Vùng biên giới bị ngập lũ sâu áp dụng phương châm Chung sống bằng hệ thống đê bao bảo vệ thành phố, thị xã, thị trấn, trung tâm xã, vườn cây ăn trái, khu công nghiệp, cây công nghiệp, cũ
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN QUY HOẠCH THUỶ LỢI MIỀN NAM
FÕG
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ XÂY DỰNG ĐÊ BAO
VÀ ĐƯỜNG GIAO THÔNG NHẰM GIẢM THIỂU TÁC HẠI CỦA LŨ XUYÊN BIÊN GIỚI VIỆT NAM-CAMPUCHIA
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: Đặng Thanh Lâm
8950
TP Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2010
Cơ quan thực hiện: VIỆN QUY HOẠCH THUỶ LỢI MIỀN NAM 271/3, An Dương Vương, Quận 5, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam Điện thoại: (84-8) 8350 850 Fax:(84-8) 835 1721 E-mail: siwarp@hcm.fpt.vn Website: http://www.siwarp.org.vn
Trang 2i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH v
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU VÀ VÙNG BIÊN GIỚI VN-CPC 1
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1
1.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG NGHIÊN CỨU 12
1.2.1 Phạm vi nghiên cứu 12
1.2.2 Đặc điểm địa hình 14
1.2.3 Đặc điểm địa chất 14
1.2.4 Đặc điểm thổ nhưỡng 14
1.2.5 Đặc điểm khí tượng 14
1.2.6 Hệ thống sông kênh và vấn đề quản lý khai thác nguồn nước 15
1.2.7 Đặc điểm thuỷ văn 20
1.2.8 Tình hình ngập lũ vùng ven biên giới 21
1.3 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG VÙNG NGHIÊN CỨU 26
1.3.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp 26
1.3.2 Hệ thống thuỷ lợi và đường giao thông 29
1.4 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG ĐÊ BAO VÀ ĐƯỜNG GIAO THÔNG 33
1.4.1 Thu thập tài liệu đê và đường giao thông 33
1.4.2 Khảo sát địa hình đê và đường 36
1.4.3 Đánh giá chung về đê và đường giao thông 40
CHƯƠNG 2: HOẠCH ĐỊNH HÀNH LANG THOÁT LŨ VÙNG BIÊN GIỚI VN-CPC Ở ĐBSCL 41
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC KIỂM SOÁT LŨ XUYÊN BIÊN GIỚI 41
2.1.1 Khái niệm tác động xuyên biên giới 41
2.1.2 Định hướng chiến lược KSL các vùng trọng điểm ở châu thổ Mekong 41
2.2 ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC KIỂM SOÁT LŨ VÙNG BIÊN GIỚI 48
2.2.1 Mục tiêu quản lý lũ ĐBSCL và dải biên giới 48
2.2.2 Cơ hội và thách thức đối với kiểm soát lũ biên giới 49
2.2.3 Hoạch định các giải pháp kiểm soát lũ biên giới và hành lang thoát lũ 50
2.3 XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỦY LỰC MÔ PHỎNG PHƯƠNG ÁN KSL 50
2.3.1 Đánh giá, chọn lựa mô hình thích hợp 50
2.3.2 Mô hình VRSAP 51
2.3.3 Mô hình Mike11 57
2.4 MÔ PHỎNG PHÂN TÍCH PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP ĐÊ VÀ ĐƯỜNG 66
Trang 3ii
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG DO PHÁT TRIỂN HỆ
THỐNG ĐÊ VÀ ĐƯỜNG VÙNG LŨ BIÊN GIỚI 71
3.1 TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TỪ PHÍA CAMPUCHIA 71
3.2 PHÂN VÙNG RỦI RO VÀ ĐÁNH GIÁ THIỆT HẠI LŨ VÙNG KSL SỚM 73
3.2.1 Trường hợp hiện trạng 73
3.2.2 Phương án kiểm soát lũ mức thấp 73
3.2.3 Phương án kiểm soát lũ mức trung bình 74
3.2.4 Phương án kiểm soát lũ mức cao 74
3.3 PHÂN VÙNG RỦI RO LŨ VÙNG BẮC VÀM NAO 75
3.3.1 Các trường hợp mô phỏng 75
3.3.2 Phân tích kết quả mô phỏng Trường hợp 1 (tràn đê hiện trạng) 76
3.3.3 Phân tích kết quả mô phỏng Trường hợp 2 (vỡ đê sông Tiền) 80
3.3.4 Phân tích kết quả mô phỏng Trường hợp 3 (vỡ đê Vĩnh An) 84
3.3.5 Phân tích kết quả mô phỏng Trường hợp 4 (vỡ đê Sông Hậu) 88
3.3.6 Những kiến nghị cho quản lý đê và quản lý rủi ro lũ 92
CHƯƠNG 4: TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT CHO QUY HOẠCH, THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG ĐÊ BAO VÀ ĐƯỜNG GIAO THÔNG VÙNG BIÊN GIỚI ĐBSCL 93
4.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ ĐÊ ĐIỀU 93
4.2 HOẠCH ĐỊNH TUYẾN CÔNG TRÌNH 97
4.3 TÍNH TOÁN MẶT CẮT THIẾT KẾ ĐÊ 98
4.3.1 Mặt cắt đê xây dựng mới bảo vệ các thị trấn vùng lũ 98
4.3.2 Mặt cắt đê nâng cấp tuyến đê theo tuyến lộ, đê hoặc bờ bao đã có 98
4.3.3 Các bờ bao kiểm soát lũ cho vùng sản xuất nông nghiệp 99
4.4 TÍNH TOÁN THẤM QUA ĐÊ VÀ ỔN ĐỊNH THÂN ĐÊ 100
4.4.1 Những căn cứ và cơ sở để tính toán 100
4.4.2 Tính thấm qua đê và ổn định thân đê 101
4.5 BIỆN PHÁP DUY TU SỬA CHỮA VÀ QUẢN LÝ ĐÊ VÀ ĐƯỜNG 107
4.5.1 Theo dõi và xứ lý lún 107
4.5.2 Theo dõi và xử lý sạt lở mái đê và thấm qua thân đê 107
4.5.3 Theo dõi và xử lý hư hỏng cửa lấy nước và sạt lở khu vực 107
4.5.4 Biện pháp gia cố bảo vệ mái đê chống lũ và đê bao lửng 108
4.5.5 Bảo vệ và khai thác sử dụng 108
4.5.6 Trách nhiệm và quyền hạn của các bên tham gia quản lý đê và đường 109
4.5.7 Xử phạt vi phạm hành chính về đê điều 112
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
Trang 4iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH-NBD Biến đổi khí hậu-nước biển dâng
Bộ KH&CN Bộ Khoa học và Công nghệ
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
DHI Viện Thuỷ lực Đan Mạch
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
FMMP Chương trình quản lý và giảm nhẹ lũ
GIS Hệ thống thông tin địa lý
Giữa STSH Giữa sông Tiền sông Hậu
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TCXDVN Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam
TGLX Tứ giác Long Xuyên
TT-LG Tân Thành-Lò Gạch
UBND Ủy ban nhân dân
Viện QHTLMN Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam
VN-CPC Việt Nam-Campuchia
Trang 5iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1-1: Hệ thống sông kênh trong dải biên giới VN-CPC thuộc vùng ĐBSCL 17
Bảng 1-2: Tiến độ thu hoạch lúa Hè Thu của hai huyện Tân Hồng và Hồng Ngự 26
Bảng 1-3: Tiến độ thu hoạch lúa HT của các h An Phú, Tân Châu, Phú Tân năm 2005 28
Bảng 1-4: Tiến độ thu hoạch lúa HT của các h.An Phú, Tân Châu, Phú Tân năm 2006 28
Bảng 1-5: Tiến độ thu hoạch lúa HT của các h An Phú, Tân Châu, Phú Tân năm 2007 29
Bảng 1-6: Cao trình đê vành đai Bắc Vàm Nao 33
Bảng 1-7: Khối lượng khảo sát các tuyến đê và đường vùng biên giới 36
Bảng 2-1: Mực nước lớn nhất mùa lũ 2000 tại một số vị trí (hệ cao độ Mũi Nai) 55
Bảng 2-2: Tuyến đê nâng cấp để kiểm soát lũ đến ngày 15/7 68
Bảng 2-3: Tuyến đê nâng cấp để kiểm soát lũ đến ngày 20/7 69
Bảng 2-4: Tuyến đê nâng cấp để kiểm soát lũ đến ngày 31/7 69
Bảng 2-5: Lưu lượng đỉnh lũ 2000 trường hợp hiện trạng đê và các phương án 70
Bảng 3-1: Chênh lệch mực nước đỉnh lũ KB2 so với KB0 71
Bảng 3-2: Chênh lệch mực nước lũ sớm KB2 so với KB0 72
Bảng 3-3: Chênh lệch mực nước đỉnh lũ KB4 so với KB0 72
Bảng 3-4: Chênh lệch mực nước lũ sớm KB4 so với KB0 72
Bảng 3-5: Tổng hợp kết quả tính toán ổn định đê vành đai BVN 75
Bảng 3-6: Mực nước đỉnh lũ trong những năm lũ lớn tại Tân Châu và Châu Đốc 77
Bảng 3-7: Tổng hợp lưu lượng tràn và độ sâu ngập các đoạn đê vành đai 77
Bảng 4-1: Kiểm kê các văn bản phát luật của TW và địa phương về đê điều vùng BG 93
Bảng 4-2: Tổng hợp kết quả tính toán thấm qua đê sông Tiền 104
Bảng 4-3: Tổng hợp kết quả tính toán ổn định đê s.Tiền trường hợp 1 104
Bảng 4-4: Tổng hợp kết quả tính toán ổn định đê s.Tiền trường hợp 2 104
Trang 6v
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1-1: Vị trí vùng nghiên cứu đề tài KC.08.34 13
Hình 1-2: Lưu lượng lớn nhất thực đo và tổng lượng ước tính lũ năm 2000 22
Hình 1-3: Độ sâu ngập lũ đến ngày 31/7 tần suất 10% 24
Hình 1-4: Độ sâu ngập lũ đến ngày 31/7 tần suất 1% 25
Hình 1-5: Độ sâu ngập lũ lớn nhất tần suất 10% 25
Hình 1-6: Độ sâu ngập lũ lớn nhất tần suất 1% 26
Hình 1-7: Biểu đồ tiến độ thu hoạch lúa Hè Thu các huyện Tân Hồng và Hồng Ngự 27
Hình 1-8: Biểu đồ tiến độ thu hoạch lúa Hè Thu huyện An Phú 29
Hình 1-9: Bản đồ hiện trạng tuyến đê bao, đường giao thông vùng biên giới 35
Hình 1-10: Bản đồ các tuyến đê khảo sát cao trình dọc tuyến và mặt cắt ngang 38
Hình 1-11: Bản đồ cao trình thấp nhất trên các tuyến đê khảo sát, điều tra 39
Hình 2-1: Bản đồ phân khu kiểm soát lũ vùng Tây sông Bassac thuộc CPC 42
Hình 2-2: Bản đồ phân khu kiểm soát lũ vùng Đông sông Mekong thuộc CPC 43
Hình 2-3: Bản đồ bố trí công trình kiểm soát lũ vùng TGLX 45
Hình 2-4: Bản đồ bố trí công trình kiểm soát lũ vùng ĐTM 47
Hình 2-5: Bản đồ tổng thể các vùng thủy lợi ĐBSCL 48
Hình 2-6: Sơ đồ mô hình VRSAP vùng châu thổ Mê Công 53
Hình 2-7: So sánh mực nước thực đo một số trạm với tính toán bằng VRSAP 56
Hình 2-8: Sơ đồ thủy lực đê bao biên giới ĐBSCL 58
Hình 2-9: Mô hình hoá mô phỏng lũ tràn từ sông kênh vào ruộng và giữa các ô ruộng 59
Hình 2-10: Biểu đồ và bảng số liệu mô tả một băng tràn qua đê tại TX Tân Châu 59
Hình 2-11: Biểu đồ mực nước tính toán bằng Mike11 so với thực đo tại Tân Châu 60
Hình 2-12: Biểu đồ mực nước tính toán bằng Mike11 so với thực đo tại Châu Đốc 61
Hình 2-13: Biểu đồ mực nước tính toán bằng Mike11 so với thực đo tại Tân Hồng 61
Hình 2-14: Biểu đồ mực nước tính toán bằng Mike11 so với thực đo tại Hồng Ngự 62
Hình 2-15: Bản đồ mực nước vùng biên giới ngày 15/7/2000 62
Hình 2-16: Bản đồ mực nước vùng biên giới ngày 20/7/2000 63
Hình 2-17: Bản đồ mực nước vùng biên giới ngày 25/7/2000 63
Hình 2-18: Bản đồ mực nước vùng biên giới ngày 31/7/2000 64
Hình 2-19: Bản đồ mực nước vùng biên giới ngày 15/8/2000 64
Hình 2-20: Bản đồ mực nước vùng biên giới ngày 31/8/2000 65
Hình 2-21: Bản đồ mực nước vùng biên giới ngày 15/9/2000 65
Hình 2-22: Bản đồ mực nước vùng biên giới ngày 23/9/2000 66
Trang 7vi
Hình 2-23: Bản đồ phương án phát triển đê bao mức thấp 67
Hình 2-24: Bản đồ phương án phát triển đê bao mức trung bình 67
Hình 2-25: Bản đồ phương án phát triển đê bao mức cao 68
Hình 3-1: Biểu đồ thiệt hại lúa HT các huyện Tân Hồng và Hồng Ngự theo thời gian 75
Hình 3-2: Biểu đồ thiệt hại lúa Hè Thu các huyện An Phú theo thời gian 75
Hình 3-3: Vị trí điểm mất ổn định trên đê vành đai BVN 76
Hình 3-4: Biểu đồ lưu lượng tràn qua các đoạn trên tuyến đê vành đai 78
Hình 3-5: Biểu đồ lưu lượng tràn qua các đoạn trên tuyến đê vành đai sông Tiền 79
Hình 3-6: Biểu đồ lưu lượng tràn qua các đoạn trên tuyến đê vành đai sông Hậu 79
Hình 3-7: Biểu đồ lưu lượng tràn qua các đoạn trên tuyến đê vành đai Cái Tắc 80
Hình 3-8: Diễn biến mực nước các ô ruộng trong vùng BVN 80
Hình 3-9: Biểu đồ lưu lượng tràn đê trong phương án vỡ đê sông Tiền 81
Hình 3-10: Biểu đồ mực nước các tiểu vùng khi vỡ đê sông Tiền 81
Hình 3-11: Bản đồ mực nước các tiểu vùng BVN 4 ngày sau khi vỡ đê s.Tiền 82
Hình 3-12: Bản đồ mực nước các tiểu vùng BVN 9 ngày sau khi vỡ đê s.Tiền 83
Hình 3-13: Bản đồ mực nước các tiểu vùng BVN lúc đỉnh lũ 2000 84
Hình 3-14: Biểu đồ lưu lượng tràn đê khi vỡ đê Vĩnh An 85
Hình 3-15: Biểu đồ mực nước các tiểu vùng khi vỡ đê Vĩnh An 85
Hình 3-16: Bản đồ mực nước các tiểu vùng BVN 4 ngày sau khi vỡ đê Vĩnh An 86
Hình 3-17: Bản đồ mực nước các tiểu vùng BVN 9 ngày sau khi vỡ đê Vĩnh An 87
Hình 3-18: Bản đồ mực nước các tiểu vùng BVN lúc đỉnh lũ 2000 88
Hình 3-19: Biểu đồ lưu lượng tràn đê khi vỡ đê sông Hậu 89
Hình 3-20: Biểu đồ mực nước các tiểu vùng đê khi vỡ đê sông Hậu 89
Hình 3-21: Bản đồ mực nước vùng BVN 4 ngày sau khi vỡ đê s.Hậu 90
Hình 3-22: Bản đồ mực nước vùng BVN 9 ngày sau khi vỡ đê s.Hậu 91
Hình 3-23: Bản đồ mực nước vùng BVN lúc đỉnh lũ 2000 92
Hình 4-1: Mặt cắt điển hình cho các tuyến đê làm mới và kết hợp tuyến đường hiện có 99
Hình 4-2: Mặt cắt điển hình cho các bờ bao bảo vệ sản xuất nông nghiệp 99
Hình 4-3: Sơ đồ thấm qua đê sông Tiền Bắc Vàm Nao tại vị trí MC-ST-5 105
Hình 4-4: Sơ đồ thấm qua đê sông Tiền Bắc Vàm Nao tại vị trí MC-ST-6 105
Hình 4-5: Sơ đồ tính ổn định sông Tiền Bắc Vàm Nao tại vị trí MC-ST-5 106
Hình 4-6: Sơ đồ tính ổn định sông Tiền Bắc Vàm Nao tại vị trí MC-ST-6 106
Trang 81
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN
CỨU VÀ VÙNG BIÊN GIỚI VN-CPC
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Vùng ĐBSCL được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư có trọng điểm vùng đất này từ sau năm 1975 nhằm khai thác tiềm năng to lớn cho phát triển kinh tế và
ổn định an sinh-xã hội Việc xây dựng hàng loạt công trình thuỷ lợi để dẫn ngọt, tiêu chua, xổ phèn, ngăn mặn, tiêu úng và hàng vạn cây số bờ bao để kiểm soát lũ tháng 8 bảo vệ lúa Hè-Thu, kết hợp áp dụng các giống lúa mới và những tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp đã tạo tiền đề bố trí mùa vụ, chuyển đổi cơ cấu kinh tế không những cho riêng vùng ngập lũ mà cho cả vùng ĐBSCL
Để phát triển và ổn định dân sinh-kinh tế, kiểm soát lũ trên quan điểm chung sống với lũ luôn được xem là hướng đi chủ đạo trong vùng ngập lũ Để hạn chế những tác hại do lũ gây ra và tận dụng những mặt lợi do lũ mang lại, những công trình kiểm soát lũ đã được hình thành từ đầu những năm 90 thế kỷ trước và định hình dần cho đến nay, đặc biệt phát triển nhanh sau Quyết định 99-TTg ngày 09-2-
1996 của Thủ tướng Chính phủ về “Định hướng dài hạn và kế hoạch 5 năm
1996-2000 đối với việc phát triển thuỷ lợi, giao thông và xây dựng nông thôn ĐBSCL” Hiệu quả của các hệ thống công trình kiểm soát lũ đã từng bước được phát huy Lũ
đã dần được kiểm soát nhằm phục vụ tốt hơn cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội Năm 1999 Bộ NN&PTNT thực hiện dự án “Quy hoạch kiểm soát và sử dụng nước lũ vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến 2010” được Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Thông qua dự án này, hàng loạt công trình kiểm soát lũ đã được xây dựng trên các vùng ngập lũ, đặc biệt ở Tứ giác Long Xuyên, góp phần hạn chế tác hại của lũ lụt, đảm bảo cho quá trình phát triển kinh tế và ổn định đời sống người dân vùng lũ
Song, do vốn đầu tư cho xây dựng các công trình kiểm soát lũ là rất lớn, với khoảng 22.000 tỷ đồng Vì thế, một khi nguồn vốn còn nhiều hạn chế thì Nhà nước chỉ có thể đầu tư cho một số công trình then chốt, trọng điểm mà thôi nên hiệu quả của cả hệ thống là chưa thể phát huy cao như mong muốn Bên cạnh đó, với trận lũ lịch sử 2000 xảy ra khi một số công trình kiểm soát lũ đã được hình thành lại càng cho thấy rõ hơn những vấn đề đã chưa thể xem xét hết trong nghiên cứu trước đây
mà nay cần phải được điều chỉnh, bổ sung Ngoài ra, không chỉ có các công trình kiểm soát lũ do Trung ương đầu tư, mà các tỉnh, các huyện, thậm chí người dân cũng đã bỏ không ít tiền của vào các công trình và hệ thống kiểm soát lũ các cấp, nên tác động của những hệ thống này đến diễn biến ngập lũ là rất cần được xem xét
Trang 92
tới Ngay cả những công trình do Nhà nước đầu tư, thì ngoài các hệ thống kiểm soát
lũ trực tiếp, còn rất nhiều hệ thống công trình hạ tầng gián tiếp khác cũng được phát triển nhanh chóng trong vùng ngập lũ như hệ thống đường giao thông và khu dân cư nâng nền tập trung trong chương trình an sinh vùng lũ
Theo phương quy hoạch của Dự án quy hoạch kiểm soát lũ và sử dụng nước
lũ ĐBSCL thì cả vùng ĐTM và TGLX đều phải tăng cường kiểm soát lũ tràn biên
giới để giảm ngập úng vùng lũ ĐBSCL đầu vụ và cuối vụ nhằm bảo vệ lúa Hè Thu
Vùng biên giới bị ngập lũ sâu áp dụng phương châm Chung sống bằng hệ thống đê bao bảo vệ thành phố, thị xã, thị trấn, trung tâm xã, vườn cây ăn trái, khu công nghiệp, cây công nghiệp, cũng như bố trí các tuyến và cụm dân cư, đường giao thông huyết mạch vượt lũ; Gắn kết giữa thuỷ lợi, giao thông, dân cư, dải cây xanh, kênh thoát lũ, dẫn lũ vào cải tạo đồng ruộng
Vùng ĐTM: Hạn chế tối đa lũ tràn biên giới vào ĐTM bằng hệ thống dẫn
thoát lũ tràn biên giới ra sông Tiền, sông Vàm Cỏ và hệ thống công trình kiểm soát
lũ tràn biên giới (Cụm công trình số 1) để chủ động kiểm soát lũ đầu vụ, cuối vụ và
tháo lũ vào đồng ở thời kỳ lũ chính vụ nhằm tránh dâng cao mực nước ở vùng biên giới Các hạng mục công trình của cụm số 1 gồm:
- Xây dựng tuyến ngăn lũ và kiểm soát lũ dọc theo bờ Nam kênh Tân
Thành-Lò Gạch, cách biên giới khoảng 20 km, cao trình đỉnh lũ +6,5 m tại Hồng Ngự và +5,5 m tại Vĩnh Hưng Nạo vét và mở rộng kênh Tân Thành-Lò Gạch đợt 2 với chiều rộng đáy kênh 32-24 m, cao trình đáy -3,0 m
- Trên tuyến ngăn lũ xây dựng 10 cống trong đó có 5 cống để kiểm soát lũ là công trình 2/9, Kháng Chiến, có chiều rộng đáy B= 30 m, công trình Bình Thành B= 20 m, công trình Thống nhất B= 20 m, công trình Cái Cái B= 25
m Tuyến ngăn lũ này kết hợp xây dựng tuyến Quốc lộ N1 và phân bố dân cư làm thành tuyến phòng thủ ven biên giới
- Mở rộng 3 cửa thoát lũ trên tuyến đường Nam Sở Thượng đủ thoát lũ ra sông Tiền từ Hồng Ngự đi Tân Châu là cột điện số 10, Trà Đư-Cây Đa và Cái Sách-Nam Hang Hệ thống này có khả năng thoát được khoảng 3.700 m3/s
- Nạo vét 4 kênh thoát lũ ven sông Tiền là kênh 2/9, Kháng Chiến, Bình Thành, Thống Nhất nối với các đường thoát lũ Đốc Vàng Hạ, Đốc Vàng Thượng và cửa Ba Răng để thoát được 3.000 m3/s, mở rộng kênh Sông Trăng nối với rạch Cà Rưng và kênh Cả Gừa với B= 20 m, đáy -3,0 m; mở rộng kênh 28 với B= 20 m, đáy -3,0 m
Theo phương án kiểm soát lũ vùng ĐTM thì vùng biên giới ĐTM (phía Bắc kênh Tân Thành-Lò Gạch sẽ không kiểm soát lũ, sản xuất thích nghi với lũ, là
Trang 103
hành lang thoát lũ ra sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây
Vùng TGLX: Xây dựng tuyến đê ngăn lũ tràn biên giới và các công trình
kiểm soát lũ tràn biên giới (Cụm công trình số 2) vào vùng TGLX bao gồm:
- Tuyến đê ngăn lũ tràn biên giới từ Châu Đốc đến Tịnh Biên và từ Ba Chúc đến đầu kênh Hà Giang Tuyến đê được đắp phía bờ Nam kênh Vĩnh Tế, cách đường biên khoảng 1 km
- Các công trình kiểm soát lũ tràn biên giới gồm đập cao su Trà Sư rộng 90m, cao trình đáy 1,6m, cao trình đỉnh đập 3,8m; đập cao su Tha La rộng 72m, cao trình đáy 1,5m, cao trình đỉnh 3,8m để có thể thoát được lưu lượng 700
m3/s; các công trình kiểm soát lũ đầu kênh Mới, T5, T4, T3, T2, Nông Trường và 7 cầu ở đầu các kênh vùng Tứ giác Hà tiên
Dải biên giới vùng TGLX cũng không kiểm soát lũ, sản xuất thích nghi với
lũ và là hành lang thoát lũ ra biển Tây
Vùng Giữa sông Tiền-sông Hậu: Mục tiêu là không kiểm soát lũ khu vực Bắc
kênh Vĩnh An, do là vùng ngập sâu, có biện pháp bảo vệ các khu dân cư, tạo nơi ở
an toàn và ổn định, đồng thời có biện pháp kiểm soát và né tránh lũ thích hợp, kết hợp với việc bố trí thời vụ để sản xuất 2 vụ lúa Đông-Xuân và Hè-Thu; Kiểm soát
lũ cả năm cho toàn bộ diện tích phía Nam kênh Vĩnh An (vùng Thần Nông), tạo điều kiện phát triển sản xuất ở mức độ cao, đảm bảo an toàn và ổn định cuộc sống nhân dân trong vùng, phát triển nông thôn văn minh và hiện đại
Giải pháp và phương án kiểm soát lũ:
Tiểu vùng Bắc kênh Vĩnh An:
Đây là vùng ngập lũ sớm và ngập lũ sâu trên 3,0 m, thời gian kéo dài 6 tháng (từ 7-12) nên sản xuất nông nghiệp chủ yếu là né tránh lũ để làm 2 vụ lúa Đông-Xuân và Hè-Thu, tuy vụ Hè-Thu chưa ổn định Hiện nay, trong số diện tích cây hàng năm là 25.000 ha đã có 24.700 ha 2 vụ Biện pháp công trình kiểm soát lũ là:
- Xây dựng bờ bao, cống bọng theo hệ thống kênh cấp II để tạo thành các ô khép kín có khả năng kiểm soát lũ đầu vụ nhằm bảo vệ thu hoạch lúa Hè-Thu
và tạo điều kiện để xuống giống sớm vụ Đông-Xuân Vụ Hè-Thu cần gieo cấy sớm để kịp thu hoạch trước 15/7 hàng năm
- Xây dựng hệ thống đê bao, cống, trạm bơm tiêu để bảo vệ các thị trấn Tân Châu, An Phú với mức vượt lũ 2000, đồng thời xây dựng các tuyến dân cư ven các trục lộ, tôn nền nhà, làm nhà trên cọc vượt lũ 2000 để đảm bảo có chỗ ở không ngập
- Củng cố tuyến lộ chính vượt lũ 2000 để đảm bảo giao thông xuyên suốt
Trang 114
trong mùa lũ Đường giao thông nông thôn chỉ đảm bảo không ngập ở thời
kỳ đầu vụ và cuối vụ, thời kỳ lũ chính vụ vẫn cho ngập để tránh cản trở dòng chảy lũ
Tiểu vùng Thần Nông:
Tiểu vùng được giới hạn bởi kênh Vĩnh An, sông Vàm Nao, sông Tiền và sông Hậu, có diện tích tự nhiên 31.000 ha Tiểu vùng này đã lập dự án khả thi và đang được đưa vào xây dựng dưới sự tài trợ của Chính phủ Úc Biện pháp công trình là xây dựng hệ thống đê bao và các cống đầu kênh cấp I để tạo thành một khu khép kín có khả năng kiểm soát lũ cả năm Các công trình cần xây dựng gồm có
- Nạo vét kênh Thần Nông, các kênh cấp I;
- Xây dựng cống ngăn lũ, tiêu nước cuối kênh Thần Nông, đầu các kênh cấp I;
- Xây dựng hệ thống đê kết hợp đường giao thông ven sông Tiền, sông Hậu, rạch Cái Tắc
Giải pháp Quy hoạch kiểm soát và sử dụng nước lũ ĐBSCL cho đến nay vẫn được đánh giá về cơ bản là đúng đắn, vì đã được minh chứng qua các trận lũ 2000,
2001 và 2002, nhất là ở vùng TGLX, khi đã được đầu tư một cách tương đối hoàn chỉnh Vấn đề ở đây là chỉ cần xem xét bổ sung thêm khẩu độ thoát lũ trên các tuyến giao thông, tuyến ngăn lũ và hệ thống đê bao bờ bao Những tồn tại nhận thấy là quản lý quy hoạch là cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, thiếu vốn, hay đầu tư không mang tính đồng bộ mà chỉ mang tính dàn trải nên hiệu quả mang lại không theo mong muốn Đặc biệt, khi đã có quy hoạch, nhưng nội dung của quy hoạch các địa phương hay người dân không nắm được nên đầu tư còn mang tính tự phát, nhiều lúc trái ngược
Phương châm chung sống với lũ, nhằm tận dụng các mặt lợi của lũ và hạn chế tối đa các thiệt hại do lũ gây ra, đang được áp dụng ngày càng được người dân đồng tình, ủng hộ Tuy nhiên, lũ là loại thiên tai nguy hiểm, diễn biến phức tạp khó lường Để chung sống với lũ một cách chủ động, ổn định và phát triển bền vững thì
kiểm soát và thoát lũ phục vụ yêu cầu chung sống với lũ ở ĐBSCL là những vấn đề
cơ bản nhất Nội dung này được Chương trình Phòng chống thiên tai và Bảo vệ môi trường Bộ KH&CN triển khai một số đề tài trọng điểm như đề tài KC08-14 về Nhận dạng, dự báo, kiểm soát và thoát lũ vùng ĐBSCL, đề tài Nghiên cứu giải pháp thoát lũ sông Vàm Cỏ và đề tài KC08.08/06-10 về Quản lý lũ vùng biên giới ĐBSCL đều thống nhất phân vùng lũ biên giới và các giải pháp kiểm soát lũ tràn biên giới
Đề tài NCKH “ Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ xây dựng hệ thống đê bao, bờ bao nhằm phát triển bền vững vùng ngập lũ ĐBSL” do cố
Trang 125
GS Trần Như Hối thực hiện năm 2005 đã nghiên cứu xác định được các giải pháp thiết kế và công nghệ thi công đê bao, bờ bao vùng ngập lũ cho các vùng địa chất, địa hình khác nhau của vùng ngập lũ ĐBSCL Giải pháp thiết kế đê được đề xuất là việc chọn tuyến đê, hình thức kết cấu đê và tính toán ổn định thân đê và xử lý nền
đê Công nghệ thi công đê bằng vật liệu mới thảm xơ dừa áp dụng cho đoạn đê dài
400 m tại huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang có điều kiện lũ ngập nông Đề tài đã đánh giá quy mô ô bao cho hiệu quả kinh tế-kỹ thuật là khoảng 500-3000 ha tuỳ từng vùng và bờ bao nên kết hợp giao thông nông thôn Đối với vùng biên giới, đề tài kiến nghị phá bỏ đê bao vùng kênh Năm Xã của tỉnh An Giang (đê bao chống lũ triệt để) vì cản trở dòng chảy lũ, dâng cao mực nước phía CPC và 2 rìa vùng ngập
lũ, đồng thời hàng năm Trung ương và chính quyền địa phương phải đầu tư kinh phí duy tu sửa chữa thường xuyên khá tốn kém Đánh giá hiện trạng đê bao vùng biên giới là đê bao chống lũ tháng 7 với quy mô ô bao 500-1.000 ha
Chuyên đề Các giải pháp kiểm soát lũ theo yêu cầu chung sống với lũ ở ĐBSCL của đề tài KC08-14 tập trung nghiên cứu các nội dung : (a) Rà soát Quy hoạch kiểm soát lũ châu thổ Mekong, vùng ĐBSCL phục vụ yêu cầu sống chung với lũ sông Mekong ngắn hạn và dài hạn, (b) Xây dựng phương pháp luận kiểm soát
lũ, quản lý lũ và đề xuất các giải pháp chung sống với lũ và (c) Ứng dụng ngay các kết quả nghiên cứu bước đầu của đề tài vào quy hoạch lũ ĐSCSL Ngoài ra, đề tài còn xây dựng mô hình thuỷ lực lũ và lập bản đồ lũ ứng với các mức tần suất làm công cụ và cơ sở nghiên cứu các giải pháp lũ một cách khoa học hơn Thông qua số liệu đo trận lũ 2000 và 2001 và ứng dụng mô hình thuỷ lực, đề tài nghiên cứu lại quy mô khẩu độ của các cống thoát lũ Tân Thành-Lò Gạch
Đề tài NCKH giải pháp thoát lũ của sông Vàm Cỏ xác định ngoài việc xây dựng các hệ thống kiểm soát lũ tràn biên giới còn phải xây dựng cống trên sông Vàm Cỏ để gạn triều tăng khả năng thoát lũ cho vùng ĐTM
Đề tài KC08.08/06-10 nghiên cứu tổng hợp giải pháp kiểm soát lũ biên giới trên cơ sở phân tích kịch bản phát triển lưu vực sông Mê Công, nhất là các phương
án kiểm soát lũ châu thổ phía Campuchia, tổng hợp các phương án quy hoạch giao thông trong khu vực và đánh giá tác động môi trường xuyên biên giới
Đề tài NCKH cấp Bộ NN&PTNT về nghiên cứu tác động của hệ thống giao thông đường bộ đến dòng chảy lũ ĐBSCL đã điều tra thu thập số liệu về các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ và đường nông thôn hiện trạng và quy hoạch, đo đạc dòng chảy lũ qua các tuyến cầu nhằm phân tích thuỷ lực các phương án phát triển đường giao thông toàn vùng ĐBSCL Đề tài kiến nghị mở rộng các cầu và cống nhằm giảm chênh mực nước thượng-hạ lưu cầu, hạn chế xói lở và khuyến cáo nên phát triển các
Trang 13Dự án quy hoạch thủy lợi phục vụ ổn định dân cư biên giới tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội và các công trình cơ sở hạ tầng, qua đó xây dựng các giải pháp và phương án công trình thuỷ lợi đáp ứng yêu cầu cấp nước, kiểm soát lũ, tiêu úng, tôn nền, phát triển giao thông phục vụ sản xuất nông nghiệp, ổn định dân cư và các ngành kinh tế khác nhằm giữ vững an ninh quốc gia Về phương án kiểm soát lũ thống nhất với Quy hoạch lũ Dự án nghiên cứu chuyên sấu hơn về giải pháp nạo vét, mở rộng kênh cấp nước tưới về mùa khô
Dự án quy hoạch hệ thống đê bao lửng đã xác định, kiểm tra các chỉ tiêu thiết
kế công trình thuỷ lợi cho các phương án kiểm soát lũ bao gồm cao trình đê bao, hệ thống kênh mương, bờ bao, cống dưới bờ bao theo mực nước đến 15/7 và 25/8 của hiện trạng 2001 Phương án tính toán và lựa chọn là Phương án bao nhỏ: Quy mô
bờ bao theo từng tuyến kênh chính và kênh cấp I, II nhằm kiểm soát lũ cho từng khu nhỏ trong từng tiểu vùng lũ Quy tính toán thuỷ lực đã chọn ra cao trình đê bao từng khu vực ở ĐTM và TGLX
Các dự án quy hoạch thủy lợi vùng ĐTM và TGLX tập trung vào hướng giải quyết tiêu thoát lũ TGLX nhanh ra Biển Tây, thoát lũ ĐTM ra sông Tiền và sông Vàm Cỏ bằng các công trình kênh, cống, tràn Các công trình dải biên giới ít được
đề cập đến
Những dự án giao thông, thuỷ lợi vùng biên giới đang được triển khai là dự
án nạo vét, mở rộng kênh Cái Cỏ-Long Khốt và dự án xây dựng tuyến quốc lộ N1 dọc biên giới Dự án Cái Cỏ - Long Khốt chủ yếu cải tạo kênh để cấp nước mùa khô kết hợp xây dựng tuyến giao thông nông thôn dọc biên giới Tuyến đường dọc kênh phải mở các băng tràn thoát lũ để tránh dâng mực nước phía Campuchia
Dự án xây dựng tuyến quốc lộ N1 từ Đức Huệ-Châu Đốc (dọc tuyến Tân Thành-Lò Gạch) và qua Châu Đốc-Tịnh Biên-Hà Tiên Trong thiết kế tuyến N1 đã
có tính toán thuỷ lực nhằm xác định các thông số thuỷ lực công trình gồm mực nước H, lưu lượng Q dọc tuyến và qua các cầu trên quốc lộ với các tần suất 1%, 2%, 4% và 5% trên nền các công trình kênh thoát lũ và lấy nước tưới theo quy hoạch thuỷ lợi Riêng vùng ĐTM từ Đức Huệ đến Châu Đốc có 64 cầu và cống để thoát lũ và lấy nước, không bao gồm sông Vàm Cỏ Tây và sông Tiền Việc xây
Trang 14Dự án do địa phương đầu tư như dự án đê bao vùng Bảy xã (Bắc kênh Vĩnh An) lên đê bao chống lũ triệt để không theo quy hoạch Diện tích bao đê khoảng 50% diện tích vùng (hơn 10 ngàn ha) Vùng bao đê có diện tích khá nhỏ và nằm giữa 2 sông chính nên ít gây tác động dòng chảy lũ và được phía Campuchia chấp thuận Tuy nhiên, đê khá cao nên thường xuyên bị phá vỡ trong mùa lũ
Những dự án điều tra cơ bản trong vùng là các đợt đo đạc dòng chảy lũ từ tháng 7 đến tháng 11 hằng năm dọc biên giới từ năm 2000 đến nay, dự án điều tra tài nguyên nước các sông kênh biên giới chủ yếu đo dòng chảy mùa lũ phục vụ quản lý và quy hoạch tài nguyên nước và dự án khảo sát thuỷ văn, địa hình và công trình thuỷ lợi dọc biên giới phục vụ cho phân rach cắm mốc biên giới VN-CPC Quan điểm, chủ trương của tỉnh An Giang và Kiên Giang về quan hệ biên giới liên quan đến kiểm soát lũ là (thông qua phối hợp NCH giữa Viện QHTLMN
và chuyên gia thuỷ lợi tỉnh An Giang, Kiên Giang):
- Ủng hộ chủ trương tăng cường kiểm soát lũ vùng biên giới thuộc khu vực TGLX nhằm điều tiết lũ hợp lý cho phép sản xuất 2-3 vụ ăn chắc, cải tạo môi trường và bảo vệ cơ cơ sở hạ tầng trong tứ giác
Trang 158
- Song song với kiểm soát lũ biên giới, cần làm tốt giao thông và thuỷ lợi nội đồng TGLX để khai thác tứ giác ngày càng toàn diện và hiệu quả ngày càng cao hơn
- Hai tỉnh An Giang và Kiên Giang nên có kế hoạch tối ưu và đồng bộ về lịch thời vụ xuống giống và thu hoạch vụ sản xuất vụ hè thu trong TGLX để sử dụng hai đập tràn cao su Tha La và Trà Sư đúng công suất ứng với mực nước tại Châu Đốc 3,80m là xả lũ, tránh trình trạng để hai đập này phải chịu đựng tích lũ quá tải đến mực nước tại Châu Đốc trên 3,80m, có năm tới 4,10m
- Lợi ích to lớn do bờ bao và đê bao mang lại cho người dân trong vùng ngập lụt ĐBSCL suốt ba thập niên qua đã được khẳng định là rất to lớn Với quy mô hiện
có, bờ bao và đê bao chưa đủ khả năng gây ra biến động toàn cục về mực nước lũ, lưu lượng lũ, tốc độ dòng chảy lũ, hàm lượng phù sa lơ lửng và sạt lở đất bờ sông Cửu Long Nếu làm tốt thủy lợi nội đồng đảm bảo chủ động tưới tiêu, đồng thời tích cực chuyển đổi cơ cấu mùa vụ hợp lý thì đất đai các cánh đồng có bờ bao và đê bao không hề bị suy giảm độ phì nhiêu và không tồn trữ mầm sâu bệnh từ vụ này sang
vụ khác Còn những tồn tại khác trong xây dựng, khai thác và sử dụng bờ bao và đê bao cần có giải pháp và lịch trình khắc phục triệt để, nhằm củng cố và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn hệ thống công trình thủy lợi độc đáo này cả về khoa học
và thực tiễn, góp phần tích cực vào sự nghiệp đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn vùng ngập lụt ĐBSCL
Thực tế trong năm 2008 do đợt khủng hoảng lương thực đồng thời trong bối cảnh mấy năm gần đây lũ ĐBSCL khá nhỏ nên hai tỉnh Đồng Tháp và An Giang chủ động phát triển diện tích đê bao vùng ngập sâu khoảng 50.000-100.000 ha mỗi tỉnh Sự tự phát hệ thống công trình theo yêu cầu thực tế không phù hợp với quy hoạch lũ, chưa có cơ sở khoa học và tiêu chuẩn kỹ thuật gây lãng phí tiền bạc và gây tác động tiêu cực đến môi trường
Vấn đề đang xảy ra ở vùng lũ là quy hoạch kiểm soát lũ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 1999 không kiểm soát lũ vùng biên giới phía Bắc kênh Tân Thành-Lò Gạch ở vùng ĐTM, phía Bắc kênh Vĩnh An ở giữa 2 sông Tiền-sông Hậu và Bắc kênh Vĩnh Tế ở TGLX Thực tế các vùng này cần ổn định dân cư và bảo vệ sản xuất một số vùng 2 vụ lúa nên cần phát triển đường giao thông nông thôn và đê bao Việc phát triển đê bao cũng xuất phát từ thực tế do yêu cầu xoá đói giảm nghèo nhờ tăng vụ lúa Vùng biên giới không kiểm soát lũ chỉ cho phép sản xuất 1 vụ lúa nhưng Chính phủ và chính quyền địa phương chưa thể hỗ trợ xoá đói giảm nghèo cho nông dân nhất là vùng biên giới xa xôi Mặt khác, khi tính toán kiểm soát lũ thường tính với lũ tần suất nhỏ hơn 10%, thực tế những năm lũ lớn ít xảy ra như năm 1996, 2000 và 2001, những năm lũ trung bình và lũ nhỏ là chủ yếu
Trang 16Các phương án kiểm soát lũ theo quy hoạch lũ 1999 và được các quy hoạch thuỷ lợi sau cập nhật tính toán chỉ cho phép quốc lộ, tỉnh lộ vượt lũ thiết kế chính
vụ 2000 (tần suất khoảng 2%), nhưng thực tế các năm qua nhiều địa phương đã thực hiện cả huyện lộ, xã lộ vượt lũ chính vụ và bờ bao cho lúa vụ 3 phát triển giống như phong trào tự phát trong sản xuất nông nghiệp
Sự xuất hiện ngày càng nhiều các tuyến đường giao thông, cụm tuyến dân cư trong vùng ngập, trên nhiều tuyến dòng lũ thay vì chảy tràn trên các ô đồng ruộng nay chảy chủ yếu qua các cầu làm dâng mực nước thượng lưu lên khoảng 10-20 cm Các bờ bao ngăn lũ tháng 8, ngăn lũ cả năm, các tuyến đường giao thông cắt ngang dòng lũ, các cụm tuyến dân cư phân bố đều trong vùng ngập làm giảm khả năng tải
và thoát lũ, gia tăng mực nước thượng lưu
Những nghiên cứu trong Chương trình quản lý và giảm nhẹ lũ của Uỷ hội sông Mê Công sẽ sớm xác định các phương án kiểm soát lũ vùng biên giới VN-CPC thông qua nghiên cứu thí điểm liên quốc gia và xây dựng những chỉ dẫn kỹ thuật và đánh giá tác động môi trường về biện pháp công trình kiểm soát lũ châu thổ sông
Mê Công trong đó có những kiến nghị, khuyến cáo rất thiết thực cần có nghiên cứu khoa học làm cụ thể và sáng tỏ các vấn đề về quy hoạch, thiết kế và môi trường
Nhiều nghiên cứu khoa học và các dự án quy hoạch trong và ngoài nước chưa tìm được giải pháp thoả đáng để kiểm soát và thoát lũ tràn vùng ĐTM
Làm thế nào để giải quyết vấn đề nan giải này nhằm đưa ra các giải pháp cụ thể cho từng vùng thích nghi để chủ động bảo vệ sản xuất, ổn định dân cư và phát triển nông thôn mà vẫn đảm bảo thoát lũ nhanh, không gây tăng mực nước cho phía Campuchia đang được các địa phương, các ban ngành và các tổ chức quốc tế quan tâm Mối quan tâm của các địa phương, ban ngành quản lý và các nhà khoa học nhằm giải quyết những tồn tại nói trên đòi hỏi đề tài triển khai nghiên cứu hoạch định hành lang thoát lũ tràn biên giới, đặc biệt là ở ĐTM ở phía Bắc kênh Tân
Trang 1710
Thành-Lò Gạch, vùng giữa 2 sông Tiền-sông Hậu là vùng Bắc kênh Vĩnh An và vùng TGLX là phía Bắc kênh Vĩnh Tế
Những nghiên cứu nước ngoài ở châu thổ Mê Công: Một trong những
nghiên cứu ngoài nước rất đáng quan tâm trong đó có liên quan đến vùng nghiên cứu là Hợp phần 2 Chương trình Quản lý và giảm nhẹ lũ (FMMP-C2) của Uỷ hội sông Mê Công quốc tế (MRCs) do các tư vấn quốc tế Hà Lan NEDECO, Deltares
và UNESCO-IHE đang thực hiện trong 2 năm 2008-2009 cùng với sự phối hợp của các cơ quan các nước thành viên Uỷ hội sông Mê Công Mục tiêu dự án nhằm giảm thiểu rủi ro và thiệt hại lũ về người và của trên lưu vực sông Mê Công và tăng cường năng lực quản lý lũ cho Uỷ ban sông Mê Công quốc gia và các cơ quan trực thuộc Uỷ ban sông Mê Công quốc gia Nội dung dự án đang thực hiện là nghiên cứu
các biện pháp công trình hồ đập, đê bao chống lũ, kênh chuyển lũ và kiểm soát lũ; các biện pháp phi công trình phòng tránh lũ và đánh giá tác động xuyên biên giới
của các giải pháp kiểm soát lũ Đồng thời dự án cũng biên soạn các chỉ dẫn cho
công tác quản lý lũ về đánh giá tác động môi trường lũ xuyên biên giới, chỉ dẫn
chung về tiêu chuẩn phòng chống lũ và áp dụng những chỉ dẫn này cho các nghiên
cứu điển hình vùng biên giới các nước trong lưu vực sông Mê Công, trong đó có dự
án vùng biên giới VN-CPC ở ĐBSCL Nghiên cứu điển hình dự án liên quốc gia ở biên giới VN-CPC đánh giá chung về các giải pháp quản lý lũ của hai quốc gia trong vùng và thiết lập kế hoạch quản lý và giảm nhẹ lũ Bước đầu, dự án đã phân tích rủi ro lũ theo tần suất cho một số huyện vùng lũ của tỉnh Đồng Tháp và An Giang và đánh giá thực trạng tần suất phòng chống lũ cho cơ sở hạ tầng, cho cụm dân cư và cho nông nghiệp Đồng thời dự án cũng đang tính toán các phương án chuyển lũ nhằm giảm nhẹ tác động xuyên biên giới do các giải pháp đê bao kiểm soát lũ của VN và CPC Báo cáo kỹ thuật phân tích thuỷ lực phương án kiểm soát lũ của VN do nhóm tư vấn của Uỷ hội sông Mê Công đưa ra rất tiêu cực về gia tăng mực nước lũ Vấn đề này cần được kiểm chứng nghiêm ngặt Các báo cáo kỹ thuật
về lũ và chỉ dẫn về quản lý lũ nói trên của dự án đang trong quá trình dự thảo, dự kiến đến tháng 9/2009 sẽ hoàn thành
Cũng trong khuôn khổ các dự án của Uỷ hội sông Mê Công quốc tế, các chuyên gia của Hà Lan đã thực hiện nghiên cứu về đường và lũ ở châu thổ sông Mê Công với các nội dung rà soát các hướng dẫn về thiết kế đường ở vùng lũ, khảo sát các điểm sạt lở trước, trong và sau lũ trên các tuyến tỉnh lộ 855, QL1A và đường Hồ Chí Minh thuộc tỉnh Tiền Giang và Đồng Tháp và ứng dụng mô hình thuỷ lực để đánh giá xói lở đường do lũ ở ĐBSCL Những nội dung nghiên cứu nhằm phân tích mối tương quan giữa phát triển đường giao thông và lũ (các tuyến đường không làm mất nguồn lợi của lũ và tránh tác hại của lũ đến các tuyến đường) đồng thời xây dựng chỉ dẫn kỹ thuật (practice guideline) cho quy hoạch tổng hợp và thiết kế các
Trang 1811
tuyến đường giao thông vùng lũ VN-CPC đảm bảo các chỉ tiêu kinh tế và môi trường Theo đánh giá của dự án thì Việt Nam có bộ tiêu chuẩn thiết kế đường giao thông khá đầy đủ, tuy nhiên không có chỉ dẫn riêng đặc thù vùng ĐBSCL Trên thế giới tuy có nhiều hướng dẫn về quy hoạch và thiết kế đường giao thông, tuy nhiên hướng dẫn cho vùng có sinh thái lũ như châu thổ Mê Công thì rất hiếm và chỉ đánh giá tác động giữa đường và lũ ở một mức độ nhất định Trên thế giới cũng có một
số nghiên cứu về quy hoạch chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng vùng lũ và có thể
phân thành hai loại: loại quy hoạch cứng và loại quy hoạch mềm Quy hoạch cứng
nhằm ngăn ngừa và kiểm soát lũ thường gây tác động mạnh đến dòng chảy lũ Quy hoạch mềm nhằm giảm thiểu lũ nhưng vẫn duy trì trạng thái tự nhiên của lũ Những chỉ dẫn về quy hoạch, thiết kế đường và đánh giá tác động môi trường đường và lũ của dự án đưa ra một số kiến nghị đáng quan tâm như sau:
- Về quy hoạch: Cần tiếp cận quan điểm quy hoạch tổng hợp trong bối cảnh lũ châu thổ sông Mê Công có nhiều nguồn lợi và nhạy cảm về môi trường sinh thái Khi quy hoạch các tuyến đường thường chỉ xem xét riêng lẻ và cục bộ không nhận thấy tác động đến lũ, nhưng tính cho toàn vùng châu thổ sẽ thấy tích luỹ những tác động là đáng kể
- Về thiết kế: Cao trình đường quốc lộ nên vượt lũ 2000 cộng độ cao an toàn 0,5 m, cao trình tỉnh lộ vượt lũ 10% cộng độ cao an toàn 0,25 m Khi thiết kế các tuyến đường cần phân tích thuỷ lực kỹ lưỡng, nhất là xem xét gia tăng lưu tốc dòng chảy lũ khi có đường và đê Bộ tiêu chuẩn thiết kế đê và đường cần bổ sung phần đánh giá và phân biệt các cơ chế phá hoại đường
- Về đánh giá tác động môi trường: Cần tăng cường sử dụng đánh giá tác động môi trường chiến lược cho các quy hoạch, chính sách để chỉ rõ những tác động tích luỹ do phát triển đường giao thông đối với chế độ thuỷ lực và môi trường lũ ĐBSCL Cần thích ứng với những khởi xướng của Uỷ hội sông Mê Công để đánh giá tác động liên vùng và xuyên biên giới quốc gia Công nghệ mô hình toán được Uỷ hội sông Mê Công quốc tế chính thức áp dụng nghiên cứu quy hoạch và quản lý lũ châu thổ sông Mê Công gồm có mô hình thuỷ lực 1 chiều ISIS do công ty Halcrow-Anh quốc thực hiện Mô hình mô phỏng
đê bao và đường giao thông như những băng tràn (spill way) nối kết các ô ruộng với nhau và nối kết các ô ruộng với sông kênh Ngoài ra Uỷ hội sông Mê Công còn có
mô hình Mike11 nghiên cứu phía đồng bằng Campuchia, mô hình EIA (mô hình 2 chiều có mô phỏng chất lượng nước) để ứng dụng thí điểm mô phỏng lũ cho vùng
lũ sâu Đồng Tháp Mười
Hiện nay hợp phần Các giải pháp công trình quản lý và giảm nhẹ lũ của Uỷ hội Mê Công (FMMP-C2) đang tiến hành nghiên cứu thí điểm các giải pháp công
Trang 1912
trình nhằm giảm thiểu tác động xuyên biên giới VN-CPC nhưng về giải pháp công trình lấy định hướng quy hoạch lũ ĐBSCL làm nền tảng và xem xét một số yếu tố tác động từ phía Campuchia Công cụ sử dụng để nghiên cứu là mô hình ISIS và VRSAP (theo kết luận của hội nghị quốc gia về hợp phần FMMP-C2 họp ngày 27/7/2009 tại TP.Hồ Chí Minh)
Phía Campuchia dự kiến hoạch định kiểm soát lũ triệt để khoảng 1/3 diện tích đồng bằng phía Nam quốc lộ xuyên Á từ Mộc Bài đến NeakLuong, lợi dụng tuyến đưường xuyên Á và tuyến đường từ Hồng Ngự đi NeakLuong dọc sông Mê Công để ngăn lũ Đây là tiền đề tốt cho kiểm soát lũ tràn biên giới của Việt Nam
1.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG NGHIÊN CỨU
1.2.1 Phạm vi nghiên cứu
Vùng nghiên cứu được xác định là vùng có bố trí hệ thống kiểm soát lũ tràn biên giới ở ĐBSCL (theo quy hoạch kiểm soát lũ được Chính phủ phê duyệt năm 1999) giới hạn bởi:
- Phía Bắc là tuyến biên giới Việt Nam-Campuchia dài 301 km;
- Phía Nam gồm các tuyến: Bờ Nam kênh Tân Thành-Lò Gạch ở vùng ĐTM, sông Vàm Nao ở khu Giữa STSH và bờ Nam kênh Vĩnh Tế ở vùng TGLX;
- Phía Đông là sông Vàm Cỏ Tây;
- Phía Tây là Biển Tây
Về đơn vị hành chính, vùng nghiên cứu liên quan đến địa phận các huyện/tỉnh sau:
- Các huyện Vĩnh Hưng và Tân Hưng thuộc tỉnh Long An;
- Các huyện Tân Hồng và Hồng Ngự thuộc tỉnh Đồng Tháp;
- Các huyện/thị Tân Châu, An Phú, Phú Tân, Châu Đốc, Tịnh Biên và Tri Tôn tỉnh An Giang;
- Các huyện/thị Kiên Lương và Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang
Bản đồ vùng nghiên cứu trong Hình 1-1
Trang 2013 Hình 1-1: Vị trí vùng nghiên cứu đề tài KC.08.34
Trang 2114
1.2.2 Đặc điểm địa hình
Dải biên giới có nền địa hình khá cao so với toàn đồng bằng, với cao độ bình quân khoảng 1,5-3,0 m, ngoại trừ các khu vực Bảy Núi (tỉnh An Giang và Kiên Giang) Toàn vùng có hướng dốc chính thấp dần từ Tây-Bắc xuống Đông-Nam
1.2.3 Đặc điểm địa chất
ĐBSCL được hình thành bởi trầm tích bở rời Kanozoi với chiều dày khá lớn Theo tài liệu nghiên cứu của Liên đoàn địa chất 8, trừ các khu đồi núi ở phía Tây-Bắc, phần lớn diện tích vùng ngập lũ có lớp đá gốc cách mặt đất khoảng từ 100-1.000 m Càng đi về phía hạ lưu chiều dày lớp trầm tích càng lớn Khu vực Châu Đốc, Tịnh Biên, Tri Tôn là khu vực có tầng đá gốc dưới 100 m Vùng ven biên giới, khu vực phía Bắc vùng TGLX là sản phẩm phong hoá và phía Bắc vùng ĐTM là thềm phù sa cổ, phần lớn được hình thành dưới 2 dạng trầm tích Holocen và trầm tích cổ Pliocen
1.2.4 Đặc điểm thổ nhưỡng
So với toàn đồng bằng, đất đai dải ven biên giới khá nghèo Ngoại trừ một ít diện tích thuộc các tỉnh Đồng Tháp và An Giang có đất lầy và than bùn, phần lớn là đất phèn và đất phù sa cổ
1.2.5 Đặc điểm khí tượng
Dải biên giới nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo, quanh năm nắng, nóng Các yếu tố khí tượng không có sự phân định rõ rệt theo mùa, trừ yếu tố mưa và gió là hình thành 2 mùa rõ rệt: Mùa khô từ tháng XII đến tháng IV và mùa mưa từ tháng V đến tháng XI
Nhiệt độ trung bình năm dọc dải biên giới là 27oC, với nhiệt độ cao nhất vào khoảng 37-38oC, nhiệt độ thấp nhất 15-16oC Tháng IV có nhiệt độ cao nhất và tháng I có nhiệt độ thấp nhất
Độ ẩm không khí cao và khá ổn định Độ ẩm trung bình hàng năm từ 83%, xấp xỉ bằng độ ẩm trên toàn vùng ĐBSCL
81-Trong năm hình thành 2 hướng gió chính: Gió mùa Đông-Bắc từ tháng XI đến tháng IV và gió mùa Tây-Nam từ tháng V đến tháng X Tốc độ gió dọc dải biên giới bình quân 1,6-1,8 m/s, cao nhất từ 18-20 m/s
Lượng bốc hơi trung bình năm trên ống Piche từ 1.150-1.250 mm Bình quân ngày từ 3,1-3,3 mm/ngày (mùa khô 3,1-4,6 mm/ngày và mùa mưa 2,3-3,3 mm/ngày)
Dải biên giới có lượng mưa trung bình khoảng 1.600 mm, biến đổi từ nơi thấp dưới 1.400 mm (Châu Đốc-1.360 mm), đến nơi cao trên 2.000 mm (Hà Tiên-2.118 mm)
Mùa mưa từ tháng V-XI, lượng mưa chiếm 90-95% lượng mưa cả năm, ngược lại mùa khô chỉ chiếm từ 5-10% Mưa lớn trong năm chủ yếu tập trung vào các tháng VIII-X, trùng với thời gian lũ thượng nguồn tràn về đồng bằng, vì vậy
Trang 2215
làm gia tăng thêm sự ngập lụt
Trong những tháng kiệt, do lưu lượng thượng lưu về ít, lượng mưa lại không đáng kể, dẫn đến tình trạng khô hạn và thiếu nước sản xuất, nhất là cuối vụ lúa Đông-Xuân, đầu vụ Hè-Thu Thực tế cho thấy ở những nơi cuối nguồn như Kiên Lương, Hà Tiên (Kiên Giang) và Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Thạnh Hóa, Đức Huệ (Long An) ngay cả nước sinh hoạt cũng rất khó khăn
1.2.6 Hệ thống sông kênh và vấn đề quản lý khai thác nguồn nước
a Hệ thống sông rạch phía Việt Nam:
Dải biên giới Việt Nam-Campuchia có nhiều sông, rạch tự nhiên và kênh đào Căn cứ vào vị trí và tầm quan trọng đối với dải biên giới, có thể chia các sông, rạch biên giới thành 03 nhóm chính là (1) Sông, rạch chảy dọc biên giới (sông, rạch là biên giới), (2) Sông, rạch, kênh cắt ngang biên giới hay nối với sông, rạch biên giới
và (3) Sông, rạch, kênh nằm trong dải biên giới Lưu ý rằng, nếu đứng về mặt quản
lý biên giới thì chỉ có sông, rạch thuộc nhóm (1) và (2) được xem là sông, rạch biên giới Nhóm (3) là những sông, rạch, kênh đào không phải là sông, rạch biên giới, nhưng do có liên quan đến phát triển kinh tế-xã hội thuộc dải biên giới nên được xem xét trong Đề tài này mà thôi và chúng cũng chỉ có ý nghĩa về mặt cấp nước-kiểm soát lũ đơn thuần, không ảnh hưởng đến sự quản lý tuyến biên giới
(1) Sông, rạch chảy dọc biên giới:
Ở vùng ĐBSCL, tuy có 4 tỉnh giáp biên giới Việt Nam-Campuchia, song chỉ
có 3 tỉnh là có sông, rạch biên giới là Long An, Đồng Tháp và An Giang:
- Tỉnh Long An có 06 sông, rạch biên giới là rạch Đìa Gai, rạch Kompông Rô, rạch Cá Rô, rạch Chanh, rạch Long Khốt và rạch Cái Cỏ Tổng chiều dài sông, rạch chảy dọc biên giới là 37.289 km
- Tỉnh Đồng Tháp có 05 sông, rạch biên giới là sông Tam Ly (sông Trabek), sông Sở Hạ, rạch Cái Xu, rạch Không tên-Mộc Rạ và sông Sở Thượng Tổng chiều dài sông, rạch chảy dọc biên giới là 40.717 km
- Tỉnh An Giang có 02 sông, rạch biên giới là sông Hậu và rạch Bình Ghi Tổng chiều dài sông, rạch chảy dọc biên giới là 12.148 km
(2) Sông, rạch cắt ngang biên giới:
- Tỉnh Long An: Ngoài những sông, rạch chảy dọc biên giới, trải qua nhiều năm phát triển và do quản lý đường biên giới theo thực trạng trong thời gian dài, nên hiện nay dải biên giới thuộc tỉnh Long An có nhiều kênh, rạch cắt ngang biên giới Một số kênh, rạch đáng kể cắt ngang biên giới là rạch Đường Xuồng, kênh 61 cũ, kênh Ma Reng cũ, kênh Ma Reng Mới, rạch Than Bùn, 2 kênh nhỏ nối vào kênh Đoàn 5 (huyện Đức Huệ), các kênh nhỏ nối vào kênh Đường Băng, kênh Nông Trường (huyện Mộc Hoá), rạch Prêk May, kênh Hữu Nghị, rạch Me Con (2 điểm cắt), rạch O A Khvin, rạch Không tên gần vị trí rạch Long Khốt chuyển hướng từ Việt Nam sang rạch biên giới ở khu vực Bình Tứ (huyện Vĩnh Hưng) Đặc biệt, rạch Mây là rạch khá lớn, được Việt Nam nạo vét năm 1994 với đáy rộng 20 m, cao trình đáy -2,0 m, cắt biên giới tại vị trí cách cầu Rạch Mây khoảng 800 m về phía hạ lưu, sau đó nhập vào
Trang 2316
sông Vàm Cỏ Tây Ngoài ra, để phát triển sản xuất, phía Việt Nam cũng đào nhiều kênh nối thông rạch Cái Cỏ vào phía Việt Nam như các kênh Hưng Điền, Sông Trăng (phía đối diện Campuchia là rạch Prêk Krăng Lêay, Việt Nam gọi là rạch Tân Lèo), kênh 79, kênh Cái Bát (trước đây là rạch Cái Bát)…
- Tỉnh Đồng Tháp: Không có sông, rạch cắt ngang biên giới, nhưng có các kênh, rạch nối vào sông, rạch biên giới như kênh Lộ 10, kênh Tân Thành, kênh Tân Hoà, kênh Sa Rài, kênh Tân Công Chí, kênh Chẹn (nối với sông
Sở Hạ), rạch Hồng Ngự, sông Cầu Muống, rạch Cửa Đại, rạch Củ Sách (nối với sông Sở Thượng) Đặc biệt, kênh Mộc Rạ được đào vào năm 1989 để nối
2 sông Sở Thượng và Sở Hạ nhưng đồng thời cũng cắt đường biên giới trên 2 rạch Cái Xu và Mộc Rá tại nhiều điểm và phân đất đai biên giới của 2 rạch tự nhiên này thành 2 phần nằm 2 bên biên giới
- Tỉnh An Giang: An Giang cũng có nhiều sông, rạch cắt ngang biên giới, mà đáng kể nhất là sông Tiền, sông Châu Đốc (Prêk Moat Chruk), sông Tà Keo (Stong Ta Kèv), rạch Seo Tre (chảy vào bên phải sông Châu Đốc), mương Số
2, mương Số 1, rạch Hành Tượng (chảy vào bờ trái sông Tà Keo), Kâmpông Krăsăng (Prêk Tahil Lịch), rạch Trắc Kê, rạch Trắc Ri, mương Bà Tý, rạch Vàm Định (chảy vào bên phải sông Châu Đốc), Prêk Koal Buon (rạch Miếu Ngòi Lớn), cống Cây Dương (chảy sang kênh Vĩnh Tế) Ngoài ra còn rất nhiều rạch và kênh nhỏ khác cắt ngang biên giới hướng về sông Châu Đốc và kênh Vĩnh Tế
- Tỉnh Kiên Giang: Tuy không có sông, rạch chảy dọc biên giới nhưng tỉnh Kiên Giang có nhiều sông, rạch, kênh chảy cắt ngang biên giới, sông Ton Hon, rạch Cầu Dài, rạch Nhà Sập, Prêk Tnuop Chnôg Srăng, rạch Dứa, Prêk
Ta Pan, rạch Su…
(3) Sông, kênh, rạch nằm trong dải biên giới:
Hai bên dải biên giới Việt Nam-Campuchia đều có những sông, kênh, rạch tự nhiên và nhân tạo phục vụ cho tưới, tiêu và giao thông thuỷ Những sông, kênh, rạch đáng kể trong dải biên giới (nằm trong khoảng 5-10 km dọc biên giới) gồm:
- Tỉnh Long An: Nằm trong dải biên giới với khoảng cách 5-10, tỉnh Long An
có rất nhiều sông, rạch và kênh đào, đặc biệt trong giai đoạn từ 1975-1985 Một số kênh, rạch có quy mô đáng kể là kênh Biên Phòng (cách biên giới khoảng 300-500 m), kênh Trung Tâm (cách biên giới khoảng 500-1.000 m), kênh 61 (cách khoảng 1.000-1.200 m), rạch Long Khốt (cách khoảng 800-2.500 m), kênh KT8 (cách khoảng 1.500 m), kênh KT10 (cách khoảng 2.200 m)
- Tỉnh Đồng Tháp: Các kênh nằm trong dải biên giới gồm Thường Phước-Ba Nguyên (cách biên giới 150-200 m), kênh Tứ Thường-rạch Đìa Cát (cách khoảng 1.000-2.500 m)
- Tỉnh An Giang: Nằm gần dải biên giới gồm các kênh Năm Xã (chạy từ sông Tiền sang, kênh có vị trí đầu và cuối nằm gần sát biên giới với phía sông Tiền cách khoảng 50 m và phía sông Hậu cách khoảng 200 m), rạch Bình Ghi (sau
Trang 2417
khi chấm dứt đoạn rạch biên giới trên sông Bình Ghi, nằm cách biên giới khoảng 200-300 m), sông Châu Đốc (nằm cách biên giới 500-1.200 m), kênh Vĩnh Tế (nằm cách biên giới 1.000-1.200 m)
Có một điểm lưu ý là ngay tại vị trí biên giới cắt sông Ta Keo bên bờ phải (nhìn từ thượng lưu sông Ta Keo xuống hạ lưu), phía Campuchia đã đào kênh Bao Ngạn và gần trùng với đường biên giới trên đất liền Kênh có chiều dài khoảng 2,3 km, rộng mặt 30 m, sâu 1,0-1,5 m
Ngoài ra, An Giang còn có các hồ tự nhiên là Búng Bình Thiên Lớn và Búng Bình Thiên Nhỏ nằm giữa 2 sông Bình Ghi và sông Hậu tại xã Khánh Bình huyện An Phú
- Tỉnh Kiên Giang: Tuy không có sông, rạch chảy dọc biên giới nhưng Kiên Giang cũng có một số kênh, rạch chảy dọc biên giới, trong đó có kênh Vĩnh
Tế (đoạn qua tỉnh Kiên Giang có nơi chỉ cách biên giới 100 m), sông Giang Thành (cách biên giới 100-500 m, thậm chí có đoạn chỉ cách khoảng 50 m), kênh Hà Giang (cách biên giới 1.000-5.000 m)
Bảng 1-1: Hệ thống sông kênh trong dải biên giới VN-CPC thuộc vùng ĐBSCL
(km)
Mô tả chung
Rạch vừa Ảnh hưởng triều nhẹ Đoạn thượng lưu gần cạn nước mùa khô Hạ lưu
có nước quanh năm nhưng chân triều rất thấp
Rạch vừa Việt Nam mới nạo vét Ảnh hưởng triều nhẹ Có nước quanh năm nhưng chân triều rất cạn
Rạch vừa Việt Nam mới nạo vét Ảnh hưởng triều nhẹ Có nước quanh năm nhưng chân triều rất cạn
Sông vừa Việt Nam mới nạo vét Ảnh hưởng triều nhẹ Có nước quanh năm nhưng chân triều rất cạn
Rạch vừa Việt Nam mới nạo vét Ảnh hưởng triều nhẹ Có nước quanh năm nhưng chân triều rất cạn
Rạch thoái hoá, đoạn tiếp giáp với sông
Sở Thượng cạn khô, chỉ một đoạn ngắn cuối rạch còn ít nước Mùa lũ ngập sâu
Sông vừa Ảnh hưởng triều nhẹ Khá sâu ngay cả khi chân triều Không cù lao Tàu thuyền vừa có thể đi lại được
Trang 2518
(km)
Mô tả chung
II Kênh cắt-nối sông, rạch biên giới
1 Phước Xuyên-28
Đồng Tháp - Tiền
2 Mười Hai
Long An
- Tiền
14 T5
An Giang - Kiên
15 T6
An Giang - Kiên
III Sông, kênh nằm trong dải biên giới
Từ điểm sát Biên giới đến điểm nối với kênh 61 Bđáy=20-25 m, Bmặt= 35-40 m Cao trình đáy=-1,5 đến -2,5 m
Từ điểm nối kênh Bo Bo đến cầu Bình Châu Bđáy=15 m, Bmặt=25 m Cao trình đáy=-1,5 đến -2,0 m
Trang 2619
(km)
Mô tả chung Phước
Từ điểm cắt biên giới đến sông Châu Đốc Rạch có rộng 80-100 m, cao trình đáy=- 4,0 đến -6,0 m
Từ điểm cắt biên giới đến Châu Đốc Sông rộng 100-200 m, cao trình đáy= -4,0 đến -10,0 m
An Giang - Kiên
Từ kênh Vĩnh Tế đến đầu đầm Đông Hồ Sông rộng từ 70-140 m, cao trình đáy=- 3,0 đến -5,0 m
b Hệ thống sông rạch phía Campuchia:
- Sông, rạch phía Tả sông Tiền:
Phía tả sông Tiền, có 6 sông, rạch chảy trực tiếp và gián tiếp nối với các sông, rạch ven biên giới nước ta là:
(1) Sông Vaico: Là phần thượng lưu của sông Vàm Cỏ Tây, bắt nguồn từ vùng đồng bằng tỉnh Prey Veng, có cao trình 10-15 m, chảy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam qua thị xã Svay Rieng và sang tỉnh Long An của Việt Nam Diện tích lưu vực 1.720 km2, chiều dài 110 km Sông này đã bị thoái hoá vì sau khi đắp đập Svay Rieng, dòng sông không còn nguồn mà dòng chảy hạ lưu đập chủ yếu do sông Mê Công chuyển sang và thuỷ triều từ biển Đông lên Về mùa khô, dòng chảy cơ bản rất nhỏ do không có nguồn sinh thuỷ, hạ lưu chủ yếu do sông Tiền chuyển sang, nhưng trong mùa lũ lưu vực sông chính là khu trữ và chuyển lũ tràn từ sông Mê Công sang Việt Nam Một số mặt cắt ngang điển hình:
Vị trí Cao trình đáy sông (m) Độ rộng mặt (m) Độ rộng đáy (m)
(2) Sông Tonle Toch: Nằm ở phía Tây-Bắc vùng biên giới, nối 2 vị trí của sông
Mê Công, cửa vào tại Phum Peam Prathnoud, cách thị xã Kompong Cham về phía Nam 10 km, và cửa ra tại Ba Nam, cách bến phà Niek Luong chừng 5 km Trong mùa lũ, nước sông Mê Công chảy vào sông Tonle Toch và chứa dần vào vùng đầm ngập nước rồi chảy về phía hạ lưu Lòng sông khá sâu và rộng, đáy rộng tới 100 m, chỗ hẹp gần 40 m, sâu 6-8 m Chiều dài sông chính 120 km, diện tích lưu vực 1.900
km2
(4) Sông Tonle Prasat: Nằm ở phía Tây vùng biên giới Cửa vào nối với hạ lưu của Tonle Toch tại Toeng Lost và chảy lượn dòng theo hướng Bắc-Nam và nối với sông Sở Thượng của Việt Nam Chiều dài sông chính là 62 km ứng với diện tích
Trang 2720
lưu vực là 650 km2 Là một con sông đồng bằng chuyển nước của sông Mê Công nên lòng sông rộng và sâu, độ dốc đáy sông thấp nhưng biến đổi nhiều Đặc trưng lòng dẫn:
Vị trí Cao trình đáy sông (m) Độ rộng mặt (m) Độ rộng đáy (m)
(5) Sông Tra Bek: Là con sông nối sông Tonle Prasat với sông Sở Hạ của Việt Nam Cửa vào tại cầu Hữu Nghị, theo hướng Tây Bắc- Đông Nam đến cầu Trabek chuyển hướng Bắc-Nam và nhập vào sông Sở Hạ tại Thông Bình huyện Hồng Ngự Chiều dài dòng chính 57 km và diện tích lưu vực 575 km2 Tra Bek là con sông đồng bằng chuyển nước, mùa khô ảnh hưởng của thuỷ triều tại Trabek với biên độ lớn nhất (tháng V) khoảng 0,4-0,5 m Độ rộng và độ dốc lòng sông thay đổi nhiều Đặc trưng lòng dẫn tại vài vị trí như sau:
Vị trí Cao trình đáy sông (m) Độ rộng mặt (m) Độ rộng đáy (m)
Cỏ của Việt Nam Chiều dài sông chính 35 km, diện tích lưu vực tương ứng là 326
km2 Mùa khô không có nguồn sinh thuỷ
Như vậy, các sông suối phía Campuchia có liên quan chặt chẽ đến các sông rạch ven biên giới Việt Nam Trong mùa khô, do không có nguồn sinh thuỷ nên dòng chảy cơ bản rất nhỏ Trong mùa lũ, các lưu vực trên lại chính là các khu chứa
và chuyển lũ về Việt Nam, góp phần làm phức tạp thêm chế độ lũ cũng như các biện pháp kiểm soát lũ cho vùng ĐTM
- Sông, rạch phía Hữu sông Hậu:
Hữu sông Hậu gồm có các sông nhỏ phát nguyên từ dãy Núi Bà thuộc tỉnh
Ta Keo, Kongpong Spư và Kandal, một vài suối chảy trực tiếp ra sông Bassac, một vài suối khác chảy xuống các vùng trũng ven biên giới rồi nhập vào kênh Vĩnh Tế Các khu trũng dọc sông Bassac và biên giới có cao độ từ 1,2-2,0 m, rộng 3-10 km, tạo thành các vùng ngập lụt rộng hàng ngàn ha, có độ sâu từ 0,5-3,0 m
1.2.7 Đặc điểm thuỷ văn
Nằm ở hạ lưu châu thổ sông Mê Công với hai mặt tiếp giáp biển Đông và biển Tây, nên hệ thống sông, kênh trong vùng nghiên cứu ngoài chịu ảnh hưởng của chế độ dòng chảy thượng nguồn và mưa trong khu vực, còn chịu tác động mạnh mẽ của chế độ thuỷ triều, trong đó chủ yếu là thuỷ triều từ biển Đông Ngoài ra, hệ thống công trình hạ tầng cơ sở, đặc biệt là hệ thống công trình giao thông, thuỷ lợi, các cụm tuyến dân cư cũng là tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến chế độ thuỷ văn trong vùng nghiên cứu
Trang 2821
Trong mùa kiệt từ tháng XII đến tháng IV, do lưu lượng thượng nguồn nhỏ nên tác động của thuỷ triều biển Đông vượt qua cả dải biên giới trên cả hệ thống sông, kênh Tác động của thuỷ triều biển Tây yếu hơn, chỉ có thể lên tới phần cuối kênh Vĩnh Tế (đầu sông Giang Thành) Biên độ triều trong dải biên giới biến đổi từ 0,3-1,0 m, tuỳ theo vị trí và thời điểm trong mùa kiệt Dưới tác động của dòng chảy thượng nguồn và thuỷ triều, dòng chảy từ các sông chính theo kênh, rạch dọc biên giới vào sâu trong nội vùng cung cấp nước cho các hoạt động phát triển và sinh hoạt của người dân sống dọc biên giới Tuy nhiên, do nguồn nước chủ yếu là lấy từ sông Tiền và sông Hậu (các sông kênh khác chảy từ phía Campuchia qua biên giới nhưng
có lưu lượng không đáng kể), trong khi vùng biên giới trải dài hàng trăm km, nên trong mùa kiệt, kênh, rạch ở các vùng xa sông lớn thuộc các tỉnh Kiên Giang và Long An đều có lưu lượng và mực nước xuống rất thấp, hạn chế lấy nước tưới và cấp nước sinh hoạt
Mùa lũ từ tháng VII đến tháng XI, nước lũ từ sông Tiền, sông Hậu và từ các vùng ngập của Campuchia tràn qua biên giới sang làm ngập toàn bộ dải biên giới hai nước Độ sâu ngập lũ tại vùng biên giới biến thiên từ 2,0-4,0 m, thời gian ngập kéo dài từ 3,5-4,5 tháng Lũ lụt là một trong những hạn chế điều kiện tự nhiên cơ bản trên suốt dải biên giới và đây cũng là đối tượng chính của nghiên cứu này
1.2.8 Tình hình ngập lũ vùng ven biên giới
1.2.8.1 Các hướng truyền lũ vào dải biên giới:
Lũ vào ĐBSCL nói chung và dải biên giới nói riêng đều theo 2 hướng là (1) tràn qua biên giới VN-CPC vào ĐTM và TGLX và (2) từ dòng chính sông Tiền và sông Hậu
Lũ tràn từ Campuchia vào ĐTM và TGLX là hướng truyền lũ có tác động mạnh nhất đến suốt cả dải biên giới:
- Ở vùng ĐTM, có thể chia ảnh hưởng của tràn lũ từ biên giới thành 2 đoạn: + Đoạn 1 (Bắt đầu vùng ĐBSCL thuộc huyện Đức Hòa đến đầu rạch Long
Khốt): Đây là đoạn ngập chủ yếu do lũ từ biên giới sang làm dâng mực nước trên rạch Long Khốt-Vàm Cỏ Tây rồi từ đây chuyển dần về vùng kẹp giữa 2 sông Vàm Cỏ, kết hợp với lũ sông Vàm Cỏ Đông làm ngập dải biên giới Lũ đoạn biên giới này lên chậm và muộn hơn trên sông Tiền từ 1,0-1,5 tháng, tức phải cuối tháng VIII hay giữa tháng IX lũ mới đến đây
Trang 2922
Hình 1-2: Lưu lượng lớn nhất thực đo và tổng lượng ước tính lũ năm 2000
+ Đoạn 2 (Từ bờ sông Tiền đến đầu rạch Long Khốt):
Đoạn này lũ từ Campuchia trực tiếp tràn sang biên giới vào ĐTM bằng nhiều hướng Sau khi vượt qua các vùng trũng thấp sát biên giới phía Campuchia, lũ băng qua sông Sở Thượng-Sở Hạ và Cái Cỏ-Long Khốt, rồi một phần chảy theo các cửa kênh dọc, một phần lớn hơn tràn đồng theo nhiều hướng vào ĐTM Dòng lũ vào sông Sở Thượng phần lớn chảy ngược lại sông Tiền qua rạch Hồng Ngự và các rạch nhỏ khác qua cù lao Tứ Thường, chỉ một phần nhỏ chảy sang sông Sở Hạ để bổ sung cho dòng lũ tràn vào trung tâm ĐTM Lượng lũ chính tràn vào ĐTM chủ yếu
là từ sông Trabek và tràn đồng từ phía Campuchia sang Các kênh Bình Thành, Tân Công Chí, Sa Rài… đều là những kênh dẫn lũ với lưu lượng đáng kể, đặc biệt là sông Cái Cái Những năm lũ lớn dòng lũ tràn qua bờ kênh Sở Hạ-Cái Cỏ có phần chiếm ưu thế Sau khi tuyến đường bờ Nam kênh Tân Thành-Lò Gạch được hình thành và đắp cao vượt lũ thì diễn biến lũ tràn ở khu vực từ biên giới tới kênh Hồng Ngự trở nên phức tạp hơn Lũ tràn, sau khi qua tuyến Sở Hạ-Cái Cỏ tới gặp bờ kênh TT-LG, do gặp sức cản lớn, một phần lũ tràn qua bờ rạch Cái Cái để hợp với dòng
lũ dọc rạch Cái Cỏ về chảy qua khu vực từ Cái Cái tới Hưng Điền Từ đây một phần qua các kênh vào trung tâm ĐTM và một phần bổ sung vào đầu sông Vàm Cỏ Tây
để qua Mộc Hóa hay tràn qua khu vực kẹp giữa 2 sông Vàm Cỏ Thời gian truyền lũ
từ Tân Châu đến Mộc Hóa thay đổi từ 3-10 ngày, tùy năm và tùy trận lũ, song có xu thế là ngày càng nhanh dần
- Ở vùng TGLX, dòng lũ được hợp thành từ 2 nguồn và cùng từ dải biên giới phía Campuchia chảy sang Việt Nam với diễn biến như sau:
+ Do hiện nay vùng ven biên giới TGLX đã có hệ thống kiểm soát lũ nên cho
Trang 3023
đến trước 30/8 (thời điểm xả lũ qua 2 cống Trà Sư và Tha La) lũ từ sông Châu Đốc chảy theo kênh Vĩnh Tế và tràn đồng, hợp cùng với lũ sinh ra trong vùng núi của tỉnh Tà Keo vào vùng trũng thấp ven biên giới dọc theo
bờ Bắc kênh Vĩnh Tế, băng qua tràn cạn Xuân Tô để chuyển dần về phía Hà Tiên, trong đó phần lớn chảy vào Tứ giác Hà Tiên bằng các kênh nối T1-T5 Cũng thời gian này, một phần nhỏ lũ từ sông Hậu được đưa vào TGLX nhờ các kênh trục nối với sông Hậu Do không được thoát nhanh vào TGLX nên mực nước lũ ven biên giới phía Bắc kênh Vĩnh Tế lên khá nhanh, tương ứng
và chênh lệch không nhiều so với mực nước tại Châu Đốc trên sông Hậu + Sau 30/VIII, khi vụ lúa Hè-Thu đã thu hoạch xong, 2 cống Trà Sư và Tha La
được mở để đón lũ vào TGLX Tuy nhiên, do 2 cống Trà Sư-Tha La chỉ được thiết kế để tháo lũ với lưu lượng khoảng 500-800 m3/s, nên phần lớn lũ vẫn chảy về phía Nam theo bờ Bắc kênh Vĩnh Tế với lưu lượng khoảng 1.200-1.500 m3/s Sau đó, cộng với lượng lũ sinh ra dọc theo vùng núi tỉnh
Tà Keo, lưu lượng lũ chảy vào vùng Tứ giác Hà Tiên khoảng 1.800-2.300
m3/s Ứng với năm lũ lớn như lũ năm 2000, lưu lượng lũ theo các hướng còn lớn hơn nhiều
1.2.8.2 Tình hình ngập lũ vùng ven biên giới
Trong vùng ngập lũ ĐBSCL, dải biên giới là nơi tiếp nhận lũ sớm nhất (từ đầu tháng VII), ngập sâu nhất (từ 2,0-4,0 m), thường xuyên nhất (năm nào cũng ngập) và thời gian cũng gần dài nhất (3,5-4,5 tháng) Vì thế, ngập lũ trở thành hiện tượng bình thường ở dải biên giới Tuy nhiên, do nằm ngay trán lũ, nên sự biến đổi của lũ hàng năm cũng thể hiện rõ nhất ở đây: Sự chênh lệch mực nước giữa những năm lũ lớn và những năm lũ nhỏ khá lớn, từ 1,5-2,0 m (trong khi đó, ở cuối vùng ngập lũ chỉ từ 0,5-1,0 m) Căn cứ vào mức độ ngập hàng năm, có thể chia dải biên giới ĐBSCL thành 4 vùng ngập tương ứng với 4 cấp độ ngập rất sâu, ngập sâu, ngập trung bình và ngập nông sau đây:
- Vùng ngập rất sâu (>3 m): Vùng ngập sâu ven biên giới chủ yếu nằm ở các huyện gần dòng chính sông Tiền và sông Hậu, bao gồm 2 huyện của tỉnh Đồng Tháp là Tân Hồng và Hồng Ngự, 3 huyện của tỉnh An Giang là TX Châu Đốc, An Phú và Tân Châu Đặc biệt, vùng ngập ở khu Tứ Thường kẹp giữa sông Tiền và rạch Hồng Ngự có độ sâu xấp xỉ 4,0 m Đây là khu vực đầu nguồn và hứng chịu trực tiếp nước tràn từ Campuchia sang Do ngập sâu nên hàng năm vùng này đều bị ngập lũ, năm lũ nhỏ cũng ngập đến hơn 2,0 m Thời gian ngập lũ cũng kéo dài, gần
5 tháng, từ giữa/cuối tháng VII đến đầu/giữa tháng XII
- Vùng ngập sâu (2-3 m): Vùng ngập lũ sâu chủ yếu thuộc các huyện Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Mộc Hóa (tỉnh Long An), Tịnh Biên, Tri Tôn (tỉnh An Giang) Trên dải biên giới, đây cũng là những nơi ngập lũ thường xuyên, nằm kề ngay 2 bên vùng ngập lũ rất sâu Trong những năm lũ lớn, vùng này bị ngập sâu từ 2,0-3,0 m và ngay cả những năm lũ nhỏ cũng ngập từ 1,0-2,0 m Thời gian ngập lũ từ 3,5-4,5 tháng, từ cuối tháng VII/đầu tháng VIII đến giữa/cuối tháng XII
- Vùng ngập trung bình (1,0-2,0 m): Vùng ngập trung bình trên dải biên giới chủ yếu thuộc các huyện Mộc Hóa, Thạnh Hóa (tỉnh Long An) và Kiên Lương (tỉnh Kiên Giang) Đây là vùng ngập trung bình, với mức ngập ứng với năm lũ lớn từ 1-2
Trang 3124
m Như vậy, với những năm lũ nhỏ, vùng này chỉ ngập dưới 1,0 m Thời gian ngập
từ 2,5-3,5 tháng, từ cuối tháng VIII/giữa tháng IX đến giữa/cuối tháng XII
- Vùng ngập nông (<1,0 m): Vùng ngập này thuộc TX Hà Tiên (Kiên Giang) Đây là vùng ngập xa nhất, và hầu như cũng chỉ bị ngập ứng với lũ lớn Thời gian ngập trong những năm lũ lớn ngắn, thường dưới 2,5 tháng, từ giữa/cuối tháng IX đến đầu/giữa tháng XII
Bản đồ độ sâu ngập lũ sớm đến 31/7 và thời kỳ đỉnh lũ theo tần suất 1% và 10% ở vùng ĐBSCL được trình bày trong các Hình 1-3 đến Hình 1-6
Trang 3225
Trang 3326
1.3 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG VÙNG NGHIÊN CỨU
1.3.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp
Trong vùng nghiên cứu có các mô hình sản xuất 2 và 3 vụ lúa
Ở vùng có đê bao kiểm soát lũ triệt để như Bắc Vàm Nao chủ động lịch thời
Bảng 1-2: Tiến độ thu hoạch lúa Hè Thu của hai huyện Tân Hồng và Hồng Ngự
Ngày Huyện Hồng
Ngự
Huyện Tân Hồng
Tổng diện tích thu hoạch
TL thu hoạch so với gieo xạ
Năm 2006
Trang 3528
Bảng 1-3: Tiến độ thu hoạch lúa HT của các h An Phú, Tân Châu, Phú Tân năm 2005
Huyện An Phú Huyện Tân Châu Huyện Phú Tân Thời gian DT thu
(ha)
Tỷ lệ thu/xạ
DT thu (ha)
Tỷ lệ thu/xạ
DT thu (ha)
Tỷ lệ thu/xạ
Bảng 1-4: Tiến độ thu hoạch lúa HT của các h.An Phú, Tân Châu, Phú Tân năm 2006
Huyện An Phú Huyện Tân Châu Huyện Phú Tân Thời gian
DT thu (ha)
Tỷ lệ thu/xạ
DT thu (ha)
Tỷ lệ thu/xạ
DT thu (ha)
Tỷ lệ thu/xạ
Trang 3629
Bảng 1-5: Tiến độ thu hoạch lúa HT của các h An Phú, Tân Châu, Phú Tân năm 2007
Huyện An Phú Huyện Tân Châu Huyện Phú Tân Thời gian DT thu (ha) thu/xạ Tỷ lệ DT thu (ha)
Tỷ lệ thu/xạ DT thu (ha)
Tỷ lệ thu/xạ
Hình 1-8: Biểu đồ tiến độ thu hoạch lúa Hè Thu huyện An Phú
1.3.2 Hệ thống thuỷ lợi và đường giao thông
1.3.2.1 Hiện trạng công trình thủy lợi và kiểm soát lũ dải biên giới phía Việt Nam
Đến nay, tuy chưa thật hoàn chỉnh và còn nhiều việc phải làm, song, nhờ đầu
tư cao trong xây dựng công trình, suốt chiều dài dải biên giới ĐBSCL đã tạo thành một hệ thống công trình thuỷ lợi và kiểm soát lũ khá đồng bộ, hợp cùng toàn vùng ĐBSCL từng bước phát huy hiệu quả trong cấp nước và bảo vệ dân sinh Có thể
thống kê những công trình thuỷ lợi và kiểm soát lũ trên dải biên giới như sau:
Trang 3730
a Vùng ĐTM:
Công trình tưới tiêu:
Ngoài hệ thống sông, rạch tự nhiên dọc biên giới (một số đoạn do nhu cầu phát triển đã được mở rộng, nạo vét như Sở Hạ-Cái Cỏ-Long Khốt, hay đào mới như kênh Mộc Rá), để tăng khả năng tưới và thoát lũ, kết hợp giao thông thủy và tạo nền dân cư, dải biên giới vùng ĐTM đã mở thêm nhiều kênh mới nối thông với sông, rạch biên giới để đưa nước vào sâu nội đồng, như Bình Thành, 2-9, Kháng Chiến, Thống Nhất, Tân Công Chí, Tân Thành, Sông Trăng, Hưng Điền, Bảy Tám , đồng thời với việc đan dày hệ thống kênh cấp 3 và nội đồng Đến nay, nếu không có những biến động lấy nước lớn phía Campuchia, thì vào mùa khô, cơ bản dải biên giới vùng ĐTM đủ nước tưới, ngoài ra, còn một lượng nước thừa chuyển tiếp sang đầu sông Vàm Cỏ Tây Vấn đề quan trọng nhất đối với hệ thống kênh tưới các cấp ven biên giới là do đối mặt với lũ hàng năm nên kênh mương bồi xói nhanh, nhiều đoạn bị xói mạnh bờ Nam (phía Việt Nam) và bị bồi lấp do phù sa
Công trình kiểm soát lũ:
Theo Hiệp định phát triển bền vững của MRC năm 1995, để kiểm soát lũ vùng ĐTM, việc xây dựng các công trình kiểm soát lũ dọc tuyến biên giới phải được cân nhắc sao cho không làm dâng cao mực nước phía Campuchia Do vậy, tuyến kiểm soát lũ cơ bản của vùng ĐTM được chọn là bờ Nam kênh Tân Thành-Lò Gạch, lùi sâu vào phía Việt Nam khoảng 10-15 km, nghĩa là nằm ngoài dải biên giới Để xây dựng đường kiểm soát lũ, ngoài việc nạo vét kênh Tân Thành-Lò Gạch, kế hoạch xây dựng 10 cống trên đường Tân Thạnh-Lò Gạch, trong đó có 5 cống ngăn lũ sớm Đồng thời với mở rộng 3 cửa thoát lũ ra sông Tiền đoạn Hồng Ngự đi Tân Châu và nạo vét 4 kênh thoát lũ từ tuyến sông, rạch biên giới vào là 2-9, Kháng Chiến, Bình Thành và Thống Nhất
Tuy nhiên, do yêu cầu của công tác an ninh-quốc phòng, bờ Nam (bờ phía Việt Nam) của tuyến Sở Hạ-Cái Cỏ-Long Khốt cũng đang được đắp cao thành đường lưu thông xe cơ giới, kết hợp làm hệ thống cầu, cống, nên cũng là tuyến kiểm soát lũ nhưng ở quy mô thấp hơn
Để lấy nước lên đồng, do không thể tưới tự chảy nên một hệ thống bơm dầu các loại đã được người dân dải biên giới sử dụng, đáp ứng khá tốt nhu cầu tưới, tiêu trong sản xuất nông nghiệp
Để kiểm soát lũ, ở ven tuyến biên giới vùng ĐTM cũng đã xây dựng một số khu bao đê ngăn lũ cả năm cho một số vùng dân sinh và sản xuất quan trọng, như
bờ bao các thị trấn Tân Hồng, Hồng Ngự, Vĩnh Hưng, Tân Hưng… Tuy nhiên, các thị trấn này đều nằm xa biên giới từ 10-20 km Bên cạnh dó, trong Chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư vượt lũ, ở ven biên giới vùng ĐTM, các tỉnh Long An
và Đồng Tháp cũng đã xây dựng nhiều cụm dân cư, như Long An gồm các cụm dân
cư trung tâm các xã Hưng Hà, Hưng Điền B, cụm dân cư ấp Cả Trốt, xã Khánh Hưng (huyện Vĩnh Hưng), Đồng Tháp gồm các cụm tuyến dân cư Cần Sen, khu vực
2, ấp Bình Thành A, xã Bình Thạnh, các cụm dân cư xã Thường Thới Tiền, Thường Phước 1, Thường Phước 2, các cụm dân cư xã Thường Lạc, Thường Thới Hậu B (huyện Hồng Ngự), các cụm dân cư dọc kênh Bắc Trang, xã Tân Công Chí (huyện Tân Hồng)
Trang 3831
Đê bao và đường giao thông:
Do đây là vùng ngập sâu và rất sâu, nên chủ trương phát triển dạng bờ bao chống lũ cuối vụ Hè-Thu sớm được áp dụng khá rộng rãi để bảo vệ vụ lúa này cho đến khi thu hoạch xong vào khoảng từ 15-30/7 hàng năm Loại bờ bao chống lũ sớm này thường thấp, chỉ cao so với mặt ruộng tự nhiên từ 0,5-1,0 m, có thể bị lũ phá hư hại sau khi thu hoạch xong Do lũ chuyển dần từ các huyện ven sông Tiền như Hồng Ngự, Tân Hồng đến các huyện xa hơn như Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hoá, nên bờ bao dạng này cũng có tác dụng chống lũ từ khoảng 15/7 cho đến 15/8 hay 30/8, tùy vị trí Tuy nhiên trong gần chục năm qua liên tục xuất hiện lũ nhỏ ở ĐBSCL nên hệ thống đê bao lửng không bị lũ phá hoại mà liên tục được tôn cao nhờ nạo vét kênh trục có đất xáng kênh bồi đắp Đồng thời các địa phương có điều kiện tốt để củng cố hệ thống đường giao thông nông
Hệ thống đê bao dọc theo các kênh trục và kênh cấp 1
Tế mở rộng cấp nước cho vùng Tứ giác Hà Tiên bằng các kênh T5, T6, kênh Mới, T4, T3, Hà Giang Đoạn cuối, kênh Vĩnh Tế nối với sông Giang Thành ra đầm Đông Hồ, vì thế, mặn từ Biển Tây xâm nhập ngược lên cho đến gần Vĩnh Gia Tuy nhiên, nhờ xây dựng đập Đầm Chích, nên vào mùa kiệt mặn được kiểm soát để giữ ngọt cấp cho vùng sản xuất thuộc xã Tân Khánh Hòa huyện Kiên Lương Nhờ việc
mở rộng kênh Vĩnh Tế để tăng lưu lượng đầu kênh (gấp hơn 3 lần trước đây) nên vùng Tứ giác Hà Tiên được cải thiện đáng kể, từ vùng hoang hóa bị chua phèn trước đây nay phần lớn đã chuyển sang 2 vụ lúa khá ổn định Đoạn cuối giáp vùng mặn cũng được chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản
- Công trình kiểm soát lũ:
Thực hiện theo quy hoạch thuỷ lợi chi tiết vùng TGLX, cụm công trình kiểm soát lũ tràn biên giới bao gồm nạo vét mở rộng kênh Vĩnh Tế với bề rộng đáy 30 m cao trình đáy -3,0 m, mở rộng cầu Xuân Tô trên đường Tịnh Biên đi Tà keo, hạ thấp
bờ bắc kênh Vĩnh Tế đoạn từ sau cầu Tịnh Biên đi Ba Chúc Đắp đê tạo tuyến kiểm soát lũ phía Nam kênh Vĩnh Tế, xây dựng các công trình kiểm soát lũ Trà Sư và Tha La (đập cao su) Xây dựng đường tràn kết hợp cầu cạn ở phía Bắc cầu Xuân Tô với chiều rộng B=300 m, cao trình đáy +0,1 m Hệ thống công trình kiểm soát lũ biên giới TGLX được xây dựng đến khi hoàn thiện cơ bản vào năm 2000, lũ vùng TGLX nói chung và vùng Tứ giác Hà Tiên nói riêng đã được cải thiện đáng kể
Bên cạnh những công trình kiểm soát lũ cho sản xuất nông nghiệp, An Giang
Trang 39- Công trình kiểm soát lũ:
Các công trình của vùng này là xây dựng hệ thống đê bao, cống bọng theo hệ thống kênh cấp II để tạo thành các ô khép kín Nạo vét một số kênh chính để thoát
lũ và tăng cường nước ngọt Xây dựng hệ thống đê bao chống lũ cho các vùng đô thị, xây dựng thêm các trục lộ, xây dựng các tuyến dân cư vượt lũ để đảm bảo không bị ngập
Hiện tại, vùng Bắc kênh Vĩnh An ven sông Tiền thuộc huyện thị trấn Tân Châu đã xây dựng được một số ô bao kiểm soát lũ chính vụ năm 2000
Vùng Bắc Vàm Nao đã xây dựng được hệ thống đê vành đai khép kín theo các tuyến bờ Nam kênh Vĩnh An, ven sông Tiền, ven sông Hậu và bờ Bắc rạch Cái Tắc, với tổng chiều dài toàn tuyến khoảng 100 km, cao trình theo thiết kế đảm bảo ngăn đỉnh lũ 2000
1.3.2.2 Hiện trạng công trình thuỷ lợi và kiểm soát lũ dải biên giới phía Campuchia
Do trải qua các cuộc chiến, lại là nước có diện tích rộng, ít dân cư, nên Campuchia chưa có tác động nhiều lên dải biên giới Hệ thống công trình thuỷ lợi phía nước bạn chủ yếu là sông rạch tự nhiên, hầu như chưa xây dựng được công trình nào có ý nghĩa dọc biên giới Tuy các sông, rạch nằm bên đất Campuchia không đóng góp nhiều về dòng chảy nhưng là nơi chuyển tải quan trọng dòng lũ chính từ sông Mê Công hay Bassac tràn bờ vào dải biên giới sang nước ta
Về phía bạn, dọc biên giới hầu như không có xây dựng công trình gì đáng kể,
số kênh đào trong những năm gần đây không có gì thay đổi, hiện vẫn có 4 kênh nhỏ được đào trước đây để lấy nước từ các sông, rạch biên giới thuộc tỉnh Long An là kênh Hunsen, kênh Hữu Nghị, kênh Ô Trát, kênh SVC1 với chiều dài khoảng 1-3
km và chiều sâu 2-3m
Trước đây, Campuchia có đề nghị phía Việt Nam cho đào một số kênh nữa
để lấy nước tưới nhưng do còn chờ quy chế về quản lý biên giới và sử dụng nước giữa 2 nước, nên ta chưa giải quyết Hiện nay, do Hiệp định biên giới bổ sung 2005
có những thay đổi về quy chế đường biên trên sông, rạch biên giới nên việc khai thác sử dụng nguồn nước sông, rạch chung có thể sẽ thay đổi
Trang 4033
Trên đoạn biên giới thuộc hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp hầu như không
có kênh rạch nào được đào Tuy nhiên, tại tỉnh An Giang có kênh Bao Ngạn (Mần Trầu), dài 2,0 km, đáy rộng 20 m, sâu 1,5-2,0 m, do phía Campuchia đào sát đường biên giới nhưng hiện phía Campuchia quản lý chặt, không cho ta bơm tưới hay khai thác tôm cá
1.4 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG ĐÊ BAO VÀ ĐƯỜNG GIAO THÔNG
1.4.1 Thu thập tài liệu đê và đường giao thông
1.4.1.1 Hệ thống đê, bờ bao vùng biên giới ĐTM
Vùng biên giới ĐTM gồm các huyện Hồng Ngự, Tân Hồng, Tân Hưng và Vĩnh Hưng hình thành khoảng 45 ô bao với diện tích các ô khoảng 100-1500 ha Cao trình bờ bao từ +4,0 đến +5,7m
Tuyến phía Bắc vùng nghiên cứu là bờ Nam kênh Sở Hạ-Cái Cỏ giáp biên giới với chiều dài 57 km, hình thành các tuyến dân cư vượt lũ với cao trình trên +6,0m Dọc tuyến có các băng tràn thoát lũ, tổng chiều dài băng tràn là 19km, đoạn
từ rạch Hồng Ngự đến rạch Cái Cái dài 34 km có 17 km băng tràn và đoạn từ rạch Cái Cái đến Kênh 28 chỉ có 2 km băng tràn Cao trình băng tràn bằng mặt đất tự nhiên khoảng +2,5m đến +3,0m
Phía Nam vùng nghiên cứu là kênh Tân Thành-Lò Gạch với chiều dài 57 km
Bờ Nam kênh TT-LG có cao trình trên +5m vượt đỉnh lũ 2000 Trên tuyến có các cầu thoát lũ
1.4.1.2 Hệ thống đê, bờ bao vùng biên giới giữa ST-SH
Vùng giữa ST-SH hình thành khoảng 10 ô bao Bắc kênh Vĩnh An, các tuyến
đê bao các tiểu vùng được xây dựng với cao trình từ +6m trở lên đê ngăn đỉnh lũ
2000 Các ô bao giáp sông Tiền có tuyến đê ổn định Các ô bao phía sông Hậu bị lũ phá hoại nên có khả năng tràn ngập với lũ lớn Đoạn kênh Năm phía Bắc vùng ven sông Hậu dài hơn 9km có cao trình từ +6m đến +7m nhưng bị vỡ một đoạn khoảng gần 400m tạo hố xói sâu đến cao trình -2m
Vùng Bắc Vàm Nao đã xây dựng được hệ thống đê vành đai khép kín theo các tuyến bờ Nam kênh Vĩnh An, ven sông Tiền, ven sông Hậu và bờ Bắc rạch Cái Tắc, với tổng chiều dài toàn tuyến khoảng 100 km, cao trình theo thiết kế đảm bảo ngăn đỉnh lũ 2000 Dọc trên tuyến đê vành đai có hệ thống cống điều tiết nước mùa
lũ, các cống sẽ vận hành để chủ động khống chế mực nước trong đồng khi mực nước lũ trên sông Tiền tại Tân Châu đạt mức 3,5 m Trong nội đồng có hệ thống đê bao của 24 tiểu vùng, cao trình đê bao tiều vùng khoảng +4,0m
Theo số liệu khảo sát cao trình dọc tuyến đê vành đai Bắc Vàm Nao thì cao trình hệ thống đê đã bị lún sụt so với thiết kế Chỉ có đoạn bờ Nam kênh Vĩnh An
có cao trình trên +5,16m vượt đỉnh lũ 2000 Các tuyến ven sông Tiền, sông Hậu và rạch Cái Tắc có khả năng tràn theo số liệu kháo sát địa hình như bảng sau:
Bảng 1-6: Cao trình đê vành đai Bắc Vàm Nao