Hiện nay để kéo dài thời gian bảo quản của một số thương lái do đi theo lợi nhuận đã sử dụng một số chất phụ gia không rõ nguồn gốc, có xuất xứ từ Trung Quốc, để bảo quản nông sản trong
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HCM
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT QUI TRÌNH BẢO QUẢN XOÀI CÁT CHU BẰNG XỬ LÝ NHIỆT VÀ BAO MÀNG CHITOSAN
Giáo viên hướng dẫn: T.S Lê Quang Trí
Sinh Viên: Nguyễn Văn Thanh
MSSV: 1191100109 Lớp: 11HTP02
Ngành: Công nghệ thực phẩm
Tp Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2013
Trang 2Giáo viên hướng dẫn: T.S Lê Quang Trí
Sinh Viên: Nguyễn Văn Thanh
MSSV: 1191100109 Lớp: 11HTP02
Ngành: Công nghệ thực phẩm
Tp Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được sự động viên và giúp đỡ rất lớn của nhiều cá nhân và tập thể
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn T.S Lê Quang Trí, giảng viên Khoa Công nghệ thực phẩm, trường Đại học Công Nghệ Sài Gòn (STU) người đã tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi thực hiện và hoàn thành
đồ án tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của thầy cô trong phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học thực phẩm của trường STU đã tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện
và hoàn thành đồ án tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giảng dạy của thầy cô trong Khoa Công nghệ thực phẩm của trường HUTECH đã tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện và hoàn thành đồ án tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các bạn trong nhóm sinh viên đang làm
đồ án tại trường STU và các bạn sinh viên cùng lớp
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và tất cả bạn bè đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đồ án này
Mặc dù, tôi đã cố gắng hoàn thành đồ án trong phạm vi và khả năng cho phép nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự cảm thông và hướng dẫn tận tình của Quý Thầy Cô
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Thanh
Trang 4Xoài Cát Chu là một trong những loại xoài được trồng phổ biến ở các tỉnh Miền Tây Nam Bộ và có giá trị kinh tế cao
Là loại xoài có thịt ít xơ, mềm mà hơi dai, lại rất ngọt và thơm Khi ăn miếng xoài tan nhẹ trong miệng và vị ngọt dịu vẫn còn đọng mãi trên đầu lưỡi Xoài này giàu lượng
acid amin rất cần thiết cho cơ thể
Nhưng xoài là loài trái cây có vỏ mỏng, thịt mềm với thời gian bảo quản từ 3 – 5 ngày, rất dễ bị dập nát khi chín, tỷ lệ dập nát đến 20 – 25%, có khi tới 30% Đó là một con
số tổn thất không nhỏ
Hiện nay để kéo dài thời gian bảo quản của một số thương lái do đi theo lợi nhuận
đã sử dụng một số chất phụ gia không rõ nguồn gốc, có xuất xứ từ Trung Quốc, để bảo quản nông sản trong đó có xoài Cát Chu gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến những người tiêu dùng Là một sinh viên học ngành công nghệ thực tôi muốn góp một chút sức mình vào việc bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng
Với mục đích tìm một phương pháp có thể tăng thời gian bảo quản xoài nhằm làm tăng chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ, giảm hư hỏng khi vận chuyển, tăng thu nhập của người nông dân, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “ Khảo sát qui trình bảo quản Xoài Cát Chu bằng xử lý nhiệt và màng bao chitosan ”
Trang 5Mục tiêu nghiên cứu:
Khảo sát quá trình xử lý nhiệt và sau đó kết hợp với bao màng chitosan trong bảo quản xoài Cát Chu Từ đó, chọn điều kiện bảo quản thích hợp nhằm kéo dài thời gian bảo quản
Nội dung nghiên cứu:
- Tổng quan tài liệu về xoài và các chế phẩm sinh học Chitosan
- Khảo sát quá trình xử lý nhiệt trên xoài
- Khảo sát bảo quản xoài bằng màng bao chitosan
Trang 6( Giáo viên hướng dẫn)
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 7(Giáo viên phản biện)
Trang 8
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1
1 Giới thiệu chung về cây xoài 1
1.1 Nguồn gốc phân bố ……….……….…… 1
1.2 Thành phần hóa học 2
1.3 Các vùng trồng xoài ở Việt Nam 3
1.4 Tình hình sản xuất và nhập khẩu xoài trên Thế giới 3
1.5 Phân loại các giống xoài ở Việt Nam 5
1.6 Các vấn đề kỹ thuật trong canh tác 7
1.7 Các vấn đề sau thu hoạch 8
1.8 Các thị trường xuất khẩu thương phẩm xoài 9
1.9 Các biến đổi chung của xoài sau khi thu hái 10
2 Giới thiệu chung về Chitosan 122
2.1 Nguồn gốc của Chitosan trong tự nhiên 122
2.2 Cấu trúc hóa học, tính chất lý hóa, sinh học và độc tính của Chitosan 122
2.2.1 Cấu trúc hóa học 122
2.2.2 Tính chất lý hóa của Chitosan 123
2.2.3 Tính chất sinh học của Chitosan 124
2.2.4 Ứng dụng 124
3 Muối CaCl2 14
3.1 Tính chất hóa học 15
Trang 94 Một số phương pháp bảo quản trái cây 16
4.1 Bảo quản trong điều kiện thường 16
4.2 Bảo quản lạnh 16
4.2.1 Trữ nhiệt độ thấp 17
4.2.2 Tổn thương lạnh 18
4.3 Bảo quản trong môi trường điều chỉnh thành phần khí 20
4.4 Bảo quản bằng phương pháp hóa học 20
4.5 Bảo quản bằng phương pháp vật lý 20
4.5.1 Kỹ thuật xử lý nhiệt 20
4.5.2 Kỹ thuật chiếu tia bức xạ 21
4.6 Phương pháp sinh học 21
4.7 Tồn trữ trong chân không 21
4.8 Bảo quản bằng bao bì và màng bao 202 CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Nguyên liệu 23
2.1.1 Xoài 203 2.1.2 Chitosan 204 2.1.3 Muối CaCl2 25
2.2 Sơ đồ nghiên cứu 26
2.3 Quy trình bảo quản xoài dự kiến 27
2.4 Thuyết minh quy trình 28
2.5 Bố trí thí nghiệm 31
2.5.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng nhiệt độ nước nóng đến khả năng bảo quản xoài Cát Chu 31
2.5.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của thời gian xử lý nước nóng đến khả năng bảo quản xoài Cát Chu 32
Trang 102.5.4 Thí nghiệm 4: Khảo sát quá trình bảo quản xoài Cát Chu bằng màng bao chitosan 33
2.6 Phương pháp phân tích 34
2.6.1 Hao hụt trọng lượng 34
2.6.2 Tỉ lệ trái bị phỏng nhiệt 34
2.6.3 Tỉ lệ trái bệnh 34
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 36
3.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của nhiệt độ nước xu ly đến khả năng bảo quản xoài Cát Chu ……….36
3.1.1 Tỉ lệ trái bị tổn thương nhiệt 36
3.1.2 Tỉ lệ bệnh 36
3.1.3 Hao hụt trọng lượng 38
3.1.4 Mức độ chín 39
3.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của thời gian xử lý nước nóng đến khả năng bảo quản xoài Cát Chu 40
3.2.1 Tỉ lệ tổn thương nhiệt 40
3.2.2 Tỉ lệ bệnh 41
3.2.3 Hao hụt trọng lượng 43
3.2.4 Mức độ chín 44
3.3 Thí nghiệm 3: Khảo sát khả năng bảo quản của muối CaCl2 kết hợp với phương pháp xử lý nhiệt 45
3.3.1 Tỉ lệ tổn thương nhiệt 45
3.3.2 Tỉ lệ bệnh 46
3.3.3 Hao hụt trọng lượng 47
3.3.4 Mức độ chín 48
3.4 Thí nghiệm 4: Khảo sát quá trình bảo quản xoài Cát Chu bằng màng bao chitosan 50
Trang 113.4.2 Tỉ lệ bệnh 57
3.4.3 Độ hao hụt khối lượng của xoài trong quá trình bảo quản 60
3.4.4 Mức độ chín 58
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
4.1 Kết luận 63
4.2 Kiến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 12Bảng 1.1 Thành phần hóa học của quả xoài chín 2
Bảng 1.2 Thành phần acid amin của phần thịt xoài 3
Bảng 1.3 Diện tích trồng và sản lượng xoài thu hoạch năm 2007 4
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng 27
Bảng 2.2 Các chỉ tiêu của Chitosan 28
Bảng 2.3 Thông số kỹ thuật muối CaCl2 29
Bảng 2.4 Cách bố trí thí nghiệm 35
Bảng 2.5 Cách bố trí thí nghiệm 36
Bảng 2.6 Cách bố trí thí nghiệm 37
Bảng 2.7 Cách bố trí thí nghiệm 38
Bảng 3.1 Hao hụt trọng lượng (%) 42
Bảng 3.2 Tỉ lệ phỏng nhiệt (%) 45
Bảng 3.3 Hao hụt trọng lượng (%) 48
Bảng 3.4 Tỉ lệ phỏng nhiệt (%) 51
Bảng 3.5 Hao hụt trọng lượng (%) 53
Trang 13Hình 1.1 Xoài 1
Hình 1.2 Các quốc gia trồng xoài trên thế giới 4
Hình 1.3 Cấu trúc hóa học của chitin và chitosan 15
Hình 2.1 Xoài Cát Chu trước khi xử lý 27
Hình 2.2 Chitosan 28
Hình 2.3 Muối CaCl2 29
Hình 2.4 Quy ước điểm cho mức độ chín 39
Hình 3.1 Độ chín xoài sau 10 ngày bảo quản TN1 44
Hình 3.2 Độ chín xoài sau 10 ngày bảo quản TN2 51
Hình 3.3 Độ chín xoài sau 12 ngày bảo quản TN3 56
Hình 3.4 Mẫu xoài sau 10 ngày bảo quản TN4 62
Hình 3.5 Mẫu xoài sau 12 ngày bảo quản 250C 62
Trang 14Biểu đồ 1.1 Biến thiên tỉ lệ tổn thương nhiệt 40
Biểu đồ 1.2 Biến thiên tỉ lệ bệnh thối cuống trái 41
Biểu đồ 1.3 Biến thiên tỉ lệ bệnh trên bề mặt trái 42
Biểu đồ 1.4 Biến thiên tỉ lệ hao hụt trọng lượng (%) 43
Biểu đồ 1.5 Kết quả đánh giá cảm quan mức độ chín TN1 44
Biểu đồ 2.1 Biến thiên tỉ lệ tổn thương nhiệt 46
Biểu đồ 2.2 Biến thiên tỉ lệ bệnh thối cuống trái 47
Biểu đồ 2.3 Biến thiên tỉ lệ bệnh trên bề mặt trái 48
Biểu đồ 2.4 Biến thiên tỉ lệ hao hụt trọng lượng (%) 49
Biểu đồ 2.5 Kết quả đánh giá cảm quan mức độ chín TN2 50
Biểu đồ 3.1 Biến thiên tỉ lệ tổn thương nhiệt 52
Biểu đồ 3.2 Biến thiên tỉ lệ bệnh 53
Biểu đồ 3.3 Biến thiên tỉ lệ hao hụt trọng lượng (%) 54
Biểu đồ 3.4 Kết quả dánh giá cảm quan về mức độ chín TN3 55
Biểu đồ 4.1 Biến thiên tỉ lệ bệnh 58
Biểu đồ 4.2 Biến thiên tỉ lệ độ hao hụt trọng lượng 58
Biểu đồ 4.3 Kết quả đánh giá cảm quan về mức độ chín TN4 60
Trang 151 Phiếu khảo sát cảm quan thí nghiệm :
Văn phòng Buôn bán nhỏ Nội trợ Hưu trí
Giáo viên Bác sĩ Quân nhân Kỹ sư, kiến trúc sư
Khác:
1 Bạn có thích ăn xoài chín không? Có Không
2 Bạn thích màu sắc của sản phẩm Xoài nào sau đây?
Sản phẩm 1: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích Sản phẩm 2: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích Sản phẩm 3: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích
Trang 16Sản phẩm 5: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích Sản phẩm 6: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích
3 Bạn thích mùi thơm của sản phẩm Xoài nào sau đây?
Sản phẩm 1: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích Sản phẩm 2: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích Sản phẩm 3: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích Sản phẩm 4: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích Sản phẩm 5: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích Sản phẩm 6: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích
4 Bạn thích trạng thái bề mặt của sản phẩm Xoài nào sau đây?
Sản phẩm 1: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích Sản phẩm 2: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích Sản phẩm 3: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích Sản phẩm 4: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích Sản phẩm 5: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích Sản phẩm 6: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích
5 Độ chín của sản phẩm Xoài nào mà bạn thích?
Trang 17Sản phẩm 2: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích Sản phẩm 3: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích Sản phẩm 4: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích Sản phẩm 5: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích Sản phẩm 6: Ghét không có ý kiến Thích Rất thích
XIN CHÂN THÀNH CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐÓNG GÓP Ý KIẾN
CHÚC MỘT NGÀY TỐT ĐẸP
Trang 18Trang 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Giới thiệu chung về cây xoài:
1.1 Nguồn gốc phân bố:
Xoài (Mangifera indica L.) có nguồn gốc ở Đông Bắc Ấn Độ, Bắc Myanmar, ở
vùng đồi núi chân dãy Hymalaya, sau đó lan sang Nam Trung Quốc và các nước Đông
Nam Á Xoài là một loại trái có giá trị cao trong các loại trái cây nhiệt đới, có màu sắc hấp
dẫn, mùi thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao Các nước sản xuất xoài lớn trên thế giới
( trên 1 triệu tấn/năm) là Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Mexico, Pakistan, Indonesia Các
nước trồng xoài chỉ xuất vài giống thương mại, thí dụ giống „Haden‟, „Keitt‟ và „Zill‟ của
Nam Phi, giống „Julie‟ của Trinidad, Thái Lan có giống „Nam Dok Mai‟ và „Okrang‟, hay
ở Florida có hai giống rất nổi tiếng là „Tommy Atkins‟ và „Keitt‟, ở Úc có giống
„Kensington Pride‟
Việt Nam thuộc nhóm 20 nước sản xuất xoài có tiềm năng của thế giới, sản lượng
xoài của Việt Nam 2002 đạt hơn 17 ngàn tấn Xoài hiện nay được trồng ở hầu hết các tỉnh
phía Nam nhưng tập trung nhiều vào các tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cần
Thơ, Bến Tre, Hậu Giang, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Khánh Hòa (Đỗ
Minh Hiền và ctv, 2006)
Hình 1.1 Xoài
Trang 19Trang 2
1.2 Thành phần hóa học của xoài:
Theo Tôn Nữ Minh Nguyệt và ctv (2008), xoài chứa 76-80 % nước, 11-20 %
đường, 0,2-0,54 % acid (khi xanh có thể đạt 3,1 %), 3,1 mg % carotene, 0,04 % vitamin
B1, 0,3 % vitamin PP, 0,05 % vitamin B2 Glucid chủ yếu là các loại đường saccharose,
fructose, glucose, xylose, arabinose, heptulose, maltose Acid hữu cơ chủ yếu là acid citric,
ngoài ra còn có acid tartaric, malic, oxalic, gallic Có nhiều loại acid amin trong thành phần
xoài, với đầy đủ các loại acid amin không thay thế
Bảng 1.1 Thành phần hóa học của xoài chín Thành phần Hàm lƣợng Thành phần Hàm lƣợng
(Nguồn: Tôn Nữ Minh Nguyệt và ctv, 2008)
Chất màu của xoài chủ yếu là các loại carotennoid Xoài chín một phần có 14 loại
carotenoid, xoài chín hoàn toàn có 17 loại carotenoid Giống xoài Haden có màu đỏ là do
sắc tố anthocyanin, peonidin-3-galactoside
Mùi hương xoài do 76 loại hợp chất dễ bay hơi tạo thành, thuộc 3 nhóm đặc trưng
là car-3-ene, a-capoene, và ethyldodecanoate
Vitamin C có nhiều lúc xanh và vitamin A lại tập trung vào lúc trái chín
Có hai loại enzyme trong thành phần xoài, đó là peroxidase, gắn với phần không
tan của mô trái và polyphenoloxidase, gây biến màu nâu Ngoài ra còn có catalase,
invertase, α-amylase
Bảng 1.2 Thành phần acid amin của phần thịt xoài
Trang 20(Nguồn: Tôn Nữ Minh Nguyệt và ctv, 2008)
1.3 Các vùng trồng xoài ở Việt Nam
Xoài được trồng chủ yếu ở khu vực miền Nam Việt Nam Ở miền Bắc, xoài được
trồng rất ít, ngoại trừ huyện Mai Sơn và Yên Châu thuộc tỉnh Sơn La, huyện Yên Minh
tỉnh Hà Giang, tỉnh Lai Châu, đây là những nơi có nhiệt độ khá cao vào mùa đông và độ
ẩm thấp rất thuận lợi cho sự thụ phấn và phát triển của xoài Trong một vài tỉnh nội thành
miền Bắc thì xoài thường được xem như cây cảnh hoặc cây lấy bóng mát Các vùng sản
xuất xoài chủ yếu ở Việt Nam tập trung ở khu vực phía Nam như: Tiền Giang, Đồng Tháp,
Vĩnh Long, Khánh Hòa, Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu Loại xoài ngon nhất có nguồn gốc
ở huyện Cao Lãnh thuộc tỉnh Đồng Tháp Xoài được phân ra làm nhiều loại, một vài loại
phổ biến được mọi người biết đến là xoài cát, xoài xiêm, xoài tượng, xoài voi, xoài ngựa
nhưng ngon nhất là xoài cát Quả có vỏ màu vàng sáng, hình dạng hơi tròn và trọng lượng
khá nặng Thịt quả nhiều, ngọt và thơm ngon hơn so với các giống xoài khác Những người
thích ăn xoài sẽ rất khó quên khi được mời dùng giống xoài cát này
1.4 Tình hình sản xuất và nhập khẩu xoài trên Thế giới
Xoài chiếm khoảng 50% tổng loại trái cây nhiệt đới được sản xuất trên toàn thế
giới Các tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc ước tính sản lượng xoài
sản xuất vào năm 2001 là hơn 23 triệu tấn
Tình hình sản xuất: với khoảng 12 triệu tấn được sản xuất hàng năm (dữ liệu ghi
nhận vào tháng 3 năm 2002) thì Ấn Độ là quốc gia cung cấp gần một nửa sản lượng cho
Trang 21Trang 4
toàn thế giới, theo sau đó là Trung Quốc (3 triệu tấn), Pakistan (2.25 triệu tấn), Mexico (1.5
triệu tấn) và Thái Lan (1.35 triệu tấn) Tổng sản lượng sản xuất của 10 quốc gia đứng đầu
chiếm gần như 80% sản lượng xoài trên thế giới
Hình 1.2 Các quốc gia sản xuất xoài trên thế giới
Nguồn (UN Food and Agriculture Organisation (FAO))
Bảng 1.3 Diện tích trồng và sản lƣợng xoài thu hoạch năm 2007
Quốc gia Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
Trang 22Trang 5
Tình hình nhập khẩu: Mỹ là quốc gia nhập khẩu xoài nhiều nhất trên thế giới
(43.2%) (số liệu ghi nhận năm 1988), theo sau là các nước như Hồng Kông, Hà Lan, các
tiểu vương quốc Ả Rập (UAE), Pháp, Malaysia, Ả Rập Saudi, Đức và Singapore
Ở nước ta cây xoài được trồng rải rác ở khắp nơi trong nước nhưng sản xuất hàng
hóa chỉ tập trung ở 35 tỉnh với diện tích 31.021 ha, chiếm trên 8% tổng diện tích cây ăn
quả trong cả nước với sản lượng 164.409 tấn (Tổng cục thống kê năm 1997) Đến năm
1999 diện tích xoài cả nước tăng lên 46,7 nghìn ha, với sản lượng 188,6 nghìn tấn Vùng
trồng xoài hàng hóa chủ yếu tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long, có 21.191 ha, trong đó
nhiều nhất là Tiền Giang 6.000 ha, Kiên Giang 3.878 ha, Cần Thơ 3.248 ha, Đồng Tháp,
Vĩnh Long 2.237 ha, Long An 1.047 …
1.5 Phân loại các giống xoài ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiện có khoảng hơn 70 giống xoài, tuy nhiên vẫn chưa có công trình
nào nghiên cứu thật đầy đủ về những giống xoài ở các vùng trong nước Trong số các
giống xoài đó người ta đã chọn được 21 giống có những đặc tính quí về năng suất và phẩm
chất Các giống xoài chưa được phân loại rõ ràng nhưng có thể xem như chúng gồm các
giống xoài có năng suất cao được trồng nhiều (xoài Cát Hòa Lộc, xoài Cát Chu, xoài thơm,
xoài bưởi), các giống xoài có được trồng ít trong các vườn gia đình (xoài tượng, xoài voi,
xoài gòn, xoài Thanh Ca, xoài trứng, xoài hôi …) và các giống xoài mới được nghiên cứu,
tuyển chọn (giống GL1, GL2, GL6 …) Sau đây là một vài loại xoài có năng suất và chất
lượng cao được trồng nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long:
Xoài Cát Hòa Lộc:
Là một trong những giống xoài nổi tiếng nhất đồng bằng sông Cửu Long Chất
lượng xoài được thị trường trong và ngoài nước đánh giá rất cao Xoài Cát Hòa Lộc được
trồng đầu tiên tại xã Hòa Lộc, quận Giáo Đức, tỉnh Định Tường nay là ấp Hòa Lộc, xã Hòa
Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, nên được mang tên là xoài Cát Hòa Lộc Đây là
vùng đất phù sa ven sông nên giàu dinh dưỡng, rất thích hợp cho xoài Cát Hòa Lộc sinh
trưởng và phát triển
Trang 23Trang 6
Xoài Cát Hòa Lộc là loại xoài quý cho năng suất cao, tuy nhiên hơi khó trồng phải
thâm canh, ra hoa không đều, không trồng bằng hạt phải ghép Quả có hình dạng thuôn dài,
khi già có phấn bao phủ bao phủ bên ngoài và đốm màu nâu nhỏ tập trung nhiều ở phần
giữa và cuốn trái Vỏ mỏng, màu vàng tươi, cuống trái hơi mảnh, đáy trái có hình nhọn
Kích thước lớn, trọng lượng trung bình 350 – 500g/quả, có dạng hình thuẩn dài, bầu tròn ở
cuống Khi chín vỏ quả có màu vàng chanh, thịt có màu vàng tươi dày, ăn ngọt, thơm
ngon Tuy nhiên, do có vỏ mỏng nên trái dễ bị dập, khó bảo quản, khó vận chuyển và xuất
khẩu Vụ thu hoạch từ tháng 3–5 Về chất lượng xoài Cát Hoà Lộc được xếp hàng đầu về
chất lượng, quả ngon, rất ngọt (độ Brix >20%), thịt mịn, chắt, ít xơ, hạt dẹp (<10%), tỷ lệ
phần ăn được cao (> 80%) Hàm lượng chất khô là 19-21%, rất ít xơ, hàm lượng acid citric
nhỏ hơn 1,5%
Xoài Cát Chu:
Xoài Cát Chu (Mangifera indica) được trồng ở thị xã Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Sở dĩ xoài Cát Chu có tên “Chu” vì đầu trái xoài nơi có cuống thường chu ra Cũng có
người gọi xoài Cát Chu vì màu thịt và vỏ trái khi chín có màu vàng ửng đỏ như chu sa
Thịt xoài Cát Chu ít xơ, mềm mà hơi dai, lại rất ngọt và thơm Tuy không phải họ cây đậu
mà số lượng acid amin cần thiết có rất nhiều Cây cho trái tự nhiên vào khoảng tháng 12
dương lịch
Cây xoài Cát Chu có năng suất rất cao, dễ trồng, dễ ra hoa kết trái, dễ thích hợp với
nhiều loại đất: đất phù sa ven sông Cửu Long, đất phèn ở miền Tây Nam Bộ hay đất cát gò
ở miền Đông cây vẫn cho trái tốt Cây có tán dù, đâm cành ngang, tán lá dày, quả có trọng
lượng trung bình 300 – 400g Khi chín có vị ngọt (độ Brix >18%), thịt ít xơ, mịn, dẻo, tỷ lệ
ăn được > 70%, hạt không to, tỷ lệ hạt >10%, có hương vị thơm, năng suất cao Cây 20
tuổi trung bình đạt 400– 600kg/năm
Xoài thơm :
Trọng lượng quả trung bình 250 – 300g, vỏ xanh thẫm (thơm đen) hay xanh nhạt
(thơm trắng) So với xoài Cát, xoài thơm cho năng suất khá cao và ổn định qua các năm,
trung bình 200kg quả/cây Quả chín ăn rất ngọt (độ Brix >19%), thịt mịn, ít xơ, tỷ lệ ăn
được >70%
Xoài bưởi (xoài ghép) :
Trang 24Trang 7
Quả giống xoài Cát nhưng bé hơn, trung bình 250 – 300g/quả, cây cho quả rất sớm,
khoảng 2,5 – 3 năm tuổi từ khi gieo Vỏ quả dày nên có thể vận chuyển đi xa dễ dàng
Phẩm chất quả kém xoài Cát, thịt quả nhão, ngọt vừa phải (độ Brix =17%) và có mùi nhựa
thông
1.6 Các vấn đề kỹ thuật trong canh tác trên xoài
+ Kỹ thuật xử lý ra hoa:
Xử lý ra hoa là một khía cạnh quan trọng trong kỹ thuật canh tác xoài, xử lý ra hoa
không những giúp tạo ra các mùa vụ nghịch (rải vụ) mà còn giúp làm tăng sự ra hoa hoặc
ra hoa đồng loạt đối với một số giống cây khó ra hoa Trên xoài, kỹ thuật xử lý ra hoa
thường được xây dựng trên một tổ hợp được liên kết bởi nhiều biện pháp: cắt tỉa cành sau
thu hoạch; xiết nước và bón phân tưới nước; và cùng là các hình thức xử lý với các loại
hóa chất có tác dụng kích thích sự ra chồi- hoa… Các thành tựu ấy đã thể hiện trong thực
tế là kéo dài mùa xoài, giảm bớt nguy cơ trúng mùa mất giá! Người tiêu dùng được hưởng
lợi hầu như là co xoài ăn quanh năm Nhưng đồng thời một vấn đề mà chúng ta nên quan
tâm là sức khỏe cây trồng khi xử lý nhiều vụ liên tiếp, vấn đề môi trường và sức khỏe cho
nhà nông khi xử dụng lâu dài các hóa chất
+ Kỹ thuật bón phân:
Bón phân là một khâu quan trọng trong canh tác xoài vì thế được nhiều sự quan tâm
trong nghiên cứu Các nghiên cứu về kỹ thuật bón phân trên xoài không những do các viện,
trường thực hiện mà còn nhiều công ty phân bón tham gia vào Chỉ xét riêng về phân bón
lá, nhiều công ty đã chế ra các sản phẩm chuyên dùng cho xoài ở các gia đoạn khác nhau,
các tỉ lệ NPK và vi lượng đáp ứng nhu cầu từng thời kì của cây, tạo sự tiên lợi cho nhà
nông Tương tự cho phân bón rễ đã xuất hiện các loại phân NPK có tỉ lệ thay đổi theo từng
thời kì của cây
Đối với xoài Cát Chu trồng ở xã Mỹ Xương, Cao Lãnh, Đồng Tháp, kỹ thuật bón
phân cho vùng xoài này đã được nghiên cứu và hiện đã khuyến cáo áp dụng cho vùng xoài
này (Trần Văn Hâu, Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2005))
+ Kỹ thuật bảo vệ thực vật trên xoài
Xoài là một cây trồng chịu áp lực bệnh rất cao vì thế được sự quan tâm của nhiều
nghiên cứu trong nước Một số kết quả nghiên cứu tiêu biểu cho phần này có thể liệt kê
như sau:
Trang 25Trang 8
Lê Quốc Điền và ctv (2004) đã trình bày những kết quả về việc sử dụng kiến vàng
trong quản lý tổng hợp dịch hại trên xoài Sau 3 năm tiến hành chương trình đã mang lại
hiệu quả rõ rệt của việc sử dụng IPM trong phòng trừ sâu hại và giảm thiểu việc sử dụng
thuốc BVTV trong canh tác xoài Biện pháp sử dụng sản phẩm sinh học SOFRI Protein kết
hợp với các biện pháp khác trong phòng trừ tổng hợp hai loại ruồi đục trái Batrocera
dorsalis và B correcta và hiệu quả của một số phương pháp phòng trừ tổng hợp kết hợp
thuốc trừ sâu sinh học, ít độc trong phòng trừ sâu đục trái xoài (Deanolis albizonalis) Kết
quả đã mang lại hiệu quả cao, giảm tỉ lệ trái bị hại, lại không để lại dư lượng thuốc bảo vệ
thực vật sau khi thu hoạch
+Kỹ thuật thu hoạch, phân loại và xử lý xoài:
Do xoài ra hoa không tập trung, ngay trên một cây độ già thu hoạch không đều dẫn
đến chất lượng không đồng đều giữa các quả, sự mất mát hư hỏng sau thu hoạch khá cao
Vì thế việc xác định thời điểm sau thu hoạch là rất cần thiết, công trình này đã được tác giả
Nguyễn Thành Tài (2008) thực hiện trên hai cây giống xoài cát Hòa Lộc và Cát Chu tại
huyện Cao Lãnh tĩnh Đồng Tháp, thời điểm thu hoạch được xác định là 73-83 ngày sau
đậu trái đối với Cát Hòa Lộc, 74-82 ngày đối với Cát Chu Tại Đồng Nai, Nguyễn An Đệ
(2010) đã thực hiện trên giống xoài Bưởi, và xác định độ già thu hoạch tốt nhất là 80-85
ngày sau đậu trái
Sau khi xác định thời điểm thu hoạch thì việc phân loại xoài bằng phương pháp tỉ
trọng (thông qua sử dụng nước muối) đã được khảo sát Tỉ trọng xoài Cát Hòa Lộc và Cát
Chu cho chất lượng ngon biến động từ 1 đến 1,02 (Nguyễn Thành Tài, 2008) Đối với xoài
Bưởi chất lượng tốt nhất khi tỉ trọng là 1,10-1,02 (Nguyễn An Đệ, 2010) Các cách xử lý
Ozone (2ppm) hoặc anolyte (100%) khống chế sự phát triển của bệnh thán thư Sự bọc quả
trong PE có đục 12 lỗ kim và giữ quả ở nhiệt độ 130C đã kéo dài thời gian tồn trữ (Nguyễn
Thành Tài, 2008)
1.7 Các vấn đề sau thu hoạch trên xoài
A Bệnh sau thu hoạch trên xoài
Quả xoài sau thu hoạch thường chịu áp lực bệnh rất cao và hai bệnh thối chính
thường thấy trên quả xoài sau thu hoạch là bệnh thán thư và bệnh thối cuống
+ Bệnh thán thƣ
Trang 26Trang 9
Bệnh này do nấm Colltotrichum gloeosporioides gây ra (Ken Pernezny và Randy
Ploetz, 1988) Bệnh thán thư xuất hiện trên tất cả các khu vực trồng xoài trên thế giới Đây
là bệnh nguy hiểm nhất do nấm gây ra trên xoài Chủ yếu xuất hiện từ hoa sau đó đến trái
và xuất hiện lần nữa sau thu hoạch Bệnh xuất hiện mạnh nhất trong thời tiết ẩm ướt
Triệu chứng: trên lá, đốm bệnh là những vết gần tròn hay bất định, có màu nâu
xám hoặc đen, vết bệnh gây tổn thương và có thể làm rụng lá Trên trái, bệnh thường tiềm
ẩn khi trái xanh và phát bệnh khi trái bắt đầu chín Triệu chứng bệnh trên trái là các vết đen
lõm vào, đối với những trái bị nhiễm nặng thì vết bệnh trên bề mặt trái thường lớn hơn 2
cm, các vết bệnh có thể lan ra liên kết với nhau, phần thịt trái bên dưới vết bệnh thường bị
chai đi
+ Bệnh thối cuống
Bệnh do nấm lasiodiplodia theobromae ( Griff và Maubl.) Bệnh thối trái cũng là
bệnh gây thiệt hại lớn trên xoài sau bệnh thán thư Triệu chứng thường xuất hiện khi trái
chín Vết nâu, thịt trái bị thối mềm thường xuất hiện quanh cuống và phát triển mạnh thì
vết bệnh lan rộng khắp bề mặt trái ( Greg Johnson, Ian Muirhead, Peter Mayers, Tony
Cooke, 1989)
Ngoài ra, các bệnh hại sau thu hoạch khác cũng ảnh hưởng đến chất lượng và sản
lượng của xoài như: bệnh thối trái do mốc đen, bệnh ruồi đục trái…
1.8 Các thị trường xuất khẩu và giá trị thương phẩm của xoài
Thị trường tiêu thụ xoài lớn nhất hiện nay là Mỹ Hàng năm lượng xoài nhập vào Mỹ
khoảng 76.000 tấn Lượng nhập khẩu tăng 30% từ năm 1988 đến 1992 Thị trường lớn thứ
hai là EU.Trong năm 1992 các nước EU đã nhập 47.000 tấn.Ba nước Anh, Pháp, Đức
chiếm 75% lượng xoài nhập vào khu vực này Canada cũng là nước có lượng xoài nhập
khẩu khá lớn với 13.000 tấn trong năm 1992, trong đó 63% nhập từ Mexico
Các nước xuất khẩu xoài chủ yếu là Mexico, Phillipin, Thái Lan, Ấn độ, Indonesia và
Nam Phi, trong đó Mexico là nước xuất khẩu xoài tươi lớn nhất, chiếm gần 40% sản lượng
xoài thế giới, chủ yếu là xuất khẩu sang Bắc Mỹ
Vùng châu Á phần lớn cung cấp cho thị trường khu vực và một số nước Trung Cận
Đông
Trang 27Trang 10
Vùng xoài Bắc Trung Mỹ chủ yếu tập trung vào thị trường Bắc Mỹ, châu Âu và Nhật
Bản, còn các nước châu Phi hướng cung cấp cho thị trường châu Âu Mặc dù châu Á là
vùng sản xuất xoài lớn nhất thế giới (chiếm 80% tổng sản lượng) nhưng số lượng các nước
xuất khẩu không nhiều.Ấn độ là nước có sản lượng xoài lớn nhất thế giới nhưng chủ yếu
chỉ cung cấp cho thị trường trong nước Hiện nay, Thái Lan và Phillipin là hai nước có sản
lượng xuất khẩu lớn nhất trong khu vực và thị trường chủ yếu của họ là: Nhật Bản, Hồng
Kông, Singapore, Malaysia
Về giá trị thương phẩm thì xoài là loại quả nhiệt đới quan trọng thứ 2 xét về phương
diện thương mại thế giới cả về số luợng và giá trị Thu nhập xuất khẩu xoài (tươi và chế
biến) năm 1996 đạt 400 triệu USD (theo ADB, 1998)
1.9 Các biến đổi chung sau khi thu hái
Phần lớn các biến đổi xoài xảy ra sau thu hoạch là tiếp tục các biến đổi trong quá
trình phát triển của nó Tuy nhiên, xoài còn ở trên cây thì quá trình tổng hợp các chất (đồng
hoá) là chủ yếu còn trong khi bảo quản quá trình tiêu hao vật chất để sinh ra năng lượng
duy trì sự sống lại là chủ yếu Trong quá trình bảo quản xoài xảy ra một loạt các biến đổi
về vật lý, sinh lý và sinh hoá như sau:
1.9.1 Biến đổi vật lý
- Xoài sau khi thu hoạch để trong môi trường bảo quản sẽ xảy ra một số biến đổi
vật lý có thể dẫn đến giảm chất lượng cũng như khối lượng của trái Đó là những hiện
tượng như: bay hơi nước, giảm khối lượng tự nhiên v.v…Trong xoài chứa nhiều nước nên
luôn luôn xảy ra hiện tượng bay hơi nước từ quả ra môi trường Sự mất nước dẫn tới khô
héo, giảm trọng lượng quả, gây rối loạn sinh lý, giảm khả năng kháng khuẩn… và kết quả
trái chóng bị thối rữa Tốc độ mất nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: độ chín, cấu tạo
của trái và điều kiện môi trường bảo quản
- Lượng nước mất đi trong quá trình bảo quản xoài còn tuỳ theo loại, độ già chín và
nhiệt độ, độ ẩm, vận tốc chuyển động của không khí trong kho bảo quản Độ ẩm giảm,
nhiệt độ tăng đều làm tăng cường sự mất nước Thông thường 1 tấn các loại rau mất
khoảng 600-800g nước trong một ngày đêm và các loại củ, quả là 300 - 600g
Trang 28Trang 11
- Để tính toán cường độ bốc ẩm của rau quả có thể dựa trên cơ sở là 75 -85% sự
giảm khối lượng khi bảo quản là do mất nước, còn 15 - 25% là tổn thất chất khô trong quá
trình hô hấp
1.9.2 Biến đổi sinh lý
- Hô hấp là quá trình sinh học cơ bản không những xảy ra khi quả còn trên cây mà
còn xảy ra trong quá trình bảo quản chúng sau khi thu hoạch Về bản chất hô hấp là quá
trình oxy hóa chậm các chất hữu cơ phức tạp Dưới tác dụng của enzyme các chất này bị
phân hủy thành các chất đơn giản hơn và giải phóng năng lượng Người ta thấy rằng hầu
hết các chất đều tham gia vào quá trình hô hấp (trừ protein), nhưng chủ yếu là các chất
đường, nhất là đường đơn Các chất không phải là đường tham gia trực tiếp vào quá trình
hô hấp tạo nên các chất trung gian mà không cần qua khâu chuyển hóa thành đường
- Quá trình hô hấp có sự tham gia của oxy được gọi là hô hấp hiếu khí Khi lượng
oxy của môi trường không đủ để tiến hành hô hấp hiếu khí thì sẽ xảy ra hiện tượng hô hấp
yếm khí
1.9.3 Biến đổi hóa học
- Trong thời gian bảo quản, hầu hết các thành phần hóa học của quả đều bị biến đổi
do tham gia hô hấp hoặc do hoạt động của enzyme Đường là thành phần chủ yếu tham gia
quá trình hô hấp nên hàm lượng giảm đáng kể Tuy nhiên, trong một số loại quả chứa
nhiều tinh bột lúc còn xanh, khi bảo quản mặc dù tham gia vào quá trình hô hấp nhưng
lượng đường chẳng những không giảm mà còn tăng Đó là do khi quả chín lượng tinh bột
chuyển thành đường với tốc độ cao hơn tốc độ giảm đường do hô hấp
- Hoạt động của enzyme có tác dụng trực tiếp đến sự phân giải các chất gluxit
Hemixenlulose bị thủy phân thành đường còn protopectin bị thủy phân thành pectin hòa
tan làm cho quả mềm dần Ngoài ra, các chất hữu cơ khác như axit, vitamin đều có thể
giảm khi kéo dài thời hạn bảo quản Các chất màu đặc trưng cho quá trình chín như
carotenoit hoặc antoxian được sinh tổng hợp Tốc độ biến đổi các thành phần hóa học nói
chung tỷ lệ thuận với cường độ hô hấp
- Như vậy trong quá trình bảo quản và già, chín của quả, hàm lượng các hợp chất
phenol, glucozit, các vitamin, axit bị giảm dần trong khi đó các chất tạo mùi như rượu,
este, aldehyd được tổng hợp làm rau quả trở nên ngọt và thơm ngon Cuối quá trình bảo
Trang 29Trang 12
quản do các chất tự bảo vệ của rau quả như các polyphenol, chất đắng không còn nữa và
cấu trúc tế bào quả trở nên lỏng lẻo nên rau quả chuyển sang giai đoạn hư hỏng chủ yếu do
vi sinh vật gây ra
2 Giới thiệu chung về Chitosan
2.1 Nguồn gốc của chitosan trong tự nhiên
Chitosan là sản phẩm deacetyl hóa của chitin (Tolamite et al., 2000) đã được sử
dụng để nghiên cứu và ứng dụng nhiều trong bảo quản rau quả nhờ tính chất tạo màng bảo
vệ, chống mất nước và hạn chế hô hấp
Trong động vật, chitin là một thành phần cấu trúc quan trọng của các vỏ một số
động vật không xương sống như: giáp xác (Sandford and Hutchings, 1987; Sandford,
1989) côn trùng, nhuyễn thể, và giun tròn Trong động vật bậc cao monomer của chitin là
một thành phần chủ yếu trong mô da, nó giúp cho sự tái tạo và gắn liền các vết thương
Trong thực vật chitin có ở thành tế bào nấm họ Zygenmyctes (Bartnicki-Garcia, 1970), các
sinh khối nấm mốc, một số loại tảo…
Trong động vật thủy sản, đặc biệt là trong vỏ tôm, cua, ghẹ, hàm lượng chitin
chiếm tỷ lệ khá cao, từ 14-35% so với trọng lượng chất khô
2.2 Cấu trúc hóa học, tính chất lý hóa, sinh học và độc tính của chitosan
2.2.1 Cấu trúc hóa học
Trong số các dẫn xuất của chitin thì chitosan là một trong những dẫn xuất quan
trọng vì nó có hoạt tính sinh học cao và có nhiều ứng dụng trong thực tế Việc sản xuất
chitosan tương đối đơn giản, không cần dung môi, hóa chất độc hại, đắt tiền Chitosan thu
được bằng phản ứng deacetyl hóa chitin, biến đổi nhóm N-acety thành nhóm amin ở vị trí
C2
Do quá trình khử acetyi xảy ra không hoàn toàn nên người ta qui ước nếu độ
deacetyl hóa (degree of deacetylation) DD > 50% thì gọi là chitosan, nếu DD < 50% gọi là
chitin ( fereidoon shahidi Chitin, chitosan, and co-products: chemistry, production,
application, and heath effects 2005 Memorial University of Newfoundland)
Chitosan có cấu trúc tuyến tính từ các đơn vị 2-amino-2-deoxy-β-D-glucosamine
liên kết với nhau bằng liên kết β-(1-4) glucozit
Trang 30Trang 13
Hình 1.3 Cấu trúc hóa học của chitin và chitosan
Công thức cấu tạo của chitosan
Tên gọi khoa học: Poly(1-4)-2-amino-2-deoxy-β-D-glucose;
poly(1-4)-2-amino-2-deoxy-β-D-glucopyranose
Công thức phân tử: (C6H11O4)n
Phân tử lượng: MChitosan = (161,07)n
Qua cấu trúc của chitin và chitosan ta thấy chitin chỉ có một nhóm chức hoạt động
là –OH (H ở nhóm hydroxyl bậc 1 linh động hơn H ở nhóm hydroxyl bậc 2 trong vòng 6
cạnh) còn chitosan có 2 nhóm chức hoạt động là –OH, -NH2, do đó chitosan dễ dàng tham
gia phản ứng hóa học hơn chitin Trong thực tế các mạch chitin – chitosan đan xen nhau, vì
vậy tạo ra nhiều sản phẩm đồng thời, việc tách và phân tích chúng rất phức tạp
2.2.2 Tính chất lý hóa của chitosan
Chitosan có màu trắng ngà hoặc vàng nhạt, tồn tại dạng bột hoặc dạng vảy, không
mùi, không vị, nhiệt độ nóng chảy 309-3110C và có thể dễ dàng bị phân hủy bởi lysozymes
hoặc chitinases (Aiba, 1992; Hirano et al 1988)
Chitosan có tính kiềm nhẹ, không tan trong nước, trong kiềm nhưng hòa tan được
trong dung dịch acid hữu cơ loãng như: acid acetic, acid fomic, acid lactic…, tạo thành
dung dịch keo trong suốt Chitosan có thể tan trong acid acetic có nồng độ từ 1–1.5% Độ
Trang 31Trang 14
nhớt của chitosan trong dung dịch acid loãng liên quan đến kích thước và khối lượng phân
tử trung bình của chitosan
2.2.3 Tính chất sinh học của chitosan
- Chitosan không độc, dùng an toàn cho người Chúng có tính hoà hợp sinh học cao
với cơ thể, có khả năng tự phân huỷ sinh học
- Chitosan có nhiều tác dụng sinh học đa dạng như: tính kháng nấm, tính kháng
khuẩn với nhiều chủng loại khác nhau, kích thích sự phát triển tăng sinh của tế bào, có khả
năng nuôi dưỡng tế bào trong điều kiện nghèo dinh dưỡng, tác dụng cầm máu, chống sưng
u
- Ngoài ra, chitosan còn có tác dụng làm giảm cholesterol và lipid máu, hạ huyết
áp, điều trị thận mãn tính, chống rối loạn nội tiết
- Với khả năng thúc đẩy hoạt động của các peptid - insulin, kích thích việc tiết ra
insulin ở tuyến tụy nên chitosan đã được dùng để điều trị bệnh tiểu đường
- Nhiều công trình đã công bố khả năng kháng đột biến, kích thích làm tăng cường
hệ thống miễn dịch cơ thể, khôi phục bạch cầu, hạn chế sự phát triển các tế bào u, ung thư,
HIV/AIDS, chống tia tử ngoại, chống ngứa… của chitosan
2.2.4 Ứng dụng
Chitin không có công dụng gì đáng kể khi ở nguyên dạng vì tính tan kém, tuy
nhiên khi chuyển sang các dẫn xuất như: glucosamine và chitosan … lại được ứng dụng
rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể kể tới ứng dụng của nó trong một số lĩnh
vực chủ yếu như: có thể tạo màng mỏng để bảo quản các sản phẩm nông sản thực phẩm
trong nông nghiệp và trong ngành thực phẩm, dùng để sản xuất bao bì chống ẩm, dụng cụ
bảo hộ lao động trong ngành công nghiệp dệt, ngoài ra nó còn được ứng dụng trong các
ngành y học, mỹ phẩm …
3 Muối CaCl 2
Clorua canxi hay canxi clorua (CaCl2), là hợp chất ion của canxi và clo Chất này
tan nhiều trong nước Tại nhiệt độ phòng, nó là chất rắn Chất này có thể sản xuất từ đá vôi
nhưng đối với việc sản xuất sản lượng lớn thì người ta tạo nó như là một sản phẩm phụ của
công nghệ Solvay Do nó có tính hút ẩm cao, người ta phải chứa muối này trong các dụng
cụ đậy nắp kín
Trang 32Trang 15
3.1.Tính chất hóa học:
Clorua canxi có thể phục vụ như là nguồn cung cấp ion canxi trong dung dịch,
chẳng hạn để kết tủa do nhiều hợp chất của canxi là không hòa tan trong nước:
Như là một thành phần, nó được liệt kê như là phụ gia thực phẩm được phép sử
dụng tại Liên minh châu Âu để làm phụ gia cô lập và chất làm chắc với số E là E509 Dạng
khan đã được FDA phê chuẩn như là phụ gia hỗ trợ đóng gói để đảm bảo độ khô (CPG
7117.02)
Clorua canxi được sử dụng phổ biến như là chất điện giải và có vị cực mặn, được
tìm thấy trong các loại đồ uống dành cho những người tập luyện thể thao và các dạng đồ
uống khác, như Smartwater và nước đóng chai của Nestle Nó cũng có thể được sử dụng
như là phụ gia bảo quản để duy trì độ chắc trong rau quả đóng hộp hoặc ở hàm lượng cao
hơn trong các loại rau dưa muối để tạo ra vị mặn trong khi không làm tăng hàm lượng natri
của thực phẩm
Nó cũng có thể dùng để chế biến các đồ thay thế cho trứng cá muối từ nước hoa quả
hay bổ sung vào sữa đã chế biến để phục hồi sự cân bằng tự nhiên giữa canxi và protein
trong các mục đích sản xuất phó mát, như các dạng brie và stilton Tính chất tỏa nhiệt của
clorua canxi được khai thác trong nhiều loại thực phẩm 'tự tỏa nhiệt' trong đó nó được hoạt
hóa (trộn lẫn) với nước để bắt đầu quá trình sinh nhiệt, cung cấp một loại nhiên liệu khô,
không nổ, dễ dàng kích hoạt
Trong ủ bia (đặc biệt là ale và bia đắng), clorua canxi đôi khi được sử dụng để điều
chỉnh sự thiếu hụt chất khoáng trong nước ủ bia (canxi là đặc biệt quan trọng cho chức
năng của enzym trong quá trình ngâm, cho quá trình đông kết lại của protein trong hầm ủ
Trang 33Trang 16
và trao đổi chất của men bia) và bổ sung độ cứng vĩnh cửu nhất định cho nước Các ion
clorua gia tăng hương vị và tạo cảm giác ngọt và hương vị đầy đủ hơn, trong khi các ion
sulfat trong thạch cao, cũng được sử dụng để bổ sung ion canxi vào nước ủ bia, có xu
hướng tạo ra hương vị khô và mát hơn, với độ đắng cao hơn
Trong bảo quản trái cây Calci là thành phần xây dựng và làm vững chắc màng vách
tế bào thực vật, giúp duy trì cấu trúc và hình dạng tế bào Calci được sử dụng sau thu
hoạch để trì hoãn sự lão hóa hoặc sự chín, duy trì sự vững chắc, làm giảm những rối loạn
sinh lý học, để giảm tổn thất trước và sau thu hoạch (Buescher và Hobson, 1982; Poovaial,
1986; Conway et al , 1994; Mignani et al , 1993) Calci được hấp thu rất yếu từ cành và
không di chuyển từ lá đến trái nhưng lại là nguyên tố dinh dưỡng có thể được hấp thu trực
tiếp qua trái Điều này có thể thực hiện được bằng cách phun trước khi thu hoạch hoặc
nhúng sau thu hoạch làm chất lượng trái ít bị thay đổi trong quá trình bảo quản (Ferguson
et al , 1995; trích dẫn bởi Phan Thị Xuân Thủy, 2008; Conway et al , 2002) Nhúng trái
sau thu hoạch trong dung dịch clorua calci kết hợp với nhiệt cho phép tạo thành của nhóm
ion COO- từ hàm lượng pectin của trái hoăc rau củ với ion Ca2+ có thể tạo thành cầu nối
bằng muối (Stanley et al , 1995) Điều này làm cho vách tế bào trở nên cứng chắc hơn, hạn
chế mềm trái, giúp điều kiển được sự chín và tránh tổn thương (Conway và Sam, 1993)
Conway và Sam (1984) cũng đã chỉ ra rằng calci làm nâng cao sự phát triển của mô giúp
chống lại sự xâm nhập của nấm bằng sự vững chắc của vách tế bào
4 Một số phương pháp bảo quản trái cây
4.1 Bảo quản trong điều kiện thường
Phương pháp này chủ yếu bảo quản được rau quả trong thời gian ngắn Người ta
thường dùng kho có hệ thống thông gió Ở các vùng nông thôn Việt Nam không có điều
kiện xây dựng các kho chứa hiện đại mà chỉ bảo quản rau quả ở những nơi thoáng mát (có
không khí lưu thông) trong nhà hay kho chứa xây dựng thô sơ
4.2 Bảo quản lạnh
Tùy theo đặc tính của từng loại trái cây ở vùng nhiệt đới hay ôn đới mà có mức
nhiệt độ thích hợp, có thể có hoặc không có hiện tượng kiểm soát khí quyển Nhiệt độ
trong quá trình bảo quản lạnh được hạ xuống nhằm giảm sự mất dinh dưỡng, hạn chế vi
Trang 34Trang 17
sinh vật phát triển Tùy loại rau quả mà sử dụng chế độ bảo quản thường hay lạnh đông
Tuy nhiên, quá trình lạnh đông có thể làm thay đổi cấu trúc mô của tế bào rau quả khi rã
đông
4.2.1 Trữ nhiệt độ thấp
Tồn trữ lạnh là phương pháp tồn trữ vừa cổ nhất, vừa phổ biến nhất Nhiêt độ thấp làm đình trệ các hoạt động trao đổi chất của rau quả (quá trình hô hấp, sự tác động và sản
sinh khí ethylene), ức chế sự phát triển của vi sinh vật, côn trùng gây hư hỏng và giảm sự
mất nước tự nhiên của rau quả
Sự kéo dài thời gian bảo quản dưới nhiệt độ mát làm giảm tốc độ hô hấp và có thể làm giảm sự sản sinh ethylene Tuy nhiên, xoài là loại trái cây cận nhiệt đới, nó dễ dàng bị
tổn thương lạnh ở nhiệt độ thấp Wardlaw và Leonard, 1936 đã quan sát ở giống Julie và
Ceylon có thể được giữ ở 70C trong 3-4 tuần và chín bình thường Ram-Ayyar và Joshi,
1992 đã xem xét xoài xanh đã không chín một cách bình thường khi bảo quản ở 100
C trong
3 tuần, trong khi đó trái chín và trái chín bình thường lần lượt giữ được 3 và 6 tuần
Chaplin et al., 1991 cũng đã thông báo trái được bảo quản 3 tuần ở 50C hoặc 1 tuần ở 10C
mà không chín bình thường Do đó, Akamine, 1963 đã đề nghị rằng xoài chín có thể bảo
quản ở 7,20C trong khi đó xoài chưa chín không nên bảo quản ở nhiệt độ thấp hơn 100
C
Theo vamayor, 1972 bảo quản ở khoảng thời gian lần lượt 18 – 21 ngày và 23 – 26 ngày
cho xoài Carabao chín sinh lý và xoài Pico ở 100C Seymour et al., 1990 trong nghiên cứu
về sự ảnh hưởng của độ chín sinh lý trong các giống xoài khác nhau, bảo quản xoài ở 120C
và sau đó chúng chín Sự chín được làm chậm lại do ảnh hưởng của không chín thuần thục
nhiều hơn là chín thuần thục ở xoài Amelie và Kent, nhưng ngược lại xoài Sensation đã
chín nhanh trong khi bảo quản, bất kể độ chín sinh lý của trái xoài khi thu hoạch
Medlicott, 1990 đã nhận thấy xoài chưa đạt độ chín sinh lý có khả năng chịu đựng mạnh
hơn bảo quản ở 120
C so với trái được thu hoạch ở gia đoạn chín sinh lý Tuy nhiên, trong suốt quá trình chín ở 250C, trái chưa chín sinh lý phát triển không đầy đủ sự chín bình
thường trong khi trái chín sinh lý và chín sinh lý một nữa thì chín rất tốt Mặc dù, chất
lượng trái sút kém, sự gia tăng của bệnh thán thư chưa đầy đủ khi trái bảo quản ở 100
C (Kapse, B M., D.C Warke, và V.R Chakrawar., 1979) Menchu et al., 1975 đã bảo quản
các giống xoài Tomy Atkins, Zill, Haden, và Mamey ở 120C lần lượt 33, 28, 21, và 15
ngày Vazquez-Salinas và Lakshminarayana, 1985 đã quan sát sự phát triển của carotene ở
Trang 35Trang 18
16 – 200C chậm hơn là ở 20 - 280C, trong nhiều giống xoài khác nhau ở Florida được đề
nghị bảo quản ở 20 - 220C và độ ẩm 85 – 90% và quá trình chín của nó đạt chất lượng chấp
nhận được
Theo Thomas và Joshi 1988, ở điều kiện nhiệt độ hay sự thích nghi lạnh của xoài khi kéo dài thời gian bảo quản ở nhiệt độ thấp Trái trước đỉnh hô hấp thích nghi ở 100C,
chịu đựng nhiệt độ bảo quản 100C dài hơn và phát triển tốt hơn ở màu thịt và chất lượng
cảm quan khi chín Trái chín ở 27 - 340C sau khi bảo quản ở 5, 10 hay 150C phát triển tổn
thương lạnh
4.2.2.Tổn thương lạnh
Thời gian bảo quản của nhiều loại rau quả được kéo dài hơn khi bảo quản ở nhiệt
độ thấp Tổn thương lạnh là vấn đề chủ yếu gặp phải khi bảo quản sau thu hoạch đối với
trái cây nhiệt đới Theo Azar Tasneem, 2004 xoài bị tổn thương lạnh khi nhiệt độ bảo quản
dưới 120
C
Tổn thương lạnh là một rối loạn được quan sát trong một thời gian dài trên màng
tế bào thực vật, đặc biệt là đối với trái nhiệt đới và cận nhiệt Đó là kết quả từ các dạng
nhạy cảm của màng khi nhiệt độ nhỏ hơn 150C, mặc dù nhiệt độ tới hạn để xuất hiện các
triệu chứng tổn thương lạnh là kết quả biến đổi khác nhau của sản phẩm Các triệu chứng
của tổn thương lạnh là vết lõm bề mặt, sự đổi màu, hỏng từ bên trong, thối quả,…
Xoài được xem là loại trái cây có đỉnh hô hấp và chúng chín nhanh sau thu hoạch
Trong bảo quản tiềm năng xử lý và vận chuyển của trái cây bị hạn chế bởi tính nhạy cảm
của các bệnh, nhạy cảm khi nhiệt độ bảo quản dưới 120C và dễ hỏng do trái chín và mềm
(Acosta et al., 2000) Việc kết hợp giữa nhiệt độ bảo quản và thời gian bảo quản được xem
xét như một nhân tố quan trọng dẫn đến tổn thương gây ra các biến đổi vật lý và các quá
trình chuyển hóa khác thường trong tế bào của trái Sự hoạt động khác thường đó dẫn đến
các rối loạn khác nhau có thể nhìn thấy được bằng mắt thường đã được đánh giá bằng nhiệt
độ tổn thương lạnh qua những kinh nghiệm của trái cây ( Walker et al., 1990) Trong xoài,
phần lớn các hư hỏng bên ngoài vỏ là các vết bỏng biến màu sang màu tối, bắt đầu từ xung
quanh lỗ khí, sau đó lan ra bên ngoài tạo ra nhiều hoặc ít các tổn thương hình tròn vết lõm
trên vỏ trái, xuất hiện có mùi vị lạ, thịt quả đổi màu làm chất lượng toàn bộ quả giảm
Trang 36Trang 19
Tổn thương lạnh là một hiện tượng khác với cháy lạnh, cháy lạnh là sự đóng băng của màng và hình thành các tinh thể đá ở nhiệt độ dưới nhiệt độ đóng băng Một khác biệt
rõ ràng có thể là do nguyên nhân giữa tổn thương lạnh và cháy lạnh Tổn thương lạnh là do
sự nhảy cảm của trái cây Tổn thương lạnh không giống với cháy lạnh, nó là kết quả của
việc hư hỏng do sự khử nước của tế bào theo đóng băng của nước ngoại bào và hư hại do
các tinh thể đá phát triển Cháy lạnh chỉ xảy ra khi rau quả được giữa ở nhiệt độ thấp dưới
điểm đóng băng của chúng Điểm nhiệt độ an toàn tối thiểu cho những mặt hàng dễ bị
thương do tổn thương sẽ được để trên điểm đóng băng của chúng Nhiệt độ quyết định khi
triệu chứng tổn thương lạnh phát triển phụ thuộc vào những nhân tố di truyền, chẳng hạn
như loại tế bào, sự phát triển gần nhất và điều kiện vật lý Điểm đóng băng của xoài là
-1,40C (Kader, 2002) như nhiệt độ bảo quản dưới 120C được xem là không an toàn (Mitra
and BaldWin, 1997) Do đó, thường bảo quản ở thời gian ngắn, nhưng nhiệt độ thấp được
sử dụng để làm chậm sự hư hỏng và mầm bệnh
Triệu chứng tổn thương lạnh phụ thuộc vào tùy từng loài, loại mô và thời gian bảo quản Triệu chứng thường phát triển mạnh khi sản phẩm được đưa trở lại nhiệt độ không
tổn thương Qui mô của hư hại do tổn thương lạnh có số lượng lớn và phạm vi hay nhiệt độ
hư hại ảnh hưởng đến chất lượng và định lượng sơ bộ được đánh giá kiểm tra bằng mắt
Các triệu chứng tổn thương lạnh không chỉ do bảo quản trái cây ở nhiệt độ thấp mà còn
phụ thuộc vào độ chín thu hoạch của trái và khoảng thời gian hoạt động của trái ở nhiệt độ
thấp và bao bì khi bảo quản ở nhiệt độ thấp (Medlicott et al., 1990) Xử lý nhiệt trong một
khoảng thời gian ngắn ở 380C có ảnh hưởng trong việc làm tổn thương lạnh ở các loại trái
khác nhau bao gồm cà chua (Lurie and Klein, 1991) và bơ (Sanxter et, al., 1994) Xử lý
nhiệt như dùng nước nóng cũng làm giảm các triệu chứng tổn thương lạnh ở xoài mặc dù
chúng thất bại trong việc làm chậm quá trình chín (McCollum et al., 1993)
Nhiệt độ tổn thương lạnh gây ra các thay đổi khác nhau về cấu trúc trong màng tế bào và phá vỡ một số quá trình chuyển hóa Nhưng nếu để ở nhiệt độ cao hơn nhiệt độ gây
ra tổn thương lạnh thì điều này sẽ không xảy ra Những tổn thương thứ yếu xuất hiện như
là hậu quả của tổn thương ban đầu, nhưng không giống các tổn thương ban đầu, tổn thương
thứ yếu có không thuận nghịch và do đó chúng dẫn đến các hư hại vĩnh viễn hay chết bất
kể các xử lý về sau của sản phẩm Phân tích nguồn gốc của tổn thương lạnh là một thách
thức bởi sự đa dạng của quá trình chế biến và cơ chế
Trang 37Trang 20
4.3 Bảo quản trong môi trường điều chỉnh thành phần khí
4.3.1 Bảo quản CA (Controled Atmosphere):
Phương pháp này đòi hỏi một phòng lạnh với một van mở để theo dõi nồng độ CO2
và O2, một bộ phận lọc khí CO2 và O2 Có thể tạo được điều kiện CA bằng cánh lọc khí N2
từ nitơ lỏng hoặc từ thiết bị tách nitơ, dùng không khí đã được rút bớt khí O2, có thể làm
tăng nồng độ CO2 bằng cách bổ sung CO2, thêm nước đá khô Phương pháp này chất lượng
rau quả cao và cần thiết bị đắt tiền
4.3.2 Bảo quản MA (Modified Atmosphere):
Hệ thống MA rẻ, đơn giản hơn CA, thích hợp đối với lượng sản phẩm nhỏ và có
thể áp dụng trong quá trình tồn trữ, vận chuyển và trưng bày ở siêu thị Trong phương pháp
này rau quả được giữ bên trong những loại màng mỏng nhưng rất phổ biến là đóng gói
bằng kỹ thuật MPA (Modified Atmosphere Packaging) Hiệu quả của phương pháp MA
phụ thuộc vào rau quả, giống, độ chín sinh lý, thành phần khí, nhiệt độ tồn trữ và thời gian
muốn tồn trữ
4.4 Bảo quản bằng phương pháp hóa học
Một số loại hóa chất có thể kéo dài thời gian bảo quản ngay cả ở nhiệt độ thường
Ngoài ra, các loại thuốc phòng trừ nấm bệnh có thể kết hợp sử dụng với bảo quản lạnh để
phòng trị các bệnh sau thu hoạch làm tăng hiệu quả bảo quản Trong phương pháp này
người ta sử dụng các loại thuốc diệt vi sinh vật như thuốc diệt nấm (Benomyl, Topsin-M,
Carbendazim, SO2, H2SO4 ), thuốc diệt khuẩn (Flumequine), thuốc diệt côn trùng
(Bromur mythyl), chất kiềm hãm sự chín (2,4D, GA3)
4.5 Bảo quản bằng phương pháp vật lý
Phương pháp này không để lại dư lượng thuốc trong rau quả và tác động lên vi
sinh vật theo chiều hướng mong muốn
4.5.1 Kỹ thuật xử lý nhiệt
Kỹ thuật xử lý nhiệt đang ngày càng được áp dụng rộng rãi do nó có khả năng ức chế sự phát triển của nấm bệnh Tác nhân nhiệt có thể là nước nóng, không khí nóng hay
hơi nước nóng Phương pháp này được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong việc xử lý trái
cây sau thu hoạch nhằm thay thế biện pháp xử lý hóa học vì nó có khả năng ức chế sự phát