1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo khoa học : Nghiên cứu các giải pháp quản lý phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông

212 1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu các giải pháp quản lý phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên nước
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 212
Dung lượng 15,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy việc phân công nhiệm vụ cho các ngành quản lý đã rõ ràng cụ thể nhưng vẫn còn một số tồn tại và vướng mắc cần thảo luận để thống nhất giải pháp giữa các ngành, các địa phương về tăng

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 6

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

KẾT CẤU CHUNG BÁO CÁO 6

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 7

CHƯƠNG I: ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG 8

I.1 Tổng quan tình hình quản lý và phát triển tài nguyên nước 8

I.2 Thực trạng quản lý tài nguyên LVS ở Việt Nam 19

I.3 Tổng hợp đánh giá tài nguyên nước lưu vực sông tại các vùng của Việt Nam 22 I.4 Tổng hợp các lưu vực sông Việt Nam 39

I.5 Hiện trạng và dự báo nhu cầu sử dụng nước ở Việt Nam 84

CHƯƠNG II : CÁC GIẢI PHÁP TỔNG HỢP ĐỂ TĂNG NGUỒN SINH THỦY, DUY TRÌ, ĐIỀU HÒA NGUỒN NƯỚC TRONG NĂM TRÊN LƯU VỰC SÔNG 93

II.1 Giải pháp quản lý, bảo vệ rừng đầu nguồn, tầng phủ 94

II.2 Giải pháp bảo vệ đất canh tác, giảm thiểu xói mòn 101

II.3 Giải pháp Nông – Lâm – Thủy nhằm tăng lượng nguồn sinh thủy, 111

CHƯƠNG III: HOÀN THIỆN THỂ CHẾ VÀ CHÍNH SÁCH TRONG QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG Ở VIỆT NAM 125

III.1 Phương pháp quản lý tổng hợp lưu vực sông 125

III.2 Những cơ sở pháp lý về quản lý tổng hợp tài nguyên nước,ủa Việt Nam:.126 III.3 Mô hình quản lý TNN cấp Trung ương 130

III.4 Hoàn thiện các cơ quan quản lý Tài nguyên nước cấp địa phương 137

III.5 Hoàn thiện và cải tiến tổ chức quản lý lưu vực sông 137

CHƯƠNG IV: MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN QUẢN LÝ TỔNG HỢP LƯU VỰC SÔNG MÃ141 IV.1 Giới thiệu khái quát lưu vực sông Mã 141

IV.2 Mô hình phát triển tổng hợp quản lý cho lưu vực sông Mã 147

CHƯƠNG V : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 190

TÀI LIỆU THAM KHẢO 194

PHỤ LỤC BÁO CÁO 196

PHỤ LỤC 1 196

BẢNG BIỂU Bảng 1: Lượng dòng chảy của một số nước 11

Bảng 2: Trữ lượng nước ngầm toàn cầu 11

Bảng 3: Tài nguyên nước mặt các vùng ở Việt Nam 24

Bảng4: Đặc trưng dòng chảy bình quân năm trên các lưu vực sông Việt Nam 31 Bảng 5 : Trữ lượng nước ngầm trên các lưu vực sông (số liệu dự báo) 35

Bảng 6: Tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Hồng – Thái Bình 39

Bảng 7: Đặc trưng dòng chảy năm trung bình nhiều năm trên hệ sông Hồng 40

Bảng 8: Đặc trưng dòng chảy năm trung bình nhiều năm HT sông Thái Bình .42 Bảng 9: Tổng hợp tài nguyên nước LVS Kỳ cùng- Bằng giang và phụ cận 48

Bảng 10: Dòng chảy năm trung bình nhiều năm một số vị trí sông Mã - Chu 50

Bảng 11: Dòng chảy trung bình năm lưu vực sông Cả 53

Bảng 12: Phân bố tài nguyên nước lưu vực sông thuộc Quảng Bình 55

Trang 2

Bảng 13: Đặc trưng hình thái lưu vực sông Nhật lệ 56

Bảng 14 Phân bố tài nguyên nước LVS thuộc tỉnh Quảng Trị 58

Bảng 15 : Đặc trưng dòng chảy sông Vu gia – Thu bồn và phụ cận 60

Bảng 16: Đặc trưng dòng chảy các sông Quảng ngãi 63

Bảng 17: Đặc trưng dòng chảy các sông tỉnh Bình Định 63

Bảng 19: Đặc trưng dòng chảy LV sông Ba và các sông tỉnh Phú yên 65

Bảng 20:Phân phối dòng chảy năm thiết kế tại Đồng Trăng 68

Bảng 21: Đặc trưng dòng chảy LV sông tỉnh Khánh hòa 68

Bảng 22 : Đặc trưng dòng chảy các LV sông tỉnh Ninh Thuận 69

Bảng 24 : Đặc trưng dòng chảy các lưu vực sông Sê san, Srêpok 72

Bảng 25: Đặc trưng dòng chảy các sông ven biển Bà rịa - Vũng tàu Đồng nai 75 Bảng 26: Đặc trưng dòng chảy tại trạm thuỷ văn và tuyến công trình 76

Bảng 27: Nhu cầu nước toàn quốc, P= 75%, triệu m3 91

Bảng 28: Độ che phủ rừng toàn quốc, ha 95

Bảng 29: Hiện trạng thảm phủ thực vật của RPHĐN toàn quốc, ha 96

Bảng 30: Hiệu quả chống xói mòn trên nương lúa (đất bazan, dốc 35%) 102

Bảng 31: Diện tích mặt bằng theo địa giới hành chính thuộc LV sông mã 141

Bảng 32 : Đặc trưng hình thái sông lớn thuộc HT sông Mã 142

Bảng 33: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2007 của LV sông Mã 145

Bảng 34: Diện tích rừng và đất lâm nghiệp LV sông Mã ở địa bàn Thanh Hoá146 Bảng 35: Đặc điểm các mô hình quản lý rừng phòng hộ LV sông Mã 172

Bảng 36:Tình hình áp dụng các mô hình canh tác đất dốc ở nông hộ 174

Bảng 37: Nhu cầu nước tưới hiện tại 200

Bảng 38: Nhu cầu nước tưới giai đoạn 2010 201

Bảng 39: Nhu cầu nước tưới giai đoạn 2020 202

Bảng 40: Nhu cầu nước cho chăn nuôi hiện tại 203

Bảng 41:Nhu cầu nước cho chăn nuôi giai đoạn 2010 204

Bảng 42: Nhu cầu nước cho chăn nuôi giai đoạn 2020 204

Bảng 43: Nhu cầu nước cho sinh hoạt hiện tại 205

Bảng 44: Nhu cầu nước cho sinh hoạt giai đoạn năm 2010 206

Bảng 45: Nhu cầu nước cho sinh hoạt giai đoạn 2020 207

Bảng 46: Nhu cầu nước cho thủy sản hiện tại 208

Bảng 47: Nhu cầu nước cho thủy sản giai đoạn 2010 - 2020 209

Bảng 48: Nhu cầu nước cho công nghiệp giai đoạn 2010 - 2020 210

Bảng 49: Nhu cầu nước cho môi trường hạ du trong tương lai 211

HÌNH VẼ Hình 1: Các sông thuộc HTS Hồng – Thái Bình 39

Hình 2: Bản đồ hệ thống sông đồng bằng sông Cửu Long 80

Hình 2: Mô hình trồng sắn trên đất dốc 103

Hình 3: Ở những vùng đồi có nhiều đá thì xây dựng hệ thống phòng hộ bằng bờ đá là thích hợp nhất 104

Hình 4: Xây dựng bờ đá vừa tăng diện tích cây trồng, vừa hạn chế xói mòn 104

Hình 5: Trồng các loại cây họ đậu (cốt khí, keo dậu) 104

Trang 3

Hình 6: Phía trên hàng cây họ đậu trồng dứa hoặc cỏ (Ghine) 104

Hình7: Thước để đo đường đồng mức là thước chữ A, 105

Hình 8: Người H’Mông thôn Khuổi Sáp xã Xuân Lạc - Chợ Đồn - Bắc Kạn đang sử dụng thước chữ A xác định đường đồng mức 105

Hình 9: Nếu độ dốc 200 thì bề rộng bậc thang nhỏ, khoảng cách hai đường đồng mức từ 1-2m; Nếu độ dốc 150 thì bề rộng bậc thang lớn, khoảng cách hai đường đồng mức 2-3m 105

Hình 10: Lúa trồng trên đất dốc 106

Hình 11: Mô hình ngô đồi trồng có băng cây xanh cản dòng chảy 106

Hình 12: Mô hình canh tác theo đường đồng mức tại Mai Châu, Hoà Bình 108

Hình 13: Canh tác theo đường đồng mức kết hợp che phủ trên ruộng ngô 110

Hình 14: Quan trắc xói mòn 110

Hình 15: Sơ đồ hệ thống cấp nước bằng bơm va 111

Hình 23: Vị trí địa lý Tỉnh Thanh Hóa 143

Hình 24: Sông Mã 145

Hình 25: Kỹ thuật xây dựng ruộng bậc thang để canh tác ngô 176

Hình 26: Xây dựng hàng rào xanh cản dòng chảy 176

Hình 27: Kết quả mô phỏng tại vị trí trạm thủy văn Xã Là ứng P mưa 75% 179

Hình 28: Giao diện phần mềm ArcView sử dụng biên tập bản đồ LVS Mã 188

Hình 29 : Giao diện phần mềm Mapinfo 189

Hình 30: Kết quả mô phỏng tại vị trí trạm thủy văn Xã Là ứng P mưa 90% 196

Hình 31: Kết quả mô phỏng tại vị trí trạm thủy văn Xã Là ứng P mưa 95% 196

Hình 32: Kết quả mô phỏng tại vị trí trạm thủy văn ứng với P mưa 75% 197

Hình 33: Kết quả mô phỏng tại VT trạm thủy văn Cẩm Thủy ứng P mưa 90% 197 Hình 34: Kết quả mô phỏng tại trạm thủy văn Cẩm Thủy ứng với P mưa 95% 198 Hình 35: Kết quả mô phỏng tại trạm thủy văn Cửa Đạt ứng với P mưa 75% 198

Hình 36: Kết quả mô phỏng tại trạm thủy văn Cửa Đạt ứng với P mưa 90% 199

Trang 4

MỞ ĐẦU

Nước vừa là tài nguyên vừa là nguồn lợi, là sự sống của vạn vật, nước liên quan đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, cho nên quản lý sử dụng bảo vệ và phát triển tài nguyên nước là vấn đề rất quan trọng

Nguồn nước, dòng chảy, tổng lượng nước đã thay đổi nhiều do các nguồn nước

từ nước ngoài thay đổi như Trung Quốc và các nước láng giềng xây dựng nhiều hồ, đập làm cho dòng chảy sông Mê Kông bị thay đổi, sông Hồng cũng có xu hướng ít nước Ở trong nước các hồ thuỷ điện, thuỷ lợi cũng xây dựng nhiều làm cho dòng chảy các sông ngòi miền Trung, Đông Nam Bộ bị xáo trộn bất thường, việc xả lũ hồ thuỷ điện khó theo quy trình đã gây thiệt hại và tranh cãi nhiều hiện nay

Nước của các dòng sông trên tất cả các lưu vực sông lớn nhỏ ở Việt Nam đều bị

ô nhiễm nghiêm trọng do các khu công nghiệp, các đô thị và nông thôn thải xả trực tiếp vào các nguồn nước và không được xử lý làm sạch Tình trạng ô nhiễm các nguồn nước càng nghiêm trọng hơn nhiều so với sự thiếu hụt nguồn nước, chúng lây lan nhanh, ô nhiễm đất, nước ảnh hưởng xấu trực tiếp đến đời sống xã hội

Hiện nay tư duy về việc quản lý tài nguyên nước đã thay đổi không còn giống như cách đây 10 - 20 năm trước:

- Một là : Tài nguyên nước phục vụ đa ngành như sản xuất nông nghiệp, công

nghiệp, cấp nước sinh hoạt, thủy sản, thủy điện, dịch vụ, sinh thái môi trường, cho nên công tác quản lý tài nguyên nước là trách nhiệm của các ngành và mọi người dân

- Hai là: Bảo vệ nguồn nước là trách nhiệm của mọi người, mọi ngành;

- Ba là: Chúng ta có hệ thống công trình đã được xây dựng trong những năm

qua, có khả năng đáp ứng một cách chủ động điều tiết dòng chảy, nguồn nước phục vụ cho các nhu cầu kinh tế - xã hội hiện nay

- Bốn là: Tài nguyên nước ở nước ta hiện nay được quản lý theo nhiều hệ thống

khác nhau, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ Có thể nói trong tất cả các hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước đều có các cơ quan Nhà nước phụ trách Có nhiều các văn bản về Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định liên quan đến bảo vệ, quản lý, khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên nước đã được ban hành

Quản lý tài nguyên nước ở nước ta giống được tổ chức theo hai cấp là cấp Trung ương và cấp địa phương Về quản lý lưu vực sông Chính phủ giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo

Trang 5

Tuy việc phân công nhiệm vụ cho các ngành quản lý đã rõ ràng cụ thể nhưng vẫn còn một số tồn tại và vướng mắc cần thảo luận để thống nhất giải pháp giữa các ngành, các địa phương về tăng cường năng lực, hiệu quả quản lý tài nguyên nước lưu vực sông như : Điều hành liên hồ chứa và an toàn hồ chứa; quy hoạch và thực thi các giải pháp phòng chống lũ lụt, cấp nước liên vùng, liên tỉnh; chỉ đạo các quy hoạch liên ngành về bảo vệ, khai thác và phát triển tài nguyên nước quốc gia; kiểm soát lũ lụt, phòng tránh thiên tai, cứu hộ cứu nạn; giải quyết các tranh chấp về nguồn nước, xử lý gây ô nhiễm phạm vi liên tỉnh, liên ngành theo phân cấp; các chính sách phát triển ngành nước mang lợi ích quốc dân

Để phát triển bền vững, tài nguyên nước và các tài nguyên thiên nhiên khác cần phải được quản lý một cách tổng hợp, bảo đảm tính hệ thống của lưu vực sông, không chia cắt theo địa giới hành chính

Trong phương pháp quản lý này, lưu vực sông được lấy làm cơ sở và xem đó là một hệ thống thống nhất, trong đó có những tác động qua lại giữa các tài nguyên (nước, đất, rừng, các hệ sinh thái ) và con người Phương pháp này nhằm quản lý lưu vực sông như một thực thể với những mục đích bảo vệ toàn bộ năng suất của các nguồn tài nguyên trong một thời gian lâu dài, đồng thời bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường của lưu vực sông Có thể nói rằng, quản lý tài nguyên và môi trường lưu vực sông là một lĩnh vực đa ngành, đa mục tiêu, ẩn chứa những quyền lợi khác nhau,

có khi xung đột nhau

Quản lý tổng hợp lưu vực sông có tác động toàn diện đến các mặt kinh tế, xã hội và đem lại nhiều lợi ích cho lưu vực Quản lý lưu vực sông trước hết nhằm bảo vệ

và phát triển nguồn nước, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của con người và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Mặt khác, quản lý lưu vực sông hướng tới việc khai thác sử dụng hợp lý, tiết kiệm và công bằng nguồn nước

Quản lý tài nguyên nước lưu vực sông là quản lý tổng hợp các giải pháp nông –

lâm - thủy trong lưu vực để phát triển bền vững Đề tài “ Nghiên cứu các giải pháp

tổng hợp quản lý phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông” nhằm đánh giá

những vấn đề còn tồn tại và đề xuất những giải pháp hợp lý Các giải pháp quản lý tổng hợp sẽ giúp các Cơ quan Nhà nước và các địa phương quản lý tài nguyên nước theo ngành, theo lãnh thổ hiệu quả nhất, tài nguyên nước lưu vực sông sẽ được bảo vệ, khai thác, sử dụng và không ngừng phát triển

Trang 6

MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

- Đề xuất được các giải pháp tổng hợp để duy trì, điều tiết, cân bằng lượng nước giữa các mùa trong năm;

- Áp dụng xây dựng được mô hình quản lý cho một lưu vực sông cụ thể

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Kế thừa các chuỗi tài liệu thống kê về Tài nguyên và Môi trường, các báo cáo đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng nguồn nước và môi trường của các cơ quan chuyên môn, kết quả của các đề tài, dự án đang được thực hiện trong những năm gần đây

- Thông qua việc tập hợp số liệu để xác định việc điều tra, khảo sát, phân tích

bổ sung các chỉ tiêu phục vụ cho công tác nghiên cứu

- Ứng dụng các phương pháp tiên tiến để đánh giá diễn biến và dự báo tương lai như: ảnh vệ tinh, chập bản đồ, sơ đồ hoá, khái quát hoá thông qua GIS, mô hình toán

- Khảo sát thực địa kết hợp thu thập các tài liệu để đánh giá hiện trạng các thành phần tài nguyên môi trường trong khu vực nghiên cứu

- Điều tra thu thập kế thừa các tài liệu chất lượng môi trường nước để đánh giá hiện trạng và dự báo

- Thu thập, phân tích phương pháp luận ở một số nước tiên tiến về quản lý điều hành hiệu quả nguồn nước để chọn lọc và vận dụng

- Lấy ý kiến chuyên gia, các bên liên quan, các nhà quản lý, hoạch định chính sách thông qua các hội thảo, tham quan nhằm tranh thủ các ý kiến, quan điểm, học hỏi kinh nghiệm để xây dựng tốt hơn, sát thực hơn các biện pháp đề xuất theo mục tiêu của đề tài

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ chuyên môn, đáp ứng các mục tiêu đã đề ra, đề tài đã tập hợp trên 20 nhà khoa học và cán bộ nghiên cứu có kinh nghiệm trong lĩnh vực sông thuộc các Viện Nghiên cứu để triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu Các cơ quan, bộ phận trong và ngoài Viện tham gia chính như sau:

1 Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường – Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam;

2 Trung tâm đào tạo và Hợp tác quốc tế - Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam;

3 Phòng thí nghiệm trọng điểm động lực học sông biển (Viện KHTL VN)

4 Trung tâm nghiên cứu sinh thái môi trường rừng - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt nam (Viện KHLNVN)

KẾT CẤU CHUNG BÁO CÁO

Báo cáo tổng hợp kết quả khoa học công nghệ đề tài gồm phần mở đầu, 5 chương và phụ lục:

Chương I : Đánh giá tổng quát về tài nguyên nước lưu vực sông

Trang 7

Chương II : Các giải pháp tổng hợp để tăng nguồn sinh thủy, duy trì , điều hòa nguồn nước trong năm trên lưu vực sông

Chương III: Hoàn thiện thể chế và chính sách trong quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông ở Việt nam;

Chương IV: Mô hình phát triển quản lý tổng hợp lưu vực sông Mã

Chương V: Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục báo cáo

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Đề tài đánh giá tổng quan tài nguyên nước lưu vực sông trên thế giới và Việt Nam; đã xây dựng được bộ hồ sơ đánh giá tài nguyên nước mặt các lưu vực sông; thống kê tổng dòng chảy trung bình năm trong năm, hiện trạng và mức độ ô nhiễm các lưu vực sông ; tổng quan đánh giá hiện trạng và định hướng phát triển hệ thống tài nguyên nước về quản lý và công trình trong cả nước

- Kết quả nghiên cứu phân tích lựa chọn các giải pháp tổng hợp quản lý tài nguyên nước LVS bao gồm sự phối hợp các hệ thống giải pháp về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi và quản lý nhằm duy trì tăng nguồn sinh thủy, điều hòa nguồn nước trong năm, cùng nhắm đến mục tiêu cơ bản là phối hợp phát triển bền vững kinh tế, xã hội và môi trường trong lưu vực sông, cụ thể là :

+ Đã lựa chọn giới thiệu các mô hình quản lý, giải pháp, chính sách để bảo vệ phát triển gần 6 triệu ha rừng phòng hộ đầu nguồn trong cả nước nhằm phục hồi môi trường và nuôi dưỡng nguồn nước cho các lưu vực sông suối

+ Đánh giá lựa chọn mô hình giải pháp canh tác nông nghiệp, nông lâm nghiệp, kết hợp nông lâm thủy trên đất dốc, đất đồi núi nhằm tăng nguồn sinh thủy, điều hòa nguồn nước, bảo vệ đất chống xói mòn và phát triển sản xuất nâng cao đời sống nhân dân

+ Đề xuất việc đổi mới tổ chức quản lý tài nguyên nước lưu vực sông như đổi mới về phân cấp quản lý về các mặt giữa các Bộ, ngành, địa phương; Cơ cấu lại tổ chức, nhiệm vụ phân giao, giải thể, tách nhập để thống nhất tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước, lưu vực sông ở cấp Trung ương và địa phương

- Áp dụng nghiên cứu mô hình sông Mã về đánh giá lựa chọn các giải pháp tổng hợp quản lý phát triển bền vững lưu vực sông

Trang 8

CHƯƠNG I: ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC

SÔNG I.1 Tổng quan tình hình quản lý và phát triển tài nguyên nước lưu vực sông trên thế giới và Việt Nam

I.1.1 Khái niệm và từ ngữ:

Các khái niệm, từ ngữ liên quan đến tài nguyên nước(TNN), lưu vực sông (LVS) trong báo cáo thống nhất theo Luật Tài nguyên nước ngày 20/5/1998 và Nghị định 120/2008/NĐ-CP ngày 01/12/2008 về quản lý lưu vực sông, như sau :

mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển (ven bờ) thuộc lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam

"Lưu vực sông" là vùng đất mà từ đó nước mưa, nước dưới đất chảy tự nhiên

vào sông

"Nguồn nước" chỉ các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai

thác, sử dụng được, bao gồm: sông, suối, kênh, rạch; biển, hồ đầm, ao; các tầng chứa nước dưới đất; mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác

"Nguồn nước quốc tế" bao gồm các nguồn nước từ lãnh thổ Việt Nam chảy

sang lãnh thổ các nước khác, từ lãnh thổ các nước khác chảy vào lãnh thổ Việt Nam hoặc nằm trên biên giới giữa Việt Nam và nước láng giềng

"Lưu vực sông quốc tế" là lưu vực sông có một hay nhiều nguồn nước quốc tế

"Phát triển tài nguyên nước" là mọi hoạt động nhằm nâng cao khả năng khai

thác, sử dụng bền vững và nâng cao giá trị tài nguyên nước

"Khai thác nguồn nước" là các hoạt động nhằm mang lại lợi ích từ nguồn nước

"Sử dụng tổng hợp nguồn nước" là sử dụng hợp lý, phát triển mọi tiềm năng

của một nguồn nước và hạn chế các tác hại do nước gây ra để phục vụ cho nhiều mục đích

"Vùng bảo hộ vệ sinh nguồn nước" là vùng phụ cận nguồn nước được quy định

để bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng của nguồn nước dùng cho sinh hoạt

"Ô nhiễm nguồn nước" là sự làm thay đổi các tính chất vật lý, hoá học và thành

phần sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép

"Suy thoái, cạn kiệt nguồn nước" là sự suy giảm về chất lượng và số lượng

nước của nguồn nước

Trang 9

"Quy hoạch lưu vực sông" là quy hoạch về bảo vệ, khai thác, sử dụng nguồn

nước, phát triển tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trong lưu vực sông

"Công trình thuỷ lợi" là các công trình khai thác mặt lợi của nước, phòng,

chống tác hại do nước gây ra và bảo vệ môi trường sinh thái

"Hệ thống công trình thuỷ lợi" bao gồm các công trình thuỷ lợi có liên quan

trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định

"Phân lũ, chậm lũ" là việc chủ động chuyển một phần dòng nước lũ theo hướng

chảy khác, tạm chứa lại ở một khu vực để giảm mức nước lũ

"Nhóm lưu vực sông" là tập hợp các lưu vực sông gần nhau về mặt địa lý

Danh mục lưu vực sông" là tập hợp các lưu vực sông được phân loại dựa trên

các tiêu chí về tầm quan trọng, quy mô diện tích lưu vực, chiều dài các căn cứ khác

"Danh bạ dữ liệu môi trường - tài nguyên nước lưu vực sông" là cơ sở dữ liệu

tổng hợp các đặc trưng thống kê của một lưu vực sông, bao gồm: Vị trí tình trạng khai thác, sử dụng nước, xả nước thải, các đặc điểm về kinh tế - xã hội, các đặc trưng về môi trường

"Kế hoạch phòng, chống ô nhiễm môi trường nước và phục hồi các nguồn nước

bị ô nhiễm " là nội dung bao gồm các biện pháp quản lý, phương án đầu tư và tiến độ

triển khai các hoạt động cụ thể nhằm bảo đảm mục tiêu chất lượng nước đã xác định trong quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước

pháp quản lý, phương án đầu tư và tiến độ triển khai các hoạt động cụ thể nhằm bảo đảm điều hoà, phân bổ tài nguyên nước theo mức phân bổ, tỷ lệ đã xác định trong quy hoạch phân bổ tài nguyên nước để đáp ứng sử dụng của các đối tượng sử dụng nước

"Dòng chảy tối thiểu" là dòng chảy ở mức thấp nhất cần thiết để duy trì dòng

sông hoặc đoạn sông, bảo đảm sự phát triển bình thường của hệ sinh thái thuỷ sinh và bảo đảm mức tối thiểu cho hoạt động khai thác, sử dụng theo thứ tự ưu tiên đã được xác định trong quy hoạch lưu vực sông

- Khái niệm về quản lý tổng hợp:

Trong phương pháp quản lý này, lưu vực sông được lấy làm cơ sở và xem đó là một hệ thống thống nhất, trong đó có những tác động qua lại giữa các tài nguyên (nước, đất, rừng, các hệ sinh thái ) và con người Phương pháp này nhằm quản lý lưu vực sông như một thực thể với những mục đích bảo vệ toàn bộ năng suất của các

Trang 10

nguồn tài nguyên trong một thời gian lâu dài, đồng thời bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường của lưu vực sông

Có nhiều cách định nghĩa về quản lý tổng hợp lưu vực sông, nhưng có thể hiểu đây là một khái niệm rộng gắn với các kế hoạch, chính sách và hoạt động nhằm kiểm soát nguồn nước, tài nguyên và môi trường cũng như các quá trình liên quan trong một lưu vực nhất định

Như vậy, quản lý tổng hợp lưu vực sông hay quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường theo lưu vực sông là sự hợp tác trong quản lý và khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên có trên lưu vực một cách hợp lý, công bằng để đạt được lợi ích kinh

tế và xã hội mà không làm tổn hại đến sự bền vững của hệ sinh thái

Hiện nay, do nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm, nhiều quốc gia đã nỗ lực nâng cao hiệu quả sử dụng nước Trong nỗ lực đó, quản lý tổng hợp được coi như là một giải pháp và lưu vực được xem như là một đơn vị quản lý đối với các nguồn tài nguyên đất, nước và các nguồn tài nguyên khác

I.1.2.1 Phân bố tài nguyên nước trên thế giới

Trên phạm vi lục địa, trữ lượng nước mặt bao gồm nước băng tuyết ở các địa cực và các vùng núi cao xứ hàn đới (98,83%), nước hồ (1,15%), nước đầm lầy (0,015%) và nước sông (0,005%) Về khối lượng nước băng tuyết chiếm tỷ lệ tuyệt đối lớn (99%) và nếu giả thiết khối băng hà tan thành nước thì mực nước đại dương có thể dâng lên 66,4 m Lượng nước băng tuyết bằng tổng lượng dòng chảy sông trong 600 năm

Tuy nhiên, trong thực tế băng hà nằm ở khu vực giá lạnh vĩnh cửu, nên khả năng sử dụng chúng còn rất hạn chế Ngược lại, nước sông và hồ tuy chiếm tỷ lệ diện tích rất nhỏ (1,2%), song do tham gia vào chu trình tuần hoàn vận động rất tích cực nên chúng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của con người Sơ bộ ước tính có 2,8 triệu hồ tự nhiên, trong đó 145 hồ có diện tích trên 100

km2/1 hồ Tổng dung tích hữu ích của hồ nhân tạo ước tính gần 5.000 km3 (1,78%) Nước đầm lầy ước tính 11.470 km3 với tổng diện tích 2.682 km2 Nước sông luôn vận động và tuần hoàn, nên nhanh chóng được phục hồi Nhờ vậy, tuy thể tích chứa của các sông ước tính chỉ bằng 1.200 km3, nhưng lượng dòng chảy sông phong phú hơn nhiều tới 41.500 km3/năm, có nghĩa là dòng sông đã tái hồi trung bình 34,6 lần trong mỗi năm Điều này cho phép tăng đáng kể khả năng khai thác dòng sông cho các mục tiêu sử dụng khác nhau

Trang 11

Đặc biệt nổi bật của dũng chảy sụng là sự phõn bố rất khụng đều theo thời gian và khụng gian theo vựng lónh thổ, xem lượng dũng chảy của một số nước (bảng 1)

Bảng 1: Lượng dũng chảy của một số nước

Lượng dũng chảy bỡnh quõn năm

TT Tờn nước Diện tớch (103km2 Tổng số

(km3)

Bỡnh quõn diện tớch (103m3/km2)

Bỡnh quõn đầu người (103m3/ng

Tỷ lệ toàn cầu (%)

(Nguồn Iso Standards Handụ K 16)

Sự phõn bố dũng chảy khụng đều theo thời gian và vựng lónh thổ là đặc trưng phổ biến đối với nhiờự nước, trong đú cú Việt Nam

Về trữ lượng nước ngầm hiện nay mới chỉ đỏnh giỏ ở mức tương đối, vỡ đú là một nội dung khỏ phức tạp, một mặt do mối quan hệ qua lại hữu cơ giữa nước ngầm và nước mặt, mặt khỏc do khả năng khoan sõu cũn hạn chế và tài liệu khoan cũn ớt Căn

cứ vào tài liệu của LHQ (UNCSCO) được thực hiện trong khuụn khổ chương trỡnh:

“thập kỷ quốc tế về thuỷ văn - địa chất” bắt đầu từ năm 1966, cú thể sơ bộ đỏnh giỏ về trữ lượng nước ngầm trờn toàn cầu như ở bảng 2:

Bảng 2: Trữ lượng nước ngầm toàn cầu

(103km3) Độ khoáng hoá (g/l)

Mức độ thức hợp khi thực hiện

Độ sâu tới 1.000 m 4.000

Chủ yếu nước nhạt, lượng muối hoà tan không quá 1

Đáp ứng yêu cầu đối với nước sinh hoạt và nước tưới

Độ sâu từ 1.000 đến

Phần lớn là nước mặn, với lượng muối hoà tan tới 30-100,

đôi khi đến 300-400

Có thể dùng cho công nghiệp hoá học, khi sử dụng cho sinh hoạt hoặc tưới cần phải làm nhạt Tổng các loại theo

dự báo

60.000

(Nguồn theo LHQ (UNCSCO) )

Trang 12

I.1.2.2 Tổng quan quản lý tài nguyên nước lưu vực sông trên thế giới

Quản lý tài nguyên nước, lưu vực sông trên thế giới rất đa dạng, nhưng tại tất cả

các nước đều có những tổ chức được lập để quản lý nước

Mỗi nước áp dụng những loại hình tổ chức quản lý lưu vực sông (LVS) khác nhau như Mỹ, Úc, châu Âu, Trung quốc … Để có được cách nhìn một cách tổng hợp chúng ta lần lượt xem xét một số loại hình tiêu biểu về quản lý LVS trên thế giới

Tổ chức LVS (RBOs)[24] được thành lập theo các nhu cầu khác nhau trên khắp thế giới, từ những năm đầu thế kỷ XX

Hiện nay có khoảng 261 lưu vực sông lớn trên thế giới thuộc diện sông Quốc tế hoặc sông liên bang Viện Tài nguyên thế giới của Mỹ thống kê 106 lưu vực sông trên thế giới trong đó có sông Hồng Hà và sông Mê Kông của Việt Nam Năm 2005 trên mạng quốc tế của tổ chức lưu vực sông thông báo có 133 thành viên ở trên 50 nước khác nhau

Có 3 mô hình lưu vực sông quốc gia và quốc tế (mô hình hay loại hình)/ Erik Mostert/: Mô hình thuỷ văn (the hydrological model); mô hình hành chính (the administrative model); mô hình phối hợp (the coordinated model)

- Mô hình thuỷ văn: Là cơ cấu tổ chức quản lý dựa trên tiêu chí gianh giới thuỷ

văn và có quy hoạch lưu vực sông rộng lớn, có thể nói quản lý nước ở trong các cơ quan lưu vực sông tại Anh, Pháp giống với mô hình thuỷ văn; tuy nhiên họ chỉ có kế hoạch và tài chính, không có quyền quy định, sở hữu hoặc hoạt động cơ sở hạ tầng Ở đây các cơ quan có thẩm quyền có thể được giới hạn trong phối hợp

- Mô hình hành chính: Là mô hình có nhiều mặt đối lập với mô hình thuỷ văn

Ở đây quản lý lưu vực sông là một phần của quản lý môi trường, thực hiện bởi các tỉnh, thành phố và các cơ quan khác không dựa trên ranh giới thuỷ văn Không có quy hoạch lưu vực sông Hệ thống quản lý của Đức và hệ thống sông Meuse giống mô hình hành chính nhất, có cơ chế điều phối trên quy mô lưu vực sông

- Mô hình phối hợp (thuỷ văn và hành chính): Là sự điều phối đan xen giữa

thuỷ văn và hành chính Trong mô hình quản lý nước này không tổ chức các cơ quan lưu vực sông độc lập mà có các uỷ ban lưu vực sông với nhiệm vụ phối hợp Sự phối hợp của các uỷ ban này thường vạch ra chiến lược quy hoạch lưu vực sông Trong các

kế hoạch này những mục tiêu chiến lược được đặt ra như giảm lượng phát thái chất X của phần trăm Y sau năm Z Lựa chọn và áp dụng các giải pháp đạt được những mục

Trang 13

tiêu này được giao cho các chủ thể khác nhau mà không dựa trên cơ sở của ranh giới thuỷ văn

Việc lựa chọn mô hình tuỳ thuộc vào điều kiện các nước khác nhau ví dụ: Mô hình phối hợp [24] ở Hà Lan và Bồ Đào Nha Tại Hà Lan phối hợp được quy định trong nhiều thủ tục quy hoạch, mặc dù các vùng quy hoạch thường không trùng khớp với các lưu vực sông, ở Bồ Đào Nha vừa có quy hoạch lưu vực sông vừa có hội đồng lưu vực sông Trong tương lai mô hình quản lý sông Meuse cũng sẽ theo mô hình phố hợp Với mô hình thuỷ văn không thể khả thi đối với các nước có mức độ phân cấp cao như Đức, Hà Lan, nếu áp dụng mô hình này tức là sự tập trung vào cơ quan quản

lý nước sẽ làm giảm khả năng tiếp xúc giữa nhà quản lý nước với người sử dụng nước

và tăng cường quan liêu, hơn nữa khó khả thi về chính trị

Đối với những con sông quốc tế thì mô hình thuỷ văn gặp rất khó khăn, nếu nói

là không thể vì liên quan chủ quyền quốc gia không thể chuyển qua cho cơ quan quản

lý lưu vực sông (nông nghiệp, nuôi trồng, đất đai, lập kế hoạch…) Mô hình thuỷ văn

áp dụng cho các nước không có sông quốc tế như vương quốc Anh

Một số ví dụ tổ chức quản lý lưu vực sông cụ thể :

- Mô hình Cơ quan đại diện trong quản lý lưu vực sông của Pháp

Nước Pháp từ năm 1966 đã quản lý tất cả 6 lưu vực sông trên cả nước dựa trên Luật về Nước ban hành năm 1964 Mỗi lưu vực có một Cơ quan đại diện lưu vực (Agence de Bassin) gồm có một Hội đồng quản trị trong đó một nửa là đại diện các cơ quan Nhà nước, 1/4 là đại diện các chính quyền địa phương và 1/4 còn lại là đại diện các hộ dùng nước (công nghiệp, nông nghiệp, cấp nước, thuỷ sản ) Các quyết định của Hội đồng quản trị phải được Cơ quan đại diện lưu vực sông phê chuẩn Cơ quan đại diện lưu vực sông thường bao gồm từ 60 đến 110 uỷ viên, trong đó số đại diện của Nhà nước, chính quyền địa phương và các hộ dùng nước là tương đương.Cơ quan đại diện lưu vực có quyền tự chủ về tài chính, với nguồn thu là hai loại phí: Phí tài nguyên nước và phí ô nhiễm nước Tiền thu được trích ra 10% cho các nghiên cứu và bộ máy quản lý, 90% được dùng vào việc chống ô nhiễm tài nguyên nước cùng với các địa phương

-Quản lý lưu vực sông ở Trung Quốc

Hiện nay Trung Quốc có 7 Uỷ ban cho các lưu vực sông liên tỉnh do Chính phủ thành lập và trực thuộc hành chính Bộ Tài nguyên nước (Bộ TNN) Sau 1988, các chức năng về thuỷ điện, hàng hải và kiểm soát ô nhiễm đã chuyển sang các Bộ khác,

Trang 14

các tổ chức QLLVS, là đại diện cơ sở của Bộ TNN Luật nước 1988 quy định rằng các

bộ phận và các cơ quan thực thi pháp luật về nước là các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước trong các cấp chính quyền, còn các tổ chức QLLVS được xếp vào tổ chức cung ứng dịch vụ công ích, mà không có chức năng hành chính Luật nước 2002 lại quy định tổ chức QLLVS các quyền thực thi các chức năng tư pháp trong quản lý điều hành TNN mà trước đây còn hạn chế Ví dụ Ủy ban Quản lý lưu vực sông Hoàng

Hà , là con sông có lưu vực khoảng 795.000 km2, số dân 98 triệu người Uỷ ban sông Hoàng Hà (YRCC) là một cơ quan của Bộ TNN Trung Quốc được thành lập nhằm quản lý lưu vực sông Hoàng Hà và các sông nội địa thuộc một số tỉnh và khu vực phía tây bắc Trung Quốc (Tân Cương, Nội Mông, Cam Túc, Thanh Hải) YRCC có chức năng như một bộ nhỏ với phạm vi hoạt động và quyền lực rất rộng và một bộ máy tổ chức đồ sộ (29.000 người), YRCC vừa là một cơ quan xây dựng và triển khai các chính sách, chiến lược, lại vừa là một cơ quan trực tiếp thực hiện các dự án đầu tư

- Quản lý lưu vực sông Murray-Darling của Australia

Sông Murray-Darling là sông dài thứ tư trên thế giới (3780 km) với diện tích lưu vực khoảng 1 triệu km2 Lưu vực sông bao gồm 75% bang New South Wales, 56% bang Victoria, 15% bang Queensland, 8% bang Nam Australia và toàn bộ thủ đô Australia Cơ cấu tổ chức quản lý bao gồm : Hội đồng cấp bộ trưởng của cấp liên bang và các bang trong lưu vực Murray – Darling; Uỷ ban lưu vực Murray – Darling trực thuộc Hội đồng và các nhóm đại diện cho các cộng đồng Cơ cấu này tạo nên một diễn đàn để hoạch định các chính sách và chiến lược trong việc chia sẻ nguồn nước và quản lý những vấn đề nghiêm trọng về môi trường trong lưu vực

-Quản lý lưu vực sông Lerma-Chapala của Mexico

Sông Lerma-Chapala có chiều dài 750 km, có tổng diện tích 54.000 km2, bao gồm 5 tiểu bang với tổng dân số là 15 triệu người, tổng GDP chiếm 9% tổng GDP của

cả nước Lưu vực này có hồ Chapala là một hồ tự nhiên diện tích 1110 km2, dung tích

8 tỷ m3 Hội đồng lưu vực sông Lerma-Chapala được thành lập năm 1993 Hội đồng lưu vực sông là một diễn đàn mà tại đó chính quyền cũng như đại diện các hộ sử dụng nước chia sẻ trách nhiệm phân phối tài nguyên nước, thúc đẩy quản lý toàn diện tài nguyên nước tại cấp lưu vực Hội đồng hoạt động dựa trên nguyên tắc phối hợp và đồng thuận

Qua các nghiên cứu chúng tôi có nhận xét về các tổ chức lưu vực sông trên thế giới như sau :

Trang 15

1- Về loại hình tổ chức : Quản lý lưu vực sông rất khác nhau, không theo một

mẫu cụ thể nào, có thể chia nhóm các loại hình tổ chức quản lý LVS như sau:

+ Các uỷ hội hoặc cơ quan lưu vực (basin commissions or authorities)

Các uỷ hội thông thường được thành lập theo các thông báo của chính phủ hoặc theo luật và có thể có hoặc không có thư ký thường trực Họ thường giải quyết vấn đề công cộng và khi cần thiết quyết định phân phối nguồn nước có thể giữa các sử dụng, các vùng hoặc các nước ven sông Họ cũng có thể phối hợp chống lũ lụt, hạn hán, đưa các biện pháp ngăn chặn ô nhiễm và cán bộ thực hiện kế hoạch dài hạn về phối hợp và hoạt động tại cấp lưu vực Ở Châu Âu (EU) các uỷ hội quốc tế phối hợp thực hiện điều ước nước khung trong các nước ven sông của EU, tại các nước Liên Bang (Brazil, Úc), các uỷ hội được thành lập do chính phủ trung ương và các bang, tỉnh hoặc vùng để phối hợp chính sách và hoạt động trong cùng lưu vực sông

+ Uỷ ban cố vấn (advisory committee): Là tổ chức chính thức hoặc bán chính

thức, được chính phủ giao chiến lược, kế hoạch cho các tổ chức này, nhưng đây là cơ quan thừa hành, bị hạn chế thẩm quyền pháp lý

+ Ban chỉ đạo hoặc các Cơ quan đại diện (basin directorates or agencies)

Ban chỉ đạo hoặc đại diện thực hiện các quyết định quy hoạch và có các điều kiện được ấn định Họ có thể đặt ra và thông qua các quy định, hoặc thực hiện các nguyên tắc trong khuôn khổ pháp luật và giữ vai trò quyết định trong tài phán xử trong những tranh chấp pháp định Họ thường thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch, tập hợp thuế nước, cho vay tài chính hoặc ủng hộ đầu tư để công trình dự án đạt hiệu quả, đáp ứng về chính sách nước, nghiên cứu, số liệu thống kê hoặc sản phẩm, thông tin cổ phần và sự kiện xã hội

+ Hiệp hội lưu vực hoặc hội đồng (basin associations or councils)

Hội đồng là nhóm chính thức hoặc không chính thức bao gồm các công chức Nhà nước, quốc hội, phi Chính phủ, và người dân cùng nhau thảo luận những vấn đề quản lý nước, đưa ra các tham vấn (tư vấn) cho Chính phủ Các hiệp hội lưu vực hoặc hội đồng thường tồn tại bên cạnh chính quyền chính thức và đại diện cho các bên khác nhau của người sử dụng, tổ chức phi chính phủ hoặc nhóm cộng đồng địa phương

+ Phường hội hoặc Công ty (corporations or companies)

Các Công ty này thường được Chính phủ cho phép trong lĩnh vực trong xây dựng cơ

sở hạ tầng và quản lý nó trong giai đoạn đặc biệt Nói chung họ cung cấp các dịch vụ

về nước cho sử dụng, như hàng hải, kiểm soát lũ, tưới, sản phẩm thuỷ điện Họ không

Trang 16

phải là tổ chức quản lý lưu vực, nói chung họ có vai trò như những hộ sử dụng nước hơn là các tổ chức lưu vực

+ Liên hiệp (Federation) thường có trong khuôn khổ cộng tác của các tổ chức,

bộ phận trong một chính phủ hoặc liên chính phủ để quản lý lưu vực sông quốc tế

2- Về quy mô tổ chức : Các tổ chức thực hiện việc quản lý như ủy hội, ủy ban

thường có các cơ quan chuyên môn giúp việc ở các cấp và tại địa phương Các hiệp hội hoạt động dưới dạng tư vấn, cố vấn, các diễn đàn thông qua hội họp đưa ra các kiến nghị, đề xuất với các cấp chính quyền

3- Về chức năng, nhiệm vụ , quyền hạn : Tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ được

đặt ra với các tổ chức, cơ quan quản lý lưu vực khi thành lập và xuất phát từ các yêu cầu đòi hỏi quản lý của lưu vực sông Thông thường các tổ chức quản lý tài nguyên nước lưu vực sông thực hiện các chức năng như : quản lý quy hoạch LVS, xả thải, chống ô nhiễm nguồn nước, phân phối nước, cấp phép cho các hộ dung nước, bảo vệ nguồn sinh thủy đất và rừng, giải quyết tranh chấp về nước và có thể quản lý công trình liên tỉnh, phòng chống tác hại của nước, lũ lụt thiên tai Có tổ chức thực hiện nhiều chức năng, nhưng cũng có tổ chức chỉ thực hiện một vài chức năng Phần lớn các tổ chức LVS có chức năng giám sát các hoạt động liên quan đến quy hoạch, bảo

vệ, khai thác nguồn nước trong lưu vực Quyền hạn tùy thuộc vào quy định của pháp luật mỗi nước Nói chung nhiệm vụ thường nhiều, nhưng quyền hạn do luật pháp bảo

hộ còn ít và hạn chế, chủ yếu đóng vai trò tư vấn cho chính quyền các cấp, trừ ở Trung quốc các Ủy ban được giao nhiều quyền hạn hơn

4- Về cơ chế tài chính : các tổ chức quản lý LVS đều cần có nguồn kinh phí để hoạt

động lâu dài Nguồn tài chính dựa vào sự tài trợ của ngân sách nhà nước, các nhà tài trợ quốc tế, các hộ dùng nước hưởng lợi hoặc từ thu thuế tài nguyên, các lệ phí dùng nước Ngoài ra còn có các nguồn lấy từ các hoạt động dịch vụ do tổ chức tự thực hiện

Tóm lại : Quản lý lưu vực sông là giải pháp quan trọng để đạt được mục tiêu quản lý

tổng hợp tài nguyên nước Hiện nay trên thế giới có rất nhiều loại hình tổ chức quản lý lưu vực sông với cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ và hình thức hoạt động rất khác nhau, mỗi một loại hình tổ chức đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định Các

mô hình quản lý của các nước có giá trị tham khảo rất lớn đối với việc xây dựng mô hình quản lý cho lưu vực sông ở Việt Nam

I.1.3 Các nghiên cứu khoa học ở Việt Nam liên quan đến Tài nguyên nước :

Trước những năm 80 của thế kỷ XX các nghiên cứu tập trung vào các giải pháp công trình khai thác nguồn nước như công nghệ xây dựng hồ chứa, đập dâng, các trạm

Trang 17

bơm, cống lấy nước và các hệ thống tưới tiêu phục vụ cho phát triển nông nghiệp Từ những năm 80 trở lại đây, vấn đề quản lý tổng hợp TNN và LVS đã được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm, một số nghiên cứu tiêu biểu gần đây như:

- Đề tài cấp nhà nước KC.08.04 “Nghiên cứu mô hình quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường lưu vực sông Đà” do Tiến sỹ Nguyễn Quang Trung - Viện Khoa học Thủy lợi làm chủ nhiệm thực hiện từ tháng 10/2001 đến 10/2004 Đề tài xây dựng

bộ hồ sơ lưu vực, thiết lập được phương pháp luận và đề xuất mô hình quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường lưu vực sông Đà có tính khả thi cao

- Đề tài cấp nhà nước KC.08.05 “ Nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên nước vùng Tây nguyên” do Tiến sỹ Đoàn Văn Cánh - Trường Đại học Mỏ - Địa chất chủ trì, thực hiện từ thứng 10/2001 đến tháng 9/2004 Kết quả chính của đề tài đã đánh giá được tiềm năng nước mặt, nước ngầm vùng Tây nguyên và đề xuất các giải pháp khai thác hợp lý tài nguyên nước để phát triển nông nghiệp

- Đề tài cấp nhà nước KC.08.25 “Nghiên cứu giải pháp tổng thể sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường lưu vực sông Ba và sông Côn” do PGS.TSKH Nguyễn Văn Cư - Viện Địa lý chủ trì, thực hiện từ tháng 1/2004 đến tháng 12/2005

Đề tài đã xây dựng được giải pháp tổng thể nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường lưu vực sông Ba sông Côn và mô hình lưu vực sông hướng tới sự phát triển bền vững

- Đề tài cấp nhà nước KC.08.31 “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng, dự báo diễn biến tài nguyên và môi trường nước phục vụ phát triển bền vững lưu vực sông Vàm Cỏ” do GS.TS Đào Xuân Học - Trường Đại học Thủy lợi làm chủ nhiệm, thực hiện từ tháng 1/2005 đến tháng 12/2005 Đề tài đã thiết lập được mô hình thủy lực của lưu vực

và các vùng phụ cận chi tiết đến hệ thống kênh cấp 3 bằng phần mềm MIKE 11 để đánh giá và dự báo tài nguyên và môi trường nước lưu vực sông Vàm Cỏ

- Đề tài cấp nhà nước KC.08.08 “ứng dụng kinh tế môi trường để nghiên cứu và đánh giá diễn biến tài nguyên, môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” do Giáo sư Lâm Minh Triết - Viện Môi trường

và Tài nguyên làm chủ nhiệm, thực hiện từ tháng 9/2001 đến tháng 12/2003 Đề tài đã

sử dụng một số phương pháp đánh giá kinh tế tài nguyên và môi trường và một số công cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ môi trường để đề xuất áp dụng cho vùng kinh

tế trọng điểm phía nam trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa

- Đề tài cấp nhà nước KC.08.29 “Nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ

để ổn định lòng dẫn hạ du hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn phục vụ phát triển kinh

Trang 18

tế xã hội vùng Đông Nam bộ“ do PGS.TS Hoàng Văn Huân - Viện Khoa học Thủy

lợi Miền Nam làm chủ nhiệm, thực hiện từ tháng 4/2004 đến tháng 12/2005 Đề tài đã ứng dụng mô hình MIKE 21C để dự báo sạt lở cho các khu vực trọng điểm vùng hạ du

hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn và đề xuất các giải pháp ổn định lòng dẫn hạ du hệ thống sông này

- Đề tài cấp nhà nước KC.08.27 “ Nghiên cứu giải pháp khai thác và sử dụng

hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai lưu vực sông Lô - sông Chảy” do Tiến sỹ Lã Thanh Hà - Viện Khí tượng Thủy văn làm chủ nhiệm, thực hiện

từ tháng 1/2004 đến tháng 12/2005 Đề tài đã đánh giá được hiện trạng và diễn biến khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên trên lưu vực sông Lô – sông Chảy; Chất lượng môi trường và các dạng tai biến thiên nhiên trên lưu vực; đề xuất các giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường trên lưu vực

- Đề tài khoa học công nghệ độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu phương án

phục hồi thích nghi cho vùng cửa sông ven biển Thuận An – Tư Hiền và đầm phá Tam Giang Cầu Hai” do GS.TS Trần Đình Hợi làm chủ nhiệm, Trung tâm Nghiên cứu

phát triển vùng là cơ quan chủ trì Đề tài đã nghiên cứu các vấn đề về dòng chảy lũ, động lực biển, địa động lực hệ đầm phá nhằm đánh giá các biến động về điều kiện tự nhiên môi trường kinh tế xã hội, môi trường sinh thái do hậu quả của trận lũ tháng 11/1999 để lại nhằm trả lời câu hỏi để hay không để cửa Hoà Duân được mở trong lũ

1999 Đưa ra giải pháp ổn định cửa biển, ổn định bờ biển và các phương án nhằm phục hồi thích nghi cho khu vực ven biển Thuận An - Tư Hiền và Đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

- Đề tài “Sử dụng các mô hình thuỷ động lực họ MIKE tính toán lũ đồng bằng

sông Hương phục vụ phát triển kinh tế xã hội” do TS Lê Văn Nghị là chủ nhiệm thực

hiện năm 2004-2005 đã sử dụng các công cụ mô hình thuộc họ MIKE của Viện thuỷ lực Đan Mạch (DHI) thiết lập mô hình thuỷ văn thuỷ lực trên hệ thống sông để bước đầu nghiên cứu các đặc trưng của dòng chảy lũ với các phương án hoàn nguyên lũ

1999 và lũ 2004 cho kết quả khá tốt, trên cơ sở đó nghiên cứu các kịch bản thoát lũ qua cửa biển bằng mô hình vỡ đập (Dam Break) Đề tài cũng tiến hành đánh giá sơ bộ thiệt hại do lũ gây ra trên đồng bằng sông Hương với các kịch bản thoát lũ qua cửa biển

- Dự án “Qui hoạch sử dụng tổng hợp nguồn nước lưu vực sông Hương” do

Viện Quy hoạch thuỷ lợi thực hiện thực hiện năm 2005 đã nghiên cứu đến các phương

án sửa dụng các công trình thuỷ lợi thuỷ điện tham gia cắt lũ và cấp nước hạ du

Trang 19

- Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước KC 08.18/06-10 “ Quản lý tổng hợp lưu vực

và sử dụng hợp lý tài nguyên nước hệ thống sông Đồng nai” do PGS.TS Đỗ Tiến Lanh

Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam làm chủ nhiệm , giai đoạn 2007- 2010 đã đề xuất các giải pháp nhằm sử dụng hợp lý TNN và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước lưu vực sông Đồng nai

- Đề tài cấp nhà nước KC.08.25/06-10 “Nghiên cứu đánh giá tác động của các

công trình trên dòng chính và giải pháp quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên nưức mặt lưu vực sông Hương” do PGS.TS Nguyễn Quang Trung - Viện Khoa học Thủy lợi

Việt Nam làm chủ nhiệm thực hiện từ tháng 4/2008 đến tháng 10/2010 Đề tài xây dựng bộ hồ sơ lưu vực, thiết lập được phương pháp luận và đề xuất mô hình quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường lưu vực sông Hương có tính khả thi cao

I.2 Thực trạng quản lý tài nguyên LVS ở Việt Nam

Trong 55 năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự nghiệp phát triển và quản lý tài nguyên nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước

do Bộ trưởng bộ thuỷ lợi làm trưởng ban, Cục trưởng cục khảo sát thết kế thuỷ lợi và một số cán bộ chủ chốt của Bộ làm uỷ viên Cơ quan giúp việc của Ban là phòng sông Hồng thuộc Bộ Ngay trong năm 1960, Ban đã chỉ đạo tổ chức khảo sát tổng hợp lưu vực sông Hồng và tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ, công nhân chuyên môn kỹ thuật địa hình, địa chất, thuỷ văn để phát triển nguồn lực cho việc thành lập hơn 100 trạm thuỷ văn phục vụ công tác quy hoạch sông Hồng

Trang 20

Đến ngày 16/1/1961, Chính phủ đã ban ngành nghị định số 02 thành lập Uỷ ban trị thuỷ và khai thác hệ thống sông Hồng do Phó thủ tướng làm chủ nhiệm, Bộ trưởng

Bộ thuỷ lợi làm phó chủ nhiệm thường trực, nhiều lãnh đạo Bộ, ngành Trung ương làm uỷ viên Cơ quan giúp việc chuyên trách của Uỷ ban là văn phòng Uỷ ban sông Hồng đặt tại Bộ thuỷ lợi

Sau khi miền Nam giải phóng, Văn phòng sông Hồng được đổi thành Viện Quy hoạch và quản lý nước có nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc lập Quy hoạch Thuỷ lợi, vừa có chức năng quản lý TNN trong phạm vi cả nước

+ Thời kỳ từ 10/1995 đến 8/2002

Khi Cục QLN và KTCTTL bắt đầu triển khai hoạt động thì Chính phủ ban hành nghị định 73/CP ngày 01/11/1995 về chức năng nhiệm vụ quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ NN&PTNN trên cơ sở hợp nhất ba Bộ: Nông nghiệp và CN thực phẩm, lâm nghiệp và thuỷ lợi Ngày 28/05/1996 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 354/TTg quy định cục QLN và CTTL là cơ quan trực thuộc Bộ NN và PTNT, giúp Bộ trưởng Bộ NN và PTNT thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về TNN

Tuy lực lượng vừa thiếu, vừa mới nhưng Cục QLN và CTTL đã tập trung sức thực hiện một bước chuyển quan trọng về quản lý TNN, đã tiếp tục chủ trì soạn thảo các văn bản quy phạm quy luật về nước Luật TNN được Quốc hội khoá X tại kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/05/1998 [1] và có hiệu lực thi hành từ 01/01/1999 Sau đó ngày 30/12/1999 Chính phủ đã ký NĐ 179/1999/NĐ-CP quy định việc thi hành luật TNN và ngày 15/06/2000 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập Hội đồng Quốc gia về TNN Rất nhiều nghiên cứu và hội thảo của các dự án và tăng cường năng lực quản lý TNN quốc gia được triển khai trong thời gian này

+ Thời kỳ từ 8/2002 đến nay

Ngày 05/08/2002, Quốc hội khoá 11 kỳ họp thứ nhất đã ra Nghị Quyết số

02/2002/QH11 về cơ cấu tổ chức Chính phủ nhiệm kỳ 2002 - 2007 trong đó có Bộ Tài

nguyên và Môi trường (TN-MT) Ngày 11/11/2002, Chính phủ đã ra Nghị Định

Trang 21

91/2002/NĐ-CP quy định Bộ TN-MT là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về TNN và lập Cục Quản lý Tài nguyên nước Tuy nhiên, một số

chức năng quản lý Nhà nước về phòng chống lụt bão, thiên tai vẫn thuộc Bộ Nông

nghiệp và phát triển nông thôn Tại Nghị định 120/2008/NĐ-CP ngày 01/12/2008 của

Chính phủ về quản lý lưu vực sông [9] giao Bộ TN-MT chủ trì, các Bộ ngành khác phối hợp

Ngoài hai Bộ Tài nguyên và Môi trường và Nông nghiệp&PTNT thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về tài nguyên nước, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 99/2001/QĐ-TTg thành lập Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước tư vấn giúp Chính phủ về lĩnh vực tài nguyên nước

Hệ thống quản lý nhà nước về tài nguyên nước tại các tỉnh cũng tương ứng giao cho các Sở TN-MT, NN-PTNT và các cấp tương ứng

- Hiện trạng cơ cấu tổ chức quản lý về lưu vực sông

Việt Nam hiện đang tồn tại hai loại hình tổ chức lưu vực sông chính đó là: (1)-Các tổ chức lưu vực sông do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành lập (hoặc uỷ quyền cho các tỉnh thành lập để phù hợp với tình hình kinh tế xã hội mới của đất nước) để thực hiện quản lý lưu vực theo điều 64 Luật Tài nguyên nước, bao gồm:

+ Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông Hồng - Thái Bình (năm 2001); Ban quản

lý quy hoạch lưu vực sông Đồng Nai (năm 2001); Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông Cửu Long (năm 2001); Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn (năm 2005); 02 Tiểu ban Quản lý quy hoạch lưu vực sông Đáy và sông Cầu (năm 2006), hai Tiểu ban này trực thuộc Ban Quản lý quy hoạch lưu vực sông Hồng - Thái Bình; hội đồng lưu vực sông Srê pôk (2006)

+ Hội đồng quản lý lưu vực sông Cả thành lập năm 2005 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Nghệ An;

(2) - Các tổ chức lưu vực sông được thành lập để thực hiện các đề án bảo vệ môi trường đã được Chính phủ phê duyệt như : Uỷ ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu (2006) ; Uỷ ban Bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai (2008) Các Uỷ ban bảo vệ môi trường lưu vực sông do Bộ TN-MT chủ trì

Ngoài hai loại hình tổ chức lưu vực sông nói trên còn có Uỷ ban sông Mê Kông Việt Nam là tổ chức quản lý lưu vực sông quốc tế

Trang 22

Tính đến nay cả nước đã thành lập và đưa vào hoạt động 10 tổ chức quản lý lưu vực sông, trong đó bao gồm 04 Ban Quản lý quy hoạch lưu vực sông, 02 Tiểu Bản Quản lý quy hoạch lưu vực, 02 Hội đồng Quản lý lưu vực sông; 02 Uỷ ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông

Cơ cấu tổ chức của các Tổ chức quản lý lưu vực sông này cơ bản không khác nhau nhiều, thành phần cơ bản của các tổ chức này bao gồm: Chủ tịch, các Phó chủ tịch và các Uỷ viên và được bộ phận văn phòng và các văn phòng đại diện giúp việc Tuỳ theo mức độ quan trọng của từng lưu vực sông mà thành phần tham gia vào tổ chức lưu vực sông khác nhau

+ Những kết quả đạt được

Trong quá trình hoạt động, các tổ chức quản lý lưu vực sông cũng đã phát huy vai trò của mình trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, ít nhiều đã tạo được sự thống nhất và phối hợp hành động trong các vấn đề có tính chất liên ngành, liên tỉnh,

đã góp ý và thông qua một số các nội dung quan trọng trong quản lý lưu vực

+Những hạn chế

Qua thực tế hoạt động của các tổ chức lưu vực sông đã bộc lộ nhiều vấn đề bất cập trong cơ cấu tổ chức cũng như chức năng nhiệm vụ cần phải giải quyết trong thời gian tới Các Văn phòng Ban hàng năm rất hạn chế, không đủ cho các hoạt động nghiên cứu, triển khai, giám sát thực hiện hiệu quả hoạt động chưa cao

Từ ngày 01/12/2008, Chính phủ có Nghị định NĐ 120/2008/NĐ-CP ngày 01/12/2008 quy định thống nhất quản lý lưu vực sông trong phạm vi cả nước

I.3 Tổng hợp đánh giá tài nguyên nước lưu vực sông tại các vùng của Việt Nam

I.3.1 Đặc điểm và ảnh hưởng của khí hậu đến tài nguyên nước của Việt Nam

Lãnh thổ Việt Nam với diện tích 332.000km2 trải dài theo phương tuyến ở vị trí cuối Đông Nam của lục địa Âu - Á trong vùng nhiệt đới của bán cầu Bắc (giới hạn trong các vĩ độ 23o22' Bắc và kinh độ 102o10' Đông) Phần lớn lãnh thổ được đồi núi hiểm trở bao phủ, với địa hình nhiều đứt gẫy cùng những sườn dốc tạo thành mạng lưới sông suối khá dày

Điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, lượng mưa phong phú đã tạo thuận lợi cho sự hình thành dòng chảy với mạng lưới tiêu nước ra biển khá dày Mật độ trung bình sông suối có dòng chảy trung bình thường xuyên đạt 0,6 km/km2 Mật độ sông phân hoá khá lớn giữa các vùng, từ dưới 0,3 km/km2 đến 4 km/km2

Trang 23

Các vùng có lượng mưa lớn thường có mật độ sông rất dày: Từ 1,5-2 km/km2 Đặc biệt, đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đông Nam châu thổ sông Hồng có mật

độ sông 2 - 4 km/km2 Những vùng núi trung bình và núi thấp, với lượng mưa tương đối lớn, có mật độ sông 1,0 - 1,5 km/km2 Còn lại đại bộ phận các vùng có mật độ sông trung bình 0,5 - 1km/km2 Đặc biệt một số vùng có mật độ sông 0,3 - 0,5 km/km2

Tổng số các sông trên lãnh thổ với dòng chảy thường xuyên và có chiều dài từ

10 km trở lên là 2.345 sông, trong đó 9 hệ thống sông có diện tích lưu vực từ 10.000

km2 trở lên (các sông Mê Kông, Hồng, Đồng Nai, Mã, Cả, Ba, Bằng - Kỳ Cùng, Thái Bình, Thu Bồn)

Số sông có diện tích lưu vực 1.000 - 10.000 km2 là 82 sông, phần lớn là sông nhánh của các sông lớn, chỉ có 17 sông có diện tích lưu vực trên 1.000 km2 là sông độc lập trực tiếp chảy ra biển Đông Còn lại có 2.51 sông với diện tích lưu vực dưới

1000 km2 (chiếm 9% tổng số sông), trong đó số lưu vực có diện tích nhỏ hơn 100km2

là 1.556 (chiếm 66% tổng số sông)

I.3.2 Tổng quan tài nguyên nước của Việt Nam

I.3.2.1 Tài nguyên nước mưa

Sông ngòi Việt Nam được nuôi bởi một nguồn nước mưa dồi dào Theo bản đồ phân bố lượng mưa của toàn thế giới, Việt Nam có lượng mưa từ 800 đến 3.200 mm/năm, lượng mưa trung bình 1.960 mm/năm, gấp 2,6 lần lượng mưa trung bình toàn lục địa Số liệu về mưa có thể sử dụng cho tính toán tài nguyên nước trong toàn quốc là do khoảng 950 trạm đo mưa cung cấp, trong đó 211 trạm có từ 20 đến 60 năm

số liệu (chỉ có 10 trạm có trên 60 năm số liệu)

Khí hậu Việt Nam phân hoá theo mùa mà lưu gió mùa là nhân tố quan trọng quyết định, trong đó hoàn lưu gió mùa nóng ẩm trong mùa hạ có vai trò quan trọng nhất tạo ra mùa mưa với lượng mưa chiếm 65-70%, có nơi chiếm tới 80-90% lượng mưa cả năm Mùa mưa đồng thời là mùa lũ Ở Bắc Bộ, mùa lũ thường diễn ra từ tháng 6-7 đến tháng 9-10; ở sườn Đông Trường Sơn từ tháng 9-10 đến tháng 11-12 và các nơi còn lại từ tháng 7-8 đến tháng 10-11 Lượng dòng chảy mùa lũ, tuỳ theo vùng và tuỳ theo sông, chiếm 60-90% lượng dòng chảy năm Lượng mưa một ngày lớn nhất lấy trung bình nhiều năm trên cả nước biến đổi trong khoảng 90-200 mm Lượng mưa một ngày lớn nhất đã đo được ở Thanh Hóa năm 1962 là 731 mm, ở Đô Lương năm

1978 là 778mm, ở Nho Quan năm 1978 là 690 mm Tính không ổn định của chế độ mưa trên toàn lãnh thổ kéo theo chế độ thuỷ văn không ổn định

Trang 24

Địa hình đứt gẫy phức tạp là nguyên nhân của phân bố mưa không đều trên lãnh

thổ Ở Việt Nam, phần lớn lượng mưa do gió mùa Tây Nam mang lại Đồng bằng Bắc

Bộ có lượng mưa 1.600 - 1.800 mm/năm, đồng bằng Nam Bộ có lượng mưa 1.200 -

2.800 mm/năm Miền Trung có lượng mưa lớn ở nhiều nơi

Vào đầu mùa lũ, các trận mưa chưa lớn, diện mưa chưa rộng nên lũ nhỏ Chỉ

vào giữa mùa mưa, do nhiều yếu tố hình thái và thời tiết phối hợp tác động, những trận

mưa lớn dài ngày xảy ra trên diện rộng, thì mới sinh ra lũ lớn nhất trong năm Trên lưu

vực sông Hồng và sông Thái Bình có đến 50 - 80% trường hợp lũ lớn xuất hiện vào

các tháng 7 - 8 và trên lưu vực sông Mê Kông lũ lớn nhất thường xuất hiện vào cuối

tháng 9, đầu tháng 10, thời gian duy trì có thể từ 30 ngày đến gần 120 ngày với tổng

lượng lũ từ 350 đến 550 tỷ m3

I.3.2.2 Tài nguyên nước mặt

Tài nguyên nước mặt của lãnh thổ tồn tại trên mặt đất trong các nguồn khác

nhau như sông, suối, hồ tự nhiên, hồ chứa nhân tạo, ao, đầm, kênh, rạch Dòng chảy

các sông được coi là thành phần chính của tài nguyên nước mặt

Số liệu thuỷ văn được sử dụng gồm các số liệu từ 153 trạm đo lưu lượng nước,

40 trạm đo bùn cát, 30 trạm đo thuỷ hoá Riêng về số trạm đo lưu lượng nước thì trạm

khống chế diện tích từ 1.000km2 trở lên có 62 trạm Trong đó có 13 trạm có trên 10

năm số liệu

Dòng chảy trung bình hàng năm của các sông ở Việt Nam được tính toán với số

liệu tích trữ được là 808 tỷ m3/năm Hai hệ thống sông lớn nhất là sông Mê Kông và

sông Hồng Tài nguyên nước mặt các vùng ở Việt Nam bao gồm nước mặt nội địa và

nước từ ngoài lãnh thổ chảy vào Phần dòng chảy các sông từ nguồn nước mưa trên

lãnh thỏ Việt Nam là 305 tỷ m3/năm chỉ chiếm 37% toàn bộ dòng chảy các sông

Bảng 3: Tài nguyên nước mặt các vùng ở Việt Nam

Tổng lượng nước (tỷ m3/năm) Vùng Diện tích

(km2) Trong nước Ngoài vào Toàn bộ

Lượng dòng chảy biến đổi hàng năm, hệ số biến đổi có thể đạt từ 1,5 đến 3 lần

đối với các sông lớn và từ 10 đến 30 lần đối với các sông nhỏ Giá trị dòng chảy cao

Trang 25

nhất đạt trên 100 l/s.km2 và giá trị nhỏ nhất vào khoảng 5 l/s.km2 Những vùng có lượng dòng chảy lớn hơn 40 l/s.km2 là Hoàng Liên Sơn, Tây Côn Lĩnh, Pudedinh, Mường Tè, Móng Cái … Những vùng có lượng dòng chảy nhỏ hơn 20 l/s.km2 là thượng nguồn sông Gâm, sông Thái Bình, sông Bằng - Kỳ Cùng, cao nguyên Sơn La, Buôn Mê Thuột …

Có những thời kỳ mà dòng chảy trung bình năm liên tục cao (thời kỳ nhiều nước) và có những thời kỳ mà gía trị đó là thấp (thời kỳ ít nước) Đặc trưng này quan trọng đối với công tác quản lý, phát triển và tài nguyên nước cũng như điều tiết nước Thời kỳ nhiều nước đã từng kéo dài 20 năm (1930 - 1951) và thời kỳ ít nước kéo dài

16 năm (1952 - 1967) đối với sông Hồng; trong khi đó, các giá trị tương ứng là 17 năm (1937 - 1953) và 24 năm (1954 - 1977) đối với sông Cửu Long

Lượng nước mặt thiếu hụt được tính toán bằng cách lấy lượng mưa trung bình lưu vực trừ đi lượng dòng chảy trung bình Lượng thiếu hụt chung chiếm từ 22 đến 61% lượng mưa, trung bình 50%, đạt khoảng 1.000 mm/năm Lượng thiếu hụt đó gần gấp 2 lần lượng thiếu hụt do bốc hơi trên toàn cầu

a Phân bố dòng chảy theo mùa

Sự phân bố dòng chảy trong năm thay đổi khá nhiều phụ thuộc vào tình hình mưa Một cách khái quát, ở Việt Nam có ba dạng phân phối chính dòng chảy lũ như sau:

Dạng 1: Lũ xuất hiện vào giữa năm, đó là các sông ở Bắc Bộ và Nam Bộ

Dạng 2: Lũ xuất hiện vào cuối năm, ở các sông ven biển Đông Trường Sơn

Dạng 3: Lũ xuất hiện vào gần cuối năm và phân phối dòng chảy tương đối điều hoà,

đó là các sông ở Tây Nguyên

Dòng chảy mùa lũ

Lượng nước mùa lũ có quan hệ chặt chẽ với lượng mưa và thường bằng 80% lượng mưa năm nhiều nước, mùa lũ có lượng nước lớn gấp 3 - 4 lần lượng nước của mùa lũ năm ít nước Trong mấy tháng mùa lũ, dòng chảy sông ngòi có lượng nước bằng 70-80% lượng nước của cả năm Sự tập trung này là một trở ngại cho việc khai thác nguồn nước, nhất là ở phía Đông Trường Sơn mùa lũ ngắn, còn mùa kiệt lại kéo dài đến 9 tháng

50-Ở Việt Nam lũ chủ yếu do mưa, những trân mưa có thể tách biệt riêng rẽ hay kế tiếp, chập lên nhau trên hầu hết các sông ngòi, trừ sông Cửu Long Mưa mùa hạ xuất hiện do những khối không khí mang ẩm lớn, khi có những nhiễu động mạnh, trong đó bão đóng vai trò quan trọng Bão gây nên mưa lớn trên diện rộng Sự xuất hiện lũ lớn hàng năm là rất khác nhau trên các sông với lãnh thổ trải dài trên 15 vĩ độ Do tính

Trang 26

chất phân bố của mưa kông đều trên diện tích, mưa thường tập trung ở các tâm mưa lớn xen kẽ các vùng mưa nhỏ, tạo nên lũ lớn trên các sông nhỏ và các sông lớn bao hàm nhiều tâm mưa lớn

Độ lớn của mùa lũ còn thể hiện ở biên độ mực nước, lưu tốc dòng nước và cường xuất mực nước Một số sông có lũ lớn với biên độ khá cao, có nơi 10-20 m và cao hơn, như ở sông Đà (Lai Châu) trận lũ tháng 8 - 1945 biên độ mực tới 28 m Thường thường sông ngòi Việt Nam có biên độ mực nước 5-10m Tốc độ dòng chảy lớn nhất trên nhiều sông khoảng 3-4 m/s, một số sông có vận tốc lớn hơn 5m/s Trong trận lũ, nước sông dâng lên nhanh chóng, có thể đạt tới 2-3 m/giờ đối với các sông miền núi và 2-5 cm/giờ đối với các sông vùng đồng bằng; ở vùng châu thổ sông Cửu Long đạt 6 cm/ngày và giá trị cao nhất không vượt quá 30cm/ngày

Cường suất lũ lên nhanh, biên độ lũ lớn gây trở ngại cho các hoạt động kinh tế,

và làm cho việc phòng lụt phải rất khẩn trương, nhất là ở các tỉnh có đê Ở các tỉnh miền núi, lũ lên nhanh, dòng chảy lan trên mặt lưu vực trong nhiều trường hợp có tốc

độ mạnh đã quét đi đất đai, các công trình, nhà cửa, cây cối, thâm chí cả thú rừng như voi, hổ …

Thời gian rút nước trong quá trình lũ là tương đối dài đối với các sông ngòi vùng châu thổ Hệ thống đê bị ngâm nước trong một thời gian dài nên dễ bị sạt lở Đồng thời, mưa lớn xuất hiện trong đồng làm cho nước khó tiêu thoát Điều đó gây khó khăn cho sản xuất và các hoạt động nông nghiệp

Dòng chảy mùa cạn: Mùa cạn có lượng mưa nhỏ Số ngày không mưa ở miền

bắc thường có thể đến vài chục ngày, còn ở miền Nam thời gian không kéo dài đến

trên 100 ngày Vì vậy, ở miền Nam mùa khô khá khắc nghiệt

Thời gian liên tục từ 10-15 ngày không mưa hoặc 20 ngày liên tục chỉ mưa 5-10

mm có thể coi là hạn nặng; hạn và hạn nặng có thể xảy ra trên các vùng trong nước như sau:

Vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ hạn thường xuyên xảy ra trong khoảng thời gian các tháng 11-2, và hạn nặng trong khoảng các tháng 12-1;

Vùng núi Bắc Bộ hạn từ tháng 10, 11 đến tháng 2, 3 và hạn nặng trong khoảng các tháng 12 - 2;

Vùng Bắc Trung Bộ hạn có thể xảy ra trong khoảng thời gian các tháng 1-8; Vùng Đông Trường Sơn hạn thường xảy ra vào tháng 1 và thời gian các tháng 4 đến 7, 8;

Vùng Tây Trường Sơn hạn thường xảy ra vào tháng 11 - 3, và hạn nặng vào khoảng các tháng 12 - 2;

Trang 27

Vùng Nam Bộ hạn thường xảy ra vào tháng 12 - 4, và hạn nặng vào khoảng các tháng 1 - 3

Do thời gian không mưa kéo dài, dòng chảy mùa cạn của sông ngòi rút xuống thấp Mùa cạn thường kéo dài hơn nửa năm (khoảng 7 - 8 tháng), nhưng lượng dòng chảy của mùa chỉ bằng khoảng 10 - 30% lượng dòng chảy cả năm

Lượng dòng chảy trung bình trong mùa cạn trên cả nước đạt khoảng 90 - 100 tỷ

m3 Những vùng mưa nhiều và có lớp phủ rừng dày, lượng dòng chảy nhỏ nhất tháng đạt 20 - 25 l/s.km2 như ở thượng nguồn sông Lô, sông Thao, bờ trái của sông Đà, vùng Đông Trường Sơn (từ thanh hoá đến Bắc Quảng Ngãi), vùng Nam Tây Nguyên Những vùng mưa ít và bị nạn phá rừng nghiêm trọng, dòng chảy nhỏ nhất tháng chỉ dưới 5 l/s.km2 như ở Sơn La, Mộc Châu, thượng nguồn sông Mã, Phan Rang Vai trò của rừng đối với dòng chảy là đáng kể: ở lưu vực Tháng Riềng (sông Cầu), với diện tích 687 km2 và mật độ rừng 68% thì dòng chảy kiệt biến đổi trong khoảng 4,3 - 15,0 l/s.km2; trong khi đó, ở lưu vực Cẩm Đàn (sông Lục Nam) với diện tích 685km2, mật

độ rừng còn khoảng 2% thì dòng chảy kiệt chỉ vào khoảng 0,63 - 1,199 l/s.km2

Trong mùa cạn, ảnh hưởng của thuỷ triều là đáng kể Trong vùng châu thổ sông Hồng, triều truyền vào sâu tới 180 km, còn ở châu thổ sông Cửu Long, khoảng cách đó là 400km Tại trạm thuỷ văn Tân Châu (cách biển 200km), biên độ triều còn trên 1m Ở các vùng cửa sông khác triều vào không sâu lắm

Tốc độ truyền triều thay đổi từ 10 - 20km/h Trên sông Cửu Long, tốc độ này lớn hơn so với trên sông Hồng Trong những năm ít nước, lũ ở thượng lưu không lớn,

ở các đoạn sông gần biển (cách biển 10km) mực nước trung bình ngày thể hiện ảnh hưởng của triều khá rõ

Mực nước sông về mùa lũ còn chịu ảnh hưởng của bão ở vùng cửa sông, nhất là vùng của Bắc Trung Bộ trở ra Bão làm dâng mực nước rất rõ Gió bão dồn nước biển vào sông gân nên dồn ứ, hạn chế khả năng tiêu thoát dòng chảy sông ngòi, uy hiếp đê điều Ngoài bão, gió biển thổi liên tục theo một hướng vào đất liên cũng làm dâng mực nước, dồn nước biển vào gây ngập như ở nhiều nơi Nam Trung Bộ, Nam Bộ

Trong suốt mùa cạn, mực nước ở vùng cửa sông chịu ảnh hưởng của thuỷ triều

là chủ yếu Mực nước mùa cạn ở vùng ảnh hưởng triều cũng thể hiện thời kỳ chuyển tiếp đầu và cuối mùa và thời kỳ ổn định giữa mùa cạn

Về mùa cạn dòng chảy từ thượng lưu đổ về giảm, dòng chảy của mùa cạn nhỏ

và tương đối ổn định Hàng ngày theo giao động triều, dòng chảy ngược xuất hiện ở

Trang 28

các đoạn sông ngành biển và có hiện tượng dồn ứ ở những đoạn xa biển vào lúc triều lên Dòng chảy ngược đem theo nước mặn ảnh hưởng đến chất lượng nước vùng này

Thuỷ triều làm cho nước sông bị nhiễm mặn, gây khó khăn cho việc lấy nước cấp cho sinh hoạt, tưới và cho các mục tiêu dùng nước khác Sự thay đổi của độ mặn phụ thuộc vào một số yếu tố chính như thuỷ văn, địa lý, sự hoạt động kinh tế - xã hội trên lưu vực và trong lưới sông

Trong một năm, độ mặn trong vùng cửa sông cũng thay đổi theo mùa rõ rệt Mùa lũ nước sông lên cao đẩy lùi triều ra phía biển, độ mặn giảm nhanh Về mùa cạn nước sông xuống thấp, triều xâm nhập mạnh, độ mặn tăng lên Trong mùa cạn từ tháng

11, khi các đợt mưa cuối cùng chấm dứt, lượng nước từ thượng nguồn giảm thì sự xâm nhập mặn cũng tăng dần lên cho đến tháng 4, khoảng cách xâm nhập mặn xa nhất

I.3.2.3 Tài nguyên nước mặt trong các đầm, hồ, vùng đất ngập nước

Hiện nay cả nước có trên 3.500 hồ chứa nước nhỏ và 600 hồ chứa nước vừa và lớn Có thể kể hồ chứa nước Thác Bà hoàn thành xây dựng năm 1971 với diện tích mặt nước 23.400ha, dung tích toàn bộ 3,6 tỷ m3, hồ chứa nước Cấm Sơn hoàn thành xây dựng năm 1967, diện tích mặt nước 2.600ha, dung tích toàn boọ 227 triệu m3 Sau ngày thống nhất đất nước, các hồ chứa nước lớn được xúc tiến thi công, hồ chứa nước Hoà Bình, diện tích mặt nước 21.800ha, dung tích toàn bộ 9,5 tỷ m3, hồ chứa nước Trị

An diện tích mặt nước 27.000 ha, dung tích 1 tỷ m3 Theo số liệu thống kê thì diện tích mặt nước các hồ, ao, đầm, kênh mương đã lên đến gần 500.000 ha trong cả nước Vai trò của các hồ chứa có giá trị thực tiễn to lớn, sử dụng đa mục tiêu như là bảo vệ và giữ nước, điều hoà dòng chảy, phục vụ cho tưới, cấp nước và phát điện, vận tải thuỷ, nuôi cá và phục vụ du lịch

Để bảo vệ và giữ nước, cũng cần phải xác định cơ cấu cây trồng hợp lý trên từng loại đá, đẩy mạnh phương thức nông lâm kết hợp cả ở đồng bằng và ven biển, tăng cường thâm canh bảo vệ rừng cùng các biện pháp canh tác đúng kỹ thuật, thận trọng trong việc khai thác các vùng đất mới Đặc biệt mất rừng là mất đi một nguồn điều tiết trữ nước, giảm khả năng chuyển nước mặt thành nước ngầm, làm trầm trọng thêm tính khắc nghiệt của mùa cạn và tính ác liệt của mùa lũ trên các lưu vực sông suối

I.3.3 Tài nguyên nước mặt các lưu vực sông trên lãnh thổ Việt Nam

Nguồn nước trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm nguồn nước trực tiếp sản sinh trên phần lãnh thổ và nguồn nước từ lãnh thổ nước ngoài chảy vào các sông lớn liên quốc gia như hệ thống sông Hồng, sông Mã, sông Cả, sông vùng Đông Nam bộ, hệ thống sông Mê Kông

Trang 29

Tổng diện tích hứng nước của các hệ thống sông là 1.088.890 km2 Phần diện tích hứng nước nằm ngoài lãnh thổ là 759.550 km2, trong đó của sông Mê Kông 723.800 km2, sông Hồng 81.200km2, sông Mã 10.800 km2, sông Cả 9.470km2, các sông ở vùng Đông Nam Bộ 5.700km2, hệ thống sông Bằng Giang - Kỳ Cùng 1660

km2

Tổng lượng dòng chảy trung bình năm trên các lưu vực sông Việt Nam theo thống kê trong báo cáo của ADB, WB [3][7] năm 1996 trung bình tổng lượng năm

880 tỷ m3, với trong nước 325 tỷ m3 ; Đề tài KC12 tổng lượng 835 tỷ m3, trong nước

313 tỷ m3 Theo kiểm tra lại của đề tài thì tổng lượng trung bình năm khoảng 808,14 tỷ

m3, trong đó chỉ có 304,84 tỷ m3 sản sinh trên lãnh thổ Việt Nam còn 503,30 tỷ m3 là

từ nước ngoài chảy vào nguyên nhân chính của sự sai lêch trrên là dòng chảy của sông Mêkông , hiện nay theo Ủy hội sông Mêkông thì tổng lượng trung bình năm của sông khoảng 475,0 tỷ m3, còn trước đây là 520,6 tỷ m3 , chênh lệch tới 45,6 tỷ m3 ,cụ thể :

1 Hệ thống sông Kỳ cùng có tổng diện tích lưu vực là 6.600km2, trong đó phần

ở Việt Nam 6.530 km2 Tổng lượng dòng chảy năm 3,60 tỷ m3, trong đó tại Việt Nam

là 3,43 tỷ m3

2 Hệ thống sông Bằng Giang có tổng diện tích lưu vực là 5720 km2 (S Bằng Giang 4560 km2, sông Quây Sơn 1180 km2), trong đó phần ở Việt Nam là 4370 km2, tổng lượng dòng chảy là 3,69 tỷ m3 nước

3- Hệ thống các sông ven biển tỉnh Quảng Ninh có diện tích lưu vực là 5.300

km2, có tổng lượng dòng chảy 5,24 tỷ m3

4- Hệ thống sông Hồng – Thái Bình có tổng diện tích lưu vực là 169.300km2, tổng lượng dòng chảy năm là 136 tỷ m3, trong đó :

- Diện tích lưu vực ở nước ngoài là 81.200 km2, tổng lượng dòng chảy 51,80 tỷ

m3, chiếm 39% tổng lượng dòng chảy năm;

- Trong nước sông Hồng đến Việt trì : diện tích lưu vực là 62.400 km2, tổng lượng dòng chảy 64,10 tỷ m3

- Sông Thái Bình tới Phả lại có diện tích lưu vực là 12.700 km2, có tổng lượng dòng chảy năm là 8,80tỷ m3 chiếm 6,35% tổng lượng dòng chảy toàn vùng lưu vực

- Đồng bằng châu thổ sông Hồng- Thái bình rộng 13.000 km2, có tổng lượng dòng chảy 11,30 tỷ m3

5- Các chi lưu chảy sang sông Mê kông bên Lào ở phía tây Điện biên ( s Nậm rốm …) có lưu vực 1650 km2 , dòng chảy bình quân năm là 1,05 tỷ m3

Trang 30

6- Hệ thống sông Mã và vùng phụ cận (s Mực, s Yên) có diện tích lưu vực là 31.210 km2 ( s Mã 28.400 km2 ), tổng lượng dòng chảy năm là 19,97 tỷ m3 trong đó nhận từ nước ngoài là 3,88 tỷ m3

7- Lưu vực sông Cả và vùng phụ cận (Cửa Sót, Gia Hới, cửa Khấu) có diện tích lưu vực là 32.000 km2, tổng lượng dòng chảy năm là 22,53 tỷ m3, trong đó nhận lượng nước ngoài lưu vực là 5,97 tỷ m3

8- Lưu vực sông Gianh - Nhật lệ và các sông nhỏ tỉnh Quảng Bình có tổng diện tích là 7990 km2 , tổng lượng dòng chảy 13,86 tỷ m3

9- Lưu vực sông Thạch Hãn và các sông Quảng Trị (có nhánh đầu sông Sêbanhiêng-150km2 của s Mêkông) diện tích lưu vực 4.560 km2, tổng lượng dòng chảy năm là 7,23 tỷ m3 nước

9- Hệ thống sông Hương và các sông phụ cận tỉnh Thừa thiên Huế (có s Asap F= 750km2 là nhánh của s Sekong – s Mêkông) tổng diện tích là 5.000 km2 có tổng lượng dòng chảy trung bình năm đạt 9,82 tỷ m3

10- Hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn và sông phụ cận tỉnh Quảng Nam- TP Đà Nẵng có diện tích lưu vực là 11.540 km2, tổng lượng dòng chảy là 22,05 tỷ m3 nước 11- Hệ thống sông Trà Khúc và các sông phụ cận tỉnh Quảng Ngãi có diện tích lưu vực là 4.950 km2 tổng lượng dòng chảy năm là 10,68 tỷ m3 nước

12- Hệ thống sông Côn và các sông nhỏ Bình Định có diện tích lưu vực là 5.893 km2, tổng lượng dòng chảy năm là 6,89 tỷ m3

13- Hệ thống sông Cái Nha Trang và các sông nhỏ tỉnh Khánh Hòa có diện tích lưu vực là 5155 km2, tổng lượng dòng chảy năm là 4,92 tỷ m3

14- Hệ thống sông Ba và các sông phụ cận tỉnh Phú Yên có diện tích lưu vực là 15.970 km2 ( s Ba 13.900 km2 ), tổng lượng dòng chảy năm là 11,91 tỷ m3

15 - Hệ thống sông Sê San có tổng diện tích lưu vực là 11.450 km2, tổng dòng chảy là 11,65 tỷ m3

16- Hệ thống sông Srepok có diện tích lưu vực 18.200 km2, tổng dòng chảy 13,78 tỷ m3

17- Các sông ven biển Ninh Thuận có diện tích lưu vực là 3.186 km2 tổng lượng dòng chảy là 2,78 tỷ m3

18- Các sông ven biển Bình Thuận có diện tích lưu vực là 7166 km2, tổng lượng dòng chảy là 2,60 tỷ m3

19- Các sông ven biển Bà rịa- Vũng tàu có diện tích lưu vực là 3.170 km2, tổng lượng dòng chảy là 2,76 tỷ m3

Trang 31

20- Hệ thống sông Đồng Nai (gồm cả Vàm cỏ) có diện tích lưu vực là 43.162

km2, tổng lượng dòng chảy năm là 34,3 tỷ m3

21- Sông Cửu long (Mê Kông) [10] có tổng diện tích lưu vực 795.000 km2, trong đó :

- Phần ở nước ngoài là 723.800 km2, dòng chảy 436,10 tỷ m3;

- Phần trong nước toàn bộ 71.200 km2 bao gồm Điện biên1650km2; Quảng trị 150km2; Thừa thiên Huế 750km2; Tây nguyên 29.650km2 và đồng bằng sông Cửu Long diện tích 39.000 km2 )

Phần trong nước đồng bằng Cửu long có tổng lượng dòng chảy trung bình năm là 24,60 tỷ m3

Bảng4: Đặc trưng dòng chảy bình quân năm trên các lưu vực sông Việt Nam

Diện tích lưu vực, F

km2

Tổng dòng chảy trung bình năm trong nước, W0,

109m3

Tổng dòng chảy trung bình năm ngoài nước, Wo,109m3

Tổng dòng chảy năm toàn bộ,

- Sông Thái Bình tới Phả Lại 12.700 8,80

-Châu thổ Sông Hồng- Thái

Trang 32

TT Lưu vực sông

Diện tích lưu vực, F

km2

Tổng dòng chảy trung bình năm trong nước, W0,

109m3

Tổng dòng chảy trung bình năm ngoài nước, Wo,109m3

Tổng dòng chảy năm toàn bộ,

Wo,

109m3

8 Các sông thuộc tỉnh Quảng

Trị (kể cả chi lưu s Mêkông-

s Sebanghiêng 150km2)

4.560 7.23 7.23

9 Sông Hương và các sông tỉnh

Thừa thiên Huế (có s

17 Các sông ven biển Ninh

21 Sông Cửu long (Mê Kông):

- Mê Kông ngoài nước

Trang 33

1.3.3.2 Nước ngầm

- Công tác điều tra, lập bản đồ địa chất thuỷ văn

Công tác điều tra, lập bản đồ địa chất thủy văn ở nước ta đã thực hiện được những công trình chủ yếu sau đây:

a) Đã lập xong và phát hành bản đồ địa chất thủy văn toàn quốc (bản đồ nước dưới đất) tỷ lệ 1/500.000

b) Bản đồ địa chất thủy văn tỷ lệ 1/200.000 đã phủ hơn 1/2 diện tích lãnh thổ, trong đó các vùng trọng điểm như vùng đồng bằng bắc bộ, Nam Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và một phần Trung Trung Bộ đã được phủ kín

c) Bản đồ địa chất thủy văn tỷ lệ lớn (1/50.000 đến 1/20.000) đã phủ được 20 vùng với tổng diện tích 24.230 km2 bao gồm các đô thị, khu công nghiệp, nông trường, vùng ven đô thị và một số vùng kinh tế trọng điểm

d) Đã hoàn thành bản đồ địa chất thủy văn Điện Biên - Yên Bái (năm 1997)

- Về trữ lượng nước ngầm trên các LVS Việt Nam đã được xác định như sau:

- Lưu vực sông Bằng Giang - Kỳ Cùng có trữ lượng động tự nhiên là 3.296.160

m3/ngày, với mô số ngầm 2 - 5 l/s, km2

- Vùng ven biển Quảng Ninh có trữ lượng động tự nhiên là 1.907.712 m3/ngày, lưu lượng dòng ngầm là 1,5 - 7 l/s, km2

- Lưu vực sông Lô (Flv = 22.000 km2) có độ chứa nước nghèo với trữ lượng động tự nhiên 61.846.063m3/ngày, mô số dòng ngầm từ 3 - 7 l/s, km2

- Lưu vực sông Đà (F = 26.800 km2) có mức độ chứa nước từ nghèo tới trung bình, trữ lượng động tự nhiên là 16.597.267 m3/ng, mô số dòng ngầm từ 3- 10 l/s, km2

- Lưu vực Sông Thao (F = 12.000 km2) có độ chứa nước ngầm từ nghèo tới trung bình với trữ lượng động tự nhiên là 6.428.160m3/ngày, mô số dòng ngầm từ 3 -7 l/s, km2

- Lưu vực sông Thương (F = 6650 km2) có độ chứa nước nghèo với trữ lượng động tự nhêin là 1.149.120 m3/ngày, mô số dòng ngầm từ 2 -3 l/s, km2

- Vùng đồng bằng Bắc Bộ (F = 17.000 km2), có trữ lượng động tự nhiên 7.180.539 m3/ngày, mô số dòng ngầm biến đổi từ 3 - 10 l/s, km2

- Lưu vực sông Cầu (F = 6.030 km2) có trữ lượng động tự nhiên là 1.923.472

Trang 34

- Lưu vực sông Cả (F = 17.730km2) có trữ lượng động tự nhiên là 1.001.605

- Lưu vực sông Ba (F = 13.800 km2) có trữ lượng động tự nhiên 4.173.000m3/ngày, mô số động ngầm 1 - 5 l/s, km2

- Lưu vực sông Sê san (F = 11.450 km2) trữ lượng động tự nhiên 5.441.040m3/ngày, mô số dòng chảy ngầm 5 - 6 l/s, km2

- Lưu vực sông Srepok (F = 30.100 km2) trữ lượng động tự nhiên 10.402.560m3/ngày, mô số dòng ngầm 3 - 5 l/s, km2

- Vùng ven biển Thuận Hải (F = 9.347 km2) trữ lượng động tự nhiên 2.422.472m3/ngày, mô số dòng chảy ngầm từ 1 - 5 l/s, km2

- Lưu vực sông La Ngà (F = 4.170 km2) trữ lượng động tự nhiên 3.062.448m3/ngày, mô số dòng chảy ngầm 7 - 10 l/s, km2

- Lưu vực sông Đồng Nai (F = 37.394 km2) trữ lượng động tự nhiên 24.231.312m3/ngày, mô số dòng chảy ngầm 5 - 10 l/s, km2

- Lưu vực sông Bé (F = 7.170 km2) trữ lượng động tự nhiên 3.097.440 m3/ngày,

Trang 35

Bảng 5 : Trữ lượng nước ngầm trên các lưu vực sông (số liệu dự báo)

Đơn vị tính: 1000m3

lưu vực

Trữ lượng động nước ngầm 103

m3/ngày đêm

Mã số ngầm l/s, km2

I.3.3.3 Chất lượng nước

Chất lượng nước có thể được biểu thị bởi lượng bùn cát và chất hoà tan trong

nước Trong mùa lũ, lượng bùn cát cao (90% tổng lượng bùn cát trong năm), còn trong

mùa cạn, lượng bùn cát thấp Độ đục của sông Hồng là cao nhất (Lào Cai: 21.000

g/m3, Yên Bái: 14.900 g/m3, Tà Bú : 13.600 g/m3) Trong khi đó, độ đục của sông Cửu

Long là thấp nhất (700-800 g/m3) Trong bùn cát có nhiều chất dinh dưỡng cho cây

trồng như nitơ, phốtpho, kali Lượng bùn cát hàng năm đổ ra biển vào khoảng 200 đến

250 triệu tấn, trong đó 90% là từ sông Hồng và sông Cửu Long Tổng lượng bùn cát

hàng năm của sông Hồng khoảng 120 triệu tấn và của sông Cửu Long là khoảng 90

Trang 36

triệu tấn Các giá trị này chứng tỏ rằng vấn đề xói mòn là nghiêm trọng và việc nghiên cứu quá trình sử dụng đất đóng vai trò quan trọng ở Việt Nam hiện nay

Nhìn chung, độ khoáng hoá của nước sống thấp Đối với hệ thống sông Hồng, giá trị độ khoáng hoá trung bình là khoảng 200 mg/l, ở sông Cửu Long là 150 mg/l và

ở sông Đồng Nai là thấp hơn 50mg/l Tổng lượng hàng năm của các chất hoà tan là khoảng 21 triệu tấn ở sông Hồng, 75 triệu tấn ở sông Cửu Long Giá trị độ pH ở trong sông Đồng Nai nhỏ hơn 6, đặc biệt giá trị độ pH thấp hơn 3 đo ở vùng Đồng Tháp Mười vào thời kỳ đầu mùa mưa Theo các tiêu chuẩn Quốc tế thì nước sông của ta thuộc loại mềm và rất mềm (nhỏ hơn 3,0 mEq/l), thậm chí nhỏ hơn 0,4 mEq/l)

Thành phần các ion chính tổng nước sông ngòi Việt Nam là Bicacbonat nhưng

tỉ lệ HCO3 thay đổi tuỳ theo sông Đối với sông Hồng và sông Cửu Long, tỷ lệ này là 70% tổng lượng các anion, song ở sông Đồng Nai thì tỷ lệ này là 50% Cation Ca2+cũng là một thành phần quan trọng Tuy nhiên, lượng Cation Ca2+ nhỏ hơn lượng Cation Nảti và Kali trong những sông ngòi có độ khoáng hoá thấp Các ion khác thường ít và có tỷ lệ không thay đổi

Tình hình phát triển đô thị và công nghiệp đã ảnh hưởng ngày càng lớn đối với tài nguyên nước Do đô thị hoá và công nghiệp hoá phát triển, nhu cầu cấp nước tăng lên và nước thải cũng tăng lên, ảnh hưởng tới chất lượng nước sông Ô nhiễm nước xuất hiện ở nhiều vùng: ở Hà Nội, những sông Tô Lịch, Kim Ngưu rất bẩn (màu đen

và có mùi hôi thối) giá trị trung bình của BOD (nhu cầu oxy sinh hoá) trên 30 mg/l,

NH4+ trên 10 mg/l; ở thành phố Hồ Chí Minh, nước các kênh Nhiêu Lộc và Tham Lương cũng có màu đen và mùi hôi khó chịu, giá trị của COD (nhu cầu ôxy hoá học) tới 596 mg/l, BOD tới 184,5 mg/l… Các vùng khác như Lâm Thao, Việt Trì, Thái Nguyên cũng có tình trạng tương tự

I.3.3.4 Nhận xét về thực trạng tài nguyên nước ở Việt Nam

a- Sự cạn kiệt tài nguyên nước ngày càng tăng

- Nhìn chung tài nguyên nước mặt của Việt Nam phong phú nhưng hơn 60% lượng nước lại từ lãnh thổ bên ngoài chảy vào nên tài nguyên này phụ thuộc nhiều vào mức độ sử dụng của các nước cùng chia sẻ lưu vực Hơn nữa, tài nguyên nước sản sinh trên lãnh thổ Việt Nam lại phân phối không đều theo không gian và thời gian, có những vùng đặc biệt khô hạn, 9 tháng là mùa khô, không mưa hoặc có lượng mưa tháng không đáng kể so với lượng bốc hơi Đó là những giới hạn ảnh hưởng lớn đến việc khai thác và bảo vệ tài nguyên nước Đáng chú ý nhất là các cực trị về lũ, hạn,

Trang 37

úng ngập, có khi thành thiên tai, gây không ít thiệt hại về người, về của và mùa màng

mà trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển tài nguyên nước phải tính đến

Dân số tăng, chỉ số lượng nước trên đầu người giảm năm 1945 có 14.520

m3/ng nay chỉ còn 4.840 m3/người Nếu số dân Việt Nam tăng lên 150 triệu người thì chỉ còn 2.420 m3/người (tính theo lượng nước nội địa)

- Do tác động của biến đổi khí hậu mà lượng mưa năm ngày càng có xu thế giảm Nhiệt độ không khí có xu thế tăng nên lượng bốc thoát hơi cũng tăng lên Hậu quả của chúng dẫn đến tài nguyên nước giảm, nhu cầu nước tưới tăng lên… cán cân nước thiếu hụt ngày một gay gắt Những vùng có mùa khô kéo dài từ 9 tháng trở lên, lượng mưa năm ít hơn 1.500mm, độ che phủ bị giảm sẽ có xu hướng hoang mạc hoá,

sự trù phú sẽ nhường chỗ cho đất thừa - nước thiếu - dân thưa thớt

- Nhu cầu dùng nước cho tăng năng suất cây trồng, cho yêu cầu sinh hoạt trên đầu người, cho phát triển công nghiệp, du lịch, dịch vụ, thương mại tăng nhanh Nếu không có biện pháp giải quyết thì sự khai thác sử dụng, gây ô nhiễm quá mức cho phép là điều không thể tránh khỏi

b/ Hiểm hoạ về nước ngày càng tăng

- Bão tăng cường độ và tần số Trung bình 1 thập kỷ tăng 0,6 cơn/thập kỷ Bão lớn cấp 10 - 12 ngày càng nhiều gây ra mực nước dâng do bão vượt 2,00m chiếm hơn 11% tổng số cơn bão xảy ra, mực nước biển có xu thế dâng lên trung bình 0,2 cm/năm Hiện tượng xói lở bờ biển, di động bồi lấp cửa sông ngày một tăng về cường độ lẫn tần

số

- Lượng mưa 1 ngày lớn nhất có xu thế tăng lên và có tính phổ biến với giá trị

500 - 700mm/ngày thậm chí còn lớn hơn Ngay ở những vùng sâu trong lục địa như Lai Châu, Kon Tum đã xuất hiện mưa ngày càng lớn hơn 300mm/ngày Rừng đầu nguồn không ngừng bị giảm Lũ lớn nhất hàng năm có xu thế tăng cao Lũ quét xuất hiện nhiều nơi, nhiều lúc (đầu mùa, giữa mùa) ngày càng ác liệt trên những lưu vực nhỏ trong toàn quốc Song mạng lưới quan trắc thuỷ văn lưu vực nhỏ hầu hết đã ngừng

đo từ lâu nên khó đánh giá được định lượng rõ rệt

- Dòng chảy kiệt ngày càng bị giảm bởi:

+ Lượng mưa trong mùa cạn ngày càng có xu thế giảm

+ Tác dụng điều tiết của rừng đầu nguồn giảm (do cháy rừng, do khai thác bữa bãi )

+ Sự khai thác nước bằng một hệ thống đập dâng ở thượng lưu sông

Trang 38

Hậu quả là cạn kiệt ngay từ tháng 2, tháng 3, sớm hơn trung bình hàng năm trước đây 1 - 2 tháng

- Đặc biệt các vùng đồng bằng sông Hồng - Thái Bình và sông Cửu Long, lưới sông kênh rạch chưa đủ bảo đảm tiêu nước từ thượng nguồn và nước mưa tại chỗ, nhất

là đồng bằng sông Hồng có hệ thống đê bao bọc, trong mùa lũ nước sông dâng cao, việc tiêu nước mưa trong đồng gặp nhiều khó khăn Để bảo đảm phát triển nông nghiệp, khắc phục các nhược điểm trên, cần chú ý mở rộng lưới sông kênh rạch tiêu úng, chống ngập lụt trong những năm tới

c/ Ô nhiễm nước ngày càng trầm trọng

- Hiện nay nước trong các sông hồ nói chung là tương đối còn sạch đáp ứng nhu cầu dùng nước Nhưng rải rác trên những đoạn sông hồ, biển có những khu công nghiệp, dịch vụ, du lịch bị nhiễm bẩn trầm trọng Những năm gần đây và những năm sắp tới tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá ngày càng nhanh kéo theo sự ô nhiễm nước ngày càng tăng nhanh và lan rộng Nước trong các sông, hồ về mùa kiệt nước không

đủ để hoà tan chất bẩn làm cho sự ô nhiễm càng trở nên trầm trọng trên nhiều khúc sông, bờ biển

- Trong nông nghiệp việc dùng hoá chất bảo vệ thực vật quá liều lượng ở ruộng lúa nước, vườn cây ăn quả đã làm ô nhiễm nước trên các kênh, rạch, ô nhiễm nước dưới đất

- Việc hiện đại hoá, công nghiệp hoá trong nông nghiệp đã và đang xuất hiện những ô nhiễm mới Ví dụ: Chất thải ở các xí nghiệp chế biến ướt cà phê Đây là công nghệ mới nâng cao chất lượng gía trị sản phẩm cà phê xuất khẩu song cũng đòi hỏi một lượng nước đáng kể và lượng chất thải khá lớn cần được xử lý Hiện nay nước trong các sông hồ nói chung là tương đối còn sạch đáp ứng nhu cầu dùng nước Nhưng rải rác trên những đoạn sông hồ, biển có những khu công nghiệp, dịch vụ, du lịch bị nhiễm bẩn trầm trọng

d/ Một số ý kiến về tài nguyên nước mặt

- Trong chiến lược phát triển tài nguyên nước, cần phải xem xét đồng bộ các nguồn nước từ nước mưa, nước sông, nước hồ thiên nhiên và nhân tạo, nước dưới đất

và nước biển, ven bờ, cửa sông để có kế hoạch khai thác hợp lý, bảo vệ có hiệu quả nguồn nước ở từng vùng sinh thái đối với từng đối tượng nước trong một thể thống nhất, bảo đảm tính lâu bền, không làm cho nguồn nước bị kiệt đi về lượng và chất

Trang 39

- Tài nguyên nước cũng luôn biến động, thay đổi theo sự biến động, thay đổi của khí hậu Các nguyên nhân biến động và thay đổi có nguồn gốc thiên nhiên và nhân tạo Các dự báo về sự thay đổi khí hậu và tài nguyên nước đến đầu thế kỷ XXI là mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chiến lược kinh tế - xã hội

Những thay đổi ở từng địa phương có thể khác với xu thế chung của toàn cầu,

đó là nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của các nhà khí hậu và thuỷ văn ở Việt Nam Việc điều tra, đánh giá, dự báo xu thế và định lượng mức thay đổi có thể được những thông

số đáp ứng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là những công việc cần làm tiếp theo công việc đánh giá về tài nguyên nước Việt Nam

I.4 Tổng hợp các lưu vực sông Việt Nam

I.4.1 Lưu vực sông Hồng – Thái Bình và phụ cận

Hình 1: Các sông thuộc HTS Hồng – Thái Bình

Bảng 6: Tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Hồng – Thái Bình

116,0

53,1 62,9

Trang 40

I.4.1.1 Lưu vực sông Hồng

Sông Hồng (chảy qua 3 quốc gia Việt Nam, Trung Quốc và Lào) bắt nguồn từ Trung Quốc chảy xuống phía Đông Nam vào Việt Nam và cuối cùng đổ ra biển Đông Đây là con sông lớn thứ hai chảy qua Việt Nam, sau sông Mêkông

Lưu vực sông Hồng có tổng diện tích là 169.000 km2 trong đó diện tích lưu vực Trung Quốc là 81.240 km2, diện tích thuộc Lào là 1.100 km2, thuộc Việt Nam là 86.660 km2 Dòng chính sông Hồng có chiều dài 1.140 km, trong đó có 640 km chảy trên đất Trung Quốc, 500 km chảy trên địa phận Việt Nam Địa hình lưu vực thấp dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, độ cao đường phân nước bằng khoảng 2000 – 3000

m ở lãnh thổ Trung Quốc và 1000 – 2000 m ở Việt Nam

- Đơn vị hành chính trong lưu vực sông Hồng bao gồm 26 tỉnh với số dân khoảng 28 triệu người Tổng diện tích tự nhiên là 86.660 km2; Đất nông nghiệp là 1.874.100 ha, trong đó: đất canh tác 1.463.000 ha (đất lúa màu 1.031.000 ha, còn lại các cây khác); Đất lâm nghiệp: 2.570.775 ha, trong đó đất có rừng là 2.101.000 ha; Tiềm năng đất có khả năng phát triển nông, lâm nghiệp là 3.919.500 ha

- Tài nguyên nước: Tổng lượng nước mặt bình quân hàng năm của sông Hồng

là 133,68 tỷ m3, trong đó lượng nước từ ngoài lãnh thổ đổ vào là 51,82 tỷ m3 (chiếm 38,8% lượng nước toàn lưu vực)

- Hệ thống sông ngòi: Sông Hồng là hợp lưu của 3 nhánh sông lớn tại Việt trì

là Sông Đà, Sông Lô và Sông Thao Ngoài ra còn có một số sông chính trong hệ thống sông Hồng là Sông Đáy diện tích lưu vực là 5.800 km2, dài 241 km; Sông Đào Nam Định dài 31,5 km; Sông Ninh Cơ dài 51,8 km; Sông Đuống dài 67,0 km; Sông Luộc dài 72,4 km; Sông Trà Lý dài 64,0 km.Tại đồng bằng Bắc bộ, dưới Việt trì, lưu vực sông Hồng pha trộn với lưu vực sông Thái bình với hai sông là sông Đuống và sông Luộc

Bảng 7: Đặc trưng dòng chảy năm trung bình nhiều năm trên hệ thống sông Hồng

(km2)

Q0 (m3/s)

M0(l/skm2)

X0(mm)

W0 106m3)

Y0(mm)

Ngày đăng: 22/04/2014, 21:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[8]. Giáo trình quản lý tổng hợp lưu vực sông, ĐHTL, nxbnn, HN,2005 [9]. Nghị định 120/2008/NĐ-CP ngay 01/12/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý tổng hợp lưu vực sông
Nhà XB: nxbnn
Năm: 2005
[12]. Đoàn Văn Cánh (2004), Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên nước vùng Tây nguyên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên nước vùng Tây nguyên
Tác giả: Đoàn Văn Cánh
Năm: 2004
[13]. Nguyễn Văn Cư (2005), Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu giải pháp tổng thể sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường lưu vực sông Ba và sông Côn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp tổng thể sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường lưu vực sông Ba và sông Côn
Tác giả: Nguyễn Văn Cư
Năm: 2005
[14]. Đào Xuân Học (2005), Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng, dự báo diễn biến tài nguyên và môi trường nước phục vụ phát triển bền vững lưu vực sông Vàm Cỏ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng, dự báo diễn biến tài nguyên và môi trường nước phục vụ phát triển bền vững lưu vực sông Vàm Cỏ
Tác giả: Đào Xuân Học
Năm: 2005
[15]. Lã Thanh Hà (2005), Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phòng tránh tiên tai lưu vực sông Lô” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phòng tránh tiên tai lưu vực sông Lô
Tác giả: Lã Thanh Hà
Năm: 2005
[16]. Nguyễn Quang Trung (2010), Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu đánh giá tác động của các công trình trên dòng chính và giải pháp quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước lưu vực sông Hương” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá tác động của các công trình trên dòng chính và giải pháp quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước lưu vực sông Hương
Tác giả: Nguyễn Quang Trung
Năm: 2010
[7]. Nguyễn Viết Phổ và nk- Đánh giá khai thác và bảo vệ tài nguyên khí hậu tài nguyên nước của Việt nam, nxb KH&KT, HN, 1994 Khác
[17]. Viện quy hoạch Thủy lợi (2007); Quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ nguồn nước lưu vực sông Mã Khác
[18]. Lê Trung Tuân (nhà xuất bản nông nghiệp 2008), Công nghệ thu trữ nước phục vụ canh tác và chống xói mòn trên đất dốc Khác
[19]. Quyết định số 600/QĐ-UBND Ngày 3 tháng 3 năm 2009 về việc: Công bố số liệu hiện trạng rừng và đất rừng và đất lâm nghiệp năm 2008 tỉnh Thanh Hóa Khác
[20]. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2007. Diện tích rừng và đất chưa sử dụng quy hoạch cho Lâm nghiệp năm 2006. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
[21]. Phạm Văn Điển, 2006. Nghiên cứu khả năng giữ nước của một số thảm thực vật ở vùng phòng hộ hồ thủy điện tỉnh hòa bình. Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, trường Đại học Lâm nghiệp 2006 Khác
[22]. Võ Đại Hải, 1996. Nghiên cứu các dạng cấu trúc hợp lý cho rừng phòng hộ đầu nguồn ở Việt Nam. Luận án phó tiến sĩ khoa học Nông nghiệp Khác
[23]. Ngô Đình Quế, 2002. Thực trạng và đề xuất các giãi pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng rừng phòng hộ, chống cạn kiệt và suy thoái nguồn nước vùng đầu nguồn lưu vực sông Cầu. Thông tin KHKT Lâm nghiệp, số 1.2. TIẾNG ANH Khác
[24]. A hand for intergrated water resoursces management in basins, GWP, INBO, Paris,2009 Khác
[25]. A. A. Moltranop, P. Ph. Iđơdon. Dự báo khả năng biến đổi của dòng chảy sông ngòi vào năm 2000 do ảnh hưởng của các biện pháp canh tác nông lâm nghiệp Khác
[26]. I. R. Calder. Hydrologic Effects of Land Use Change. Hand Book of Hydrology. Mc. Graw Hill Inc. Pp. 13.1-13.50 Khác
[27]. Michael Bonell, Maynard. Hufschmidt and Johns. Glad well. Hydrology and Water Management in the Humid Tropics.……………………………… Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Bản đồ hệ thống sông đồng bằng sông Cửu Long - Báo cáo khoa học : Nghiên cứu các giải pháp quản lý phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông
Hình 2 Bản đồ hệ thống sông đồng bằng sông Cửu Long (Trang 80)
Hình 2: Mô hình trồng sắn trên đất dốc - Báo cáo khoa học : Nghiên cứu các giải pháp quản lý phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông
Hình 2 Mô hình trồng sắn trên đất dốc (Trang 103)
Hình 13: Canh tác theo đường đồng mức kết hợp che phủ trên ruộng ngô - Báo cáo khoa học : Nghiên cứu các giải pháp quản lý phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông
Hình 13 Canh tác theo đường đồng mức kết hợp che phủ trên ruộng ngô (Trang 110)
Hình 20: Sơ đồ bố trí hệ thống thu trữ nước kết hợp chống xói mòn kiểu rãnh đơn - Báo cáo khoa học : Nghiên cứu các giải pháp quản lý phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông
Hình 20 Sơ đồ bố trí hệ thống thu trữ nước kết hợp chống xói mòn kiểu rãnh đơn (Trang 117)
Hình 21: Sơ đồ bố trí hệ thống thu trữ nước kết hợp chống xói mòn kiểu đa rãnh - Báo cáo khoa học : Nghiên cứu các giải pháp quản lý phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông
Hình 21 Sơ đồ bố trí hệ thống thu trữ nước kết hợp chống xói mòn kiểu đa rãnh (Trang 117)
Hình 22: Sơ đồ cắt dọc hệ thống thu trữ nước - Báo cáo khoa học : Nghiên cứu các giải pháp quản lý phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông
Hình 22 Sơ đồ cắt dọc hệ thống thu trữ nước (Trang 118)
Hình 27: Kết quả mô phỏng tại vị trí trạm thủy văn Xã Là ứng với P mưa 75% - Báo cáo khoa học : Nghiên cứu các giải pháp quản lý phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông
Hình 27 Kết quả mô phỏng tại vị trí trạm thủy văn Xã Là ứng với P mưa 75% (Trang 179)
Hình 32: Kết quả mô phỏng tại vị trí trạm thủy văn Cẩm Thủy ứng với P mưa 75% - Báo cáo khoa học : Nghiên cứu các giải pháp quản lý phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông
Hình 32 Kết quả mô phỏng tại vị trí trạm thủy văn Cẩm Thủy ứng với P mưa 75% (Trang 197)
Hình 33: Kết quả mô phỏng tại vị trí trạm thủy văn Cẩm Thủy ứng với P mưa 90% - Báo cáo khoa học : Nghiên cứu các giải pháp quản lý phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông
Hình 33 Kết quả mô phỏng tại vị trí trạm thủy văn Cẩm Thủy ứng với P mưa 90% (Trang 197)
Hình 34: Kết quả mô phỏng tại vị trí trạm thủy văn Cẩm Thủy ứng với P mưa 95% - Báo cáo khoa học : Nghiên cứu các giải pháp quản lý phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông
Hình 34 Kết quả mô phỏng tại vị trí trạm thủy văn Cẩm Thủy ứng với P mưa 95% (Trang 198)
Hình 35: Kết quả mô phỏng tại vị trí trạm thủy văn Cửa Đạt ứng với P mưa 75% - Báo cáo khoa học : Nghiên cứu các giải pháp quản lý phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông
Hình 35 Kết quả mô phỏng tại vị trí trạm thủy văn Cửa Đạt ứng với P mưa 75% (Trang 198)
Hình 36: Kết quả mô phỏng tại vị trí trạm thủy văn Cửa Đạt ứng với P mưa 90% - Báo cáo khoa học : Nghiên cứu các giải pháp quản lý phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông
Hình 36 Kết quả mô phỏng tại vị trí trạm thủy văn Cửa Đạt ứng với P mưa 90% (Trang 199)
Hình 37: Kết quả mô phỏng tại vị trí trạm thủy văn Cửa Đạt ứng với P mưa 95% - Báo cáo khoa học : Nghiên cứu các giải pháp quản lý phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông
Hình 37 Kết quả mô phỏng tại vị trí trạm thủy văn Cửa Đạt ứng với P mưa 95% (Trang 199)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm