1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp tài nguyên nước lưu vực sông ba

204 854 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp tài nguyên nước lưu vực sông Ba
Tác giả Huỳnh Thị Lan Hương
Trường học Viện Khoa Học Khí Tượng Thủy Văn Và Môi Trường
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên nước và môi trường
Thể loại đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 204
Dung lượng 6,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lưu vực sông Ba là một lưu vực sông lớn ở nước ta, có vị trí địa lý đặc biệt, đa dạng và phong phú về tài nguyên cũng như về lịch sử phát triển KT - XH của các tỉnh nằm trên lưu vực.. Do

Trang 1

VIỆN KHOA HỌC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG BA

CNĐT: HUỲNH THỊ LAN HƯƠNG

8358

HÀ NỘI – 2009

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC ii 

MỤC LỤC BẢNG BIỂU iii 

MỤC LỤC HÌNH VẼ v 

MỞ ĐẦU 2 

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 6 

1.1.  Mâu thuẫn tranh chấp tài nguyên nước 6 

1.2.  Giải quyết mâu thuẫn tài nguyên nước trên thế giới 8 

1.3.  Giải quyết mâu thuẫn tài nguyên nước ở Việt Nam 12 

CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LƯU VỰC SÔNG BA 16 

2.1.  Vị trí địa lý 16 

2.2.  Đặc điểm địa hình 16 

2.3.  Đặc điểm thổ nhưỡng 20 

2.4.  Thảm phủ thực vật 22 

2.5.  Đặc điểm khí hậu 23 

2.6.  Đặc điểm thủy văn 27 

2.7.  Đặc điểm hải văn 29 

CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG BA 31 

3.1.  Đánh giá hiện trạng tài nguyên nước 31 

3.2.  Đánh giá sự biến động của tài nguyên nước 35 

3.3.  Tình hình khai thác sử dụng nguồn nước trên lưu vực sông Ba 41 

CHƯƠNG 4 ĐÁNH GIÁ MÂU THUẪN TRONG SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG BA 46 

4.1.  Mức bảo đảm nước mặt trong tỉnh và các vùng 46 

4.2.  Nhu cầu dùng nước trong lưu vực sông Ba 51 

4.3.  Tính toán cân bằng nước – kịch bản hiện trạng 55 

4.4.  Tính toán cân bằng nước – kịch bản tương lai 70 

4.5.  Những mâu thuẫn có thể xảy ra trong sử dụng tài nguyên nước lưu vực sông Ba.79  4.6.  Cơ chế giải quyết tranh chấp tài nguyên nước trên lưu vực sông Ba 89 

CHƯƠNG 5 HỆ THỐNG HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG BA 91 

5.1.  Tổng quan về hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp 91 

5.2.  Hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước 99 

5.3.  Sử dụng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp cho các loại hình mâu thuẫn trong sử dụng tài nguyên nước lưu vực sông Ba 109 

KẾT LUẬN 123 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 125 

Trang 3

MỤC LỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 1 Thống kê số lượng lưu vực sông xuyên biên giới 6

Bảng 2 1 Lưới trạm khí tượng và đo mưa lưu vực sông Ba và vùng lận cận 23

Bảng 2 2 Lượng bức xạ tổng cộng (kcal/cm2) 23

Bảng 2 3 Số giờ nắng trung bình tháng và năm (giờ) 24

Bảng 2 4 Nhiệt độ trung bình tháng và năm (oC) 24

Bảng 2 5 Lượng mưa trung bình tháng và năm (mm) 25

Bảng 2 6 Đặc trưng hình thái lưu vực sông Ba 28

Bảng 3 1 Lượng mưa bình quân nhiều năm các trạm lưu vực sông Ba (1977-2006) 31

Bảng 3 2 Tần suất lượng mưa năm các trạm 31

Bảng 3 3 Nguồn nước các sông trong lưu vực 33

Bảng 3 4 Kết quả tính tần suất dòng chảy năm tại các trạm lưu vực sông Ba 33

Bảng 3 7 Lượng mưa tháng, năm bình quân nhiều năm các khu vực trong và lân cận lưu vực sông Ba 36

Bảng 3 8 Thời gian xuất hiện đỉnh lũ lớn nhất tại các trạm thủy văn 39

Bảng 3 9 Đỉnh lũ lớn nhất đã quan trắc được tại các trạm thủy văn trong lưu vực 40

Bảng 3 10 Tổng lượng lũ lớn nhất thời đoạn tại các vị trí 40

Bảng 3 11 Dòng chảy kiệt đo tại các trạm đo thủy văn lưu vực sông Ba 41

Bảng 3 12 Hiện trạng công trình thủy lợi lưu vực sông Ba 42

Bảng 4 1 Mức bảo đảm nguồn nước mặt trong các tỉnh thuộc lưu vực sông Ba 50

Bảng 4 2 Mức bảo đảm nguồn nước mặt trong các vùng tính cân bằng nước thuộc lưu vực sông Ba 50

Bảng 4.3: Tiêu chuẩn dùng nước cho sinh hoạt dân sinh (l/người/ngày.đêm) 52

Bảng 4 4 Tiêu chuẩn cấp nước cho nuôi trồng thủy sản nước ngọt 53

Bảng 4 5 Tiêu chuẩn cấp nước cho nuôi trồng thủy sản nước lợ 53

Bảng 4 6a Lượng nước cần dùng trong các vùng 54

Bảng 4 7 Các nút tưới trong kịch bản hiện trạng 60

Bảng 4 8 Thông số của các hồ chứa và nhà máy thủy điện - Kịch bản hiện trạng 62

Bảng 4 9 Kết quả đánh giá dòng chảy mô phỏng và thực đo giai đoạn 1980-1999 63

Bảng 4 10 Kết quả tính cân bằng nước tại các nút tưới giai đoạn 1980-1999 Kịch bản hiện trạng 64

Bảng 4 11 Kết quả đánh giá dòng chảy mô phỏng và thực đo giai đoạn 2000-2005 65

Bảng 4 12 Kết quả tính cân bằng nước tại các nút tưới giai đoạn 2000-2005- Kịch bản hiện trạng 66

Bảng 4 13 Kết quả tính cân bằng nước tại các nút thủy điện giai đoạn 2000-2005 Kịch bản hiện trạng 67

Bảng 4 14 Kết quả tính toán cân bằng nước sơ bộ cho các vùng – Kịch bản hiện trạng 68

Bảng 4 15 Các nút tưới trong kịch bản tương lai 72

Bảng 4 16 Thông số của các hồ chứa và nhà máy thủy điện - Kịch bản tương lai 73

Bảng 4 17 Kết quả tính cân bằng nước tại các nút tưới - Kịch bản tương lai 75

Trang 4

Bảng 4 18 Kết quả tính cân bằng nước tại các nút cung cấp nước sinh hoạt, chăn nuôi,

công nghiệp, thủy sản - Kịch bản tương lai 76

Bảng 4 19 Kết quả tính cân bằng nước tại các nút thủy điện - Kịch bản tương lai 76

Bảng 4 20 Kết quả tính toán cân bằng nước sơ bộ cho các vùng - kịch bản giai đoạn năm 2020 77

Bảng 4 21 Kết quả tính cân bằng nước cho các khu tưới 80

Bảng 4 22 Lưu lượng trung bình trong các tháng mùa cạn năm 1998 tại một số vị trí trên sông Ba được tính toán theo mô hình MIKE BASIN (trong giai đoạn hiện tại, năm 2005) 81

Bảng 4 23 Lưu lượng trung bình trong các tháng mùa cạn năm 1998 tại một số vị trí trên sông Ba được tính toán theo mô hình MIKE BASIN (trong giai đoạn từ sau năm 2010 có hồ Kanăk - An Khê và Ba Hạ) 82

Bảng 4 24 Kết quả tính toán cân bằng nước năm 2020 trong các tiểu vùng 83

Bảng 4 25 Đặc trưng các thông số kỹ thuật của các công trình thuỷ điện trên dòng chính sông Ba 88

Bảng 4 26 Lượng nước cần trả lại sông Ba (hạ lưu đập An Khê) 88

Bảng 5 1 Các chức năng khác nhau và những người dùng được phép can thiệp 101

Bảng 5 2 Chi tiết các phương án 108

Bảng 5 4 Nhu cầu sử dụng nước của các bên liên quan 110

Bảng 5 5 Kết quả tính toán độ thiếu hụt trong cấp nước của các phương án 115

Bảng 5 6 Kết quả tính cân bằng nước tại các nút thủy điện giai đoạn 2000 - 2005 117

Bảng 5 7 Nhu cầu sử dụng nước của các bên liên quan 117 

Trang 5

MỤC LỤC HÌNH VẼ

Hình 2 1 Bản đồ hành chính và mạng lưới sông suối lưu vực sông Ba 17

Hình 3 1 Bản đồ lượng mưa bình quân nhiều năm lưu vực sông Ba 32

Hình 3 2 Bản đồ module dòng chảy năm lưu vực sông Ba 34

Hình 3 3 Bản đồ các công trình thủy lợi trên lưu vực sông Ba 44

Hình 4 1: Bản đồ phân vùng lưu vực sông Ba 48

Hình 4 2 Sơ đồ tính trong MIKEBASIN giai đoạn 1980-1999 - Kịch bản hiện trạng 56

Hình 4 3 Sơ đồ hệ thống giai đoạn 1980 - 1999 - Kịch bản hiện trạng 57

Hình 4 4 Sơ đồ tính trong MIKEBASIN giai đoạn 2000-2005 - Kịch bản hiện trạng 58

Hình 4 5 Sơ đồ hệ thống giai đoạn 2000-2005 - Kịch bản hiện trạng 59

Hình 4 6 Các lưu vực con được phân chia trên lưu vực sông Ba 61

Hình 4 7 Dòng chảy thực đo và tính toán trạm Củng Sơn giai đoạn 1980-1999 63

Hình 4 8 Dòng chảy thực đo và tính toán trạm Củng Sơn giai đoạn 2000-2005 65

Hình 4 9 Sơ đồ tính trong MIKEBASIN - Kịch bản tương lai 70

Hình 4 10 Sơ đồ tính hệ thống - Kịch bản tương lai 71

Hình 5 1 Mặt cắt ngang của hồ chứa 95

Hình 5 2 Màn hình khởi động hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp 99

Hình 5 3 Màn hình các chức năng người điều khiển có thể can thiệp 100

Hình 5 4 Màn hình “Sửa đặc điểm hồ chứa” 102

Hình 5 5 Màn hình “Sửa các tham số” 102

Hình 5 6 Màn hình biểu diễn đồ thị lưu lượng dòng chảy đến theo tháng 103

Hình 5 7 Màn hình cho phép sửa đổi dòng chảy vào hồ 103

Hình 5 8 Màn hình cho phép sửa đổi nhu cầu sử dụng nước cho 1 đơn vị diện tích tưới 104 Hình 5 9 Đồ thị biểu thị nhu cầu sử dụng nước hàng tháng của các hộ sử dụng 105

Hình 5 10 Đồ thị biểu thị so sánh giữa cung và cầu cho một hộ sử dụng 105

Hình 5 11 Đồ thị biểu thị so sánh lượng thiếu hụt giữa hai hộ sử dụng 106

Hình 5 12 Đồ thị biểu thị cao trình mực nước hồ từng thời đoạn 106

Hình 5 13 Đồ thị biểu thị lượng nước trữ trong hồ từng thời đoạn 107

Hình 5 14 Đồ thị biểu thị lưu lượng cấp cho môi trường sinh thái 107

Hình 5 15 Kết quả mô phỏng của các phương án 108

Hình 5 16 Kết quả lựa chọn phương án có lợi 109

Hình 5 17 Bảng giới thiệu của các bên liên quan 110

Hình 5 18 Biểu đồ nhu cầu sử dụng nước của các bên 111

Hình 5 19 Biểu đồ lưu lượng dòng chảy đến 111

Hình 5 20 Kết quả mô phỏng thiếu hụt – Phương án 1 112

Hình 5 21 Nhu cầu sử dụng nước năm 2020 113

Hình 5 22 Thiếu hụt nước - phương án nhu cầu sử dụng năm 2020 - phương án 1 113

Hình 5 23 Thiếu hụt nước - phương án nhu cầu sử dụng năm 2020 - phương án 2 114

Hình 5 24 Thiếu hụt nước - phương án nhu cầu sử dụng năm 2020 - phương án 3 115

Hình 5 25 Kết quả lựa chọn phương án có lợi nhất - Mâu thuẫn dạng 1 116

Hình 5 26 Màn hình đăng nhập kiểu tranh chấp 2 117

Hình 5 27 Biểu đồ nhu cầu sử dụng nước của các nhóm 118

Hình 5 28 Các tham số của hệ thống 118

Hình 5 29 Lượng nước chảy vào hồ chứa theo tháng 119

Trang 6

Hình 5 30 So sánh giữa cung và cầu cho tưới 119

Hình 5 31 So sánh giữa cung và cầu cho thủy điện 120

Hình 5 32 Sửa nhu cầu cho thủy điện 120

Hình 5 33 Sửa nhu cầu cho thủy điện 121

Hình 5 34 Lựa chọn phương án có lợi nhất - Mâu thuẫn dạng 2 122

Trang 7

MỞ ĐẦU

Nước là một nguồn tài nguyên cần thiết cho sự sống và sức khoẻ của con người và

là một phần quan trọng của hệ sinh thái Ở hầu hết các vùng trên thế giới, việc cấp nước

đang trở nên ngày càng khó khăn do sự gia tăng nhu cầu sử dụng nước cho các mục đích

như công nghiệp, sự phát triển của đô thị hoá và gia tăng dân số

Nước phân bố trên thế giới rất không đồng đều theo không gian và thời gian Có

những vùng có lượng nước ngọt dồi dào, tuy nhiên có những vùng đang phải đối mặt với

sự khan hiếm nước ngọt Hơn nữa, nguồn nước ngọt trên thế giới lại không được phân

phối theo các phạm vi quốc gia Có khoảng 261 lưu vực sông trên thế giới chảy qua 2 hay

nhiều hơn quốc gia Chính vì vậy, sự thiếu hụt và phân phối không đều về nguồn nước có

thể tạo ra các mâu thuẫn về nước ở các cấp độ địa phương, vùng hay thậm chí ở cấp độ

quốc tế

Bên cạnh đó, sức ép gia tăng dân số và phát triển kinh tế sẽ tiếp tục làm gia tăng

ảnh hưởng đến môi trường và đặc biệt là gia tăng khan hiếm nguồn nước Trong một hệ

thống tài nguyên nước, việc tăng cường khan hiếm nguồn nước sẽ dẫn đến mâu thuẫn về

chia sẻ nguồn nước Từ đó có thể nhận thấy: cần sớm lập quy hoạch quản lý tổng hợp tài

nguyên và môi trường lưu vực sông, xây dựng chiến lược và chính sách sử dụng hợp lý tài

nguyên nước Tuy nhiên, không giống như các nguồn tài nguyên khác, nước được sử dụng

để làm năng lượng để phát triển cho tất cả các khía cạnh của xã hội Do đó, không thể

quản lý tài nguyên nước theo cách xem xét một mục tiêu đơn lẻ mà phải xét theo các mục

tiêu tổng hợp và phải dựa trên các lợi ích của các ngành Trong một quốc gia, các lợi ích

này bao gồm các lợi ích công cộng, các cộng đồng dân cư, các nhà sản xuất năng lượng và

các nhà môi trường Chính vì vậy, quá trình giải quyết tranh chấp về nước đã được nghiên

cứu bởi nhiều chuyên gia như: luật, kinh tế, chính sách, địa lý học, và các lý thuyết về

hệ thống Các hướng tiếp cận truyền thống như: hệ thống luật pháp, các hội đồng ở cấp

quốc gia thường đưa ra các giải pháp mà trong đó ngành này sẽ đạt lợi ích của ngành khác

Ở Việt Nam hiện nay, quản lý tài nguyên nước hiệu quả là vấn đề rất quan trọng

trong việc đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững Đến nay, nhiều công việc xây

dựng phương pháp tiếp cận quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở Việt Nam đã được thực

hiện theo các nguyên tắc: hiệu quả về kinh tế, bền vững về môi trường và công bằng xã

hội Các công việc tiếp theo cần thực hiện là xác định các thủ tục và hướng dẫn có thể áp

dụng nhằm hỗ trợ việc ra quyết định phân bổ và quản lý nguồn nước ở cấp lưu vực sông

hoặc tiểu lưu vực Tuy nhiên, rất cần có những công cụ mang tính khoa học cao để hỗ trợ,

giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng quan về các phương án phân bổ nguồn nước, từ đó

ra các quyết định đúng đắn và chính xác

Nhìn chung, nguồn tài nguyên nước là có hạn, tuy nhiên nhu cầu phát triển kinh tế

xã hội ngày càng cao dẫn tới nhu cầu về nước cũng ngày càng gia tăng, điều này dẫn đến

nảy sinh mâu thuẫn trong khai thác sử dụng tài nguyên nước Các mâu thuẫn này là khác

nhau đối với từng lưu vực sông Chính vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng Hệ thống hỗ trợ

giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước mang ý nghĩa thực tiễn to lớn Đây sẽ là một

công cụ hỗ trợ kỹ thuật đắc lực giúp cho các nhà xây dựng chính sách có được một cái

Trang 8

nhìn tổng quát về các mâu thuẫn có thể xảy ra trong quá trình phân bổ nguồn nước, dựa

trên sự phân tích kết quả tối ưu của các phương án phân bổ nước trên lưu vực để xây dựng

kế hoạch phân bổ và quản lý nguồn nước hiệu quả

Lưu vực sông Ba là một lưu vực sông lớn ở nước ta, có vị trí địa lý đặc biệt, đa

dạng và phong phú về tài nguyên cũng như về lịch sử phát triển KT - XH của các tỉnh nằm

trên lưu vực Lưu vực sông Ba thuộc địa phận của 3 tỉnh: Gia Lai, Đắc Lắc và Phú Yên

Lưu vực có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của

cả nước Lưu vực có dạng gần như chữ L, với tổng diện tích tự nhiên khoảng 13.900 km2,

dân số tính đến năm 2004 là 1.366.582 người Hiện trạng và diễn biến tài nguyên, môi

trường trên lưu vực sông Ba mang nét đặc trưng của một vùng kinh tế đang bước vào thời

kỳ phát triển với những chuyển dịch rõ rệt Áp lực của các hoạt động phát triển kinh tế -

xã hội trong khu vực đã tác động mạnh mẽ đến tài nguyên thiên nhiên, trong đó có tài

nguyên nước Lưu vực có lượng mưa và dòng chảy không phong phú, thuộc loại trung

bình so với cả nước Do đó, trong lưu vực sông Ba đã nảy sinh các mâu thuẫn về sử dụng

tài nguyên nước giữa các ngành, các hộ, các địa phương v.v… dùng nước

Trong lĩnh vực quy hoạch, trên lưu vực sông Ba đã có các quy hoạch thủy lợi, thủy

điện được xây dựng trong những thời gian trước đây, tuy nhiên chúng đều là quy hoạch

đơn ngành nên chưa đảm bảo đầy đủ yêu cầu về mặt tổng hợp Qua xem xét có thể chỉ ra

là mặc dù trong các quy hoạch đó đều có nói đến từ “sử dụng tổng hợp nguồn nước”

nhưng cách giải quyết các công trình quy hoạch vẫn mang tính đơn ngành, trong đó chỉ

chú trọng đến dùng nước của ngành mình và một điểm tìm thấy nữa là không có quy

hoạch nào đưa ra được chiến lược và các chính sách về quản lý tổng hợp tài nguyên nước

cũng như các giải pháp cần thiết để thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước đối với

lưu vực sông

Trong quy hoạch thủy điện năm 2002, ngành Điện đã đề xuất một hệ thống công

trình thủy điện bậc thang trên sông Ba, bao gồm 4 công trình thủy điện trên dòng chính:

(An Khê - Kanak, sông Ba Thượng, sông Ba Hạ) và 7 công trình thủy điện trên dòng

nhánh (Sông Hinh, EaKrong Hnăng, AYun thượng 1, AYun thượng 2, Daksrong, H’Chan,

H’Mun) Do đây là quy hoạch đơn ngành do ngành Điện lập mà không có sự phối hợp với

các ngành khác, nên quy hoạch này mới chú trọng hiệu quả phát điện của các công trình

mà chưa quan tâm đầy đủ tới nước cho hệ sinh thái cũng như sử dụng nước của các ngành

khác ở hạ lưu Mặt khác, công trình An Khê còn có nhiệm vụ chuyển nước từ sông Ba

sang sông Côn nhằm giải quyết vấn đề thiếu nước trầm trọng trên lưu vực sông Côn, tuy

nhiên điều này cũng dẫn đến việc thiếu nước xảy ra trên sông Ba Tương tự như vậy, các

hồ chứa phục vụ tưới hầu hết cũng được thiết kế cho phép lấy hết dòng chảy cơ bản của

sông trong mùa kiệt để tưới nên tạo nên tình trạng khô cạn nước cho đoạn sông hạ lưu đập

trong các tháng mùa khô

Phương thức khai thác sử dụng nguồn nước trên lưu vực sông Ba hiện tại cũng còn

tồn tại những điều bất cập và những biểu hiện chưa bền vững Để lấy nước tưới con người

đã sử dụng quá nhiều các đập dâng nhỏ ở trung và thượng lưu, việc xây dựng các đập

dâng lớn như đập Đồng Cam ở hạ lưu nhưng không có hồ điều tiết dòng chảy ở thượng

nguồn, là những bất cập và những biểu hiện chưa bền vững trong phương thức khai thác

Trang 9

nguồn nước đang bị cạn kiệt và hệ sinh thái đã bị suy thoái tương đối nghiêm trọng Đã

xuất hiện những thời gian trong mùa kiệt nguồn nước tự nhiên đến thượng lưu đập Đồng

Cam không đủ cho lấy nước của đập khiến cho mực nước thượng lưu đập thấp hơn

ngưỡng tràn Đoạn sông khu vực hạ lưu đập ra đến biển không còn nước, lòng sông rộng

từ 1 - 2 km nhưng gần như khô cạn và nổi lên toàn là cồn cát trắng

Mặt khác, sông Ba hiện nay chưa có tổ chức quản lý lưu vực sông nên chưa có cơ

quan nào chịu trách nhiệm quản lý và điều phối việc sử dụng nước trên phạm vi toàn lưu

vực Trên lưu vực cũng chưa có nghiên cứu và bất kỳ một quy định nào về phân bổ nguồn

nước sử dụng cho các ngành, nên các ngành tự tiến hành quy hoạch và xây dựng công

trình khai thác sử dụng nước theo ý mình Nước cho hệ sinh thái và duy trì các giá trị môi

trường của dòng sông thì chưa có ngành nào quan tâm tới Từ đó có thể nhận thấy: cần

sớm lập quy hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường lưu vực sông Ba, trước mắt

cần xây dựng chiến lược và chính sách sử dụng hợp lý tài nguyên, nhất là tài nguyên nước

Tóm lại, Tài nguyên nước nói chung và tài nguyên nước trên lưu vực sông Ba nói

riêng là nguồn tài nguyên thiết yếu trong sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh lương thực

và xoá đói giảm nghèo, cũng là yếu tố thiết yếu trong quá trình đạt tới các mục tiêu phát

triển thiên nhiên kỷ và các mục tiêu phát triển khác Đối với riêng lưu vực sông Ba là một

lưu vực lớn nằm cả hai bên sườn Đông và Tây dãy Trường Sơn với điều kiện tự nhiên đa

dạng Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên quy định nên đây là lưu vực sông có nguồn nước

thấp nhất ở dải duyên hải miền Trung, nhưng đây cũng là lưu vực có tiềm năng đất,

khoáng sản, hệ sinh thái rất đa dạng và phong phú Vì vậy vấn đề sử dụng nước trên lưu

vực sông Ba đã và đang xuất hiện các tranh chấp về tài nguyên nước như đã trình bày ở

trên Do đó, việc nghiên cứu xây dựng khung hỗ trợ giải quyết tranh chấp về nước cho lưu

vực sông Ba mang tính thực tiễn cao Từ kết quả của nghiên cứu, có thể mở rộng áp dụng

cho các lưu vực khác ở Việt Nam Để có thể tiếp cận và giải quyết được các nôị dung đã

đề ra trong đề tài, nhóm thực hiện đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

a) Phương pháp khảo sát, thu thập, điều tra bổ sung thông tin, dữ liệu liên quan đến

sử dụng và phát triển tài nguyên nước: Đây là phương pháp truyền thống luôn

được thực hiện trong công tác điều tra cơ bản về hiện trạng, diễn biến tài nguyên

nước Các số liệu, kết quả thu được qua phương pháp này là cơ sở thiết yếu để xác

định hiện trạng và dự báo diễn biến cũng như tình hình sử dụng tài nguyên nước

trên lưu vực sông Ba;

b) Phương pháp phân tích, đánh giá và tổng hợp các thông tin, dữ liệu: Việc phân

tích đánh giá tài nguyên nước, thiết lập các mục tiêu từ các thông tin, dữ liệu thực

đo được thực hiện trên cơ sở ứng dụng các phương pháp thống kê thông dụng hiện

nay

c) Phương pháp đánh giá tài nguyên: Sử dụng các công cụ phân tích, xác định, đánh

giá diễn thế của các điều kiện chung về tài nguyên nước, về sự phát triển kinh tế -

xã hội, về dân số, của khu vực trong tương lai Kết quả để phục vụ xây dựng các

kịch bản sử dụng nước ứng với các thời kỳ khác nhau

d) Phương pháp mô hình: Ứng dụng, xây dựng các mô hình mô phỏng nhằm đưa ra

được bức tranh tổng thể về tài nguyên nước ở các tiểu vùng có liên quan Đối với

mô hình mô phỏng các phần mềm chuyên dụng hiện nay trong nước cũng như nước

Trang 10

ngoài sẽ được ứng dụng như mô hình thuỷ văn và tính toán dòng chảy (NAM), mô

hình quy hoạch và đánh giá nguồn nước (MIKE Basin);

e) Phương pháp phân tích tối ưu đa mục tiêu: Tiến hành phân tích tối ưu dựa trên cơ

sở tối ưu về nguồn nước nhằm đưa ra phương án phân bổ nguồn nước hiệu quả nhất

thỏa mãn tối đa nhu cầu của các ngành

f) Phương pháp chuyên gia: Phương pháp chuyên gia thông qua các Hội thảo khoa

học lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia trong và ngoài nước về cách tiếp cận,

thiết kế nghiên cứu

g) Phương pháp tư vấn, tiếp xúc cộng đồng: Đảm bảo sự tham gia của các cộng đồng

dân cư sống trên lưu vực nhằm tăng cường nhận thức của cộng đồng

1 Mục tiêu của đề tài:

Xây dựng một công cụ mang tính khoa học để hỗ trợ giải quyết tranh chấp về tài

nguyên nước, giúp ích trong quá trình ra quyết định trong phân bổ hợp lý tài nguyên nước

phục vụ công tác quản lý tổng hợp lưu vực sông

2 Cấu trúc của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, cấu trúc của báo cáo tổng kết đề tài bao

gồm 5 chương như sau:

- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về hệ thống thỗ trợ giải quyết tranh

chấp tài nguyên nước;

- Chương 2: Điều kiện địa lý tự nhiên lưu vực sông Ba;

- Chương 3: Hiện trạng tài nguyên nước và khai thác, sử dụng tài nguyên nước lưu

vực sông Ba;

- Chương 4: Cân bằng nước hệ thống lưu vực sông Ba - Mâu thuẫn trong sử dụng tài

nguyên nước lưu vực sông Ba;

- Chương 5: Hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước lưu vực sông

Ba;

Trang 11

CHƯƠNG I TỔNG QUAN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI NGUYÊN NƯỚC

TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.1 Mâu thuẫn tranh chấp tài nguyên nước

Thiếu hụt nguồn nước là một trong những mối đe doạ nghiêm trọng nhất đối với

nền kinh tế và cuộc sống của con người trong tương lai ở bất kì quốc gia nào Sự phát triển

dân số không ngừng, đà đô thị hóa bùng nổ và biến đổi khí hậu sẽ khiến tình trạng thiếu

nước dẫn đến xung đột nước ngày càng trở nên nghiêm trọng Trên thế giới, mâu thuẫn về

nước là vấn đề mang tính thời sự và ngày càng trở nên gay gắt

Hiện nay trên toàn thế giới có 263 lưu vực sông xuyên quốc gia thuộc 145 nước,

chiếm gần nửa diện tích lục địa Ở Châu Âu có 69 lưu vực sông xuyên biên giới chiến

62% diện tích lưu vực so với diện tích châu lục, Châu Phi có 59 lưu vực sông xuyên biên

giới chiến 62% diện tích lưu vực so với diện tích châu lục, Châu Á có 57 lưu vực sông

xuyên biên giới chiến 39% diện tích lưu vực so với diện tích châu lục, Bắc Mỹ có 40 lưu

vực sông xuyên biên giới chiến 55% diện tích lưu vực so với diện tích châu lục, Nam Mỹ

có 38 lưu vực sông xuyên biên giới chiến 60% diện tích lưu vực so với diện tích châu lục

Ngoài ra, trên toàn thế giới hiện có khoảng 274 tầng chứa nước dưới đất chảy xuyên biên

giới giữa các quốc gia

Bảng 1 1 Thống kê số lượng lưu vực sông xuyên biên giới

Tên châu lục Số lưu vực sông xuyên

biên giới Tỷ lệ % diện tích lưu vực so với diện tích châu lục

Nước chảy qua ranh giới các vùng - do đó “chảy” qua cả các ngành kinh tế, luật

pháp, chia cắt nền văn hoá và biên giới quốc gia – chính vì thế nó gây ra các mâu thuẫn

gay gắt giữa các hộ dùng nước trong khi tìm cách đạt được nguồn nước phục vụ cho lợi

ích của mình, bên cạnh đó yêu cầu bảo vệ môi trường tự nhiên cũng là một vấn đề quan

trọng Trong khi đó, nguồn nước lại được khai thác trên tinh thần “giành giật” là chính,

không có một chiến lược nào được đề cập đến nhằm hòa giải sự cạnh tranh giữa các

ngành, điều này gây ra tranh chấp về tài nguyên nước ngày càng trở nên gay gắt ở Tây

Mỹ, Châu Phi, Trung Đông, Châu Á và khắp thế giới Trong 60 năm qua trên thế giới đã

có 37 vụ xung đột giữa các quốc gia về nước Trên 200 Hiệp ước thỏa thuận về nguồn

nước quốc tế giữa các quốc gia liên quan

Sự thiếu hụt nước ngày càng trầm trọng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề đối với thế

giới Khan hiếm và ô nhiễm nước là nguyên nhân chính gây nên cái chết cho hàng chục

Trang 12

triệu người trên thế giới hàng năm Thiếu hụt nước cũng dẫn đến nảy sinh mâu thuẫn,

tranh chấp trong sử dụng tài nguyên nước Trên quan điểm phân vùng, có thể phân loại

mâu thuẫn dưới các dạng

1.1.1 Mâu thuẫn ở cấp độ quốc gia

Về mặt địa lý, chính trị, nước là nguyên nhân chính dẫn đến các cuộc đối đầu giữa

nhiều quốc gia, chẳng hạn giữa Thổ Nhĩ Kỳ, Syria và Iraq để tranh giành nguồn nước của

2 con sông Tigre và Euphrates; giữa các nước cộng hòa Trung Á là Kazakhstan,

Ouzbékistan, Turkménistan và Kirghizistan để tranh giành nguồn nước 2 con sông Syr

Daria và Amor Daria; giữa Israel, Palestine, Syria, Jordania để tranh giành nguồn nước

sông Jourdania; giữa Ai Cập và Soudan để tranh giành nguồn nước sông Nil Về mặt kỹ

thuật là cả một chùm thách đố lớn lao để làm sao “bắt” được các nguồn nước ngày càng

tốt hơn Về mặt sinh thái là làm sao xử lý các nguồn nước bị nhiễm bẩn do chính con

người tạo ra

Một nguyên nhân chính gây nên tình trạng khan hiếm là các nguồn nước ngày càng

bị cạn kiệt trong khi đó tài nguyên nước lại phân bố không đều Chẳng hạn có đến 60%

của tổng số 40.000 tỉ mét khối nước mưa đổ xuống mặt đất hàng năm lại nhắm vào 9 quốc

gia là Brazil, Nga, Trung Quốc, Canada, Indonesia, Ấn Độ, Colombia, Mỹ và Cộng hòa

dân chủ Congo Trong khi đó nhiều nơi lại sốt lên vì thiếu nước Còn theo tính toán của

các chuyên gia về môi trường nước của Tập đoàn tư vấn quốc tế PWC thì chỉ trong vòng

thế kỷ 20, nhu cầu về nước đã tăng gấp 6 lần, trong khi dân số thế giới chỉ tăng 3 lần

Riêng 2 thập niên 1980 và 1990, nhu cầu về nước đã tăng gấp 2 lần Vì vậy nếu dân số thế

giới tăng đến 45% vào năm 2025 thì nhu cầu về nước sẽ tăng đến 50% so với hiện nay,

phần lớn được sử dụng trong nông nghiệp để sản xuất lương thực phục vụ 8,3 tỉ dân trên

thế giới

Tất cả công cụ hệ thống quản lý được thiết lập nhằm điều phối việc khai thác các

con sông châu Á sao cho tất cả các bên đều không bị lợi dụng, chèn ép và không bị thiệt,

đến nay, đều không hiệu quả, từ Ủy ban Mê Công (1957); các hiệp ước Sarada (1920),

Kosi (1954), Gandak (1959) giữa Ấn Độ và Nepal; Hiệp ước nguồn nước Indus giữa Ấn

Độ và Pakistan (1960); Hiệp ước sông Hằng giữa Ấn Độ và Bangladesh (1977); đến Thỏa

thuận sử dụng nước và năng lượng lưu vực Syr Darya giữa Kazakhstan và Uzbekistan

1.1.2 Mâu thuẫn ở cấp độ địa phương

Nước đang là vấn đề gây ra nhiều cuộc xung đột trên thế giới Cho đến nay, đã có

khá nhiều cuộc đàm phán, thương lượng diễn ra nhằm mục đích tìm lời giải cho các cuộc

tranh chấp nước quốc tế Song, thực tế lại cho thấy các cuộc tranh chấp nguồn nước xảy ra

trong phạm vi quốc gia phổ biến hơn là những cuộc xung đột nước quốc tế

Trong thập kỷ qua, những cuộc tranh luận về mặt chính sách đang ngày càng tăng

lên cùng với vấn đề khan hiếm nước và tranh chấp nguồn nước Ở mức độ quốc tế, đó là

các cuộc xung đột hay chiến tranh giữa các quốc gia cùng chia sẻ một nguồn nước Còn ở

cấp quốc gia và địa phương, xung đột hay tranh chấp chủ yếu là do sự bất bình đẳng về

Trang 13

Những cuộc xung đột liên quan đến nước ở địa phương xảy ra ngày càng nhiều hơn

những cuộc xung đột nước ở cấp quốc gia Sự thiếu hụt các quy định pháp lý trong quyền

sử dụng và cấp nước địa phương là nguyên nhân chính về mặt thể chế và chính sách Bên

cạnh đó, sự yếu kém trong cách quản lý ở mức độ địa phương cũng là nguyên nhân gây

xung đột Tất cả những thiếu hụt đó đã gây nên tình trạng bất bình đẳng giữa các nhóm

dân cư Những nhóm cộng đồng dễ bị tổn thương, họ là những người “thấp cổ bé họng” và

không có tiếng nói chính trị thường bị đẩy ra ngoài các nhóm có thế lực mạnh hơn

Do đó, để giải quyết triệt để vấn đề này cần thiết phải phát triển một cách tiếp cận

hiệu quả đối với vấn đề cấp nước cho người nghèo, và cách tiếp cận này phải phát huy

được hiệu quả ở địa phương Để đạt được điều đó, trong các chính sách và chương trình

cần đảm bảo các yếu tố về nguồn lực, sự tham gia của cộng đồng địa phương, có sự đền

bù thỏa đáng cho cộng đồng bị mất quyền sử dụng nguồn nước, xây dựng quy định kiểm

soát giá cả, chất lượng và số lượng nước cung cấp bởi các công ty tư nhân đồng thời xây

dựng các cơ chế giải quyết khi có xung đột xảy ra

1.2 Giải quyết mâu thuẫn tài nguyên nước trên thế giới

Trong thông điệp nhân kỷ niệm Ngày nước Thế giới năm 2009, Tổng Thư ký Liên

hiệp quốc Ban Ki Moon có đoạn viết: “Phần lớn tài nguyên nước trên toàn cầu, dù ở trên

hay nằm dưới mặt đất cần được chia sẻ Có tới 40% dân số trên thế giới đang sinh sống

trên một trong số 263 lưu vực sông quốc tế thuộc lãnh thổ của hai hay nhiều quốc gia Mối

quan ngại về những nguy cơ bất hoà có hơi hướng vũ lực là yếu tố luôn được quan tâm tại

diễn đàn chia sẻ các tài nguyên nước có hạn Hợp tác, chứ không phải là xung đột mới là

cách ứng xử chung nhất cho tất cả những ai đang phải trực diện với những nhu cầu mang

tính cạnh tranh về nước”, trong bài viết cũng chỉ ra “Cho đến nay, tính trên toàn thế giới

đã có ít nhất 300 hiệp định, thoả thuận quốc tế, thường là giữa các bên có sự bất đồng

Những hiệp định này thể hiện thế mạnh của các nguồn nước chung, đó là thúc đẩy hoà

bình và tăng cường tin cậy lẫn nhau Với thiện chí chính trị, với một cơ chế chính sách

mền dẻo, thể chế vững mạnh và lối tiếp cận tổng hợp sẽ giúp chúng ta hoàn toàn có cơ sở

tin tưởng phấn đấu vì lợi ích của toàn nhân loại”

Đối với tranh chấp trong sử dụng tài nguyên nước trong một quốc gia Để giải

quyết vấn đề này đòi hỏi chính phủ ở mỗi quốc gia phải có chế tài, cơ chế nhằm đảm bảo

mọi thành phần kinh tế, mỗi người dân đều được tiếp cận nguồn nước sạch, đảm bảo lợi

ích quốc gia là lớn nhất Mặt khác các ngành sử dụng nước, các địa phương phải hợp tác

cùng nhau chia sẻ nguồn nước nhằm sử dụng nguồn nước có hiệu quả nhất

Trước những nguy cơ thiếu hụt về nước, chiến tranh xảy ra giữa các nước trong lưu

vực nhằm kiểm soát nguồn nước vv, cần có giải pháp để đảm bảo lợi ích của các bên Xu

hướng đối thoại là giải pháp tối ưu để giải quyết các vấn đề này

1.2.1 Trên lưu vực sông Nile

Lưu vực sông Nile là một lưu vực rộng lớn với chiều dài vào khoảng 6695 km,

nguồn nước của sông được cung cấp phần lớn từ các con sông của Ethiopia, Ai Cập và

một số nước khác thuộc Châu Phi Do kết quả của một loạt các thỏa thuận thời thuộc địa,

mục tiêu hàng đầu của Anh ở Đông Phi là bảo vệ Ai cập, do đó, Cairo có quyền hợp pháp

Trang 14

được khai thác 55,5 tỷ m3 nước hàng năm từ sông Nile, trong khi Sudan được quyền có

18,5 tỷ m3 còn lại Tuy nhiên, tám nước còn lại trong lưu vực sông Nile là Ethiopia,

Eritrea, Uganda, Kenya, Tanzania, Uganda, Burundi và Cộng hòa dân chủ Congo đều nằm

ở thượng lưu tính từ Ai Cập Hầu hết các nước này đã có ý kiến về khuôn khổ pháp lý hiện

tại không cho phép họ can thiệp vào dòng chảy của sông Nile, ít nhất về mặt lý thuyết

Hiện nay, Uganda và Ethiopia đang dự kiến phát triển một loạt các dự án thủy điện mới

Ban đầu, Ai Cập phản ứng quyết liệt những dự án đó, nhưng hiện nay đã bắt tay vào quá

trình xúc tiến hợp tác giữa mười nước lưu vực sông Nile Có vẻ như Cairo nhận ra rằng

khó có thể chống lại việc triển khai các công trình thượng lưu và dường như các hiệp định

quốc tế làm cơ sở cho những dàn xếp hiện nay sẽ không đứng vững tại bất cứ tòa án quốc

tế nào bởi sự bất công vốn có của chúng

Việc phát triển dân số nhanh trong khu vực và sự khan hiếm nước lâu nay chính là

ngòi nổ xung đột tiềm tàng trong khu vực, nhưng tất cả các nước trong khu vực đã hiểu

rằng hợp tác là chính sách tốt nhất, chứ không phải là xung đột “Sáng kiến Lưu vực Sông

Nile” (NBI) đã được thành lập nhằm hướng mọi sáng kiến khác tới việc hợp tác thủy lợi

trong lưu vực Một trong những vai trò chủ đạo của NBI trong thời gian tới là đảm bảo tất

cả các quốc gia trong lưu vực được hưởng lợi từ các dự án đập thủy điện ở bất cứ quốc gia

nào trên lưu vực Ví dụ, người ta cam kết cải thiện việc kết nối truyền tải giữa các nước

thành viên để điện được phát triển (kéo dài), chẳng hạn như Ethiopia có thể phân phối điện

khắp khu vực

1.2.2 Trên lưu vực sông Mê Công

Sông Mê Công là con sông lớn trên thế giới, nó chảy qua sáu quốc gia độc lập

Trung Quốc, Myanmar, Campuchia, Lào, Thái lan, Việt Nam Đây là khu vực đang phát

triển, sự tăng trưởng trưởng dân số và việc công nghiệp hóa trong khu vực làm tăng nhu

cầu nước, cùng với việc chính phủ Trung Quốc tiếp tục xây đập mới tại thượng lưu con

sông dài 4.400 km dẫn tới chất lượng nước bị thay đổi, phù xa lắng đọng ở thượng nguồn,

tình trạng ngập mặn ở hạ lưu diễn ra thường xuyên Trước tình hình đó “Ủy ban Sông Mê

Công” được thành lập nhằm giải quyết những tranh chấp Tuy nhiên, Trung Quốc và

Myanmar lại không tham gia vào Ủy ban Điều này càng làm cho việc giải quyết tranh

chấp trở lên khó khăn

1.2.3 Trên lưu vực sông Colorado

Sông Colorado là con sông chính ở vùng Tây Nam nước Mỹ, chảy trong một vùng

đất rộng khoảng 627.000 km2, qua các bang Wyoming, Colorado, Utah, New Mexico,

Arizona, Nevada và California

Mức tăng dân số ở 3 tiểu bang Arizona, California, và Nevada trong vùng hạ lưu

sông Colorado thuộc hàng cao nhất ở Hoa Kỳ Theo đà tăng dân số như hiện nay, tính đến

năm 2020, số dân cư trong vùng tùy thuộc vào nguồn nước do con sông cung cấp sẽ lên

đến 38 triệu người Số dân sử dụng nguồn nước sống ở New Mexico theo dự đoán cũng sẽ

tăng khoảng 91% trong cùng khoảng thời gian Để giải quyết mâu thuẫn trong sử dụng

Trang 15

California sẽ mất đi cơ hội được sử dụng nguồn nước dành cho bang Một vấn đề khác là

Hiệp Định Colorado được viết vào thời điểm mà các điều kiện về khí tượng, thủy văn là

không tiêu biểu cho vùng, và mực nước trung bình tính toán trong Hiệp Định là cao hơn

những con số khảo sát của các nghiên cứu mới đây Vào năm 1945, New Mexico giành

được quyền sử dụng 42,5.103m3 nước mỗi năm từ sông Colorado - khoảng 10% lưu lượng

nước của con sông, con số này hiện nay là chủ đề chính của bản Hiệp Ước Vào những

thời kỳ khô hạn, Hiệp Định cho phép cắt giảm lượng nước cấp cho cho New Mexico,

nhưng Hiệp Ước lại không định nghĩa rõ cụm từ "khô hạn" Tất cả các yếu tố này là điềm

báo về những xung đột trên vấn đề sử dụng nước trên lưu vực sông Colorado

1.2.4 Trên lưu vực sông Tigre và Euphrate

Hai sông Tigre và Euphrate chảy qua ba quốc gia Syria, Iraq và Thổ Nhĩ Kỳ Việc

phân chia nguồn nước của 2 con sông này luôn gây căng thẳng về quan hệ giữa 3 nước,

trong khi Thổ Nhĩ Kỳ cho xây dựng 32 con đập giữ nước ở thượng lưu sông Tigre và

Euphrate để tưới tiêu cho 50% diện tích trồng trọt của mình thì Syria chỉ nhận được 37%

lượng nước từ sông Euphrate, còn Iraq chỉ nhận được 24% lượng nước từ sông Tigre

Điểm nóng này có thể bùng nổ tranh chấp quân sự bất cứ lúc nào do Thổ Nhĩ Kỳ luôn

phản đối việc Syria và Iraq cho xây dựng nhiều con đập giữ nước trên 2 con sông Tigre,

Euphrate để tưới tiêu trên lãnh thổ quốc gia mình theo quy định của một hiệp định về phân

chia nguồn nước được 3 nước ký kết và năm 1987 qua trung gian của Liên Hiệp Quốc

1.2.5 Trên lưu vực sông Indus

Lưu vực sông Indus chảy qua địa phận hai nước Ấn Độ và Pakistan Trên lưu vực

mâu thuẫn về sử dụng nước ngày càng trở nên trầm trọng do sự phát triển dân số và công

nghiệp ở cả hai bên biên giới Chính phủ Ấn Độ ước tính rằng tới năm 2025 lượng nước

sẵn có tính theo đầu người tại nước này sẽ giảm xuống còn 1.500 m3, thấp hơn rất nhiều so

với dự đoán của Liên Hiệp Quốc là 1.700 m3, mà dưới ngưỡng này xung đột về nước sẽ nổ

ra Dù có nhiều vấn đề căng thẳng giữa hai nước kể từ lúc chia tách, nhưng một trong

những thỏa thuận đạt được có ý nghĩa nhất đó chính là thỏa thuận về chia sẻ nguồn nước

hiện tại Với trung gian giúp đỡ của Ngân hàng thế giới “Hiệp ước nước Indus” đã ra đời

Theo thỏa thuận, Ấn Độ được chia quyền kiểm soát các sông Beas, Ravi và Sutlej, trong

khi quyền kiểm soát các sông Chenab, sông Ấn và Jhelum nằm trong tay Pakistan Dù Ấn

Độ được phép dùng nước từ ba con sông sau, nhưng họ không được phép thay đổi dòng

chảy của chúng bằng bất cứ cách nào, dù là chuyển nước hay tích nước Thỏa thuận này

được “Ủy ban nước Indus” giám sát trong 45 năm qua

1.2.6 Biển nước ngọt Aral

Tại những nước cộng hòa Trung Á trước đây thuộc Liên Xô, nhiều chương trình

tưới tiêu không hiệu quả đã làm thất thoát một lượng nước ngọt lớn từ biển Aral khiến cho

diện tích của biển nước ngọt lớn nhất thế giới này bị giảm hơn một nửa (diện tích bề mặt

từ 67.000km2 xuống còn 30.000km2) Không những bị giảm diện tích trữ nước, nước của

biển Aral còn bị ô nhiễm nặng nề khiến dân chúng không thể sử dụng được Nguyên nhân

chính gây nên thảm họa sinh thái này là do 4 quốc gia Trung Á là Ouzbékistan,

Kazakhstan, Turkménistan và Kirghzistan đã thay nhau chuyển dịch nguồn nước của 2

con sông Amor Daria và Syr Daria, vốn là nguồn cung cấp nước chính cho biển Aral, để

Trang 16

tưới tiêu cho các cánh đồng trồng bông của mình Trước tình trạng ngày càng bị khan

hiếm nước trầm trọng, cả 4 quốc gia này đều đổ lỗi cho nhau mà không đề ra được bất cứ

chương trình nào để cải tạo lại nguồn cung cấp nước cho biển Aral

1.2.7 Trên lưu vực sông Lerma-Chapala

Lưu vực sông Lerma-Chapala ở Mexico nằm ở tây nam cao nguyên Altiplano, đây

là một vùng bán khô hạn nhưng nông nghiệp trong vùng là một ngành kinh tế quan trọng

đối với nền kinh tế của đất nước Mặt khác, đây cũng là một vùng đô thị phát triển

Theo hiến pháp của Mexico, Chính phủ đã tiến hành thu phí đối với tất cả các

ngành dùng nước trên toàn quốc Do đó, tính công bằng đã trở thành "chìa khoá" cho sự

thành công của việc chia sẻ nguồn nước trên lưu vực sông Lerma-Chapala Giải pháp quan

trọng là giao cho từng hộ sử dụng nước một "quyền được hưởng sự công bằng" có thể

thoả mãn họ khi có mâu thuẫn xảy ra Nói cách khác, giải pháp "thắng - thắng" là nhân

tố quan trọng để có thể giải quyết được các mâu thuẫn một cách lâu dài

Từ các vấn đề nảy sinh trên lưu vực, Hội đồng Lưu vực sông đã xây dựng một mô

hình động lực học hệ thống Mô hình có khả năng:

• Mô tả một hệ thống phức tạp như một thể thống nhất để có thể tiến hành thực hiện

các phân tích;

• Cho phép các hộ sử dụng nước trong một vùng có thể tính toán các lợi ích của họ

có thể đạt được và so sánh với các lợi ích của các hộ sử dụng nước trong các vùng

khác;

• Nó cung cấp các phân tích cần thiết để có thể xây dựng một chính sách phân bổ

nguồn nước chi tiết trong sử dụng nguồn nước hiệu quả trên lưu vực sông

Lerma-Chapala

Như vậy, có thể thấy rằng, để giải quyết các mâu thuẫn về trong sử dụng tài nguyên

nước, ở nhiều quốc gia trên thế giới đã hình thành các chính sách, chiến lược lâu dài,

nhằm đạt được sự đồng thuận trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên một

lưu vực sông Tuy nhiên, xét về mặt kỹ thuật, có thể nói rằng, hiện nay trên thế giới, chưa

có nhiều nghiên cứu xây dựng một bộ công cụ có thể hỗ trợ về mặt kỹ thuật để giải quyết

các tranh chấp giữa các hộ sử dụng nước trên lưu vực sông

1.2.8 Hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước

Với sự tài trợ của UNESCO – IHP, K D W Nandalal, University of Peradeniya,

Peradeniya, Sri Lanka và Prof Slobodan P Simonovic, The University of Western

Ontario, Ontario, Canada (2003 – 2006) đã xây dựng Hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh

chấp (Conflict Resolution Support System) là một phần mềm để hỗ trợ giải quyết các

tranh chấp trong quản lý tài nguyên nước Các tác giả đã xây dựng một hệ thống máy tính

mô phỏng 3 dạng mâu thuẫn cơ bản trong sử dụng nước, đó là:

Trang 17

- Mâu thuẫn giữa việc phòng chống lũ cho hạ du và nhu cầu tưới

Trên cơ sở tham khảo từ nghiên cứu này, nhóm thực hiện đề tài đã tiến hành xây

dựng một hệ thống hỗ trợ giải quyết về mặt kỹ thuật các tranh chấp về sử dụng tài nguyên

nước trên lưu vực sông

Các mâu thuẫn được xem xét trong quá trình xây dựng hệ thống hỗ trợ này bao

gồm các mâu thuẫn giữa các ngành Hiện nay, cách tiếp cận nhằm giải quyết mâu thuẫn là

làm thế nào để tất cả các bên đều cùng có lợi và đều thấy thỏa mãn với yêu cầu của mình

Do đó, hệ thống sẽ hỗ trợ dưới dạng để hai bên có thể cùng ngồi thảo luận, bên cạnh đó,

họ có thể xem xét lượng nước đến, khả năng đáp ứng nhu cầu của mình cũng như của hộ

đang có tranh chấp với mình Từ đó, mới dễ dàng đạt được thỏa hiệp từ phía các hộ sử

dụng nước

1.3 Giải quyết mâu thuẫn tài nguyên nước ở Việt Nam

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế xã hội đã nảy sinh một số

tranh chấp, mâu thuẫn tài nguyên nước của một số hệ thống xuyên quốc gia và một số hệ

thống trong lãnh thổ Việt Nam

Lưu vực sông Mê Công: Trên lưu vực sông Mê Công việc Trung Quốc xây dựng

hàng loạt con đập ở trên đầu nguồn sông Mê Công là hiểm họa lớn nhất đối với tương lai

của sông Mê Công - một trong những con sông lớn trên thế giới và là nguồn nước quan

trọng đối với khu vực Hiện Trung Quốc đang xây 8 đập nước khổng lồ trên dòng chính

của sông Lan Thương - tên Trung Quốc của sông Mê Công Dân cư các nước hạ nguồn

trong đó có Việt Nam bị ảnh hưởng tức thời như lượng cá tôm giảm sút, nhiều đoạn sông

cạn nước, tàu thuyền không lưu thông được

Việc xây dựng các con đập sẽ làm gia tăng sức ép đối với sông Mê Công và mạng

lưới nhánh phụ khổng lồ của con sông này - vốn đang phải đối mặt với những hiễm họa do

ô nhiễm, biến đổi khí hậu Những thay đổi về lưu lượng và thời gian dòng chảy làm giảm

chất lượng nước và mất đi tính đa dạng sinh học

Đối với đồng bằng sông Cửu Long, các đập thủy điện của Trung Quốc chặn dòng

chảy tạo điều kiện cho nước biển xâm nhập mặn, làm hạn chế nước ngọt cho canh tác;

Việc xây dựng các đập thuỷ điện của Trung Quốc ở phía thượng nguồn gây mâu thuẫn với

nhu cầu dùng nước và môi trường sinh thái của các nước phía hạ nguồn Tại hội nghị

chuyên đề lần thứ 6 của Ủy hội sông Mê Công tổ chức vào năm 2003 tại Vientiane có

tham luận khẳng định: “Bất kỳ đập nước nào trên dòng chính sông Mê Công cũng đều có

hại cho sản xuất và đời sống các nước…”

Lưu vực sông Hồng: Lưu vực sông Hồng gồm dòng chính sông Hồng (chảy xuyên

qua biên giới hai quốc gia Trung Quốc và Việt Nam) và những sông suối phụ cận, trong

những năm trở lại đây cùng với việc khai thác quặng ở phía thượng nguồn của một số suối

thuộc lưu vực sông Hồng đã gây ô nhiễm nghiêm trọng phía hạ nguồn, trong đó suối Đỏ là

một ví dụ điểm hình Việc khai thác quặng phía thượng nguồn suối Đỏ (thuộc phần lãnh

thổ Trung Quốc) đã làm ô nhiễm nguồn nước phần hạ nguồn suối Đỏ, nước ô nhiễm từ

đây đổ vào sông Chảy rồi ra nhập vào hệ thống sông Hồng

Trang 18

Ô nhiễm nguồn nước suối Đỏ gây ảnh hưởng đến toàn bộ môi trường nước suối

Đỏ; hầu như trên suối này không thấy tồn tại loài thuỷ sinh nào sinh sống, nước ở suối Đỏ

không thể sử dụng cho sinh hoạt hay phục vụ sản xuất nông nghiệp của dân cư thuộc các

xã, bản Máy, Xín Mần, Hoàng Su Phì Theo phản ánh của dân cư sinh sống hai bên bờ

suối, có những ngày nước suối Đỏ đen ngàu và thối, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời

sống của dân cư sinh sống hai bên bờ suối

Sự khai thác quặng phía thượng nguồn ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước suối

Đỏ gây mâu thuẫn với nhu cầu dùng nước và môi trường sinh thái phía hạ nguồn

Lượng nước trên phần lưu vực sông Hồng thuộc Trung Quốc chảy về nước ta cũng

có những thay đổi nhất định về chế độ; trong cuối năm 2006 đầu năm 2007 lượng nước

thiếu hụt khá rõ và biến động phi tự nhiên nên lượng nước về các hồ chứa Hòa Bình,

Tuyên Quang (và cả lượng nước về Việt Nam theo sông Thao) bị ảnh hưởng lớn

Thực tế, số liệu quan trắc tại các trạm thủy văn Mường Tè, vùng thượng lưu sông

Đà và trên sông Lô tại Hà Giang về mùa cạn những năm gần đây cũng thể hiện các dấu

hiệu cho thấy mức độ khai thác mạnh mẽ TNN vùng thượng lưu sông Hồng hiện nay trong

phần lãnh thổ Trung Quốc

Việc tích nước từ các hồ chứa thủy điện ở thượng nguồn dẫn đến nguồn nước ở hạ

lưu sông Hồng đang bị cạn kiệt quá mức,dù không phải năm hạn Lần đầu tiên trong lịch

sử, hiện tượng sông Hồng gần như trơ đáy đã xuất hiện

Lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn: Lưu vực sông Vu Gia là một trong những lưu vực

sông liên tỉnh lớn của VN Từ 2005, Bộ Công nghiệp đã quy hoạch xây dựng trên hệ

thống sông Vu Gia đến 7 thuỷ điện bậc thang, đều nằm trên địa bàn Quảng Nam Trong

đó, 6 thuỷ điện thiết kế theo nguyên tắc trả nước về dòng cũ Riêng thuỷ điện Đăk Mi4 -

tại huyện Phước Sơn chuyển nước từ sông Vu Gia sang sông Thu Bồn Với thiết kế này,

hơn 1.850km2 diện tích của lưu vực sông Vu Gia (kể từ đầu nguồn đến Ái Nghĩa, huyện

Đại Lộc, Quảng Nam) chịu ảnh hưởng Trên 40.000 người dân cùng hàng chục nghìn

hécta lúa, hoa màu thuộc các huyện Đại Lộc, Điện Bàn của Quảng Nam và Hoà Vang của

Đà Nẵng sẽ bị thiếu nước, trong đó có Nhà máy nước Cầu Đỏ - cấp nước chính cho TP

Đà Nẵng sẽ phải ngừng vận hành do bị nhiễm mặn

Lưu vực sông Ba: Vấn đề chuyển nước sông Ba sang sông khác đã gây những tác

động đáng kể đến dòng chảy xuống hạ du Ngoài ra vấn đề vận hành các nhà máy thủy

điện trong mùa lũ cũng gây tác động không nhỏ, làm gia tăng thiệt hại do lũ cho các khu

dân cư ở hạ du Ngày 2 tháng 11 năm 2009, khi bão Mirinae đổ bộ vào Phú Yên gây mưa

rất to thì hồ thủy điện Sông Ba Hạ xả với lượng nước lớn Mưa gây lũ lớn, kết hợp với

việc xả lũ tại thuỷ điện sông Ba Hạ đã nhấn chìm thị xã Sông Cầu và nhiều vùng ở huyện

Tuy An Việc xả lũ của thuỷ điện sông Ba Hạ khi nước lũ dâng cao là do chưa có quy chế

điều tiết liên hồ, khi các hồ phía thượng nguồn xả lũ thì hồ phía hạ nguồn không thể tự

điều tiết lũ Để đảm bảo công trình thuỷ điện sông Ba Hạ buộc xả lũ gây gập trên diện

rộng

Trang 19

thác tổng hợp tài nguyên và môi trường các hồ chứa thủy điện, thủy lợi và Nghị định

120/2008/NĐ-CP Về quản lý lưu vực sông Trong Nghị định đã nêu rõ nội dung của quản

lý lưu vực sông là cần có xây dựng quy hoạch lưu vực sông bao gồm Quy hoạch phân bổ

tài nguyên nước; Như vậy, có thể thấy rằng, Chính phủ đã từng bước hoàn thiện các văn

bản pháp lý nhằm thực hiện việc chia sẻ, phân bổ tài nguyên nước hợp lý Mặc dù, hiện

nay chưa có quy hoạch lưu vực sông nào được phê duyệt, nhưng có thể thấy rằng, vẫn đề

quản lý, giải quyết mâu thuẫn trong khai thác sử dụng tài nguyên nước lưu vực sông đang

được quan tâm sâu sắc Chia sẻ, phân bổ tài nguyên nước là một nội dung quan trọng của

quy hoạch tài nguyên nước của lưu vực sông nhằm giải quyết các cạnh tranh trong sử

dụng nước Đối với các lưu vực sông có tài nguyên nước dồi dào, phong phú, nhưng nhu

cầu sử dụng nước còn ít so với tiềm năng, thì vấn đề chia sẻ, phân bổ tài nguyên nước

chưa thật bức xúc Tuy nhiên, đối với lưu vực sông khan hiếm nước thì vấn đề chia sẻ,

phân bổ tài nguyên nước là vô cùng cần thiết để làm giảm nhẹ các mâu thuẫn và xung

khắc trong sử dụng nước, khắc phục suy thoái nguồn nước và duy trì ổn định môi trường

của dòng sông Giải quyết tốt vấn đề chia sẻ, phân bổ tài nguyên nước của lưu vực sông sẽ

góp phần bảo vệ quyền dùng nước chính đáng của người dùng, đem lại công bằng xã hội

và bền vững về môi trường

Lưu vực sông Ba không phong phú về tài nguyên nước và nhu cầu sử dụng nước

không ngừng tăng lên những năm gần đây, nên đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong sử dụng

nước, và trong một số trường hợp, mâu thuẫn trong sử dụng nước đã rất bức xúc đòi hỏi

phải có biện pháp giải quyết

Năm 2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hoàn thành giai đoạn 1 dự án xây

dựng “Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Ba” Hiện nay, Bộ đang tiến hành các thủ

tục cần thiết để phê duyệt Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Ba, trong đó có nội

dung quy hoạch chia sẻ, phân bổ tài nguyên nước Khi Quy hoạch chính thức phê duyệt,

chính phủ sẽ có một công cụ về mặt pháp lý để thực hiện quản lý lưu vực sông Bên cạnh

đó, cũng cần có những công cụ về mặt kỹ thuật Trước tiên, cần có công cụ hỗ trợ ra quyết

định bao gồm hệ thống các mô hình phục vụ công tác quản lý Một công cụ khác, nhằm hỗ

trợ cho việc giải quyết mâu thuẫn đó chính là hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp về tài

nguyên nước Hệ thống này phải được vận hành dựa trên những ràng buộc chặt chẽ về mặt

pháp lý bởi cơ chế chia sẻ, phân bổ nguồn nước Mặc dù những ràng buộc về mặt pháp lý

này chính là cơ sở chắc chắn buộc các ngành dùng nước phải tuân thủ, nhằm tránh được

những tác động xấu đến tài nguyên nước Tuy nhiên, không phải lúc nào người dân cũng

tuân thủ theo những quy định này, cần thiết phải có công cụ hỗ trợ đàm phán giữa các hộ

sử dụng nước, nhằm đi đến thỏa thuận về chia sẻ nguồn nước trong trường hợp dòng chảy

đến không đáp ứng được các nhu cầu Trên cơ sở này, nhóm thực hiện đề tài đã tiến hành

xây dựng hệ thống hỗ trợ về mặt kỹ thuật nhằm trợ giúp cho các nhà quản lý có thể giải

quyết các mâu thuẫn tiềm tàng có thể xảy ra trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên

nước, đặc biệt chú trọng mâu thuẫn giữa các hộ sử dụng Công cụ cũng chỉ xác định hỗ trợ

về mặt kỹ thuật, do vậy, các phân tích tối ưu, chỉ đánh giá trên cơ sở phân tích về nguồn

nước Để có thể sử dụng hiệu quả, cần có sự kết hợp với các phân tích về kinh tế, để kiến

nghị được phương án sử dụng có lợi nhất về mọi mặt

Việc nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước

lưu vực sông ở Việt Nam còn là một vấn đề mới Hiện nay, chưa có một nghiên cứu nào

xây dựng hệ thống này Cho đến nay, mới chỉ có một số nghiên cứu liên quan đến sử dụng

Trang 20

các công cụ riêng rẽ trong DSS (Hệ thống hỗ trợ ra quyết định) để quản lý tổng hợp tài

nguyên và môi trường cho lưu vực sông Tuy nhiên, có thể nói rằng ở Việt Nam, chưa có

một nghiên cứu nào xây dựng một hệ thống hỗ trợ ra quyết định hoàn chỉnh cho một LVS

Hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước chỉ là một hợp phần của một

DSS Chính vì vậy, trên lưu vực sông Ba, khi Quy hoạch Tài nguyên nước được phê

duyệt, Tổ chức lưu vực sông được thành lập, cần thiết phải xây dựng một DSS hoàn chỉnh,

từ đó kết nối với Hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước để có thể giải

quyết được các mâu thuẫn về khai thác, sử dụng tài nguyên nước một cách khoa học và có

tính pháp lý cao

Trang 21

CHƯƠNG II ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LƯU VỰC SÔNG BA 2.1 Vị trí địa lý

Lưu vực sông Ba thuộc vùng Nam Trung bộ, là một trong những con sông lớn nhất

vùng ven biển miền Trung Lưu vực sông có dạng dài và hẹp với tổng diện tích tự nhiên

khoảng 13900 km2 (nếu tính cả nhánh sông Bàn Thạch thì là 14132 km2), nằm trong phạm

vi ranh giới hành chính của 3 tỉnh Gia Lai, Đăk Lăk và Phú Yên với 1 thành phố và 22

huyện:

− Tỉnh Gia Lai gồm các huyện: Kbang, thị xã An Khê, Đăk Pơ, Kông Chro, Đăk

Đoa, Mang Yang, Chư Sê, Ayun Pa, Ia Pa, Krông Pa;

− Tỉnh Đăk Lăk là: Ea Hleo, Krông HNăng, Ea Kar, Krông Buk, Ma Đrăk;

− Tỉnh Phú Yên là: TP Tuy Hòa, Đồng Xuân, Tuy An, Phú Hòa Sơn Hòa, Sông

Hinh, Tây Hòa, Đông Hòa

Vị trí địa lý của lưu vực ở vào khoảng 12o55’ đến 14o58’ vĩ độ Bắc và 108o00’ đến

109o55’ kinh độ Đông, phía bắc giáp với lưu vực sông Sê San và sông Trà Khúc, phía nam

giáp với lưu vực sông Cái (Nha Trang) và sông Srêpôk, phía tây giáp với lưu vực sông Sê

San và sông Srêpôk, phía đông giáp với lưu vực sông Kôn, sông Kỳ Lộ và biển Đông

2.2 Đặc điểm địa hình

Nhìn tổng quan lưu vực sông Ba với đại bộ phận diện tích nằm ở phía Đông Nam

dãy Trường Sơn, nhưng ảnh hưởng của dãy đến khu vực này đã yếu dần và được thay thế

bằng phông chung của nền cấu trúc khối tảng cao nguyên

Phần thượng lưu của lưu vực sông, chủ yếu là các nhánh núi bị chia cắt mạnh bởi

các dòng chảy thường xuyên và tạm thời với hướng địa hình chính kéo dài theo hướng á

kinh tuyến Chiều dài phần trung lưu của lưu vực sông rất ngắn và có xu hướng như là

thực thể địa hình đồi núi trung bình, thấp phân cắt với phần hạ lưu dưới dạng chuyển tiếp

các bậc địa hình Điều này làm cho sông gần như không có phần trung lưu, nước từ

thượng lưu đổ thẳng xuống vùng đồng bằng ven biển Trên bề mặt đồng bằng này được

cấu thành bởi những gò đồi sót của các bề mặt địa hình cổ hơn bị bóc mòn, cùng với

những bậc thềm, bãi bồi, đụn cát, cồn cát nguồn gốc biển, gió biển, sông-biển và sông

Ngoài ra do tính định hướng của các nhánh núi đâm ngang ra biển, đặc biệt là ở phía Tây,

Tây Nam lưu vực nên dòng sông bị đổi hướng khá nhanh, từ chảy gần như hướng á vĩ

tuyến, qua sang gần như á kinh tuyến tại đoạn sông đi qua Ea Ba đến cửa Đà Rằng

Nhìn chung, do chi phối bởi yếu tố các nhánh núi chạy sát ra biển, cùng với các

dòng sông trẻ đang đào sâu lòng thành những hẻm vực nên mặc dù diện tích lưu vực chủ

yếu là đồi núi thấp và trung bình, nhưng tính tương phản của địa hình khá lớn Đặc điểm

đó của địa hình lưu vực được phản ánh thông qua các chỉ số về phân tầng độc cao, độ chia

cắt ngang, phân cắt sâu và độ dốc của địa hình

Trang 23

2.2.1 Tính phân tầng độ cao của địa hình

Nét nổi bật của địa hình khu vực nghiên cứu là tính phân tầng độ cao tạo thành các

vành đai liên tục, nhưng cũng bị phức tạp hóa do hoạt động cắt xẻ, mài mòn và phá hủy

cấu trúc ban đầu của hệ thống dòng chảy

Với quy mô lưu vực trung bình, có dòng chảy đổ thẳng ra biển, nên độ cao địa hình

thấp nhất trùng với 0 m lục địa và coi như trùng với đường bờ biển hiện tại; điểm cao nhất

thuộc khu vực đường chia nước với lưu vực sông Đak Bla ở phần thượng nguồn sông,

thuộc huyện An Khê trong đó có một loạt các đỉnh cao trên 1000 m và cao nhất là đỉnh

Kon Ka Kinh cao 1748 m

Trong phạm vi lưu vực sông Ba, qua các tài liệu tham khảo có thể thấy tồn tại các

bậc địa hình sau:

− Bậc I (có độ cao 1500 ÷ 1700 m): Mực địa hình này phát triển rất hạn chế, chỉ

quan sát thấy ở khu vực Tây Bắc thượng nguồn lưu vực, trong phạm vi khối núi

Kon Ka Kinh (1748 m) kéo dài xuống phía Nam tới khối núi Kon Boria (1502

m) dưới dạng đường chia nước dạng răng cưa của khối này hay các đỉnh núi

đơn độc

− Bậc II (có độ cao dao động từ 800 ÷ 1200 m): Đây là bậc địa hình khá phổ biến

ở thượng nguồn và phần đỉnh của một số nhánh núi phân thủy đâm ngang ra

biển Chúng tạo nên một mực địa hình rộng với độ cao 800 ÷ 900 m ở phần cuối

của thượng lưu lưu vực và cao dần lên thành bậc chuyển tiếp với bậc I kể trên

− Bậc III (có độ cao dao động từ 400 ÷ 700 m): Phân bố rộng rãi nhất dưới dạng

bề mặt trũng trước núi bằng thoải ở khu vực chi lưu Ea Krông Hnăng, còn ở Ya

Hleo, Ayun Pa chúng thể hiện dưới dạng bề mặt bazan bằng rộng Ngoài ra mực

địa hình này còn quan sát thấy ở dạng các bề mặt đỉnh không liên tục thành

vành đai kéo dài dọc thung lũng sông Ba và sông Ayun

− Bậc IV (có độ cao phổ biến từ 200 ÷ 250 m): Phân bố ở phần trung lưu của lưu

vực Trong địa hình hiện tại chúng là những bề mặt san bằng của địa hình đồi

cao, hoặc bề mặt chia nước của các lưu vực cấp II, cấp III; liên hệ với nhày

bằng chuỗi các chỏm đồi hoặc dãy đồi ngăn cách nhau bởi các yên ngựa uốn

lượn mềm mại

− Bậc V (có độ cao trung bình từ 100 ÷ 150 m): Trong địa hình hiện tại là bề mặt

của các đồi và dãy đồi

− Bậc VI (có độ cao từ 10 ÷ 30 m): Đóng vai trò chuyển tiếp từ địa hình đồng

bằng lên vùng đồi núi và chúng chính là các bề mặt thềm sông, thềm biển phân

Trang 24

Như vậy địa hình lưu vực có sự phân bậc khá rõ Tính phân bậc của địa hình phù

hợp với tính phân bậc chung của địa hình địa khối Kon Tum và Trường Sơn Nam Mỗi

bậc địa hình lớn đều tương ứng với một chu kỳ địa mạo và được đặc trưng bởi các bề mặt

san bằng tương ứng

2.2.2 Đặc điểm chia cắt ngang của địa hình

Thuộc tính phân cắt ngang (chia cắt ngang) của địa hình là thể hiện giá trị độ dài

của dòng chảy thường xuyên và tạm thời trên một đơn vị diện tích Theo những tài liệu

tham khảo đã phân chia vùng nghiên cứu thành những khu vực có các cấp độ chia cắt

ngang sau (mức độ chia cắt ngang tính theo đơn vị km/km2):

− Hầu như không bị chia cắt (< 0,5)

− Chia cắt ngang yếu (0,5 ÷ 1,5)

− Chia cắt ngang trung bình (1,5 ÷ 3,0)

− Chia cắt ngang mạnh (> 3,0)

Có thể thấy rằng những vùng được phân chia này mang tính quy luật chung và bao

gồm những đặc điểm sau:

− Địa hình hầu như không bị chia cắt chỉ phân bố ở vùng cát ven biển

− Địa hình bị chia cắt yếu ở vùng núi

− Địa hình bị chia cắt ngang trung bình tập trung ở vùng đồi, đồng bằng và bề mặt

trũng trước núi ở phía Tây Nam lưu vực

− Địa hình bị chia cắt ngang mạnh tập trung thành cụm, điểm trên đồng bằng

thấp

2.2.3 Đặc điểm phân cắt sâu của địa hình

Đây là thuộc tính thể hiện giá trị về độ chênh cao của địa hình trên mộ đơn vị diện

tích và nó cũng như độ dốc được gián tiếp thể hiện qua thuộc tính năng lượng của địa

hình Việc thành lập bản đồ phân cắt sâu địa hình đã phân chia vùng nghiên cứu thành

những khu vực với các cấp độ phân cắt sâu khác nhau như sau (mức độ chia cắt ngang tính

theo đơn vị m/km2):

− Hầu như không bị chia cắt (< 10)

− Chia cắt sâu yếu (10 ÷ 20)

− Chia cắt sâu trung bình (20 ÷ 100)

− Chia cắt sâu mạnh (100 ÷ 300)

− Chia cắt sâu rất mạnh (> 300)

Trang 25

− Mức độ chia cắt sâu mạnh và rất mạnh chiếm diện tích lớn và thuộc về miền núi

của lưu vực

− Mức độ chia cắt sâu trung bình chiếm tỉ lệ diện tích hạn chế dưới dạng vùng đồi

chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng

− Mức độ chia cắt sâu yếu và hầu như không bị chia cắt chiếm tỉ lệ diện tích

không lớn

Tuy vậy, ở khu vực miền núi nơi mà những dòng sông suối cắt xẻ vào bề mặt cao

nguyên bazan thì tại đó có sự biến động mạnh về độ chia cắt sâu, từ những giá trị rất lớn ở

phần sườn dốc xuống đáy thung lũng, máng trũng với hình thái dạng hẻm vực tới giá trị

khá nhỏ trên bề mặt cao nguyên

Độ dốc lưu vực có sự biến đổi đột ngột rõ rệt, từ rất thoải ở vùng đồng bằng ven

biển, các bậc thềm sông biển đến rất dốc tại các hẻm vực, sườn dốc ở vùng núi Thậm chí

có rất nhiều nơi ở miền núi Tây Bắc lưu vực có độ dốc lên đến trên 40o

Ngoài những đặc điểm độ dốc trên vừa nêu, thì cũng phải đề cập đến vai trò độ dốc

nghiêng thoải tại các bề mặt phủ bazan cao nguyên và trũng bằng thoải trước núi trong

vùng nghiên cứu

2.3 Đặc điểm thổ nhưỡng

Điều kiện phát sinh và thành tạo đất cùng các quá trình thoái hóa đất đã hình thành

ở lưu vực sông Ba lớp phủ thổ nhưỡng đa dạng thuộc hai tổ hợp đất thủy thành và địa

thành

Tổ hợp đất thủy thành là các đất hình thành trên sản phẩm bồi tụ của sông suối,

biển, hồ Mẫu chất bồi tụ là những sản phẩm bị cuốn trôi theo nước và lắng đọng bồi tụ

chọn lọc Có thể nói tổ hợp đất này gắn kết chặt chẽ với hệ thống sông và phần lớn chịu

hậu quả của lũ lụt Tổ hợp thủy thành của hệ thống sông Ba gồm 4 nhóm đất chính là:

- Nhóm đất cát biển: Bao gồm các cồn cát và bãi cát ven biển cửa sông của đồng

bằng Tuy Hòa Hiện nay đất cát và các cồn cát ở hạ lưu sông Ba một số đã được trồng

rừng phi lao phòng hộ, trồng dừa, cây ăn quả và rau màu năng suất thấp Đại bộ phận đất

cát biển bằng và cồn cát còn hoang trống

Trang 26

- Nhóm đất mặn và phèn: Phân bố ở vùng trũng thấp của hạ lưu ven biển như vùng

cửa sông Đà Nông huyện Tuy Hòa Đất thường xuyên úng ngập, quá trình glây hóa và môi

trường khử ôxy thống trị Hiện trạng sử dụng đất mặn và phèn của lưu vực bao gồm trồng

lúa nước, cải tạo nuôi trồng thủy sản và sản xuất muối Một số diện tích còn hoang hóa với

cây cỏ ưa mặn phèn

- Nhóm đất phù sa: Tập trung chủ yếu ở đồng bằng hạ lưu Tuy Hòa Ở phần trung

lưu, tiểu vùng hợp lưu sông Ia Yun và sông Ba và tiểu vùng hữu ngạn phụ lưu sông Iadun

đất phù sa chiếm trên dưới 10% diện tích (khoảng 3500 ha và 1200 ha) Còn ở phần

thượng lưu, đất phù sa chiếm diện tích nhỏ chủ yếu là loại phù sa ngòi suối và phù sa glây

- Nhóm đất dốc tụ thung lũng: Nằm rải rác ở các huyện vùng thượng lưu và trung

lưu như An Khê, KBang, Chư Sê, Krông Pa, Sơn Hòa… Hiện trạng các đất dốc tụ thung

lũng được khai thác trồng lúa nước, rau màu hoặc cây công nghiệp ngắn ngày Vùng đất

dốc tụ thung lũng thường chịu úng ngập cục bộ trước tiên khi mưa lớn kéo dài, đặc biệt ở

các thung lũng kín hoặc lối thoát thủy hẹp

Tổ hợp đất địa thành là các đất hình thành tại chỗ trên vỏ phong hóa của đá mẹ gốc

macma, biến chất, trầm tích ở địa hình đồi núi Tổ hợp này chiếm diện tích chủ yếu của

lưu vực hệ thống sông Ba với 5 nhóm đất chính:

- Nhóm đất xám và xám bạc màu: Phân bố ở vùng đồi gò chuyển tiếp lên vùng núi

cao 50 ÷ 100 m như ở các huyện Sông Hinh, Sơn Hòa, Krông Oa, Ayun Pa, An Khê…

Như vậy phần lớn phân bố ở vùng trung lưu, thượng lưu và nằm ven thung lũng sông

Hiện trạng sử dụng đất của nhóm này đa số là đất trong đồi trọc với trảng cỏ tự nhiên xen

cây bụi Một số diện tích được khai thác trồng cây lương thực và hoa màu cho năng suất

thấp Độ phì thấp của đất là hệ quả của quá trình khai thác không hợp lý lâu dài của người

dân địa phương

- Nhóm đất đen: Đây là nhóm đất hình thành từ ven các họng núi lửa, trên tụ bọt

núi lửa và bồi tụ của bazan Có 2 loại: đất đen trên sản phẩm bồi tụ phong hóa bazan và

đất nâu thẫm trên tuf bọt bazan Đất này ở Gia Lai có trên 27870 ha, song phần lớn là đất

nâu thẫm, còn đất đen chỉ 2000 ÷ 3000 ha

- Nhóm đất đỏ vàng: Chiếm ưu thế ở vùng đồi núi trung lưu và thượng lưu Lượng

nước chính của dòng sông là do nhóm đất này đón nhận từ nước mưa, thấm qua lòng đất

và cung cấp cho sông suối Diện tích nhóm đất này chiếm hơn 50-60% bề mặt lưu vực

Phần thượng nguồn đương cung cấp nước từ các loại đất đỏ bazan trên cao nguyên Kon

Plong và Kon Hà Nừng Phần trung lưu được tiếp nhận nước từ các cao nguyên bazan

Pleiku, Buôn Ma Thuột qua thung lũng Cheo Reo – Phú Túc – Chư Sê Tiếp giáp với phần

hạ lưu còn gặp đất đỏ bazan với 29950 ha phân bố ở huyện Tuy An và Sông Hinh ở tỉnh

Phú Yên Hiện trạng đất bazan chỉ còn giữ được một diện tích nhỏ rừng ở đầu nguồn, hầu

hết đã bị khai phá canh tác nông nghiệp

- Nhóm đất mùn trên núi: Phân bố ở thượng lưu và trung lưu với diện tích không

Trang 27

bền được hình thành dưới rừng á nhiệt đới núi vì vậy nếu phá bỏ lớp phủ rừng thì đất

nhanh chóng biến thành đát xói mòn trơ sỏi đá và khó phục hồi

- Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá: Thường gặp ở An Khê, Ayun Pa vùng thượng lưu

của sông Ở vùng trung lưu trung bình có 5 ÷ 7% diện tích vùng xuất hiện loại đất này

Đáng chú ý ở tiểu vùng hữu ngạn trung lưu cũng tập trung trên 10.000 ha loại đất xói mòn

trơ sỏi đá

Như vậy ở lưu vực sông Ba tồn tại 9 nhóm đất chính Mỗi nhóm đất, loại đất có

những tính chất hóa lý, hình thái cấu trúc, khả năng chi phối và chịu sự chi phối của lũ lụt

khác nhau Lớp phủ thổ nhưỡng khá đa dạng và không đồng nhất trên nhiều dạng địa hình

trong đó đồi núi dốc chiếm ưu thế Đất dốc và tầng mỏng chiếm diện tích lớn Vùng cửa

sông ven biển có các cồn đụn cát ngăn chắn tạo thành cấu trúc kín trũng ở đồng bằng nhỏ

hẹp hạ lưu Cấu trúc lớp phủ đất trên chứa đựng nguy cơ ngập úng ở hạ lưu và một số

vùng khi mưa lớn tập trung kéo dài Lớp phủ thổ nhưỡng trên các sản phẩm phong hóa

nhiệt đới với phần lớn môi trường đất chua, nghèo dinh dưỡng, cấu trúc kém bền vững dễ

bị xói mòn rửa trôi, độ trữ ẩm kém Do khai thác không hợp lý, lớp che phủ rừng còn phủ

thấp, đất trống đồi núi trọc và đất xói mòn trơ sỏi đá trên lưu vực khá lớn nên khả năng

lưu giữ nước và điều tiết nước mưa hạn chế làm tăng cường lũ lụt Trong những năm gần

đây, lũ lụt đã xảy ra thường xuyên ở hạ lưu và một số vùng hạ lưu trũng thấp ở trung lưu

Lũ lụt đã làm thoái hóa đát đồng bằng như các dòng cát sạn vùi lấp đất phù sa canh tác,

tăng cường quá trình glây hóa và làm lan tỏa đất mặn phèn Cùng với lũ lụt, hiện tượng

trượt lở, sạt lở đất ven sông biển và đồi núi xảy ra ở nhiều nơi trên lưu vực

2.4 Thảm phủ thực vật

Do điều kiện địa hình, đặc biệt là có dãy Ngọc Linh với độ cao trên 2.000m và là

đầu nguồn của nhiều hệ thống sông lớn, nên lưu vực sông Ba có hệ thảm phủ thực vật khá

phong phú, với khoảng hơn 2000 loài thực vật bậc cao có mạch nằm trong 939 chi thuộc

204 họ thực vật

Trong các loài thực vật ở lưu vực sông Ba, tổng số loài thực vật quý hiếm được ghi

trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) là 74 loài, trong đó:

− 7 loài bậc E - Đang nguy cấp (đang bị de dọa tuyệt chủng)

− 19 loài bậc V - Sẽ nguy cấp (có thể bị đe dọa tuyệt chủng)

− 29 loài bậc R - Loài hiếm (có thể sẽ nguy cấp)

− 4 loài bậc T - Bị đe dọa

− 15 loài bậc K - Biết không chính xác

Sơ bộ có thể phân chia các loài thực vật ở lưu vực sông Ba thành các nhóm như

sau: Nhóm cây cho gỗ, Nhóm cây được sử dụng làm thuốc, Nhóm cây cho các bộ phận

có thể dùng làm lương thực, thực phẩm, Nhóm cây làm cảnh, Nhóm cây cho sợi Ngoài

ra còn có một số nhóm cây tài nguyên khác như nhóm cây cho tinh dầu, cây cho nhựa,

cây cho tanin, cây cho chất nhuộm

Năm 2005, diện tích rừng ở lưu vực sông Ba là 671.407 ha, tính trung bình thì độ

che phủ rừng của lưu vực là là 41,6% Nói chung độ che phủ rừng ở thượng lưu có xu thế

cao hơn khu vực hạ lưu, tuy nhiên trong các thời gian vừa qua lớp phủ rừng của các vùng

Trang 28

biến động còn do ảnh hưởng của việc tập trung dân cư và các hoạt động khai hoang, phát

triển trồng cây công nghiệp trong từng vùng nên cũng có trường hợp có huyện ở thượng

lưu nhưng diện tích rừng còn thấp hơn ở hạ lưu

Trên vùng lưu vực sông Ba, có một số các khu bảo tồn thiên nhiên: Vườn quốc gia

Kon Ka King (Kon Tum), Khu BTTN Krông Trai (Phú Yên), Khu BTTN Ea Sô (Đăk

Lăk), Khu đề xuất BTTN Ayun Pa (Gia Lai) Các khu BTTN này bên cạnh ý nghĩa là

khu vực có mức độ ĐDSH cao thì các thảm thực vật rừng ở đây còn khá nguyên sơ, có giá

trị làm cân bằng nước đồng thời phòng hộ cho vùng lưu vực sông Ba

2.5 Đặc điểm khí hậu

Trên lưu vực sông Ba có 5 trạm khí tượng: An Khê, Ayun Pa, Sơn Hòa, Tuy Hòa,

M’Đrăk Ngoài ra còn có 5 trạm khí tượng thuộc các vùng phụ cận: Quy Nhơn, Hoài

Nhơn, Plêiku, Buôn Hồ, Buôn Ma Thuột

Tọa độ địa lý và các yếu tố quan trắc, thời kỳ quan trắc của các trạm khí tượng

được trình bày trong Bảng 2 1

Bảng 2 1 Lưới trạm khí tượng và đo mưa lưu vực sông Ba và vùng lận cận

Tọa độ Yếu tố và thời gian quan trắc Trạm

Kinh độ Vĩ độ

Độ cao (m) Nắng Gió Nhiệt độ Độ ẩm Bốc hơi Mưa

Lượng bức xạ tổng cộng năm trên khu vực (Bảng 2 2) vào khoảng 117-149

kcal/cm2 tương đương 3,61-4,6 kwh/m2.ngày Lượng bức xạ tổng cộng tương đối thấp ở

Tây Trường Sơn (trạm An Khê, Ayun Pa, PleiKu, Buôn Ma Thuột), và tương đối cao ở

Đông Trường Sơn (trạm Quy Nhơn, Tuy Hòa) Giữa các địa điểm phía Tây và phía Đông

Trường Sơn khác nhau không những về tỷ trọng bức xạ tổng cộng mà cả về biến trình của

đặc trưng này

Bảng 2 2 Lượng bức xạ tổng cộng trung bình tháng và năm (kcal/cm 2 )

Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

An Khê 10,4 13 15,5 15,7 15 14,9 11,9 10,7 9 10,5 9,7 9,7 136

Quy Nhơn 9,3 11,1 14 15,1 14,9 15,2 16 14,3 11 9,9 9,3 8,9 149

Ayun Pa 7,8 9,5 12,2 14,3 12,2 10,7 10 10,6 8,4 8,1 6,8 6,5 117,1

Tuy Hòa 9,4 11,3 13,9 14,9 14,2 14,5 15,4 14,5 11,4 9 9,4 9,4 147,3

Trang 29

Số giờ nắng trung bình năm trên lưu vực sông Ba dao động trong phạm vi

2200-2500 giờ (Bảng 2 3), tương đối nhiều ở vùng ven biển phía đông và tương đối ít ở vùng

núi phía nam Nắng trên lưu vực sông Ba vào loại phong phú nhất ở nước ta, chỉ sau các

tỉnh cực Nam Trung Bộ

Bảng 2 3 Số giờ nắng trung bình tháng và năm (giờ)

Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

Do sự giảm dần của nhiệt độ theo độ cao nên trên lưu vực sông Ba, nhiệt độ ở phía

Tây Trường Sơn thấp hơn phía Đông Trường Sơn Trên vùng núi phía tây, ngoài Hơ Mu

với nhiệt độ 16oC, nhiều đỉnh khác cũng có nhiệt độ dưới 18oC như Ngọc Rô, Kon Ka

King, Công Lắc…Ở vùng duyên hải phía đông, các huyện phía đông của Tuy Hòa đều có

nhiệt độ vào khoảng 26-27oC

Bảng 2 4 Nhiệt độ trung bình tháng và năm ( o C)

Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

Nhiệt độ cao nhất quan trắc được trên lưu vực sông Ba lên tới 36-39oC ở vùng đồi

núi cao 500-800 m, 39-42 oC ở các thung lũng sông và ở vùng núi cao dưới 500 m, và

40,5-41,7 oC ở vùng đồng bằng duyên hải Kỷ lục của nhiệt độ cao nhất là 41,7 oC quan

trắc được ở Sơn Hòa vào tháng IV năm 1983, một thung lũng sông cách bờ biển khoảng

35-45km

Trang 30

Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối quan trắc được trên lưu vực sông Ba xuống tới 9-12oC

trên vùng núi cao dưới 800 m ở phía tây và 11-16 oC ở vùng đồng bằng duyên hải phía

đông Kỷ lục nhiệt độ thấp nhất là 9 oC quan trắc được ở An Khê vào tháng I năm 1984

2.5.3 Chế độ mưa

Lưu vực sông Ba có vị trí đặc biệt nằm ở cả hai sườn đông và tây của dãy Trường

Sơn nên lưu vực chịu tác động của chế độ mưa mùa hè, mưa mùa thu đông và từ hè sang

đông Lượng mưa tháng trong năm phân hóa khá phức tạp, biến đổi rất lớn theo không

gian – thời gian và phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố địa hình và hoàn lưu khí quyển

Bảng 2 5 Lượng mưa trung bình tháng và năm (mm)

Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

Lượng mưa năm

Lượng mưa năm phổ biến trong lưu vực dao động từ 1400-2200 mm, trong đó

nhiều nơi mưa trên 2200 mm như PleiKu (2256 mm), Sơn Thành (2226 mm), Hòa Đồng

(2301 mm) và cũng nhiều nơi mưa dưới 1400 mm như Ayun Pa (1297 mm), Kbang (1381

mm), Mang Yang (1323 mm) Nhìn chung lượng mưa tăng dần từ vùng thấp lên vùng cao,

sườn đón gió có lượng mưa lớn hơn thung lũng khuất gió, dọc theo thung lũng sông có

lượng mưa nhỏ và giảm dần từ hai đầu lưu vực (thượng và hạ lưu) vào khu vực trung lưu

Phân bố mưa theo mùa Mùa mưa trên lưu vực sông Ba được phân bố như sau:

- Mưa mùa hè

Mưa mùa hè phân bố ở khu vực Tây Trường Sơn Khu vực này có độ cao trung

Trang 31

đạt từ 1700-2200 mm Mùa mưa kéo dài 6 tháng trùng với mùa gió mùa tây nam, từ tháng

V đến tháng X chiếm tới 90% tổng lượng mưa năm Tháng VII hoặc VIII có lượng mưa

lớn nhất, chiếm từ 20-25% tổng lượng mưa năm, đạt từ 350-470 mm Mùa khô có lượng

mưa rất thấp, trung bình khoảng 2-10 mm, các tháng XII, I hầu như không có mưa Số

ngày có lượng mưa X < 0,1 mm thường đạt xấp xỉ 10% lượng mưa năm và chỉ có mưa ở

thời kỳ đầu và cuối mùa khô

- Mưa thu – đông

Mưa thu – đông phân bố ở khu vực Đông Trường Sơn Do bị dãy Trường Sơn chặn

ở phía tây nên khu vực dải duyên hải Trung bộ chịu tác động của hiệu ứng font vì vậy

nguồn ẩm gây mưa do gió mùa mùa hè bị chặn Khu vực này chịu ảnh hưởng chủ yếu của

các nhiễu động gây mưa trên biển (gió mùa mùa đông kết hợp với dải hội tụ nhiệt đới, áp

thấp và bão) Mùa mưa vùng này chuyển sang chế độ mưa mùa thu – đông, kéo dài 3-4

tháng trùng với thời kỳ gió mùa đông bắc, từ tháng IX-XII, lượng mưa mùa mưa chiếm

70% lượng mưa năm Tháng có lượng mưa lớn nhất rơi vào tháng XI chiếm 28-33% lượng

mưa năm, cao nhất đạt khoảng 600 mm, có năm đạt 1920 mm (tháng XI/1982 ở Sông

Hinh) và 1310 mm (XI/1990 ở Tuy Hòa) Số ngày mưa trong tháng trung bình đạt từ

20-25 ngày Mùa khô kéo dài 8-9 tháng từ tháng I đến tháng VIII hoặc IX, lượng mưa mùa

này chiếm 25-30% tổng lượng mưa năm Tháng II hoặc III có lượng mưa nhỏ nhất đạt

khoảng 20-30 mm đối với vùng cao, dưới 20 mm đối với vùng thấp Đặc biệt ở khu vực

này thường xuất hiện mưa tiểu mãn vào tháng V, VI khi gió mùa đông nam hoạt động

mạnh Mưa tiểu mãn tuy không lớn nhưng đã xóa nhòa sự khô hạn trong mùa kiệt và đôi

khi lũ lớn năm xuất hiện vào thời kỳ này

- Mưa từ hè sang đông

Khu vực này là khu vực trung gian, chịu tác động qua lại của hai kiểu khí hậu trên

Mùa mưa kéo dài 7 tháng (V-XI) thời kỳ đầu mùa mưa chịu tác động của hoàn lưu Tây

Nam, Đông Nam, lượng mưa tháng khá ổn định và thời kỳ sau chịu tác động của hoàn lưu

Đông Bắc cùng các nhiễu động thời tiết Lượng mưa mùa mưa chiếm từ 85-94% lượng

mưa năm, số ngày mưa khoảng 15-20 ngày Tháng IX và X thường có lượng mưa tháng

lớn nhất đạt khoảng 250-350 mm, xấp xỉ 20% lượng mưa năm Mùa khô kéo dài 5 tháng

từ tháng XII đến tháng IV năm sau, trong đó tháng I và II ít mưa nhất, hầu như không có

mưa Mặc dù khu vực này có mùa mưa kéo dài nhưng lượng mưa năm ở đây thuộc vào

loại thấp nhất lưu vực Vì vậy, khu vực này hang năm thường bị khô hạn thiếu nước

nghiêm trọng, đặc biệt là từ tháng II đến tháng IV hàng năm

2.5.4 Chế độ gió

Hướng gió

Hướng gió trên lưu vực sông Bat hay đổi theo mùa đông, mùa hè và hai mùa

chuyển tiếp

Mùa đông: Tiêu biểu là tháng I Vào tháng này, gió thịnh hành ở Tây Trường Sơn

có hướng thiên Đông (Đông, Đông Bắc, Đông Nam) và ở Đông Trường Sơn có hướng

Bắc hoặc hướng Đông

Trang 32

Mùa xuân: Tiểu biểu là tháng IV Vào tháng này, gió thịnh hành ở cả Tây Trường

Sơn và Đông Trường Sơn đều có hướng thiên Đông (Đông, Đông Bắc, Đông Nam)

Mùa hè: Tiêu biểu là tháng VII.Vào tháng VII, hướng gió gần như trái ngược với

tháng I Gió thịnh hành ở Tây Trường Sơn có hướng thiên Tây (Tây, Tây Bắc, Tây Nam)

và ở Đông Trường Sơn có hướng Tây hoặc hướng Nam

Mùa thu: Tiêu biểu là tháng X Vào tháng này, hướng gió ở Tây Trường Sơn tương

tự tháng IV, thịnh hành là hướng thiên Đông (Đông, Đông Bắc, Đông Nam) Trong khi

đó, ở Đông Trường Sơn hướng gió là sự kết hợp giữa tháng I và tháng IV thịnh hành là

hướng Bắc, Đông hay trung gian giữa Bác và Đông: Đông Bắc

Nhìn chung, gió mùa mùa đông và gió mùa mùa hè chịu ảnh hưởng của gió mùa

kết hợp với tín phong trong khi gió trong các thời kỳ quá độ chịu ảnh hưởng chủ yếu của

tín phong

Tốc độ gió

Trên nền chung của cơ chế gió mùa cùng với sự chia cắt mạnh mẽ của địa hình và

hướng của các dãy núi cao; hàng năm lưu vực sông Ba chịu ảnh hưởng của hai hướng gió

chính: Từ tháng V đến tháng IX là hướng Tây và Tây nam; từ tháng X đến tháng IV năm

sau là hướng Đông và Đông Bắc Vùng thượng và hạ lưu có tốc độ gió thường lớn hơn

vùng trung lưu, nguyên nhân là vùng trung lưu bị các dãy núi cao che khuất nhiều, còn

vùng thượng và hạ lưu khá thuận lợi cho việc đón các hướng gió

Tốc độ gió trung bình hàng năm vùng thượng và hạ lưu có thể đạt tới 2,5-2,7 m/s

vùng trung lưu chỉ đạt 1,4-1,7 m/s Tốc độ gió lớn nhất thời xảy ra ở đồng bằng, đạt

khoảng 40 m/s, thậm chí tới 50 m/s Ở vùng thượng lưu tốc độ gió lớn nhất thấp hơn so

với vùng đồng bằng, còn ở vùng trung lưu thì thấp hơn so với hai vùng trên

2.6 Đặc điểm thủy văn

Dòng chính sông Ba bắt nguồn từ đỉnh núi cao Ngọc Rô 1549 m của dải Trường

Sơn Từ thượng nguồn đến An Khê, sông chảy theo theo hướng Tây Bắc - Đông Nam sau

đó chuyển hướng Bắc Nam, đến cửa sông Hinh chảy theo hướng gần như Tây - Đông rồi

đổ ra biển Đông tại Tuy Hòa

Lưu vực sông Ba có dạng gần như chữ L, thượng và hạ lưu hẹp, ở giữa phình ra với

độ rộng bình quân lưu vực 48,6 km, nơi rộng nhất là 85 km

Tính từ thượng nguồn đến cửa ra (sông Đà Rằng), sông Ba có diện tích lưu vực

13900 km2, với chiều dài sông chính 374 km, mật độ lưới sông 0,22 km/km2 Sông Ba

thuộc loại sông kém phát triển so với các sông khác vùng lân cận

Hàng năm trên toàn lưu vực nhận được lượng mưa khoảng 1740 mm với module

Trang 33

Mạng lưới sông ngòi của lưu vực sông Ba, sông Ba có 36 phụ lưu cấp I, 54 phụ lưu

cấp II, 14 phụ lưu cấp III, phân theo các cấp diện tích như sau:

1÷50 km2 51÷100 101÷200 201÷500 501÷1000 >1000

31 35 16 15 2 3

Các phụ lưu chính của sông Ba là sông Ia Yun, Krông Hnăng và sông Hinh, các

nhánh này đều nằm phía hữu ngạn của sông Ba

1 Sông Ayun bắt nguồn từ đỉnh núi cao Công Lak có độ cao 1720 m Sông chảy

theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đến Cheo Reo nhập vào bờ phải sông Ba Chiều

dài sông 175 km, diện tích lưu vực F = 2950 km2 Hàng năm nhận một lượng

mưa khoảng 1580 mm, module dòng chảy khoảng 18,9 l/s.km2, đổ vào sông Ba

một lượng nước hàng năm khoảng 1,7 tỷ m3

2 Sông Krông Hnăng bắt nguồn từ đỉnh núi Chư Tung cao 1215 m, hướng chảy

hình vòng cung theo hướng Bắc - Nam và Tây Bắc - Đông Nam Sông dài 130

km, diện tích lưu vực F = 1840 km2, hàng năm nhận một lượng mưa khoảng 1700

mm, module dòng chảy năm khoảng 21,7 l/s.km2, hàng năm đổ vào sông Ba một

lượng nước khoảng 1,3 tỷ m3

3 Sông Hinh bắt nguồn từ đỉnh núi Chư H’Mu cao 2051 m Chiều dài sông 88 km,

chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đến 12o50’ vĩ độ Bắc sông chuyển sang

hướng Nam - Bắc, gần đến thị trấn Sơn Hòa thì nhập vào bờ phải của sông Ba,

diện tích lưu vực F = 1040 km2, module dòng chảy năm khoảng 53,4 l/s.km2,

hàng năm đổ vào sông Ba một lượng nước khoảng 1,7 tỷ m3

Bảng 2 6 Đặc trưng hình thái lưu vực sông Ba

Tên sông

Độ cao nguồn sông (m)

Chiều dài sông (m)

Chiều dài lưu vực (km)

Diện tích lưu vực (km2)

Độ cao bình quân lưu vực (m)

Độ dốc bình quân lưu vực (%)

Độ cao bình quân lưu vực (m)

Độ dốc bình quân lưu vực (%)Sông Ba 1200 388 386 13900 400 10,9 48,6 0,22

Đak Pô Kô 900 52 30 762 574 11,5 25,4 0,45

Đak Pi Hao 800 70 56,5 55,2 540 8,4 9,8 0,32

Ia Yun 850 175 118 2950 537 7,1 25,0 0,41

Krông Hnăng 900 130 75 1840 477 9,5 24,5 0,54

Sông Hinh 550 88 59 1040 526 15,7 17,7 0,53

Hồ ao, kho nước

Trong lưu vực sông Ba ngoài các sông chính kể trên còn có rất nhiều hồ chứa Phần

lớn các hồ này được xây dựng với mục tiêu chính phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội,

Trang 34

trên lưu vực đã xây dựng hàng trăm công trình thủy lợi, thủy điện lớn nhỏ, trong đó có tới

153 hồ chứa nước, đáng chú ý là các hồ chứa sau:

− Hồ Ayun hạ được xây dựng trên sông Ayun năm 1989 có diện tích lưu vực 1670

km2, MNDBT 204 m, MNC 195 m, Wc = 52x106m3, Whd = 201x106m3, Vflũ =

274x106m3 Đập cao 36 m, dài 366 m Năng lực tưới thiết kế 13.500 ha đã phát huy

tưới 8.500 ha đạt 63% năng lực thiết kế

− Đập dâng Đồng Cam được xây dựng năm 1934, năng lực tưới thiết kế 24.000 ha

nhưng thực tế đất trồng chỉ đạt 19.500ha

− Hồ sông Hinh khống chế lưu vực 722 km2 với MNDBT 209 m, MNC 196 m, Wtb

= 357x106 m3, công suất lắp máy 70 MW, điện lượng cung cấp hàng năm 315.000

Kwh đồng thời tăng cường lượng nước mùa kiệt cho hệ thống Đồng Cam từ 24÷27

m3/s đảm bảo tưới ổn định cho hệ thống thủy nông Đồng Cam

− Nhà máy thủy điện sông Ba Hạ vận hành năm 2008 có diện tích lưu vực 11.115

km2 dâng mực nước đến cao trình MNDBT 105 m, MNC 101 m tạo ra dung tích

toàn bộ 349,7 triệu m3, dung tích chết 183,8 triệu m3, phát điện với công suất lắp

máy 220 MW

− Công trình thủy điện An Khê - Kanak khởi công ngày 26/11/2005 và đưa vào vận

hành năm 2009 với công suất lắp máy 173 MW

− Thủy điện KrongHnang được đưa vào vận hành năm 2009 với công suất lắp máy

66 MW

Theo quy hoạch bậc thang thủy điện trên sông Ba gồm 30 công trình có tổng công

suất lắp máy 664 MW, điện lượng bình quân nhiều năm khoảng 3032 triệu KWh

2.7 Đặc điểm hải văn

Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển cửa sông Đà Rằng chủ yếu gồm có

sóng, thủy triều, dòng chảy hoạt động của sông và biển… Các nhân tố này đóng vai trò

cung cấp, truyền năng lượng và vận chuyển vật chất và làm thay đổi hình thái ở vùng cửa

sông và vì vậy ảnh hưởng đến sự tiêu thoát lũ từ sông ra biển Dưới đây là một số đặc

điểm chính của các nhân tố ngoại sinh ở vùng cửa sông khu vực nghiên cứu:

2.7.1 Thủy triều

Theo số liệu đo đạc thuỷ văn tại trạm thuỷ văn Phú Lâm trên sông Đà Rằng từ năm

1977 đến 1998, thủy triều ở khu vực nghiên cứu mang tính chất nhật triều không đều

(“Nghiên cứu giải pháp tổng thể sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường lưu vực

sông Ba và sông Côn” – Nguyễn Văn Cư) Số ngày nhật triều trong tháng từ 17 đến 26

ngày, vào các ngày nước kém thường có thêm một con nước nhỏ trong ngày Theo kết quả

tính toán, biên độ triều lớn nhất trung bình nhiều năm là 2.02 m, mực nước cao nhất là

1.15 m và thấp nhất là -1,03 m Tuy độ cao mực nước triều ở đây không lớn, song đã ảnh

hưởng đáng kể đến vấn đề thoát lũ và tạo điều kiện cho sóng vỗ bờ gây xói lở bờ biển cửa

sông

Trang 35

Trong tháng I, sóng có hướng thịnh hành là Bắc Từ tháng II-IV, hướng thịnh hành

là Đông Bắc Từ tháng V-IX, hướng thịnh hành là Tây Nam Từ tháng X-XII, hướng thịnh

hành là Bắc và Đông Bắc Nhìn chung sóng trong các tháng mùa hè kém ổn định hơn so

với sóng trong các tháng mùa đông

2.7.3 Diễn biến dòng chảy vùng ven biển cửa sông

Dòng chảy vùng cửa sông ven biển là tổng hợp của hàng loạt các dòng chảy thành

phần diễn ra phức tạp, thể hiện mối tương tác giữa các yếu tố sông, biển, địa hình và các

hoạt động của con người Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, khu vực ven biển

cửa sông Đà Rằng thường xuyên chịu tác động của các nhiễu động thời tiết như bão, dông,

áp thấp nhiệt đới… làm cho chế độ dòng chảy ở đây biến động mạnh theo cả không gian

và thời gian Hơn nữa, yếu tố địa hình ảnh hưởng tới quy luật biến đổi dòng chảy, gây biến

động lòng dẫn và các bãi bồi ở cửa sông ven biển

Trang 36

CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN NƯỚC

VÀ KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG BA

3.1 Đánh giá hiện trạng tài nguyên nước

3.1.1 Mưa năm:

Mưa trên lưu vực sông Ba biến động lớn theo thời gian do chịu ảnh hưởng của địa

hình và hướng đón gió Lượng mưa bình quân nhiều năm trên toàn lưu vực sông Ba

khoảng 1760 mm, nhưng phân bố rất không đều ở các nơi trên lưu vực Vùng ít mưa nhất

là vùng khuất gió nằm dọc thung lũng sông Ba tại Cheo Reo, Phú Túc với lượng mưa năm

chỉ đạt 1300 mm vùng mưa lớn nhất là tại thượng nguồn lưu vực sông Hinh với lượng

mưa năm đạt khoảng 2100 mm, vùng thượng nguồn sông Ba có lượng mưa năm biến đổi

từ 1500-1800 mm Vùng hạ lưu sông Ba tại đồng bằng Tuy Hòa có lượng mưa năm

6 Krông Buk 1448 12 Kon Tum 1796

Bảng 3 2 Tần suất lượng mưa năm các trạm

Xp(mm) Tên trạm (mm) Xtb Cv Cs

Trang 37

Hình 3 1 Bản đồ lượng mưa bình quân nhiều năm lưu vực sông Ba

3.1.2 Dòng chảy năm:

Lượng dòng chảy năm trên lưu vực sông Ba không lớn với module dòng chảy Mo

đạt 23,6 l/s.km2, hàng năm sông Ba đổ ra biển Đông khoảng gần 10 tỷ m3 nước Điều này

Trang 38

chứng tỏ tiềm năng nguồn nước lưu vực sông Ba không phong phú và thuộc loại nhỏ trong

các lưu vực sông khu vực Miền Trung và Tây Nguyên

Sông Ia Yun có diện tích lưu vực F = 2950 km2, hàng năm nhận một lượng mưa

khoảng 1808 mm, module dòng chảy năm khoảng 22,54 l/s.km2, đổ vào sông Ba một

lượng khoảng 2,1 tỷ m3 nước

Sông Krông Hnăng có diện tích lưu vực F = 1840 km2, hàng năm nhận một lượng

mưa khoảng 1700 mm, module dòng chảy năm khoảng 32,61 l/s.km2, hàng năm đổ vào

sông Ba một lượng nước khoảng 1,89 tỷ m3

Sông Hinh có diện tích lưu vực F = 1040 km2, module dòng chảy năm khoảng

58,94 l/s.km2, hàng năm đổ vào sông Ba một lượng nước khoảng 1,93 tỷ m3

Bảng 3 3 Nguồn nước các sông trong lưu vực

Sông Tính đến Flv (km 2 ) Xo (mm) (mm) Yo Qo (m 3 /s) (l/s.kmMo 2 )

Wo (10 9 m 3 )

Ba An Khê 1350 1470 780 33,4 24,74 1,05

Ia Yun Cửa sông 2950 1808 711 55,8 22,54 2,10

Krông Hnăng Cửa sông 1840 1679 1028 60,0 32,61 1,89

Sông Hinh Cửa sông 1040 2011 1859 61,3 58,94 1,93

Ba Củng Sơn 12410 1727 708 276 22,46 8,79

Ba Cửa sông 13900 1816 811 320 25,72 11,27

Bảng 3 4 Kết quả tính tần suất dòng chảy năm tại các trạm lưu vực sông Ba

Qp (m 3 /s) Trạm Flv

(km 2 )

Giai đoạn

Qtb (m 3 /s) Cv Cs 25% 50% 75% 90%

An Khê 1350 78-06 33,4 0,43 1,75 40,6 30,3 23,7 20,3

Sông Hinh 747 78-95 46,0 0,37 0,12 57,0 45,5 34,0 24,4

Củng Sơn 12410 77-06 276 0,36 1,12 334,3 261,2 205,1 171,3

Trang 39

Hình 3 2 Bản đồ module dòng chảy năm lưu vực sông Ba

Trang 40

3.2 Đánh giá sự biến động của tài nguyên nước

3.2.1 Đánh giá sự biến động của tài nguyên mưa

Mùa mưa và mùa khô

Do đặc điểm địa hình và điều kiện khí hậu mà chế độ mưa của lưu vực sông Ba khá

phức tạp Khi vùng thượng và trung du lưu vực đã là mùa mưa rồi nhưng ở vùng hạ du lại

đang còn là thời kỳ khô hạn, khi thượng và trung du đã kết thúc mùa mưa nhưng vùng hạ

du vẫn trong thời kỳ mưa lớn Mùa mưa ở vùng thượng và trung du thường đến sớm từ

tháng V và kết thúc vào tháng X hoặc tháng XI, kéo dài trong 6 - 7 tháng Trong khi đó

mùa mưa ở vùng hạ du đến muộn và kết thúc sớm, chỉ kéo dài từ 3 - 4 tháng khoảng tháng

IX đến tháng XII

Theo tiêu chuẩn trung bình: Nếu coi thời gian mùa nhiều mưa bao gồm những

tháng có lượng mưa lớn hơn lượng mưa bình quân tháng trong năm và đạt trên 50% tổng

số năm quan trắc thì mùa mưa tại các nơi trên lưu vực sông Ba như sau:

Khu vực Tây Trường Sơn

Mùa mưa kéo dài 6 tháng từ tháng V đến tháng X trùng với mùa gió mùa Tây Nam

hoạt động Lượng mưa cả mùa xấp xỉ 90% lượng mưa năm Tháng VIII và tháng IX

thường có lượng mưa tháng lớn nhất và đạt trên 200 mm/tháng ở nơi mưa ít, từ 350 đến

470 mm/tháng ở nơi nhiều mưa Mùa khô kéo dài 6 tháng từ tháng IX đến tháng IV năm

sau với lượng mưa chỉ đạt xấp xỉ 10% lượng mưa năm và chỉ có mưa ở thời kỳ đầu và

cuối mùa khô Giữa mùa từ tháng I đến tháng III có nhiều năm không mưa và nếu có thì

lượng mưa cũng không đáng kể (chỉ 2 - 10 mm/ tháng) và cũng chỉ có mưa trong một vài

ngày Đại diện cho khu vực này là trạm Plêiku, Pơ Mơ Rê, Chư Sê

Khu vực Đông Trường Sơn

Mùa mưa ngắn chỉ 3 – 4 tháng, từ tháng IX đến tháng XI hoặc XII hàng năm cùng

với thời kỳ gió mùa Đông Bắc và bão muộn hoạt động trên biển Đông Lượng mưa trong

mùa mưa ở đây chiếm 65 – 75% lượng mưa cả năm Mưa lớn thường xảy ra vào tháng X

và tháng XI, tháng có lượng mưa lớn có thể đạt trên 600 mm/tháng có năm có trạm đạt tới

1920 mm/tháng (XI -81) ở Sông Hinh, 1310 mm/tháng (XI – 90) ở Tuy Hòa Số ngày mưa

trong tháng từ 20 – 25 ngày/tháng Mùa khô kéo dài 8 – 9 tháng (từu tháng I đến tháng

VIII hoặc tháng IX) với lượng mưa chiếm 30- 35% lượng mưa cả năm Tháng II đến tháng

III thường có lượng mưa nhỏ nhất và chỉ đạt 20 – 30 mm/tháng đối với vùng cao, dưới 20

mm/tháng đối với vùng thấp Khu vực này thường có mưa tiểu mãn vào tháng V, VI hàng

năm Tháng VII và tháng VIII lượng mưa lại giảm đi Đại diện cho vùng này là các trạm

Sông Hinh, Sơn Thành, Tuy Hòa

Khu vực trung gian

Ngày đăng: 22/04/2014, 21:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2] Nguyễn Văn Cư, 2005, Nghiên cứu giải pháp tổng thể sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường lưu vực sông Ba và sông Côn, Viện Địa lý. Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học dộc lập cấp nhà nước. Mã số KC.08-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp tổng thể sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường lưu vực sông Ba và sông Côn
Tác giả: Nguyễn Văn Cư
Nhà XB: Viện Địa lý
Năm: 2005
[13] Trần Thanh Xuân và nnk. Tổng hợp sử lý tài liệu khí tượng thủy văn và đánh giá tài nguyên nước, cân bằng nước tỉnh Gia Lai. Báo cáo tổng kết chuyên đề của Dự án“Đánh giá cân bằng nước và định hướng sử dụng, bảo vệ tài nguyên tỉnh Gia Lai” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng hợp sử lý tài liệu khí tượng thủy văn và đánh giá tài nguyên nước, cân bằng nước tỉnh Gia Lai
Tác giả: Trần Thanh Xuân, nnk
Nhà XB: Báo cáo tổng kết chuyên đề của Dự án“Đánh giá cân bằng nước và định hướng sử dụng, bảo vệ tài nguyên tỉnh Gia Lai”
[1] Nguyễn Văn Cư, 2001, Nghiên cứu luận cứ khoa học cho các giải pháp phòng tránh, hạn chế hậu quả lũ lụt lưu vực sông Ba, Viện Địa lý Khác
[3] Cao Đăng Dư, 2002, Điều tra, nghiên cứu và cảnh báo lũ lụt phục vụ phòng tránh thiên tai ở các lưu vực sông miền Trung, Viện Khí tượng Thủy văn Khác
[4] Chi cục kiểm lâm tỉnh Phú Yên (2007). Báo cáo kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp năm 2006 Khác
[5] Nguyễn Văn Thắng (2005). Các phương pháp và những vấn đề chủ yếu cần xem xét giải quyết trong quy hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên lưu vực sông Ba. Báo cáo tại Hội thảo Quản lý tổng hợp tài nguyên nước và một số giải pháp kỹ thuật liên quan.Hà Nội., 2005 Khác
[7] Nguyễn Văn Thắng, 2005, Nghiên cứu cơ sở khoa học và phương pháp tính toán ngưỡng khai thác sử dụng nguồn nước và dòng chảy môi trường, ứng dụng cho lưu vực sông Ba và sông Trà Khúc, Đại học Thủy lợi Khác
[8] Nguyễn Văn Thắng, 2007, Dự án Quy hoạch Tài nguyên nước lưu vực sông Ba, Đại học Thủy lợi Khác
[9] Trung tâm ĐH2 trường Đại học thủy lợi (1999). Quy hoạch thủy lợi tỉnh Phú Yên đến năm 2010 Khác
[10] Ngô Đình Tuấn, 2007, Quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Ba, Đại học Thủy lợi Khác
[11] Ngô Đình Tuấn và nnk (2005). Đánh giá tổng hợp tài nguyên nước và quy hoạch thủy lợi thuy điện lưu vực sông Kôn, sông Ba đến năm 2010 – 2020, mã số KC.08- 25-01. Báo cáo tổng kết đề tài nhánh của đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, mã số KC.08-25 Khác
[12] Trần Thanh Xuân (2007). Đặc điểm thủy văn và nguồn nước sông Việt Nam, Nhà xuất bản Nông Nghiệp. Hà Nội Khác
[15] Đặng Ngọc Vinh, 2007, Báo cáo hiện trạng (thuộc dự án: Quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ nguồn nước lưu vực sông Ba), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khác
[16] Andreu, J.; Capilla, J.; Sanchis, E. 1996. AQUATOOL, a generalized decision- support system for water-resources planning and operational management. Journal of Hydrology Khác
[18] Arumugam, N.; Mohan, S. 1997. Integrated decision support system for tank irrigation system operation. Journal of Water Resources Planning and Management.ASCE Khác
[19] Dunn, S.M.; Mackay, R.: Adams, R.; Oglethorpe, D.R. 1996. The hydrological component of the NELUP decision-support system: An appraisal. Journal of Hydrology Khác
[20] Fang, L.; Hipel, K.W.; Kilgour, D.M. 1993. Interactive decision making: The graph model for conflict resolution. Wiley, New York, USA Khác
[21] Fredericks, J.W.; Labadie, J.W.; Altenhofen, J.M. 1998. Decision support system for conjunctive stream-aquifer management. Journal of Water Resources Planning and Management Khác
[22] Jamieson, D.G.; Fedra, K. 1996. The ‘WaterWare’ decision support system for river basin planning. 1. Conceptual design. Journal of Hydrology. Vol.177, pp.163-175 Khác
[23] McDonald, A. 1988. International River Basin Negotiations: Building a Database of Illustrative Successes. Working Paper, WP-88-096. IIASA, Laxenburg, Austria Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3. 1. Bản đồ lượng mưa bình quân nhiều năm lưu vực sông Ba - Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp tài nguyên nước lưu vực sông ba
Hình 3. 1. Bản đồ lượng mưa bình quân nhiều năm lưu vực sông Ba (Trang 37)
Hình 4. 10.  Sơ đồ tính hệ thống - Kịch bản tương lai - Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp tài nguyên nước lưu vực sông ba
Hình 4. 10. Sơ đồ tính hệ thống - Kịch bản tương lai (Trang 76)
Hình 5. 9. Đồ thị biểu thị nhu cầu sử dụng nước hàng tháng của các hộ sử dụng - Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp tài nguyên nước lưu vực sông ba
Hình 5. 9. Đồ thị biểu thị nhu cầu sử dụng nước hàng tháng của các hộ sử dụng (Trang 110)
Hình 5. 13. Đồ thị biểu thị lượng nước trữ trong hồ từng thời đoạn - Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp tài nguyên nước lưu vực sông ba
Hình 5. 13. Đồ thị biểu thị lượng nước trữ trong hồ từng thời đoạn (Trang 112)
Hình 5. 14. Đồ thị biểu thị lưu lượng cấp cho môi trường sinh thái - Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp tài nguyên nước lưu vực sông ba
Hình 5. 14. Đồ thị biểu thị lưu lượng cấp cho môi trường sinh thái (Trang 112)
Hình 5. 18. Biểu đồ nhu cầu sử dụng nước của các bên - Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp tài nguyên nước lưu vực sông ba
Hình 5. 18. Biểu đồ nhu cầu sử dụng nước của các bên (Trang 116)
Hình 5. 22. Thiếu hụt nước - phương án nhu cầu sử dụng năm 2020 - phương án 1 - Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp tài nguyên nước lưu vực sông ba
Hình 5. 22. Thiếu hụt nước - phương án nhu cầu sử dụng năm 2020 - phương án 1 (Trang 118)
Hình 5. 24. Thiếu hụt nước - phương án nhu cầu sử dụng năm 2020 - phương án 3 - Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp tài nguyên nước lưu vực sông ba
Hình 5. 24. Thiếu hụt nước - phương án nhu cầu sử dụng năm 2020 - phương án 3 (Trang 120)
Hình 5. 25. Kết quả lựa chọn phương án có lợi nhất - Mâu thuẫn dạng 1 - Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp tài nguyên nước lưu vực sông ba
Hình 5. 25. Kết quả lựa chọn phương án có lợi nhất - Mâu thuẫn dạng 1 (Trang 121)
Hình 5. 27. Biểu đồ nhu cầu sử dụng nước của các nhóm - Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp tài nguyên nước lưu vực sông ba
Hình 5. 27. Biểu đồ nhu cầu sử dụng nước của các nhóm (Trang 123)
Hình 5. 31. So sánh giữa cung và cầu cho thủy điện - Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp tài nguyên nước lưu vực sông ba
Hình 5. 31. So sánh giữa cung và cầu cho thủy điện (Trang 125)
Hình 5. 34. Lựa chọn phương án có lợi nhất - Mâu thuẫn dạng 2 - Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp tài nguyên nước lưu vực sông ba
Hình 5. 34. Lựa chọn phương án có lợi nhất - Mâu thuẫn dạng 2 (Trang 127)
Hình 4. 1. Sơ đồ hệ thống giai đoạn 1980 - 1999 - Kịch bản hiện trạng - Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp tài nguyên nước lưu vực sông ba
Hình 4. 1. Sơ đồ hệ thống giai đoạn 1980 - 1999 - Kịch bản hiện trạng (Trang 181)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w