cao làm phân hủy tinh dầu Do đó, khi cần thiết phải dùng hơi nước quá nhiệt(trên 1000C) nên thực hiện việc này trong giai đoạn cuối cùng của sự chưng cất, sau khicác cấu phần dễ bay hơi đã lôi cuốn đi hết Thực ra, hầu hết các tinh dầu đều kém bềndưới tác dụng của nhiệt nên vấn đề là làm sao cho thời gian chịu nhiệt độ cao của tinhdầu càng ngắn càng tốt
Tóm lại, dù ba ảnh hưởng trên được xem xét độc lập nhưng thực tế thì chúng có liênquan với nhau và quy về ảnh hưởng của nhiệt độ Khi tăng nhiệt độ, sự khuếch tán thẩmthấu sẽ tăng, sự hòa tan tinh dầu trong nước sẽ tăng nhưng sự phân hủy cũng tăng theo
Trang 24Hơi nước được tạo ra từ nồi hơi, thường có áp suất cao hơn áp suất không khí, đượcđưa thẳng vào bình chưng cất ( Vương Ngọc Chính, 2005 )
Ưu và nhược điểm của các phương pháp chưng cất
Ưu điểm
− Các quy trình kỹ thuật tiến hành đều đơn giản (so với các phương pháp khác)
− Thiết bị gọn gàng dễ chế tạo, có khả năng nâng cao hàm lượng từng cấu tử trong hỗnhợp hơi bay ra bằng cách phân chia chúng
− Không đòi hỏi vật liệu phụ nhiều như phương pháp trích ly hay hấp phụ
− Thời gian chưng cất tương đối nhanh
− Có thể tiến hành chưng cất với các cấu tử có nhiệt độ sôi tương đối cao gần 1000C
− Cần tiêu tốn một lượng nước khá lớn để làm ngưng tụ hỗn hợp hơi
− Những tinh dầu có độ sôi cao thường cho hiệu suất rất kém
1.6.2 Phương pháp hiện đại
1.6.2.1 Chưng cất dùng dung môi CO 2
Nguyên tắc
Trang 25Dioxid carbon được hóa lỏng trong những thiết bị đặc biệt Sau đó, CO2 lỏng được dẫnqua thiết bị chưng cất, dung môi CO2 khi ở áp suất thường sẽ bốc hơi nhanh chóng để lạitinh dầu tinh chất Khí CO2 sau đó lại được hóa lỏng để tiếp tục quá trình chưng cất.( Nguyễn Quỳnh Như, 2009)
Ưu điểm
Cô lập sản phẩm dễ dàng vì CO2 bốc hơi ở áp suất thường để lại tinh dầu tinh chất.Không độc hại cho môi trường Trong nhiều trường hợp tinh dầu sản xuất bằng phươngpháp này cho chất lượng cao
Khuyết điểm
Giá thành thiết bị cao Lượng nguyên liệu sử dụng còn hạn chế Điều kiện tối ưu để lytrích còn phải khảo sát thêm Một số trường hợp ghi nhận thì khả năng ly trích còn giớihạn, hiệu suất đôi khi còn kém hơn phương pháp chưng cất hơi nước
1.6.2.2 Phương pháp ly trích có sự hỗ trợ của vi sóng
Nguyên tắc
Dưới sự tác dụng của vi sóng, nước trong tế bào thực vật bị nóng lên, áp suất bên trongtăng đột ngột làm các mô chứa tinh dầu bị vỡ ra Tinh dầu thoát ra ngoài, bị lôi cuốn theohơi nước sang hệ thống ngưng tụ (phương pháp chưng cất hơi nước) hoặc hòa tan vàodung môi hữu cơ đang bao phủ bên ngoài nguyên liệu (phương pháp tẩm trích)
Vi sóng cung cấp kiểu đun nóng không dùng sự truyền nhiệt thông thường Với kiểuđun nóng bình thường, nước nóng đi từ bề mặt của vật chất dần vào bên trong, còn trongtrường hợp vi sóng, sóng xuyên thấu vật chất và làm nóng vật chất ngay từ bên trong Visóng tăng hoạt những phân tử phân cực, đặc biệt là nước Nước bị đun nóng do hấp thu visóng bay hơi tạo ra áp suất cao tại nơi bị tác động, đẩy nước từ tâm của vật đun ra đến bềmặt của nó Trong sự chưng cất hơi nước có sự hỗ trợ của vi sóng, sự ly trích tinh dầu cóthể thực hiện trong điều kiện có thêm nước hoặc không thêm nước vào nguyên liệu(trường hợp nguyên liệu có hàm lượng nước cao)
Trang 26Hiệu suất có thể bằng hoặc cao hơn hiệu suất của các phương pháp khác nhưng thờigian thực hiện ngắn hơn, nên không gây ra các phản ứng phụ làm giảm chất lượng tinhdầu như phản ứng thuỷ phân, oxy hoá, nhựa hoá.
Lưu ý là mức độ chịu ảnh hưởng vi sóng của các loại mô tinh dầu không giống nhau
do kiến tạo của các loại mô khác nhau, ngay khi nguyên liệu được làm nhỏ Kết quả nàyđược phản ảnh qua thời gian ly trích ( Nguyễn Quỳnh Như, 2009)
1.6.2.3 Phương pháp ly trích có sự hỗ trợ của siêu âm
độ phòng nên sản phẩm luôn có mùi thơm tự nhiên ( Nguyễn Quỳnh Như, 2009 ).
1.7 Tìm hiểu về các chỉ số lý học của tinh dầu
1.7.1 Xác định tỷ trọng
Tỷ trọng tương đối của tinh dầu tại 200C là tỷ số khối lượng tinh dầu ở 200C trên khốilượng của cùng một thể tích nước cất cũng ở 200C (Lê Ngọc Thạch, 2003)
Tỷ trọng của tinh dầu được tính theo công thức sau:
1.7 2 Xác định các thành phần hóa học trong tinh dầu
Phương pháp xác định thành phần hóa học tinh dầu bằng: Kỹ Thuật Sắc Ký Khí GhépKhối Phổ (GC/MS)
Trang 27Sắc ký khí được coi là phương tiện đầu ra của các nhà hóa học hữu cơ Phương phápnày là một trong những phương pháp được ứng dụng rộng rãi nhất hiện nay Phươngpháp này cho phép định tính, định lượng chính xác các chất hữu cơ trong thực phẩm, môitrường, dư lượng thuốc trừ sâu
Ngày nay người ta tiến hành nối sắc ký khí với các đầu dò khối phổ MS được gọi làsắc ký khối phổ GC/MS, để xác định chính xác cấu trúc, định danh các chất nghiên cứugọi tên các chất nhờ vào thư viện phổ
Trang 28CHƯƠNG 2 : NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm tiến hành
Đồ án được tiến hành từ tháng 12 năm 2012 đến tháng 04 năm 2013
Thực hiện quá trình chưng cất tinh dầu quế tại phòng thí nghiệm Công Ty TNHHOLAM VIỆT NAM Lô E5 KCN LONG BÌNH, BIÊN HÒA, ĐỒNG NAI
2.2 Nguyên liệu - Dụng cụ tiến hành thí nghiệm
2.2.1 Nguyên liệu
Sử dụng nguồn nguyên liệu chủ yếu là quế Việt Nam được mua ở tỉnh Yên Bái
Yêu cầu chất lượng của nguyên liệu: (Olam- Internal quality and food safety standard):
Màu sắc: vỏ có màu từ nâu đỏ đến nâu nhạt, không lẫn tạp chất lạ
Hương vị: có vị ngọt, hơi cay
Độ ẩm: 14%, max
Tạp chất: 1%, max
Tro tổng (total ash content): 5%, max
Tro không tan (acid insoluble ash): 1%, max
2.2.2 Chuẩn bị mẫu thử
Sử dụng máy nghiền búa để nghiền mẫu theo kích thước phù hợp, sau đó chúng tôiđem sàng để thu được hạt có kích cỡ theo yêu cầu
Thông tin máy nghiền búa được sử dụng:
Model: Impact Mill (Pin Mill) DSCM-M50HP
Hãng sản xuất: Daesung Chemical Machinery Ind Co
Xuất xứ: Trung Quốc
Trang 29Hình 2.1 Máy nghiền búa
Trang 30Hình 2.2 : Ống đong 500ml Hình 2.3 : Cân kĩ thuật
Bảng 2.1: Dụng cụ, thiết bị sử dụng trong nghiên cứu
1 Bình cầu đáy tròn, cổ mài, dung tích là 500ml
3 Pipet, dung tích 1ml
4 Thiết bị gia nhiệt
5 Hạt chống sôi trào hoặc bi thủy tinh
6 Ống đong, dung tích 500ml
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp tách chiết tinh dầu
Trang 31Sử dụng phương pháp chưng cất bằng nước Quá trình chưng được thực hiện bằngthiết bị Clevenger trong phòng thí nghiệm.
Hình 2.4: Thiết bị chưng cất Clevenger
Nguyên tắc: dựa trên sự thẩm thấu, hoà tan, khuếch tán và lôi cuốn theo hơi nước củacác hợp chất hữu cơ có trong tinh dầu chứa trong các mô khi tiếp xúc hơi nước ở nhiệt độcao
Trang 32Hình 2.7 : Hệ thống nước ra_ vào
2.3.2 Tiến hành
Cân 40g mẫu thử trên giấy lọc chính xác đến 0.0001g
Cân 40g muối NaCl (độ tinh khiết >= 99.5%) trên giấy lọc chính xác đến 0.0001g.Xác định thể tích xylen:
Dùng ống đong chuyển 400ml nước cất vào bình và cho thêm 1 ít hạt chống sôi tràohoặc bi thủy tinh Nối bình với hệ thống ngưng Dùng pipet thêm 1ml xylen qua nhánhbên Làm nóng bình cầu và điều chỉnh tốc độ chưng cất đến 2ml/phút hoặc 3ml/phút.Chưng cất khoảng 30 phút sau đó bỏ nguồn nhiệt ra Để nguội ít nhất 10phút và xác địnhthể tích xylen
Xác định thể tích của pha hữu cơ (dầu bay hơi và xylen):
Trang 33Chuyển giấy lọc cùng với phần mẫu thử và muối vào bình, nối lại bình với hệ thốngngưng Làm nóng bình cầu và điều chỉnh tốc độ chưng cất đến 2ml/phút hoặc 3ml/phút.Tiếp tục chưng cất trong 4h (ghi lại thời gian chưng cất thực tế).
Lấy nguồn nhiệt ra và để nguội Sau 10 phút ghi lại thể tích của pha hữu cơ thu đượctrong ống đong
Kết quả
Với: V1 là thể tích của dầu bay hơi và xylen đo được, tính bằng ml
V2 là thể tích của xylen (1ml)
M là khối lượng mẫu thử, tính bằng gam
2.3.3 Sơ đồ quy trình thực hiện
TN4: Khảo sát hàm lượng muốiTinh dầu
Trang 342.3.4 Các thí nghiệm khảo sát
2.3.4.1 Thí nghiệm 1: Khảo sát ảnh hưởng của chế độ nghiền đến khả năng trích
ly tinh dầu quế
a Mục đích
Chọn ra kích thước quế sau khi nghiền thích hợp để thu được hàm lượng tinh dầu caonhất và ổn định cùng với điều kiện khảo sát
b Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 1 nhân tố, 3 lần lặp lại
Nhân tố A: kích thước quế sau khi nghiền (mm)
A1: kích thước quế trên sàng 25 mesh (0.71mm)
A2:kích thước quế trên sàng 35 mesh (0.5mm)
A3: kích thước quế trên sàng 60 mesh (0.25mm)
A4: kích thước quế trên sàng 80 mesh (0.15mm)
Thời gian chưng cất: 4h
Khối lượng muối: 40g
d Cách tiến hành:
Trang 35Mẫu quế nguyên liệu được nghiền bằng máy nghiền búa Sau đó, được sàng để thuđược hạt có kích cỡ A1, A2, A3, A4 Cân khoảng 40g mẫu thử trên giấy lọc chính xác
đến 0.0001g Cân 40g muối NaCl (độ tinh khiết >= 99.5%) trên giấy lọc chính xác đến
0.0001g Dùng ống đong chuyển 400ml nước cất vào bình và cho thêm 1 ít hạt chống sôitrào hoặc bi thủy tinh Nối bình với hệ thống ngưng Dùng pipet thêm 1ml xylen quanhánh bên Làm nóng bình cầu và điều chỉnh tốc độ chưng cất đến 2ml/phút hoặc3ml/phút Tiến hành chưng cất lần lượt các mẫu trong vòng 4h Theo dõi lượng tinh dầuthu được theo thời gian chưng cất từ lúc hơi nước và tinh dầu ngưng tụ giọt đầu tiên ởống gạn