1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lời các tỉnh trung du miền núi phía bắc phục vụ đa mục tiêu

152 722 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lợi các tỉnh trung du miền núi phía Bắc phục vụ đa mục tiêu
Tác giả Bùi Hiếu
Trường học Trường Đại học Thủy lợi
Chuyên ngành Kỹ thuật thủy lợi, Quản lý tài nguyên nước, Phát triển bền vững
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 3,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tổng hợp phục vụ đa mục tiêu của các CTTL, cần thiết có sự nghiên cứu, khảo sát đánh giá toàn diện, đầy đủ, định tính, định lượng về

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

- Õ -

ĐỀ TÀI NCKH CẤP BỘ

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

CÔNG TRÌNH THỦY LỢI CÁC TỈNH TRUNG DU

MIỀN NÚI PHÍA BẮC PHỤC VỤ ĐA MỤC TIÊU

Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Bùi Hiếu

8657

Hà Nội, 10 – 2010

Trang 2

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

- Õ -

ĐỀ TÀI NCKH CẤP BỘ

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

CÔNG TRÌNH THỦY LỢI CÁC TỈNH TRUNG DU

MIỀN NÚI PHÍA BẮC PHỤC VỤ ĐA MỤC TIÊU

Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Bùi Hiếu

Hà Nội, 10 – 2010

Trang 3

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NCKH CẤP BỘ NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QỦA CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TẠI CÁC TỈNH TRUNG DU, MIỀN NÚI PHÍA BẮC PHỤC VỤ ĐA MỤC TIÊU

Chương 1 TỔNG QUÁT 1.1 Tính cấp thiết, mục tiêu, ý nghĩa và nội dung của đề tài

1.1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Tại nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm trước đây các công trình thủy lợi (CTTL) được xây dựng chủ yếu phục vụ tưới, tiêu cho các loại cây trồng Tuy nhiên trong thực tế quản lý khai thác, ngoài cấp thoát nước cho cây trồng, trước yêu cầu tự nhiên, cấp bách của đời sống và phát triển kinh tế xã hội, các hệ thống thủy lợi còn kết hợp cấp, thoát nước cho các ngành kinh tế - xã hội khác Nhưng

hiệu quả còn kém so với yêu cầu, với tiềm năng sẵn có của các CTTL

về an ninh biên giới lãnh thổ, có tiềm năng rất to lớn để phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp, tiêu thụ hàng hóa qua các cửa khẩu và du lịch sang nước bạn Do vậy sự phát triển kinh tế, xã hội vùng này có tầm quan trọng đặc biệt

Do gặp nhiều khó khăn về điều kiện tự nhiên, xã hội và kinh tế nên các công

trình thuỷ lợi (hầu hết là loại nhỏ và vừa) tại vùng TDMNPB đã phát huy hiệu quả rất

kém, chỉ đạt 60 – 70% năng lực thiết kế phục vụ tưới, tiêu, còn hiệu quả kết hợp phục

vụ đa mục tiêu cho các ngành khác cũng càng yếu và thiếu Do đó biện pháp nâng cao hiệu quả tổng hợp của các công trình thuỷ lợi (CTTL), luôn là vấn đề quan trọng và cấp bách

Để có cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tổng hợp phục vụ đa mục tiêu của các CTTL, cần thiết có sự nghiên cứu, khảo sát đánh giá toàn diện, đầy đủ,

định tính, định lượng về tác dụng, hiệu quả, và phương thức các công trình thuỷ lợi phục vụ tổng hợp đa mục tiêu cho phát triển kinh tế – xã hội, tìm ra nguyên nhân của

các tồn tại, thiếu sót rồi đề xuất phương hướng, giải pháp khắc phục - phát triển làm

cơ sở khoa học - thực tiễn vững chắc cho quy hoạch, xây dựng và quản lý các công trình thuỷ lợi đạt hiệu quả cao, phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, vùng trên

quan điểm sử dụng tổng hợp, bền vững tài nguyên nước

Mặt khác giúp nâng cao nhận thức về hiệu quả các CTTL Kết quả nghiên cứu

của Đề tài làm cho mọi người, mọi ngành thấy được rõ hơn, đầy đủ hơn về hiệu quả to lớn của các CTTL không chỉ tưới, tiêu nước cho cây trồng mà còn phục vụ đa mục tiêu cho phát triển các ngành kinh tế, xã hội khác, phòng chống thiên tai và bảo vệ môi trường, từ đó xã hội sẽ quan tâm hơn đến công tác thủy lợi

Do việc đánh giá chính xác được hiệu quả tổng hợp đa mục tiêu của CTTL là khó khăn, phức tạp vì phụ thuộc nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, nên cho đến nay chưa có được phương pháp đánh giá hoàn chỉnh, chưa thiết lập được các chỉ tiêu,

tiêu chí đánh giá xác thực và cho phù hợp điều kiện Việt Nam, do vậy cần thiết phải

nghiên xây dựng được phương pháp luận, cơ sở khoa học đánh giá hiệu quả CTTL phục vụ đa mục tiêu cho phát triển kinh tế, xã hội, trên cơ sở đó cần xây dựng các hệ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đa mục tiêu của CTTL, để rồi đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tổng hợp của các CTTL phục vụ đa mục tiêu

1.1.2 Mục tiêu nghiên cứu (đã được quy định tại bản Tổng đề cương NCKH )

9 Đánh giá được thực trạng các công trình thủy lợi vùng Trung du, miền núi

phía Bắc đáp ứng nhiệm vụ thiết kế và phục vụ đa mục tiêu so với yêu cầu mới

Trang 4

9 Xây dựng phương pháp luận và cơ sở khoa học đánh giá hiệu quả tổng hợp

CTTL phục vụ đa mục tiêu cho phát triển kinh tế, xã hội và môi trường

9 Xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu đánh giá và phần mềm tính toán hiệu

quả tổng hợp phục vụ đa mục tiêu của các công trình thủy lợi

9 Đề xuất được giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lợi phục vụ đa

mục tiêu cho phát triển kinh tế - xã hội và môi trường tại các tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc

9 Dựa trên các nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp, đa mục tiêu của

CTTL đã được thiết lập và tiến hành thử nghiệm áp dụng tại một số hệ thống thủy lợi đại diện để kiến nghị bổ xung vào tài liệu 14 TCN 112-2006 hướng dẫn tính toán đánh giá hiệu quả kinh tế dự án thuỷ lợi tưới, tiêu

1.1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Đây là vấn đề mới, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong việc đánh giá hiệu

quả, nâng cao hiệu quả phục vụ của các CTTL

1 Mặc dù sẽ là một thử thách lớn để phát triển, tìm ra một phương pháp đánh

giá phù hợp với các thể loại, quy mô CTTL khác nhau với đối tượng sử dụng nước đa dạng, ở các miền vùng khác nhau và giải quyết mâu thuẫn giữa các hộ dùng nước với

nhau.Tuy nhiên tập thể Đề tài đã nghiên cứu đề xuất được Phương pháp tiếp cận

đánh giá hiệu quả phục vụ đa mục tiêu của các CTTL tại Việt Nam và sơ đồ khối Bộ khung tổng thể các bước đánh giá hiệu quả HTTL có giá trị tham khảo áp dụng tốt

2 Đề tài đã đề xuất xây dựng được chín nhóm chỉ tiêu làm cơ sở đánh giá hiệu

quả CTTLphục vụ đa mục tiêu đã thể hiện được đầy đủ các mặt hiệu quả của CTTL như: hiệu quả phân phới sử dụng nước, hiệu quả phục vụ các ngành, hiệu quả kinh tế tổng hợp, hiệu quả môi trường, hiệu quả xã hội, đã tiếp cận được với trình độ KHCN tiên tiến trên thế giới

3 Đề tài đã đề xuất, kiến nghị bổ xung nhiều chỉ tiêu đánh giá hiệu quả HTTL

vào 14 TCN 112 - 2006, tuy nhiên là bước đầu cần phải được tiếp tục thử nghiệm trong điều kiện thực tế để hoàn chỉnh thêm

4 Đã xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu và tính toán các chỉ tiêu đánh giá hiệu

quả công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu trên cơ sở các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

của các CTTL đã được thiết lập và thử nghiệm

Qua thử nghiệm áp dụng tại một số HTTL đại diện thấy được phần mềm này có các ưu điểm, có tính khả thi rõ rệt

5 Đề tài đã nêu được khá đầy đủ các nguyên nhân làm giảm hiệu quả phục vụ của các công trình thuỷ lợi, gồm: Nguyên nhân về đặc điểm điều kiện, kinh tế, xã hội,

về quy hoạch, thiết kế, nguyên nhân và bất cập trong qủan lý khai thác CTTL, trong đó nổi lên các nguyên nhân đặc thù cho vùng đồi núi, trung du phía Bắc

6 Đề tài đã xuất khá toàn diện các giải pháp quy hoạch, thiết kế nâng cao hiệu quả phục vụ đa mục tiêu của các công trình thuỷ lợi, trong đó nhấn mạnh các vấn đề:

a) Cần nghiên cứu bổ sung, hoàn chỉnh các chỉ tiêu kỹ thuật, kinh tế cho quy

hoạch, thiết kế xây dựng công trình thuỷ lợi phục vụ đa mục tiêu trong điều kiện đa

dạng hoá và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn

b) Chỉ dẫn cách tính toán cân bằng nước và xác định các quy mô, kích thước

cơ bản của công trình đầu mối ở hồ chứa, đập dâng đã và sẽ xây dựng thực hiện nhiệm

vụ tưới theo thiết kế cũ, thực hiên nhiệm vụ phục vụ đa mục tiêu và giải pháp sử lý tình huống do các nhu cầu dùng nước ngày càng gia tăng trong khi nguồn nước đến có chiều hướng giảm đi

Trang 5

c) Để nâng cao hiệu quả phục vụ của CTTL ,Đề tài đề xuất cần sớm xây dựng

chiến lược quy hoạch thủy lợi phục vụ đa mục tiêu ở các quy mô khác nhau, vùng khác

nhau, và thể loại công trình khác nhau

7 Các giải pháp quản lý khai thác đã được Đề tài đã đề xuất khá đầy đủ, gồm: Gải pháp quản lý nước, giải pháp quản lý công trình, giải pháp quản lý kinh tế, tài chính, giải pháp về tổ chức quản lý công trình thủy lợi, giải pháp về chính sách quản lý công trình thủy lợi Trong đó nhấn mạnh một số giải pháp đặc trưng

8 Các kết quả nghiên cứu cử Đề tài có thể tham khảo áp dụng vào thực tiễn cho các thể loại CTTL khác, ở các miền, vùng khác

1.1.4 Nhiệm vụ, nội dung nghiên cứu

1 Khảo sát, đánh giá được thực trạng các công trình thủy lợi vùng Trung du, miền núi phía Bắc đáp ứng nhiệm vụ thiết kế và phục vụ đa mục tiêu so với yêu cầu

2 Xây dựng phương pháp luận và cơ sở khoa học đánh giá hiệu quả tổng hợp CTTL phục vụ đa mục tiêu cho phát triển kinh tế, xã hội và môi trường

3 Xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu đánh giá và phần mềm tính toán hiệu

quả tổng hợp phục vụ đa mục tiêu của các công trình thủy lợi

4 Dựa trên các nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp, đa mục tiêu của CTTL đã được thiết lập và tiến hành thử nghiệm áp dụng tại một số hệ thống thủy lợi đại diện để kiến nghị bổ xung vào tài liệu 14 TCN 112-2006 hướng dẫn tính toán đánh giá hiệu quả kinh tế dự án thuỷ lợi tưới, tiêu

5 Xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu và tính toán các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu trên cơ sở các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các HTTL đã được thiết lập và thử nghiệm

6 Khảo sát, phân tích đánh giá các nguyên nhân làm giảm hiệu quả phục vụ

của các công trình thuỷ lợi, gồm: Nguyên nhân về đặc điểm điều kiện, kinh tế, xã hội ,về quy hoạch, thiết kế, nguyên nhân và bất cập trong qủan lý khai thác CTTL , trong

đó nổi lên các nguyên nhân đặc thù

7 Áp dụng tính toán kiểm tra cân bằng nước và xác định các chỉ tiêu cơ bản về quy mô, kích thước công trình đầu mối ở hồ chứa Xạ Hương và Ngòi Là, đập dâng 19 tháng 5 đã xây dựng, đang được khai thác trong trường hợp thực hiện nhiệm vụ thiết

kế cũ, thực hiên nhiệm vụ phục vụ đa mục tiêu và giải pháp sử lý tình huống

8 Đề xuất được giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu cho phát triển kinh tế - xã hội và môi trường tại các tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc (giải pháp quy hoạch, thiết kế và quản lý khai thác, các giải pháp công trình

và phi công trình)

1.2 Phương pháp khảo sát, nghiên cứu

1.2.1 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu

− Tiếp cận các tài liệu, kinh nghiệm thể giới, chủ yếu của các nước châu Á, Đông Nam Á, các tổ chức quốc tế như FAO, ICID, IWMI và tài liệu trong nước

− Tiếp cận và thực hiện phương pháp kế thừa, tận dụng, sử lý các kết quả nghiên cứu đã có tham khảo được…

− Tiếp cận một cách hệ thống: Bản thân hệ thống thủy lợi là một thể thống nhất

− Tiếp cận sự tham gia của cộng đồng của những người, đơn vị hưởng lợi từ CTTL, xem xét đánh giá dưới nhiều quan điểm, góc độ và mức độ khác nhau

− Tiếp cận và thực hiện phương pháp chuyên gia thông qua các hội thảo

Trang 6

chuyên đề tại Hà Nội và một số tỉnh TDMNPB, xin các ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các cán bộ chuyên môn ở địa phương

− Tiếp cận nghiên cứu các sử dụng các Phần mềm máy tính đánh giá hiệu quả CYYL như: Phương pháp đánh giá nhanh (Rapid Appraisal Process - RAP), Đánh giá tiêu chuẩn hoạt động của hệ thống (Benchmarking process) các tổ chức IPTRID, ICID, FAO phối hợp với IWMI và phần mềm IMSOP của Australia

− Tiếp cận, khảo sát các hệ thống công trình thủy lợi đã và đang hoạt động tại các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc

− Tiếp cận nghiên cứu, khảo sát chi tiết tại một số CTTL đại diện trong vùng tại các tỉnh Tuyên Quang, Yên Bái, Hoàn Bình, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc…

− Tiếp cận nguyên tắc sử dụng tổng hợp nguồn nước theo Bốn nguyên tắc Dublin

− Tiếp cận mục tiêu và chiến lược phát triển thủy lợi giai đoạn đến năm 2020

1.2.2 Điều tra, khảo sát, đánh giá tài liệu

1 Thu thập, điều tra các tài liệu, phân tích đánh giá và tổng hợp tài liệu về phương pháp, kết quả đánh giá hiệu quả tổng hợp các CTTL hiện tại đã phục vụ đa mục tiêu (cấp thoát nước nông nghiệp, cấp thoát nước công nghiệp, cấp thoát nước sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản, phục vụ du lịch, giao thông; phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường ) chủ yếu tại các nước châu Á, Đông Nam Á do có các điều kiện gần gũi với Việt Nam, các tổ chức quốc tế như FAO, ICID, IWMI

2 Đoàn cán bộ thực hiện đề tài đi học tập, khảo sát tại Viện Quản lý nước Quốc tế IWMI và Trung tâm Quản lý tưới Quốc tế IIMI tại nước Srilanca và các công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu tại Srilanka

3 Khảo sát, điều tra và thu thập, nghiên cứu các tài liệu của Việt Nam về phương pháp, kết quả đánh giá hiệu quả tổng hợp các CTTL phục vụ đa mục tiêu tại Việt Nam, chủ yếu tại các tỉnh vùng Trung du, miền núi phía Bắc

4 Nơi thu thập tài liệu: Tổng cục Thủy lợi, các chi cục Thủy lợi tỉnh, các Công

ty, Xí nghiệp Khai thác CTTL, các đối tượng - hộ sử dụng nước, các Phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng kinh tế ở các địa phương, các hệ thống thuỷ lợi thuộc các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Yên Bái, Phú Thọ

5 Điều tra, khảo sát chi tiết thực tế về hiệu quả, đánh giá hiệu quả HTTL hồ chứa Xạ Hương, Vĩnh Phúc, hồ Ngòi Là, Tuyên Quang, đập dâng 19 thang 5 Nghĩa lộ, Yên Bái Các công trình được lựa chọn đảm bảo tính đại diện về vùng địa lý, loại công trình, cấp công trình và quy mô đầu tư, chủ đầu tư

6 Thực hiện điều tra, khảo sát theo các phiếu điều tra CTTL phục vụ đa mục tiêu: 16 bộ phiếu cho 8 nhóm chỉ tiêu (bao gồm CTTL phục vụ tưới tiêu nước cho cây trồng, cấp nước cho chăn nuôi, cấp thoát nước công nghiệp, cấp thoát nước sinh hoạt, cho nuôi trồng thủy sản, cho phát triển xã hội, phát triển du lịch và dịch vụ, bảo vệ môi trường, ) với CTTL đầu mối là hồ chứa, đập dâng tại 5 tỉnh đại diện: Vĩnh Phúc, Yên Bái, Tuyên Quang, Quảng Ninh và Hoà Bình với các bảng liệt kê chỉ dẫn điều tra tài liệu rồi phân tích, đánh giá và lựa chọn tài liệu sử dụng

Trang 7

Hình 1.1 Ban chủ nhiệm đề tài học tập, khảo sát tại Viện Quản lý nước quốc tế IWMI

và Trung tâm Quản lý tưới Quốc tế IIMI tại Srilanca

1.2.3 Xử lý, phân tích, tổng hợp tài liệu cho nội dung nghiên cứu

1 Phân tích đánh giá vai trò, hiệu quả đạt được của công trình thuỷ lợi phục vụ tưới, tiêu nước nông nghiệp so nhiệm vụ thiết kế ban đầu

a Phân tích, đánh giá về hiệu quả tổng hợp các hệ thống thuỷ lợi phục vụ đamục tiêu cho phát triển kinh tế - xã hội và môi trường nông thôn: thuỷ sản, công nghiệp, phát triển du lịch và dịch vụ, cấp nước sinh hoạt, phòng chống thiên tại vệ môi trường.

2 Phân tích những tồn tại, khó khăn, nêu rõ những nguyên nhân làm cho CTTL chưa phát huy được hiệu quả phục vụ đa mục tiêu

3 Nghiên cứu đề xuất Phương pháp đánh giá hiệu quả công trình thủy lợi phục

vụ đa mục tiêu cho điều kiện Việt Nam

4 Xây dựng hệ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp, đa mục tiêu của công trình thủy lợi và thử nghiệm áp dụng tại vùng Trung du, miền núi phía Bắc và áp dụng thử nghiệm

5 Xây dựng phần mềm máy tính cơ sở dữ liệu, chương trình tính toán các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp, đa mục tiêu của công trình thủy lợi

6 Đề xuất phương hướng, giải pháp về quy hoạch, thiết kế và quản lý khai thác

để Nâng cao hiệu quả tổng hợp CTTL phục vụ đa mục tiêu trên vùng trung du, miền núi phía Bắc và áp dụng thử nghiệm tại các HTTL hồ chứa, đập dâng đại diện

7 Tổ chức tập huấn, chuyển giao công nghệ cho một số công ty, xí nghiệp khai thác CTTL trên vùng trung du, miền núi phía Bắc

8 Báo cáo tổng hợp tổng kết các kết quả NCKH của đề tài

Trang 8

Chương 2 KHẢO SÁT THỰC TIỄN CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI PHỤC VỤ ĐA MỤC TIÊU

2.1 Trên thế giới

Nghiên cứu nhận biết vai trò phục vụ đa mục tiêu của các hệ thống thủy lợi:

Các kết quả nghiên cứu do Viện quản lý nước quốc tế IWMI thực hiện tại nước Srilanca và tài liệu quốc tế khác của Ủy ban tưới tiêu quốc gia Thái Lan, của Cục thủy nông Thái Lan của tổ chức Liên hợp quốc FAO của Mạng lưới châu Á về quản lý nước, Uỷ ban Tưới tiêu quốc tế ICID của Đại học HR Wallingford and DFID, Anh quốc, và các kết quả của các nhà nghiên cứu tại các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Philippin, Mexico, Nam Phi, Australia cho thấy rõ hiệu quả CTTL phục vụ

đa mục tiêu

tượng khác bên cạnh việc nhiệm vụ chính là tưới, tiêu nước cho cây trồng

- Cụ thể vai trò phục vụ đa mục tiêu của các HTTL gồm các lĩnh vức sau:

1 Các hệ thống thuỷ lợi đã cung cấp nước tưới và tiêu thoát nước cho các cây trồng nông nghiệp là chủ yếu và cây trồng lâm nghiệp

Nhiều nước trên thế giới đã đảm bảo được An ninh lương thực (ANLT) quốc gia và góp phần đảm bảo ANLT thế giới là nhờ phát triển nền nông nghiệp có tưới với diện tích cây trồng được tưới, tiêu nước ngày càng tăng, nhất là tại các nước sản xuất lương thực, nông sản lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Thái Lan, Việt nam, Nhật Bản, Mexico, Brazinlia, Philipin, Indonesia…ở đó, đã từ lâu thuỷ lợi - tưới tiêu nước đã được coi là giải pháp hàng đầu trong phát triển nông nghiêp, có tác dụng quyết định

đến tăng vụ, tăng năng xuất, sản lượng các cây trồng…

2 Hệ thống thủy lợi kết hợp cung cấp nước sinh hoạt (Domestic water supply)

- Phần lớn dân cư nông thôn sống gần cạnh các kênh mương dẫn nước của HTTL nên họ có điều kiện thuận lợi sử dụng nước miễn phí nguồn nước từ HTTL cho sinh hoạt gia đình, thông qua sử dụng trực tiếp nước chảy trên kênh mương, hoặc gián tiếp thông qua các giếng nước được nguồn cung cấp nước từ các kênh mương ngấm vào tầng đất chứa nước, nhất là trong mùa khô hạn, đặc biệt các vùng khan hiếm nước

- Các hệ thống thủy lợi quy mô vừa và nhỏ thường cung cấp nước cho các nhu cầu sinh hoạt nông thôn, các hệ thống cở lớn và trung bình còn thêm cả cấp nước cho các khu đô thị, thị trấn, khu công nghiệp, thậm trí còn cấp nước cho các thành phố Tại Trung Quốc, các hệ thống thủy lợi lớn đã cung cấp 26 tỷ m3 nước/năm cho các nhu cầu sinh hoạt và công nghiệp (chiếm tới 15% tổng các nhu cầu nước sinh hoạt, công nghiệp của Quốc gia này, cho hơn 200 triệu dân cư)

- Dân cư nông thôn, chủ yếu là nông dân mà nhà cửa của họ phần lớn nằm gần cạnh các kênh mương dẫn nước của hệ thống thủy loi nên họ có điều kiện thuận lợi sử dụng nước từ kênh mương thủy lợi để cho sinh hoạt gia đình, họ đã sử dụng trực tiếp nước chẩy trên kênh mương, hoạc sử dụng gián tiếp thông qua các giếng nước được nguồn nước cấp từ các kênh mương ngấm vào đất - tầng chứa nước, nhất là trong mùa khô

- HTTL Cung cấp nước cho các hộ nông dân đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa thuộc miền đồi núi, ở đó chưa có được hệ thống cấp nước sạch công nghiệp cho sinh hoạt thì các gia đình nông dân thường tận sử dụng nguồn nước từ các hệ thống thủy lợi (hồ chứa nước, nước trên kênh mương) để cho sinh hoạt gia đình (nấu ăn, giặt, tắm, vệ sinh, chăn nuôi, tưới vườn…)

Trang 9

3 Nuôi trồng thuỷ sản và thủy cầm được CTTL cấp, thoát nước (Water suplly for Aquaculture)

- Hầu hết mặt nước các hồ chứa thủy lợi đã được tận dụng kết hợp nuôi trồng thủy sản tại các nước trên thế giới, kênh mương của các HTTL còn là nguồn cung cấp nước cho nhiều ao, hồ nhỏ nuôi trồng thủy sản của dân cư, các kênh mương còn thực hiện chuyển dẫn nước, hòa chộn nước mưa và nước ngọt cho nuôi trồng thủy sản nước mặn vùng ven biển

- Tại các nước trồng lúa khu vực Đông Nam Á, nhiều cánh đồng trồng lúa thấp trũng được tưới ngập, người ta đã tận dụng kết hợp nuôi trồng thủy sản cho lợi nhuận khá cao hơn nữa còn diệt trừ được sâu bọ phá lúa nhờ cá, tôm ăn chúng, còn làm tăng lượng phân bón cho lúa nhờ cá, tôm thải tiêu hóa ra

- Còn chăn thả vịt, ngan, ngỗng trên các cánh đồng lúa trũng, trên các ao được kênh mương thủy lợi cấp nước Mô hình cơ cấu canh tác Lúa - Cá - Vịt, ngan ngỗng đã cho hiệu quả kinh tế trên cánh đồng lúa cao hơn 30-35% so với trồng thuần chỉ có lúa

Crop–Livestock Systems)

- Tại các nước châu Á, vùng khô hạn và bán khô hạn chủ yếu tại các vùng phía Nam, Hệ thông hỗn hợp cây trồng - vật nuôi đã đóng vai trò quan trọng để tiết kiệm nước tưới, tăng hiệu quả sử dụng nước, tăng hiệu quả sản xuất chung do tận dụng các sản phẩm từ chăn nuôi (phân, nước thải…) phục vụ cây trồng, góp phần cải tạo đất Nguồn phân thải ra từ chăn nuôi còn được sử dụng làm năng lượng đun nấu phục vụ

ăn uống.

- Hệ thống thủy nông còn là môi trường, là nguồn cung cấp nước và tiêu thoát

nước cho ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy cầm, thông qua việc lấy nước trực

tiếp từ các hồ chứa, dùng nước kênh mương, từ các giếng nước được kênh mương thủy lợi làm tăng mực nước ngầm Hệ thống thủy lợi còn cấp nước tưới cho các đồng cỏ chăn nuôi, cho các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm…

- Tại vùng Bình cao nguyên Texas, nước Mỹ, các nhu cầu nước nông nghiệp đã khai thác tới 95% tổng lượng nước ngầm Do vậy sự thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi với sự gia tăng ngành chăn nuôi (bao gồm vật nuôi và các cây thức ăn chăn nuôi)

đã làm giảm lượng nước cung cấp cho nông nghiệp tới 25 %,nhưng lại góp phần chống xói mòn đất, tăng độ phì nhiêu của đất, lại tăng hiệu quả kinh tế chung sản xuất

thôn (Water suplly for Rural enterprises)

- Nhiều vùng ở nông thôn chưa được xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch, nên nguồn nước từ hệ thống kênh tưới đã cấp nước cho các hoạt động tiểu công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn như chế biến nông sản, sản xuất gạch ngói và vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm, các nhà hàng ăn uống,…

(Hydropower generation and navigation)

Những năm trước đây, một số hồ đấp thủy lợi và nhiều bậc nước trên kênh mương được tận dụng để phát triển thủy điện, nhưng giảm dần cùng với sự phát triển của mạng lưới điện quốc gia (bao gồm nhiệt điện và các trạm thủy điện lớn) Về giao thông thủy trên các HTTL hiện nay cũng giảm dần do sự phát triển mạnh mẽ của mạng lưới giao thông đường bộ Tuy nhiên tại nhiều vùng ở Campuchia, Philippin, Thái Lan, Malaysia và vùng đồng bằng sông Mê Kông của Việt Nam, các hệ thống kênh mương thủy lợi đã được tận dụng nhiều cho giao thông đường thủy

Trang 10

7 Hệ thống thủy lợi tác động tích cực đến môi trường và chu trình thủy văn (Ecosystem functions and Hydrological cycle) và cải thiện tiểu khí hậu (Climate adjustment)

- Các hệ thống thủy lợi cấp, thoát nước có tác dụng phòng chống khô hạn,phòng chống úng ngập,lũ lụt và cải tạo đất, chống xói mòn, lầy thụt, mặn hóa đất canh tác…

Lượng nước gây úng ngập, lũ lụt đã được tiêu thoát bởi các hệ thống tiêu thoát nước có công trình đầu mối là các trạm bơm, cống tiêu nước… hơn nữa lượng nước gây úng ngập còn được chứa trữ tại các khu ruộng trũng trồng lúa có khả năng chịu ngập nước để rồi tiêu sau đó Kết quả khảo sát cho thấy 20% lượng nước gây ngập úng

ở vùng hạ lưu sông Mê Kông trong thời gian 1999 - 2000 đã được tạm thời giữ chứa

tại các cánh đồng lúa trũng, để rồi được kênh mương thủy lợi tiêu thoát sau đó

- Nhiều hệ thống tưới nông nghiệp có vai trò tích cực đến chu trình thủy văn và

hệ sinh thái như các tác dụng điều hòa dòng chảy, làm tăng mực nước ngầm, phòng

chống khô hạn, chống úng ngập.,

- HTTL bổ sung nguồn nước ngầm (Groundwater recharge) Các hệ thống kênh

mương tưới đã làm tăng mực nước ngầm do nước ngấm xuống từ lòng kênh mương, thêm nữa lượng nước ngấm xuống từ các cánh đồng trồng lúa nước cũng làm tăng mực nược ngầm của các giếng lân cận

Tại hệ thống tưới cho lúa Kumamoto của Nhật Bản, 85% nguồn nước nhập vào nước ngầm là do lượng nước ngấm xuống từ các cánh đồng lúa, tại các vùng đất cao nguyên ở Đài Loan 21 - 23% lượng nước ngấm xuống từ cánh đồng lúa đã nhập vào nguồn nước ngầm

Sự bốc thoát hơi nước từ các cánh đồng lúa rộng lớn có tác dụng làm giảm nhiệt

độ nóng bức trong mùa hè và làm tăng nhiệt độ, gây ấm áp vào mùa đông lạnh giá Đặc biệt ở các vùng lân cận các hồ chứa thủy lợi có khí hậu luôn mát mẻ trong mùa hè

và ấm áp trong mùa đông, chính vì vậy mà nhiều khu vực có hồ chứa và hồ chứa nước thủy lợi được kết hợp xây dựng các khu du lịch

- Tác dụng làm sạch nước của các hệ thống thủy lợi (Water purification)

Khối lượng nước trên các cánh đồng lúa có tác dụng làm tăng tính hấp phụ của đất đối với các kim loại nặng và làm tăng khả năng vận chuyển chất hữu cơ của nó, Các cánh đồng lúa như là các vùng đất ướt nhân tạo có tác dụng chuyển hóa các nguyên tố Nitogen và Photpho có lợi cho đất và cây trồng Tỷ lệ khử Nitogen này là từ 0.02 đến 0.8 g/m2/d

Các lượng bùn cát lắng đọng trên kênh mương trong quá trình chuyển nước và bùn cát lắng đọng trên các cánh đồng lúa tưới ngập đã có tác dụng làm sạch nước (trong hơn) và còn cung cấp thêm chất dinh dưỡng cho cây trồng phát triển, cải tạo đất thoái hóa

8 - Bảo tồn đa dạng sinh học nhờ các HTTL (Conservation of Biodiversity)

Các HTTL cấp, thoát nước và điều hoà dòng chẩy, cải tạo đất đã có tác dụng rõ rệt để giữ gìn, phát triển các loại cây trồng, quần thể cây tự nhiên, các động vật, sinh

vật trên khu vực để bảo tồn đa dạng sinh học

9 Giá trị du lịch sinh thái và giải trí của các hệ thống thủy lợi

Nhiều hệ thống thủy lợi, nhất là các hồ chứa nước đã là nơi du lịch sinh thái, giải trí rất tốt do cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ, nguyên sơ, do khí hậu ôn hòa, do bản thân các công trình của hồ chứa được thiết kế xây dựng đẹp

Trang 11

Nhiều CTTL đập dâng, các cống lớn cũng có cảnh quan đẹp và đươc thiết kể đẹp phục vụ tốt cho du lịch

10 Hệ thống thủy lợi tác động tích cực đến phát triển văn hóa, xã hội

Các cánh đồng trồng lúa, các hệ thống tưới lúa có vai trò quan trọng trong phát triển xá hội, làm tăng tính cộng đồng cho những người dân sử dụng nước, làm tăng trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cho người dân, nhất là tại các nước sản xuất nhiều lúa gạo ở vùg Đông Nam Á và châu á, từ hàng nghìn năm trước dây đã hình thành nền văn minh, văn hóa lúa nước trong đó có Việt Nam

- Nhờ hệ thống điện năng cung cấp cho các trạm bơm, hoặc cấp cho sinh hoạt

và làm việc của các cơ quan quản lý CTTL mà những người dân ở gần đó được hưởng theo, làm tăng đời sống văn hóa, tinh thần của họ

- Để thực hiện quản lý khai thác các CTTL, đã có nhiều người được cung cấp việc làm mới, nhiều người được đào tạo chuyên môn để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần

- Việc thành lập và hoạt động của các Hội dùng nước (WUA), của mạng lưới PIM đã làm tăng tính cộng đồng, giáo dục ý thức tập thể cho người dân, thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội

- Các ngành nghề mới phát triển nhờ đước cấp nước từ HTTL sẽ tuyển dụng nhân công, tạo thêm việc làm cho người lao động

Tuy nhiên, sự xây dựng và hoạt động của các HTTL cũng có thể ở nơi này, nơi khác đã gây ra một số tác động tiêu cực như: Phải thực hiện di dân và tái định cư để

có diện tích xây dựng công trình và làm mất đi một số phần trăm diện tích canh tác, đa

dạng sinh học bị thay đổi, tập quán canh tác thay đổi Các tác động tiêu cực là nhỏ, có

thể giảm thiểu đến mức tối đa nhờ công tác quy hoạch, thiết kế, xây dựng và quản lý

khai thác hợp lý và tối ưu, do vậy nó hầu như không đáng kể so với các lợi ích to lớn thu được từ hiệu quả phục vụ của các HTTL

2.2 Công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu tại Việt Nam

2.2.1 Các thành tựu chung

Những thành tựu do thủy lợi đạt được như sau:

Năm 1945 cả nước mới có 13 hệ thống thủy nông vừa và lớn tập trung ở các tỉnh Trung du, đồng bằng Bắc bộ, khu 4 cũ, Duyên Hải miền Trung cùng với một số kênh lạch tạo nguồn ở đồng bằng sông Cửu Long với tổng năng lực tưới mới đạt 324.900 ha, tiêu mới đạt 77.000 ha Tính đến nay cả nước đã xây dựng được gần 100

hệ thống thủy nông vừa - lớn và hàng nghìn công trình thủy lợi nhỏ, trong đó có:

- Trên 500 hồ đập lớn có dung tích trên 1 triệu m3 nước hoặc có đập cao trên 10

m hoặc công trình xả lũ trên 2000 m3/s (phân loại theo tiêu chuẩn của IOCLD) Với số

lượng này Việt Nam đứng thứ 15 trên thế giới sau Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản,

Tây Ban Nha, Canada, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, Pháp, Nam Phi, Mêxico, Italia, Anh Trong số hồ đập lớn trên có: 72 hồ đập có dung tích trên 10 triệu m3, 41 hồ đập

có dung tích trên 20 triệu m3

- Trên 2000 trạm bơm lớn và vừa với tổng công suất lắp máy về tưới là 250

MW, tiêu là 300 MW để tiêu úng vụ mùa cho 1,5 triệu ha ruộng và 0,5 triệu ha đất tự nhiên (làng mạc, đường sá, thành thị )

- Trên 5000 cống tưới tiêu lớn và vừa được xây dựng trên các sông lạch, kênh trục cũng như dưới các đê sông, đê biển

2.2.2 Các công trình thủy lợi ở nước ta đã mang lại hiệu quả to lớn,nổi bật

Trang 12

1 Về tưới, tiêu nươc phục vụ sản xuất nông nghiệp

- Góp phần ổn định tăng năng suất sản lượng cây trồng, đặc biệt là cây trồng lúa, tính đến năm 2008, trên phạm vi cả nước, các hệ thống thủy lợi lớn, vừa và nhỏ đã đảm bảo tưới trực tiếp cho hơn 3,45 triệu héc-ta đất nông nghiệp, tiêu úng vụ mùa cho khoảng 1,7 triệu héc-ta, ngăn mặn cho gần một triệu héc-ta, cải tạo 1,6 triệu ha đất chua phèn ở đồng bằng sông Cửu Long Góp phần đưa sản lượng lương thực đạt 36 triệu tấn

Các công trình thuỷ lợi còn tưới trên 1 triệu ha rau màu, cây công nghiệp và cây

ăn quả Nhờ các biện pháp thuỷ lợi và các biện pháp nông nghiệp khác trong vòng 10 năm qua sản lượng lương thực tăng bình quân 1,1 triệu tấn/năm Đưa Việt Nam từ chỗ

thiếu lương thực đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới với mức 4

triệu tấn/năm

2 CTTL Góp phần phát triển du lịch sinh thái

Các CTTL, nhất là các hồ chứa nước đã được tận dụng để phát triển du lịch (như các hồ Núi Cốc, Tuyền Lâm, Cửa Đạt, Kẻ Gõ, Đồng Mô, Suối Hai, Đại Lải, Xạ Hương, Làng Hà, Đầm Vạc, Lạc Ý ), một số sân đánh gôn, các nhà nghỉ cũng được xây dựng quanh các hồ thuỷ lợi Đại Lải, Xạ Hương, Đồng Mô Một số khu cụm công trình đầu mối nhủ đập dâng Liễn Sơn, Cống Liên Mạc, Đập Đáy, đập Thác Huống, Bái Thượng, Thạch Nham, Đồng Cam, Tường kè sông Đáy ở thành phố Phủ Lý cũng được kết hợp thành điểm thuỷ lợi - giao thông - du lịch

Các công trình thuỷ lợi còn cấp, thoát nước cho các làng nghề du lịch (một phần làng nghề gốm sứ Bát Tràng, làng nghề đúc đồng ý Yên Nam Định, làng nghề Đông Hồ ở Bắc Ninh, cho du lịch ẩm thực, du lịch văn hoá (cấp, thoát nước cho chế biến thức ăn đặc sản, cho các khu vực chùa chiền, khu di tích văn hoá như khu vực Đền vua Hùng, thành

Cổ Loa, Chùa Tây Phương, Chùa Trầm, làng Phù Đổng, Bà chúa Kho, khu di tích Phố Hiến, Hàm Tử, Bãi Sậy )

3 Công trình thuỷ lợi phục vụ phát triển công nghiệp, thủy điện và dịch vụ

Vùng ĐBSH có nhiều tiềm năng, điều kiện phát triển công nghiệp nên đã phát triển trở thành vùng công nghiệp chủ yếu của đất nước với các khu công nghiệp quy

mô tại Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên với các ngành sản xuất đa dạng và phong phú như:

Các công trình thuỷ lợi (CTTL) đã trực tiếp hoặc gián tiếp cung cấp nước cho phát triển công nghiệp, tiểu công nghiệp, các làng nghề như: kênh mương thuỷ lợi cung cấp một phần nước sản xuất cho các xí nghiệp, cung cấp nước cho công nhân sinh hoạt (trực tiếp hay gián tiếp làm tăng nước ngầm trong các giếng), phần lớn các làng nghề ở nông thôn đều nhờ hệ thống thuỷ lợi cấp và thoát nước Các làng nghề, khu công nghiệp nhỏ tại các tỉnh Phú thọ, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Phòng Cũng được hệ thống thuỷ lợi cấp, thoát nước toàn bộ hoặc một phần (trực tiếp hay gián tiếp)

Nhiều công trình hồ chứa thuỷ lợi đã kết hợp cấp nước cho thuỷ điện như các hồ: Cúa Đạt, Núi Cốc, Cấm Sơn, Khuôn Thần, Tà Keo, Yazun hạ,

4 Công trình thuỷ lợi phục vụ phát triển sản xuất muối

Các hệ thống thuỷ lợi đã đòng vai trò rất quan trọng cho việc sản xuất muối:

Như kênh mương dẫn lấy nước biển vào các cánh đồng sản xuất muối Hệ thống đê và kênh mương thuỷ lợi đã phóng nước ngọt, ngăn ngừa nước lũ tràn vào đồng muối phá hoại các công trình nội đồng, còn tiêu thoát nước mưa và nhanh chóng tháo tách nước

ót ra khỏi đồng muối

Trang 13

Thực tế đã chứng minh công tác cải tạo lại các hệ thống thuỷ lợi đồng muối là điều kiện để tăng năng xuất, sản lượng muối

5 Các CTTL còn cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho phần lớn nhân dân nông

thôn nhất là trong mùa khô Với 80% dân số sống ở nông thôn, hầu hết các hệ thống thuỷ lợi đều tạo nguồn nước sinh hoạt cho dân cư bằng cách hoặc trực tiếp lấy nước từ các hồ chứa, kênh mương hoặc gián tiếp như nâng cao mực nước ngầm ở các giếng đào, những nơi đảm bảo nguồn nước sinh hoạt vững chắc là những nơi có kênh mương thuỷ lợi đi qua

Hiện nay ở nông thôn trên 70% số hộ đã được cấp nước hợp vệ sinh Đối với các đô thị, khu công nghiệp các HTTL, đã tham gia tạo nguồn cấp nước và tiêu thoát nước vòng ngoài cho nhiều đô thị, khu công nghiệp lớn có hiệu quả rõ rệt

6 CTTL Kết hợp cấp, thoát nước cho nuôi trồng thủy sản và cho chăn nuôi

Các công trình Thủy lợi đã phục vụ tích cực, có hiệu quả cấp thoát nước cho nuôi trồng thuỷ sản, đảm bảo nguồn nước cho nuôi trồng thủy sản nội địa và tạo điều kiện mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản vùng nước ngọt, nước lợ lên lớn hơn

650.000 héc-ta Các công trình thuỷ lợi còn tiêu thoát nước từ các khu nuôi trồng thủy

sản ra hệ thống tiêu hoặc dùng nước thải thủy sản để tưới ruộng

Hầu hết các hồ chứa đều được kết hợp nuôi trồng thủy sản ở mức độ khác nhau

Hệ thống kênh mương còn cung cấp nước cho nhiều ao nuôi trồng thủy sản, thủy cầm được xây dựng ven gần kênh mương

Hệ thống thủy nông còn là môi trường, là nguồn cung cấp nước và tiêu thoát nước cho ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy cầm, thông qua việc lấy nước trực tiếp từ các hồ chứa, dùng nước kênh mương, từ các giếng nước được kênh mương thủy lợi làm tăng mực nước ngầm Hệ thống thủy lợi còn cấp nước tưới cho các đồng cỏ chăn nuôi, cấp, thoát nước cho các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm…

7 CTTL kết hợp phục vụ phát triển lâm nghiệp, giao thông

Các công trình thuỷ lợi tại các tỉnh Miền núi, Trung du phía Bắc, Tây nguyên

và đông Nam bộ, khu Bốn cũ còn cấp nước, giữ ẩm cho các vườn ươm cây, cho việc trồng rừng nhất là các hồ chứa ở trên vùng cao: dùng làm nước tưới cho cây vườn ươm lâm nghiệp và cung cấp nước bảo vệ rừng như để dập lửa khi xảy ra cháy rừng Hệ thống thuỷ lợi phục vụ phát triển rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn

8 Hệ thống thuỷ lợi phục vụ giao thông

Các bờ kênh mương, nhiều mặt đập dâng, đập hồ chứa, cầu máng được tận dụng kết hợp giao thông đường bộ Giao thông thủy tận dụng kênh mương được phát triển mạnh ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long

9 Các CTTL có vai trò quan trọng phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường

a CTTL phòng chống úng ngập

Cùng với bão lụt, mưa lớn cũng thường gây ra úng ngập nghiêm trọng cho nhiều diện tích đất canh tác và làng mạc ở đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ - những vùng trũng ở đồng bằng Bắc bộ như Nam Định - Hà Nam trước đây khi chưa có 6 trạm bơm lớn Cổ Đam, Cốc Thành, Vĩnh Trị, Hữu Bị, Nhâm Tràng, Như Trác, thì cả vùng này là vùng “chiêm khê, mùa thối” vụ mùa chỉ cấy được 4% diện tích đất canh tác Nhưng sau khi xây dựng được 6 trạm bơm trên đã tiêu cho 8 vạn ha, tưới cho 6,1 vạn ha lúa 2 vụ, là yếu tố quan trọng hàng đầu để cải tạo và phát triển môi trường sinh thái, cải thiện đời sống nhân dân và bộ mặt xã hội của vùng

Trang 14

Ở vàng Đồng bằng sông Cửu Long, các công trình thủy lợi thoát lũ ra biển Tây

đã góp phần tránh lũ sớm cho hàng trăm nghìn ha gieo giống và cho khu vực dân cư khu vực Tứ giác Long Xuyên

Các công trình thủy lợi đặc biệt là hồ chứa ngoài các nhiệm vụ ở trên còn có nhiệm vụ phòng chống lũ cho hạ lưu Điều tiết nước, tích nước trong mùa lũ để bổ sung cho mùa kiệt, chống lại hạn hán đảm bảo đủ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp

CTTL đã tác động tích cực đến môi trường nước, vì công trình thủy lợi điều tiết nước giữa mùa lũ và mùa kiệt, làm tăng lượng dòng chảy kiệt Bổ sung cho nước ngầm, tác dụng này được thể hiện rõ ràng hơn ở những vùng cao Nước từ cá kênh mưong và nước tưới từ ruộng lúa ngấm xuống làm tăng nước ngầm

c Tác dụng đến môi trường đất

Tất cả các CTTL không gây xói mòn đất, giúp cải tạo đất, giúp đất có độ ẩm cần thiết để không bị bạc màu, đá ong hoá, chống cát bay, cát nhảy và thoái hóa đất, còn cải tạo đất, mở rộng diện tích canh tác

d Tác dụng đến tiểu khí hậu khu vực

Các hồ chứa đều có tác động tích cực cải tạo điệu kiện vi khí hậu của một vùng Làm tăng độ ẩm không khí, độ ẩm đất, tạo nên các thảm phủ thực vật chống xói mòn, rửa trôi đất đai Mùa hè không khí mát mẻ, dễ chịu có tiềm năng phát triển du lịch

2.3 Công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu tại miền núi, trung du phía Bắc

2.3.1 Khái quát đặc điểm về tự nhiên các tỉnh Miền núi phía Bắc

Vùng Miền núi, Trung du phía Bắc gồm 15 tỉnh là: Lai Châu, Điện Biên, Sơn

La, Hoà Bình, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Quảng Ninh, Phú Thọ và Bắc Giang Toàn vùng có 11,349 triệu dân

và tổng diện tích 10.045.850 ha, đất nông nghiệp 1.305.050 ha, lâm nghiệp 3.711.060

ha

Miền núi phía Bắc có địa hình cao, độ dốc lớn chênh lệch địa hình lớn lại bị chia cắt bởi sông suối và các dãy núi cao, phân chia làm 3 vùng rõ rệt: Vùng thung lũng nằm ở độ cao 300m ÷ 500m dọc theo sông suối Vùng cao nguyên Mộc Châu, Nà Sản (Sơn La), Đồng Văn (Hà Giang), Chà Na, Chà Cang, Chà Tơi (Lai Châu) có độ cao từ 600m đến 1600m Vùng núi cao có độ cao từ 1600m trở lên

b Khí hậu:

Nhìn chung khí hậu vùng núi phía Bắc rất khắc nghiệt và thay đổi phức tạp, giữa mùa nóng và mùa lạnh, giữa ngày và đêm có sự chênh lệch ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sinh thái và sản xuất nông nghiệp

+ Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất là 160C ở vùng cao 100C ÷

120C, mùa hè tháng nóng trên 260 C, vùng núi cao 200C ÷ 220 C

1000 mm/năm Tháng có lượng bốc hơi lớn nhất là tháng 3: 250 mm/tháng so với 100mm /tháng của Lai Châu, Sơn La vào tháng 2 và tháng 3

thấp nhất 70% ÷ 75%

1200 ÷1600mm, cao nhất 2500 ÷ 3000(mm/năm) Mưa ở Tây Nguyên tăng dần từ

Trang 15

vùng thấp lên vùng cao Các sườn núi có hướng đón gió tăng rõ rệt từ 2600 ÷ 2800 (mm/năm), vùng khuất gió lượng mưa đạt 1200 mm/năm Lượng mưa phân bố không đồng đều trong năm Về mùa mưa tập trung từ 80% ÷ 85% với nhiều trận mưa lớn kéo dài nhiều ngày, mùa khô chỉ còn 15 ÷ 20%

- Nguồn nước ở các sông, hồ chứa lớn đầu nguồn như các.Sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Chảy, sông Gâm, sông Lô, sông Đà, sông Hồng có xu hướng nghiêng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, Nhờ có hệ thống sông ngòi tạo nguồn nước tưới tiêu và thuỷ điện có giá trị song phần lớn các sông ngòi trên có biên độ dao động, về lượng nước mùa khô và mùa mưa rất lớn, nên thường mùa hanh khô hạn hán và mùa mưa lũ lụt

- Nguồn nước ở các khe suối hoặc ở các hồ chứa loại vừa, loại nhỏ trên các khe suối đó

- Nguồn nước được trữ lại ở các ao núi trong vùng

- Ngoài ra, có thể lợi dụng được lượng nước ngầm rỉ ra từ các chân núi, hoặc ở các giếng, các mạch nước

- Nguồn nước phân tán, lại phân bố không đều cả về không gian lẫn thời gian

- Mực nước ở các sông suối về mùa khô cần tưới tự chảy lại thường thấp hơn mặt ruộng Lưu lượng về mùa lũ và mùa kiệt chênh lệch nhau rất lớn Các tỉnh miền núi phía Bắc và miền Trung dao động dòng chảy năm lớn từ 30 l/s km2 đến 60 l/s

km2)

- Do điều kiện địa hình phức tạp nên việc dẫn nước tưới gặp nhiều khó khăn

- Việc tiêu tự chảy ở miền núi có những thuận lợi, nhưng nếu không có quy hoạch công trình tiêu nước một cách hoàn chỉnh sẽ dẫn đến việc xói mòn đất nghiêm trọng

Địa hình miền núi rất phức tạp, chênh lệch về cao độ rất lớn, sông suối, đồi núi cắt vùng núi ra thành từng khu nhỏ độc lập Diện tích canh tác phân tán, đất trồng trọt

đã bị thoái hoá nhiều Tình trạng bạc mầu, chua, lầy thụt khá phổ biến

Các kết quả nghiên cứu cho thấy đất đai vùng đồi núi phía Bắc rất đa dạng và phức tạp thể hiện rõ nhất là quá trình tích luỹ mùn và quá trình Gralit, ngoài ra còn có các quá trình Macgalit và Sialit

2.3.2 Đặc điểm các công trình thuỷ lợi vùng miền núi, trung du phía Bắc

Các hệ thống thủy lợi ở miền núi lại có tầm quan trọng đặc biệt vì nó góp phần quyết định vào việc khai thác tiềm năng và phát triển kinh tế ở miền núi, bảo vệ rừng đầu nguồn, chống xói mòn đất, phòng chống lũ lụt cho hạ lưu

Ngoài ra, các hệ thống thủy lợi vùng đồi núi có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết nạn du canh du cư, phá rừng, đồng thời cũng đóng góp rất lớn trong chiến lược phân bố dân cư trên lãnh thổ của Nhà nước

Đặc điểm hệ thống: Trên cơ sở các đặc điểm địa hình và nguồn nước đã trình bày ở trên, các hệ thống thuỷ lợi vùng đồi núi sẽ có nhữngđặc biệt riêng của nó so với các vùng khác như vùng trung du, vùng đồng bằng, vùng ven biển

1) Hệ thống thủy lợi miền đồi núi hầu hết là hệ thống quy mô nhỏ nhỏ có công trình đầu mối (CTĐM) là hồ chứa, đập dâng hoặc cống lấy nước tự chảy, có nhiều

trạm thủy điện loại vừa, loại nhỏ và trạm thủy luân phụ trách diện tích tưới từ vài chục

Trang 16

hecta đến vài trăm hecta, hầu hết là các công trình tạm, năng lực phục vụ kém, thời gian phục vụ của công trình ngắn, chẳng hạn đến năm 2008:

nhỏ đảm bảo diện tích từ và ha đến hai, ba, bốn chục ha

- Toàn tỉnh Lạng Sơn có 235 hồ chứa có diện tích tưới nhỏ hơn 50 ha

CTTL tưới < 20ha có 376 công trình.Các công trình tạm: tưới được 2918ha…

2) Vì địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh, diện tích canh tác phân tán không tập trung (rất ít vùng có diện tích tập trung từ 300 đến 500) dẫn tới hệ thống thủy lợi ở

miền đồi núi thường nhỏ, phân tán, xa khu dân cư vì vậy công tác quản lý, bảo dưỡng

gặp nhiều khó khăn, tốn kém

3) Các hệ thống thuỷ lợi được xây dựng ở các tỉnh miền núi còn rất ít so với yêu

cầu của sản xuất Hầu hết mới chỉ phục vụ tưới tiêu cho lúa và một ít cho cây trồng

cạn và hoa màu Tưới cho cây ăn quả, cây công nghiệp chưa được đề cập Năng lực

suất thiết kế của các công trình thuỷ lợi

4) Đất canh tác phần lớn là ruộng bậc thang nên hệ thông kênh tưới phải đi ven

đồi và địa hình phức tạp, khu tưới nhỏ lại phân tán làm cho việc đầu tư xây dựng tốn

kém do suất đầu tư cao (chi phí gấp 2 ÷ 3 lần ở đồng bằng) nên công tác thuỷ lợi phát triển chậm Trong hệ thống có nhiều vùng cao cục bộ chưa được giải quyết tưới, diện tích bị hạn xen kẽ trong các hệ thống còn lớn

5) Việc đầu tư những công trình hồ chứa thủy lợi có quy mô lớn gặp nhiều khó khăn và hiệu quả kém Đặc biệt ở những vùng địa hình phức tạp, khu tưới nhỏ lẻ, độ dốc sông suối lớn không thích hợp với việc xây dựng các công trình lớn

hiệu quả sử dụng CTTL, mặt khác kênh mương thường chạy men theo sườn núi, xa nơi

dân cư không được bảo vệ, sửa chữa thường xuyên nên lòng kênh bị đất đá bồi lấp,

mái kênh bị sạt lở do lũ quét từ trên sườn dốc vì vậy năng lực phục vụ của hệ thống

kênh rất thấp

7) Hệ thống thủy lợi hồ chứa, đập dâng ngoài nhiệm vụ cấp nước tưới, phòng chống lũ còn phải phục vụ nhiều mục đích khác nhau, cấp nước sinh hoạt, cấp nước cho trạm thủy điện, cho thủy điện nhỏ gia đình hoặc cối giã gạo Vì vậy kênh mương

bị xẻ bờ lấy nước một cách tự phát, không theo qui hoạch Do vậy Năng lực công trình

đầu mối và hệ thống kênh mương thường bị nhỏ so với yêu cầu cấp nước hiện tại

8) Hầu hết các hệ thống thủy lợi ở miền đồi núi chỉ giải quyết vấn đề cấp nước

cho tưới cây trồng là chủ yếu vì vậy chưa có hệ thống tiêu thoát nước hoàn chỉnh,

chưa có những công trình ngăn lũ để bảo vệ kênh mương và công trình trên hệ thống 9) Chưa có qui hoạch hợp lý và thực hiện các giải pháp phòng chống lũ lụt, lũ quét, hệ thống chống xói mòn, rửa trôi đất để bảo vệ CTTL hồ chứa và vùng hưởng lợi Gây ra lượng bùn cát bồi lắg lòng hồ lớn trên tỷ lệ cho phép làm giảm dung tích nước sử dụng hữu ích

10) Hệ thống còn thiếu nhiều các công trình bảo đảm an toàn như công trình

tràn sự cố hồ chứa nước đường tràn bên của kênh, công trình chống bồi lấp và xói mòn trên kênh…

11) Hầu hết các công trình thủy nông đều đã đạt được xây dựng trên 20 năm, chưa có điều kiện tu bổ nâng cấp do thiếu vốn, các hạng mục sửa chữa chắp vá và chịu

Trang 17

tác động mạnh của thiên nhiên và con người nên xuống cấp rất nhanh, năng lực giảm

sút, thường chỉ đạt từ 50 ÷ 70% năng lực thiết kế

12) Các công trình tạm rất phổ biến ở miền núi, với số lượng lớn, chủ yếu Ngoài các công trình kiên cố được ngành thủy lợi đầu tư xây dựng, nhân dân tự làm các công trình tạm để tận dụng nguồn nước tưới theo thời vụ Quy mô các công trình thường nhỏ tới từ 0,5 ÷ 10 ha Công trình chủ yếu sử dụng vật liệu tại chỗ để làm tạm như: phai đập, mương dẫn nước từ các khe mạch, guồng cọn,

khoảng 5.318 ha lúa, màu vụ xuân và 12.314 ha vụ mùa

- Tỉnh Cao bằng có 1.038 công trình Phai đập tạm

- Tuyên Quang có 2.221 công trình thủy lợi có diện tích tưới từ 1 ha trở lên

Trong đó số công trình bán kiên cố và kiên cố 1.247 chiếm 56%, còn lại là công trình tạm thời (đã xếp, phai, gỗ tre) 974 công trình chiếm 44%

- Tỉnh Bắc Kạn có 1.440 công trình phai, đập dâng, kênh mương tưới thực tế vụ

chiêm 9.471 ha đạt 84,4% và vụ mùa tưới 11.156 ha đạt 90,1% so với thiết kế

- Tỉnh Sơn La vẫn còn 80% là công trình tạm, đang xuống cấp nghiêm trọng, lũ

lụt hàng năm tàn phá rất nặng nề

13) Về nguồn nước: Trừ một số khu vực nằm ven các sông, suối có nguồn nước

tưới bảo đảm, còn đa phần là khó khăn về nguồn nước phải phụ thuộc vào nước trời Nguồn nước của các hệ thống thủy lợi có thể là nguồn nước của hồ chứa loại nhỏ, của các khe suối được đưa lên cao bằng máy bơm tuốc bin, máy bơm nhỏ, nguồn nước lấy

từ các phai đập ngăn suối, hoặc là nguồn nước ngầm rỉ ra từ các chân núi

14) Ở vùng núi, thường dùng hệ thống thuỷ lợi liên hoàn, bằng cách đào kênh mương nối liền tất cả các nguồn nước lớn nhỏ trong vùng núi lại để điều tiết bổ sung

hỗ trợ cho nhau

2.3.3 Hiệu quả công trình thủy lợi các tỉnh vùng miền núi, Trung du phía Bắc

đang thực hiện được nhiệm vụ chủ yếu là tưới, tiêu nước cho cây trồng, còn kết hợp phục vụ đa mục tiêu để cấp nước, thoát nước cho các ngành chăn nuôi, sinh hoạt, công nghiệp, nuôi trồng thủy sản, du lịch, lâm nghiệp và phát điện như:

1 Công trình thuỷ lợi phục vụ phát triển trồng trọt

Hệ thống công trình thủy lợi có tác động rất lớn, thực hiện được vai trò biện

pháp hàng đầu phát triển ngành trồng trọt, nhờ có công trình thuỷ lợi đã làm tăng đáng

kể năng suất, tăng vụ, góp phần phát triển đa dạng hóa sản xuất và tăng sản lượng cây trồng, vật nuôi Nhìn chung nhờ các công trình thủy lợi mà hệ số quay vòng ruộng đất nâng từ 2 lên 2,5 lần, năng suất lúa được tăng lên: Vụ chiêm xuân đạt 5,03 ÷ 6 tấn/ha, vụ mùa đạt 4 ÷ 5 tấn/ha và ngô đông đạt 5 ÷ 6 tấn/ha, khoai tây 11 ÷ 14 tấn/ha, đậu tương từ 5,4 ÷ 13 tạ/ha, chè tăng từ 29 ÷ 41 tạ/ha

Bắc Kạn là tỉnh miền núi rất nghèo nhất miền Bắc, nhưng nhờ có các công trình thủy

lợi nên diện tích tưới được mở rộng, đạt tưới chắc 85% đất canh tác canh tác được hai vụ lúa, sản lượng lúa tăng từ 5 tấn lên 8 tấn/ha/năm

Yên Bái là tỉnh miền núi khó khăn, do có CTTL được đảm bảo nước tưới chắc

cho gần 80% đất canh tác nên trồng cấy được cả 2 vụ ổn định, các cây trồng đều tăng

cả về diện tích, năng suất sản lượng (NX lúa tăng từ 6 lên 9 tấn/ha/năm, NX ngô vụ đông tăng 70 %)

Trang 18

Tỉnh Phú Thọ gần 82% đất canh tác được tưới nhờ có hệ thống công trình thuỷ

lợi, làm tăng hệ số quay vòng đất từ 1,6 lên 2,1 lần, NX lúa Vụ chiêm xuân tăng lên 5,03 tấn/ha, vụ mùa đạt 4,48 tấn/ha và NX ngô đông đạt 3,41tấn/ha

Tỉnh Vĩnh Phúc 80% đất canh tác được tưới nhờ CTTL đảm bảo gieo trồng cả

năm 3 vụ, NX lúa vụ chiêm gần 5.5 tấn/ha, lúa vụ mùa 4.5 tấn/ha, vụ đông 3.5t/ha, cây

vụ đông 2.8 t/ha

0.85 tấn/ha (tăng 60%), NX rau các loại 11tấn/ha (tăng 75%)

Tinh Lào Cai tưới chắc 86,2% DTCT, NX lúa đông xuân là 4.5 tấn/ha (tăng

50%), NX lúa mùa là 3.8 tấn/ha (tăng 60%) NX ngô là 2.6 (tăng 40%)

Điện Biên, nhờ có hệ thống CTTL Nậm Rốm mà cả cánh đồng Mường Thanh

trước đây chỉ trồng cấy được 1.500 ha lúa mùa đến nay diện tích lúa, màu 2 vụ tăng lên 3.734 ha

Tỉnh Lạng Sơn: Nhờ có tưới nước mà năng xuất cây trồng tăng cao: Lúa Xuân

5.5-6.0 t/ha,lúa mùa 4.5 T/ha, Ngô 5.0- 6.0 T/ha, Khoai tây 11- 14 t/ha

Tỉnh Tuyên Quang: Trong những năm gần đây, các công trình thủy lợi trong

tỉnh đã dần dần đảm bảo tưới chắc cho các diện tích yêu cầu, trong 5 năm từ 2002 ÷

2006 tỷ lệ tưới chắc chỉ là 60,4% đã nâng lên 75,5% và dự kiến sang năm 2008 sẽ là 78,2%

Tỉnh Quảng Ninh Trước đây chỉ có 1 vụ sản lượng bấp bênh, hiện nay ngoài 2

vụ lúa chính còn thêm vụ màu Tổng sản lương thực quy ra thóc và bình quân đầu người ngày càng tăng, từ 188.976 năm 2000 lên hơn 230.619 năm 2008, Thủy lợi đã tạo điều kiện nâng hệ số quay vòng đất từ 1,5 lên gần 3 lần

Tuy nhiên hiệu quả cấp nước tưới tiêu nước chưa cao, còn thấp hơn nhiệm vụ – năng lực thiết kế đặt ra như ở tỉnh Lào Cai, vụ mùa đảm bảo từ 70 - 73% diện tích, vụ

Đông – Xuân 80 - 85% so với năng lực thiết kế; tỉnh Hà Giang, tổng diện tích lúa được tưới cả năm đạt 69,1%; tỉnh Tuyên Quang diện tích CTTL đảm bảo tưới 75% DTTK; tại Vĩnh Phúc đạt 80 - 85%; Lạng Sơn đạt 75%; Cao Bằng đạt 70%; Bắc Giang đạt 70% và Thái Nguyên đạt 65 - 70% DTTK Trung bình toàn vùng các CTTL mới đảm bảo 70% - 75% năng lực thiết kế theo nhiệm vụ

Hệ thống thủy nông còn là môi trường, là nguồn cung cấp nước và tiêu thoát nước cho ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy cầm, thông qua việc lấy nước trực

tiếp từ các hồ chứa, dùng nước kênh mương, từ các giếng nước được kênh mương thủy lợi làm tăng mực nước ngầm Hệ thống thủy lợi còn cấp nước tưới cho các đồng cỏ chăn nuôi, cho các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm,…

Tỉnh Tuyên Quang: Hệ thống thủy lợi cấp nước cho trại chăn nuôi Bò Phú Lâm

với quy mô trên 3.000 con, cho trại Bò Hoàng Khai, (khoảng 300 ÷ 400 con)

Hệ thống kênh mương còn là nơi cho trâu, bò ra uống nước và tắm rửa trực tiếp,

do vậy một số hệ thổng thuỷ lợi ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Lạng Sơn còn được xây dựng bến xuống tắm cho gia súc

Với gia cầm được chăn nuôi chủ yếu ở quy mô nhỏ, hộ gia đình, hầu như tận dụng

nước mặt từ kênh mương chẩy vào các ao, đầm (được đào mới hay có sẵn), hoặc nước từ

hệ thống kênh mương làm tăng mực nước ngầm để rồi được lấy phục vụ chăn nươi

Lợi dụng mặt nước kênh mương để chăn thả vịt,ngan, ngỗng hay tháo nước từ

kênh mương vào các ao chăn nuôi thủy cầm

Trang 19

Nước từ các hệ thống thủy lợi còn được dùng để tưới cho các đồng cỏ, cây thức ăn

chăn nuôi như ở đồng cỏ lớn của Công ty nuôi bò Phú Lâm, Tuyên Quang, của công ty nuôi bò Mộc Châu, Sơn La, trại nuôi dê ở cạnh kênh chính hồ núi cốc Thái Nguyên

Tại Yên Bái, HTTL đập dâng19 tháng 5, Nghĩa lộ đã cấp nước cho chăn nuôi

Đàn trâu là 2527 con, đàn bò là 393 con, đàn lợn của thị xã là 13.337 Cấp nước cho gia cầm (gà, ngan, vịt, ngỗng, ) trên 30.000 con Số lượng ao chăn thả thủy cầm được lấy nước từ kênh mương trên 100 ao

Tại các nơi chăn nuôi vấn đề nước thải chưa được quan tâm, nên ảnh hưởng

nghiêm trọng đến môi trường của gia súc và con người Nước thải từ các khu chăn nuôi

thường được đổ trực tiếp ra ao, đầm hoặc hệ thống kênh mương

Hình 2.1 Trại Bò Phú Lâm –Tuyên

Quang được CTTL cấp nước Hình 2.2 Trại Vịt gia đình trên hệ thống Ngòi Là – Tuyên Quang

3 Công trình thủy lợi phục vụ cho ngành nuôi trồng thuỷ sản

Nhìn chung các hệ thống công trình thuỷ lợi đã và đang tham gia tích cực vào cấp

và thoát nước cho nuôi trồng thuỷ sản: Các Hệ thống thuỷ lợi hồ chứa đã cấp nước cho các ao, hồ trại thuỷ sản của vùng đồng thời diện tích mặt hồ còn trực tiếp dùng để nuôi cá, nguồn nước từ hồ được người dân lấy vào các ao thông qua các kênh dẫn để nuôi trồng thuỷ sản, hầu hết các loại hồ chứa nước trong các tỉnh không những được sử

dụng trực tiếp nuôi trồng thủy sản mà còn trực tiếp cấp nước cho các ao, hồ, các vùng trũng của người dân để nuôi trồng thủy sản, Các công trình thuỷ lợi có đầu mối là các đập dâng, trạm bơm đều qua hệ thống kênh mương còn trực tiếp cấp nước cho các ao

hồ, các vùng trũng để nuôi thủy sản

Nhiều nơi tận dụng các chân ruộng thấp được cấp nước từ kênh mương thuỷ lợi để chuyển sang nuôi cá

b) Tình hình thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh:

Tỉnh Bắc Giang: có khoảng 70 hồ chứa có mặt nước lớn với tổng diện tích

4.973ha, hiện nay có 3.614ha đã được đưa vào thả cá Hồ Cấm Sơn Bắc Giang thực hiện nuôi cá ngay tại mặt hồ đạt sản lượng 400-500 (tấn/năm)

Các hệ thông thủy lợi còn cung cấp nước cho ruộng trũng một vụ chuyển sang nuôi thuỷ sản là 1.503, ha Quy hoạch nuôi cá ruộng trũng được cấp nước từ các CTTL của tỉnh trên 5.000ha

Tỉnh Lạng Sơn có khoảng 251 hồ chứa với tổng diện tích mặt nước 1200 ha,

hiện nay hầu hết các hồ chứa này đều được đưa vào thả cá

Tỉnh Thái Nguyên: Hồ Núi Cốc có khoảng 330,6 ha diện tích nuôi trồng thuỷ

sản với sản lượng 800 (tấn/năm)

Tỉnh Tuyên Quang: Toàn tỉnh có 2.050 ha mặt nước hồ, ao để nuôi thả cá Tổng

số 472 hồ chứa và các ao gia đình khoảng 934 ha chủ yếu lấy nước từ kênh mương

Trang 20

thủy lợi Hệ thống hồ Ngòi Là có diện tích mặt nước trên 50 ha đã được nuôi trồng thuỷ sản, hệ thống kênh mương của hồ Ngòi Là còn cung cấp nước vào gần 200 ao, hồ gia đình được đào cạnh kênh mương để lấy nước, năng suất bình quân đạt 5tấn/ha

Tỉnh Vĩnh Phúc: Đang hoàn thành dự án quy hoạch thủy lợi gần 6.000ha vùng

ruộng lúa trũng kết hợp nuôi trồng thuỷ sản Hệ thống Liễn Sơn cung cấp nước cho trại thủy sản của tỉnh và nhiều ao, hồ nhỏ nằm rải rác trên hệ thống

Hồ chứa Xạ Hương cung cấp nước cho liên doanh nuôi cá Trình để xuất khẩu

Hồ Đầm Bài - huyện Kỳ Sơn tỉnh Hòa Bình: có khoảng 50 ao dọc trên kênh tưới lấy nước để nuôi cá .Tại các tỉnh nêu trên các kênh mương thủy lợi còn làm nhiệm vụ tiêu thoát nước cho các khu nuôi trồng thủy sản, hoặc dùng nước thải từ thủy sản, từ chăn nuôi để tiếp tục tưới ruộng

Nền công nghiệp của các tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc đang trong thời kỳ đầu phát triển do đó vai trò của công trình thuỷ lợi đến cấp, thoát nước cho công nghiệp chưa mạnh, chỉ ở một số tỉnh có ngành công nghiệp phát triển hơn như Thái nguyên, Bắc Giang, Lào Cai… đã được CTTL cung cấp nước cho một số xí nghiệp, nhà máy còn lại chủ yếu cấp nước cho các dịch vụ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp nhỏ

lẻ như sản xuất gạch ngói và vật liệu xây dựng, chế biến thức ăn gia súc Bên cạnh

đó các hệ thống thuỷ lợi còn phục vụ cho việc tiêu thoát nước cho các nhà máy, xí nghiệp và cơ sở hạ tầng của địa phương

Tỉnh Lạng Sơn: Hệ thống thuỷ lợi hồ Tà Keo - Nà Cáy, huyện Lộc Bình đã cấp

cho khu mỏ than Na Dương, khoảng 300.000m3/năm, hồ Bò Luồng cấp 100.000m3nước cho nhà máy xi măng

Tỉnh Phú Thọ: Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao mỗi năm lấy từ 5 đến 6 triệu

m3 nước từ trạm bơm Diên Hồng, Trạm Việt Trì: Cấp 1.392.000 m3 nước cho các nhu cầu công nghiệp

Tỉnh Vĩnh Phúc: Có hồ Xạ Hương ở Tam Đảo cấp nước cho nhà máy quốc phòng

Z195, từ 3 ÷ 4 triệu (m3/ năm)

Tại tỉnh Thái Nguyên: Hồ chứa Núi cốc cung cấp nước cho Khu Gang Thép với

lưu lượng 6 m3/s, cho nhà máy Cán thép Gia Sàng 0,7 (m3/s), cơ khí Phổ Yên, Gò Đầm với lưu lượng 0,4 m3/s, cấp nước sinh hoạt cho một phần TP Thái Nguyên với lưu lượng 0,1 m3/s

Tại Bắc Giang: thuỷ lợi cung cấp nước cho một phần của nhà máy phân đạm,

Hà Bắc là 36.974 triệu m3/năm với tần suất bảo đảm 95% Cấp nước cho nhà máy Parium: 109.500m3/năm Cấp cho xí nghiệp gạch Tân Xuyên: 200.000m3/năm

Trang 21

Hình 2.3 Khu nuôi trồng thủy sản tại

Vĩnh Phúc được HTTL cấp nước

Hình 2.4 Trại giống thủy sản Lào Cai lấy

nước từ kênh mương thuỷ lợi

Hình 2.5 Trại giống thuỷ sản lấy nước

từ kênh đập dâng 19/5 Yên Bái Hình 2.6 Hồ Tà Keo - Lạng Sơn phục vụ cho phát triển thuỷ sản

5 Công trình thuỷ lợi phục vụ phát triển du lịch

Tại các tỉnh trên thuộc miền núi dân cư thưa thớt, kinh tế – xã hội chưa phát

triển, giao thông chưa phát triển, lại do phần lớn các hệ thống CTTL còn nhỏ, lẻ lại phân tán và nằm xa khu dân cư tập trung nên các ngành như du lịch, dịch vụ chưa có điều kiện phát triển Các công trình thuỷ lợi có nhiều tiềm năng nên ngày càng được tận sử dụng nhiều cho phát triển du lịch, rất nhiều hồ chứa nước đã được lợi dụng làm khu du lịch sinh thái như các hồ Núi Cốc–Thái Nguyên, hồ Thác Bà-Yên Bái, hồ Đại Lải - Vĩnh Phúc, Khuôn Thần và Cấm Sơn - Bắc Giang, Tà Keo – Lạng Sơn, Lửa Việt – Phú Thọ một số đập dâng cũng được sử dụng cho du lịch như Thác Huống – Thái Nguyên, Cầu Sơn - Bắc Giang, Liễn Sơn – Vĩnh Phúc, đập dâng 19 tháng 5 - Nghĩa

Lộ

Tỉnh Thái Nguyên: Điểm du lịch hấp dẫn nhất và nổi tiếng nhất khu vực là hồ

Núi Cốc, các hồ chứa khác như hồ Bảo Linh, hồ Suối Lạnh, hồ Gò Miếu…có nhiều tiềm năng phát triển du lịch

Tỉnh Vinh Phúc: hồ Đại Lải đã là nơi du lịch nổi tiếng từ nhiều chục năm qua, đã

xây dựng thêm sân đánh gôn, và khu nghỉ dưỡng

Tỉnh Bắc Giang: các hệ thống hồ chứa lớn nhỏ như hồ Cấm Sơn kết hợp du

lịch, thủy sản, hồ Khuôn Thần, hồ Đá Mài, hồ Đồng Cốc, cụm đầu mối đập Cầu Sơn, đập Thác Huống có tiềm năng du lịch sinh thái

Tỉnh Quảng Ninh: Cụm di tích Hồ Yên Lập - chùa Lôi Âm đã được Bộ Văn hoá

Thông tin cấp bằng công nhận là di tích thắng cảnh, hồ Yên Lập trở thành điểm du lịch phong phú, hấp dẫn cho du khách

Trang 22

Hình 2.7 Hồ chứa Khuôn Thần, Bắc

Giang kết hợp với du lịch sinh thái Hình 2.8 Lòng hồ Quang Minh, Hà Giang kết hợp du lịch sinh thái

Hình 2.9 Hồ Núi Cốc – Thái Nguyên Hình 2.10 Hồ Ngọc – Hoà Bình

Hình 2.11 Sân Golf và hồ Xạ Hương – Vĩnh Phúc

6 Công trình thuỷ lợi phục vụ thủy điện của tỉnh Miền núi, trung du phía Bắc

Hệ thống thuỷ lợi phục vụ phát triển ngành thủy điện: Do hệ thống lưới điện

quốc gia đã và đang phát triển mạnh nên toàn bộ người dân tại các thị trấn, thị xã và thị tứ đều được sử dụng lưới điện quốc gia Chỉ có một số nơi mạng lưới điện quốc gia chưa kéo đến được thì người dân các thôn bản mới sử dụng các dốc nước trong kênh

để đặt các trạm thuỷ điện nhỏ Tuy nhiên một số hồ chứa đã kết hợp phát triển thủy điện, như các hồ Thác Bà, Cấm Sơn, Núi Cốc, Khuôn Thần, Khuẩy Lái… Kênh chính của hệ thống đập dâng 19 tháng 5 - Nghĩa Lộ cấp nước cho trạm thủy điện nhỏ với công xuất 84 kw

Tỉnh Lạng Sơn không có công trình thuỷ điện riêng biệt mà ở dạng công trình thuỷ

lợi kết hợp phát điện Tính đến nay toàn tỉnh đã có 21 trạm thuỷ điện nhỏ công suất trạm

từ 5 đến 200 KW Tổng công suất lắp đặt là 672KW

Trang 23

Tỉnh Cao Bằng có trạm thủy điện nhỏ lấy nước từ kênh tại huyện Hòa An Tại Sơn La có 1 trạm thuỷ điện Nà Bó công suất 100KW kết hợp với tưới cho

40ha Ngoài ra, còn khoảng 1300 thiết bị thuỷ điện nhỏ Mini của các gia đình, phần lớn được lắp đặt trên các dốc nước của kênh mương

Các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Yên Bái, Tuyên Quang Tại một số

vùng vẫn sử dụng điện từ các trạm thuỷ điện mini đặt trên các dốc nước ở kênh để phát điện Như tại xã Đạo Đức – Hoà An – Cao Bằng

Hình 2.12 Trạm thuỷ điện lấy nước từ

kênh hệ thống 19/05 - Nghĩa Lộ

Hình 2.13 Thuỷ điện nhỏ lấy nước từ kênh

tại huyện Hoà An – tỉnh Cao Bằng

Hình 2.14 Thủy điện hồ Cấm Sơn - Bắc Giang và Thủy điện hồ Núi Cốc -Thái Nguyên

7 Công trình thuỷ lợi phục vụ cấp nước sinh hoạt tại các tỉnh

Chỉ những khu vực thành phố, thị xã, thị trấn mới có hệ thống cấp nước

sạch,còn lại những vùng cao và vùng khác, người dân vẫn chủ yếu sử dụng nguồn

nước mưa, nước tại các hồ chứa, nước từ kênh mương thủy lợi, từ ruộng lúa ngấm

xuống tầng chứa nước ngầm để được lấy lên từ các giếng cấp nước cho sinh hoạt

Người dân cũng đã sử dụng trực tiếp nguồn nước của hồ phục vụ cho sinh hoạt

và chăn nuôi (Đại đa số dân cư sinh sống xung quanh gần các hồ chứa thuỷ lợi như hồ Núi Cốc, Cấm Sơn, Tà Keo, Nà Cáy, Bắc Sơn, Ngòi là ) Ven kênh mương người dân trong các thôn vẫn ra tắm giặt, lấy nước trực tiếp từ kênh để cho sinh hoạt gia đình

Tại tỉnh Thái Nguyên: Nguồn nước chủ yếu cho nhà máy nước Tích Lương là

từ hồ Núi Cốc, Nhà máy nước thị trấn Uc Sơn (huyện Phú Bình) có nguồn cấp nước là kênh dẫn của hệ thống Thác Huống, cấp nước sinh hoạt cho nhân dân trong huyện

Tại tỉnh Lạng Sơn: Hồ Tà Keo cấp nước sinh hoạt cho khu mỏ than Na Dương Tỉnh Quảng Ninh: Hệ thống Hồ Yên Lập còn kết hợp cấp nước sinh hoạt cho

khoảng 30 vạn dân của Hoành Bồ, hồ cấp gần 5.000 (m3/ngày – đêm) cho nhà máy nước Quảng Yên

Các CTTL ở Sơn La Cấp nước sinh hoạt cho gần 6,3 vạn đồng bào vùng cao,

nước sạch cho 1,8 vạn dân vùng nông thôn

Trang 24

Hình 2.15 Hệ thống thuỷ lợi cấp nước

sinh hoạt cho người dân Hình 2.16 Nước trên kênh 19/5 Nghĩa Lộ – Yên Bái để sinh hoạt 8.Công trình thuỷ lợi phục vụ giao thông

a Giao thông đường bộ

Tình hình chung: Tại các tỉnh miền núi hệ thống kênh mương thường có mặt cắt ngang nhỏ, lại qua địa hình phức tạp, độ dốc lớn nên các bờ kênh mương thường nhỏ chỉ có thể phục vụ giao thông bộ cho các phương tiện vận chuyển nhỏ và thô sơ Việc kết hợp công trình thuỷ lợi để giao thông (như cầu máng, cầu trên đập, ) vẫn được thực hiện nhưng ngành thuỷ lợi không thu được lệ phí

Hình 2.17 Cầu máng kết hợp giao thông Hình 2.18 Bờ kênh kết hợp giao thông

Hình 2.19 Đập dâng 19 tháng 5 -

Yên Bái kết hợp giao thông, cấp nước sinh

hoạt

Do đặc điểm địa hình, thủy thế ở miền núi, kênh mương lại nhỏ, dốc lớn nên giao thông đường thuỷ lợi dụng kênh mương không phát triển, trước đây được tận dụng kênh cấp trên để giao thông thuỷ như hệ thống Sông Cầu, Liễn Sơn nhưng đến

Trang 25

nay giao thông thuỷ trên kênh mương không phát triển và ngày càng được thay thế nhiều bởi giao thông bộ

9 Hệ thống CT thuỷ lợi phục vụ cho việc tiêu thoát nước, phòng chống lũ

Các HTTL có tác dụng lớn trong việc phòng chống thiên tai hạn, úng ngập, lũ bão và cải tạo đất, chống xói mòn,bạc màu,đá ong hóa đất canh tác…

Ngoài việc phục vụ việc tiêu thoát nước cho nông nghiệp còn kết hợp tiêu thoát nước, phòng chống lũ, lụt cho các cơ sở hạ tầng như khu dân cư, đường xá, các khu công nghiệp, dịch vụ

Các công trình thủy lợi đặc biệt là hồ chứa ngoài các nhiệm vụ ở trên còn có nhiệm vụ phòng chống lũ cho hạ lưu Điều tiết nước, tích nước trong mùa lũ để bổ sung cho mùa kiệt, chống lại hạn hán đảm bảo đủ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp

Kênh mương thủy lợi ở miền núi còn kết hợp tiêu thoát nước mưa, lũ

- Tại tỉnh Phú Thọ thì trạm bơm tiêu nông nghiệp Lê Tính còn kết hợp tiêu thoát nước cho thị trấn Lâm Thao

- Tại tỉnh Bắc Giang có trạm bơm tiêu Lò Lợn vừa có nhiệm vụ tiêu nước ruộng vừa tiêu nước cho một phần thành phố Bắc Giang

- Tỉnh Thái Nguyên,lượng nước mặt tiêu thoát từ các khu công nghiệp và đô thị đều tập trung vào các cống tiêu của công trình thuỷ lợi

- Tại tỉnh Lào Cai các công trình thuỷ lợi chủ yếu tiêu nước mặt cho công nghiệp Lào Cai – Cam Đường, khu công nghiệp Nà Toỏng…

10 Công trình thuỷ lợi phục vụ phát triển lâm nghiệp

Các công trình thuỷ lợi tại các tỉnh Miền núi, Trung du phía Bắc nêu trên còn cấp nước, giữ ẩm cho các vườn ươm cây, cho việc trồng rừng nhất là các hồ chứa ở trên vùng cao: dùng làm nước tưới cho cây vườn ươm lâm nghiệp và cung cấp nứơc bảo vệ rừng như để dập lửa khi xảy ra cháy rừng

Hệ thống thuỷ lợi phục vụ phát triển rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn

11 Công trình thủy lợi có tác động tích cực đến môi trường

Nhìn chung các CTTL đã tác động tích cực đến môi trường sinh thái, đặc biệt

là tại các khu vực có tưới hoặc gần các hồ chứa

Các HTTN còn có tác dụng phòng chống thiên tai, lũ lụt như cắt lũ, tiêu thoát nước cho cho các tỉnh vùng đồi núi, trung du phía Bắc

CTTL đã tác động tích cực đến môi trường nước, vì công trình thủy lợi điều tiết nước giữa mùa lũ và mùa kiệt, làm tăng lượng dòng chảy kiệt Bổ sung cho nước ngầm, tác dụng này được thể hiện rõ ràng hơn ở những vùng cao Nước từ cá kênh mưong và nước tưới từ ruộng lúa ngấm xuống làm tăng nước ngầm

Tất cả các CTTL không gây xói mòn đất, giúp cải tạo đất, giúp đất có độ ẩm cần thiết để không bị bạc màu, đá ong hoá, còn cải tạo đất,mở rộng diện tích canh tác

c Tác dụng đến tiểu khí hậu khu vực

Sự bốc thoát hơi nước từ các cánh đồng lúa rộng lớn có tác dụng làm giảm nhiệt

độ nóng bức trong mùa hè và làm tăng nhiệt độ, gây ấm áp vào mùa đông lạnh giá Các hồ chứa đều có tác động tích cực cải tạo điệu kiện vi khí hậu của một vùng Làm tăng độ ẩm không khí, độ ẩm đất, tạo nên các thảm phủ thực vật chống xói mòn, rửa trôi đất đai Mùa hè không khí mát mẻ, dễ chịu có tiềm năng phát triển du lịch

Trang 26

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHƯƠNG 2

Các công trình thuỷ lợi tại các tỉnh vùng Trung du, miền núi phía Bắc đã thực hiện được vai trò biện pháp hàng đầu phát triển nông nghiệp và nông thôn qua việc cấp, thoát nước phục vụ đa mục tiêu, không những thực hiện được nhiệm vụ chủ yếu, ban đầu là tưới, tiêu nước cho cây trồng mà còn kết hợp cấp thoát nước cho các ngành khác như nuôi trồng thuỷ sản, chăn nuôi, cấp nước cho sinh hoát, cho dịch vụ

và du lịch, cho phát triên thuỷ điện và công nghiệp đảm bảo được An ninh lương thực, đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo, ổn định đời sống cho các dân tộc miền núi

Các hệ thống thuỷ lợi ở miền núi lại có tầm quan trọng đặc biệt vì nó góp phần quyết định vào việc khai thác tiềm năng và phát triển kinh tế ở miền núi, bảo vệ rừng đầu nguồn, chống xói mòn đất, phòng chống lũ lụt cho hạ lưu

Có ý nghĩa rất lớn giải quyết nạn du canh du cư, chặt phá rừng, đóng góp rất lớn trong chiến lược phân bố dân cư của Nhà nước, đảm bảo an ninh, quốc phòng

1) Hệ thống công trình thủy lợi có tác động rất lớn, thực hiện được vai trò biện pháp hàng đầu phát triển ngành trồng trọt, nhờ có công trình thuỷ lợi đã làm tăng đáng

kể năng suất, tăng vụ, tăng sản lượng cây trồng

Nhìn chung: nhờ các công trình thủy lợi mà hệ số quay vòng ruộng đất nâng từ

2 lên 2,5 lần, năng suất lúa được tăng lên: Vụ chiêm xuân đạt 5,03÷6 Tấn/ha, vụ mùa đạt 4÷5 tấn/ha và ngô đông đạt 5- 6 tấn/ha, khoai tây 11- 14 tạ/ha đậu tương từ 5,4 tạ/ha đến 13 tạ /ha, chè tăng từ 29 tạ/ha đến 41 tạ/ha

2) Thuỷ lợi phục vụ phát triển chăn nuôi Hệ thống thủy lợi còn là môi trường,

là nguồn cung cấp nước và tiêu thoát nước cho ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ cầm, làm tăng năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm, HTTL còn cung cấp nước

tưới và tiêu thoát nước cho các đồng cỏ chăn nuôi, cây thức ăn gia súc

3) Tuy nhiên hiệu quả cấp nước tưới và tiêu nước chưa đạt yêu cầu do còn thấp

hơn nhiệm vụ – năng lực thiết kế đặt ra như ở tỉnh Lào Cai, vụ mùa đảm bảo từ 70% - 73% diện tích, vụ Đông – Xuân 80%-85% so với năng lực thiết kế; tỉnh Hà Giang, tổng

diện tích Lúa được tưới cả năm đạt 69,1%; tỉnh Tuyên quang diện tích CTTL đảm bảo tưới 75% DTTK; tại Vĩnh Phúc đạt 80-85%; Lạng Sơn đạt 75%; Cao Bằng đạt 70%; Bắc Giang đạt 70% và Thái Nguyên đạt 65-75% DTTK Trung bình toàn vùng các CTTL mới đảm bảo 70% - 75% năng lực thiết kế theo nhiệm vụ ban đầu

4) Thuỷ lợi phục vụ phát triển thuỷ sản Các công trình thuỷ lợi tại các tỉnh

vùng Trung du, miền núi phía Bắc (TDMNPB ) đã và đang phục vụ tích cực, có hiệu quả cấp thoát nước cho nuôi trồng thuỷ sản: hầu hết các hồ chứa nước đều phục vụ trực tiếp để nuôi cá Các kênh mương thuỷ lợi còn dẫn nước vào rất nhiều hồ ao cho

nhân dân nuôi trồng thuỷ sản và tiêu thoát nước cho các ao hồ đó

5) Công trình thuỷ lợi phục vụ phát triển lâm nghiệp Các công trình thuỷ lợi

cung cấp nước, giữ ẩm cho các vườn ươm cây, cho các khu trồng rừng nhất cây rừng gần quanh các hồ, còn cấp nước cho các bể chưa nước để dập lửa khi xảy ra cháy rừng

6) Thuỷ lợi cung cấp, thoát nước cho phát triển công nghiệp Do ngành công

nghiệp ở vùng Trung du miền núi phía Bắc chưa phát triển mạnh nên hạn chế phần nào vai trò của các CTTL, tuy nhiên tại những vùng, tỉnh có điều kiện phát triển công nghiệp thì các CTTL luôn phát huy được tác dụng kết hợp cấp, thoát nược cho các nhà máy, xí nghiệp, tiểu công nhiệp hoạt động Ngoài ra các hệ thổng thủy lợi còn tiêu thoát nước cho nhiều nhà máy, xí nghiệp và cơ sở hạ tầng của các tỉnh

Trang 27

7) Hệ thống thuỷ lợi phục vụ cho phát triển du lịch Các công trình thuỷ lợi nhất

là các hồ chứa có nhiều tiềm năng phát triển ngành du lịch sinh thái nên ngày càng được tận sử dụng nhiêu cho phát triển du lịch, điển hình như: khu du lịch thuộc hệ thống hồ chứa Núi Cốc (Thái Nguyên), hồ Đại Lải, hồ Xạ Hương ở Vĩnh Phúc, khu du

lịch hồ chứa Thác Bà tỉnh Yên Bái

Chỉ có một số vùng cao, vùng sâu, vùng xa khi mạng lưới điện chưa thể kéo đến được thì người dân tại các thôn bản mới sử dụng các dốc nước trong kênh để đặt các trạm, các thiết bị phát thuỷ điện nhỏ

Tỉnh Lạng Sơn đã có 21 trạm thuỷ điện nhỏ ở dạng CTTL kết hợp phát điện Tại hồ Cấm Sơn, hồ Núi Cốc, đập dâng 19 tháng 5…ngay từ đầu đã xây dựng trạm thuỷ điện lợi dụng nước tháo từ hồ chứa và từ kênh chính

9) Công trình thuỷ lợi phục vụ cấp thoát nước cho các nhu cầu sinh hoạt

Hệ thống thuỷ lợi có tác dụng cung cấp nước sinh hoạt một cách gián tiếp bằng cách làm tăng mực nước ngầm trong các giếng khơi của người dân, người dân ở một

số nơi còn lấy trực tiếp nước từ hồ chứa, kênh mương lên để sinh hoạt

Với những hộ dân sống ven các hồ chứa lớn, nhỏ, họ cũng đã sử dụng trực tiếp nguồn nước của hồ phục vụ cho sinh hoạt và chăn nuôi

10) Công trình thuỷ lợi phục vụ giao thông

Các bờ kênh mương các loại, các CTTL như cầu máng, mặt đập, đều được tận dụng kết hợp giao thông đường bộ với quy mô và mức độ khác nhau

11) Công trình thuỷ lợi phục vụ phòng chống thiên tai và bảo vệ môi trường

Hệ thống thuỷ lợi ngoài việc phục vụ việc tiêu thoát nước cho các diện tích nông nghiệp, còn làm nhiệm vụ tiêu thoát nước cho các cơ sở hạ tầng như khu dân cư, đường xá, các khu công nghiệp, tiêu thoát nước lũ và phòng tránh lũ lụt, phòng chống

lũ quét nhất là đối với các tỉnh miền núi như Cao Bằng, Tuyên Quang, Yên Bái, Sơn

La, Lai Châu, Điên Biên,

Các CTTL thực hiện điều hoà phân phối nước, tưới nước là giải pháp cơ bản phòng chống thiên tai hạn hán luôn xẩy ra trên vùng này

Các CTTL có tác dụng khôi phục, cải tạo đất đất thoái hoá (bảo vệ đất chống xói mòn, chống đá ong hoá…) vốn xẩy ra thường xuyên và nghiêm trọng ở vùng đồi núi phía Bắc

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI PHỤC VỤ ĐA MỤC TIÊU CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ,

XÃ HỘI

Ý nghĩa: Phương pháp luận và phương pháp để xác định, tính toán hiệu quả phục vụ đa mục tiêu của các CTTL có tầm quan trọng đặc biệt để đánh giá đầy đủ được hiểu quả phục vụ đa mục tiêu, nhiều mặt của các CTTL, để có cơ sở khoa học cho các giải pháp nâng cao hiệu quả phục vụ của CTTL

3.1 Phương pháp luận và phương pháp đánh giá hiệu quả công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu

Đánh giá hiệu quả là những hoạt động nhằm kiểm tra xem xét sau những giai đoạn nhất định đã đề ra của dự án, hoặc chu kì quản lý, hệ thống thủy lợi có đạt được

Trang 28

những mục tiêu, nhiệm vụ đề ra hay không? Mức độ phù hợp của các mục tiêu đề ra?

Từ đó có những biện pháp cải tiến nâng cấp để phát huy hiệu quả công trình, hoặc đề

xuất ra chỉ tiêu mới Việc đánh giá hiệu quả phải dựa trên các tiêu chuẩn, chỉ tiêu

đánh giá phù hợp với hoạt động của hệ thống thủy lợi

3.1.1 Kinh nghiệm thế giới

Performance ) để đánh giá hiệu quả hoạt động của các hệ thống thủy nông, do có nhiệm vụ chủ yếu cấp nước tưới cây trồng và có kết hợp cấp nước cho một số ngành khác Còn ở Việt Nam, trong nghiên cứu náy dùng cụm từ thuật ngữ Hiệu quả của hệ thống thủy lợi (HTTL)

Đã có nhiều kết quả nghiên cứu về Phương pháp luận và phương pháp đánh giá hiệu quả công trình thủy lợi, trong đó đáng chú ý hơn cả là các công trình của:

- Chương trình đánh giá nước thế giới (WWAP) đã cho ra báo cáo đầu tiên vào năm 2003 về dự kiến các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng nước với sự tham gia của các nước Nam châu Phi đối với 11 chủ đề ưu tiên

- Các nghiên cứu điển hình của Viện quản lý nước quốc tế IWMI về Sử dụng nước đa mục tiêu trên diện tích tưới tại Srilânca và một số nước vùng Đông nam Á

- Chương trình khung đánh giá tổng hợp quản lý nước trong nông nghiệp (CAWMA) do Viện quản lý nước quốc tế IWMI, tổ chức FAO đề xuất

- Của Ủy ban Tưới tiêu quốc tế ICID Của Ủy ban tưới tiêu quốc gia Thái Lan, của Cục thủy nông Thái Lan

- Của tổ chức Liên hợp quốc FAO - Của Mạng lưới châu Á về quản lý nước Wallingford and DFID, Anh quốc Và nhiều kết quả của các nhà nghiên cứu tại các nước Trung Quốc, Malaysia, Philippin, Mexico, Nam Phi, Australia và tại các nước

châu Á, châu Phi, và một số kết quả nghiên cứu tại Việt Nam về đánh giá hiệu quả

họat động của các hệ thống thuỷ lợi

Dưới đây tổng hợp các nhận xét, đề xuất của các công trình NCKH có giá trị, các nhà nghiên cứu đáng chú ý nhiều:

a) Về phương pháp luận đánh giá hiệu quả công trình thủy lợi:

Hiệu quả tưới và biện pháp nâng cao HQT là nội dung rất quan trọng trong quản lý khai thác các công trình thủy lợi (QLKT CTTL)

1 Cần tập trung vào đánh giá chính xác hiệu quả sử dụng nước của tất cả các

hộ dùng nước trong hệ thống thuỷ lợi

2 Cần có sự nỗ lực để xác định được chính xác hiệu quả, giá trị các thể loại sử dụng nước khác nhau (tiêu hao mất nước, không tiêu hao mất nước, đánh giá đầy đủ các loại lợi ích trực tiếp, gián tiếp)

3 Sự tác động qua lại và mâu thuẫn giữa các ngành, các hộ sử dụng nước có tính cạnh tranh sẽ ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả sử dụng nước của trên HTTL

4 Thực tế việc khai thác sử dụng công trình thuỷ lợi đã làm thay đổi quan điểm

về thể chế, tổ chức quản lý tài nguyên nước

5 Do sự phức tạp trong việc đánh giá và quản lý hiệu quả các CTTL phục vụ đa mục tiêu, nên sẽ là một thử thách lớn để phát triển, tìm ra một phương pháp đánh giá phù hợp với đối tượng sử dụng đa dạng và giải quyết quan hệ giữa các hộ dùng nước với nhau

6 Sẽ là rất khó để có thể đo đếm chính xác tổng khối lượng nước đã được sử dụng cho các ngành khác nhau, bởi nhiều cách sử dụng đặc biệt khác nhau, ví dụ việc

Trang 29

tái sử dụng và việc sử dụng nhưng không làm tiêu hao mất nước (thủy điện, giao thông thủy, du lịch trên hồ…) Một khó khăn nữa đó chính là bản thân việc sử dụng nước gây nên, như việc tưới tiêu sai mục đích, sai chế độ thực hiện, tất cả đều có ý nghĩa và gây các tác động khác nhau

7 Sẽ là sự đánh giá sai lêch hiệu quả sử dụng nước khi quy toàn bộ các giá trị gia tăng chỉ do cho tưới, tiêu cây trồng, trong khi CTTL đã cung cấp nước cho nhiều

việc sản xuất khác Hơn nữa, các việc sử dụng nước sai lệch mục đích, sai quy định ở

nơi này, cho đối tượng này có thể được tái sử dụng để sinh lợi cho mục đích khác

8 Phải xem xét tới những giá trị khác của nước: Bên cạnh giá trị về kinh tế của

nước, phải xem xét các giá trị về sử dụng nước phi sản xuất, hiệu quả xã hội (như tạo

được việc làm, nâng cao trình độ nghề nghiệp, nâng cao đời sống tinh thần, tăng cường tính cộng đồng và đoàn kết, bình đẳng, phòng tránh bệnh tật và tăng cường sức

khỏe…) và phải đánh giá hiệu quả môi trường của hệ thống tưới, mặc dù là đặc biệt

khó khăn vì phải theo dõi, khảo sát nhiều năm với khối lượng công tác lớn và nhiều yếu tố khó định lượng cụ thể

9 Để đạt được kết quả mong muốn thì việc đánh giá hiệu quả CTTL nhất thiết phải dựa trên các tài liệu khảo sát, đo đạc thực tế và thu thập của các hộ dùng nước được HTTL phục vụ

10 Phải xem xét, đánh giá từ khâu quy hoạch, thiết kế xây dựng, quản lý vận hành HTTL trước đây và hiện tại để đánh giá được và nêu ra các giải pháp tăng cường hiệu quả phục vụ đa mục tiêu của CTTL

11 Khung chương trình đánh giá hiệu quả HTTL

Theo định nghĩa của Viện quản lý tưới quốc tế IWMI thì: “Hiệu quả tưới

(HQT) của hệ thống tưới là mức độ đạt được của những mục tiêu ban đầu đề ra đối với hệ thống tưới đó”

Đáng chú ý là đề xuất về Bộ khung chương trình đánh giá hiệu quả quản lý

nước nông nghiệp (các hệ thống tưới) Bộ khung này đã nhấn mạnh cần phải chú ý các vấn đề như:

- Xác định rõ lĩnh vực, phạm vi đánh giá

- Quan điểm đánh giá phải nhất quán

- Thực hiện đánh giá bởi các đơn vị chuyên môn liên quan

- Loại, kiểu đánh giá phù hợp được lựa chọn

- Thiết kế chương trình đánh giá hiệu quả CTTL

Vấn để then chốt được xem xét, xác định ở đây là:

+ Tiêu chuẩn nào được sử dụng?

+ Các chỉ tiêu hiệu quả được sử dụng

+ Tài liệu cần thu thập và nơi thu thập tài liệu

+ Ai thu thập và xử lý tài liệu, như thế nào, ở đâu và khi nào thu thập?

+ Dạng các sản phẩm của kết quả đánh giá

b) Tiêu chuẩn, chu trình đánh giá hiệu quả và mục tiêu của dự án

Định nghĩa sau đây được đề xuất để làm rõ thêm chuẩn hiệu quả, các chỉ tiêu hiệu quả và đinh lượng hiệu quả thực hiện các mục tiêu:

1 Mục tiêu được thực hiện bởi tiêu chuẩn, chẳng hạn với hệ thống tưới thì: (i)

‘Để tạo ra sản lượng nông nghiệp lớn nhất’; (ii) ‘Để bảo đảm tính hợp lý của nguồn nước cho tất cả nông dân’ và (iii) để tối ưu hoá hiệu quả việc phân phối nước’

Trang 30

2 Tiêu chuẩn có thể được định lượng dựa vào các chỉ tiêu hiệu quả

3 Các chỉ tiêu hiệu quả được xác định sẽ định rõ các tài liệu yêu cầu

4 Sau đó tài liệu được thu thập, xử lý và phân tích

5 Sau đó hiệu quả có thể được đánh giá (nếu mục tiêu, tiêu chuẩn, các chỉ tiêu hiệu quả được thiết lập)

6 Trong việc lựa chọn tiêu chuẩn đánh giá, việc xác định TCĐG nào để thực hiện là rất cần thiết

Chu trình đánh giá hiệu quả CTTL được đề xuất như sau:

- Quyết định các mục tiêu là bước khởi đầu của chu trình đánh giá

- Lựa chọn các chỉ tiêu và định ra các tiêu chuẩn đánh giá là tiếp theo các tiêu

chuẩn đánh giá phải bao quát toàn bộ HQ của hệ thống Đó là yếu tố then chốt trong

đánh giá hiệu quả HTTL

- Giám sát hoạt động nhằm kiểm tra xem trong quá trình quản lý, người thực

hiện có làm đúng theo kế hoạch hoặc thiết kế ban đầu hay không để từ đó có biện pháp điều chỉnh, hỗ trợ người quản lý làm đúng theo thiết kế để đạt được mục tiêu đề ra

- Đánh giá HQ phải dựa trên các tiêu chuẩn và mục tiêu đề ra, trên cơ sở đánh

giá đề xuất các biên pháp can thiệp, thay đổi

- Mức độ can thiệp hay thay đổi phụ thuộc vào mục tiêu đề ra và khả năng đạt

được để điều chỉnh kế hoạch quản lý vận hành nhằm mang lại hiệu quả tối ưu

Phần mềm này đã được FAO, ngân hàng thế giới (WB) giới thiệu và ứng dụng

để đánh giá hệ thống thủy lợi ở nhiều nước trên thế giới như Australia, Thái Lan, Malaysia, Indonexia, Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanka… RAP cũng được giới thiệu tại Việt Nam thông qua hai khóa hội thảo - đào tạo tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2002 dưới sự tài trợ của WB

Nội dung của RAP được thiết kế dưới dạng các hệ bảng tính và bảng điều tra đánh giá (Sheet) trong EXCELL

Phương pháp đánh giá nhanh thường sử dụng nhiều số liệu quan trắc và các tài liệu liên quan khác phải có sẵn Tuy nhiên số liệu ở dạng này cần phải đủ để phân tích những chỉ tiêu chính của hệ thống Số liệu yêu cầu cho đánh giá nhanh bao gồm cả số liệu dạng định lượng (numeric) hoặc dạng định tính (perception)

Thực hiện RAP phải xem xét đến rất nhiều yếu tố và tổng hợp thành các chỉ tiêu Phương pháp đánh giá nhanh với trợ giúp của Benchmarking (Rapid Appraisal Process (RAP) and Benchmarking Explanation and Tools) cho phép tính toán, đánh

giá nhanh trong thời gian ngắn

Trang 31

Thủ tục tính toán của RAP đã được xây dựng thành một phần mềm ứng dụng

máy tính Nhưng việc áp dụng phần mềm này yêu cầu trước hết hệ thống thủy lợi phải

được nâng cấp hiện đại hóa từ phần cứng (công trình) cho đến phần mềm (quản lý vận hành hệ thống), có đủ điều kiện, có các thiết bị hiện đại giám sát, đo đạc kết quả hoạt động của HTTL để có được các tài liệu cần thiết cho tính toán

phối hợp với IWM I (Viện Quản lý nước quốc tế) đã đề xuất đánh giá hoạt động của hệ thống thuỷ nông bằng qui trình Benchmarking Mục tiêu tổng quát của Benchmarking

là cải tiến việc tổ chức quản lý các HTTL để đạt được các nhiệm vụ, mục tiêu đã đề ra

ban đầu và cho mục tiêu phát triển tương lai

Benchmarking đã hợp nhất/kết hợp các chi tiêu khác nhau, rất nhiều chỉ tiêu được phát triển bởi RAP Cả RAP lẫn IPTRID Benchmarking đều vẫn được phát triển, nhưng các chỉ tiêu được đề xuất bởi chương trình RAP không phải luôn luôn đồng nhất với chúng ở chương trình Benchmarking IPTRID, do vậy chúng cần được hoàn chỉnh,

bổ sung Hướng tới nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý thuỷ nông, qui trình này được

đề xuất áp dụng cho chương trình quản lý tưới tiêu dài hạn hơn là cho những mục tiêu trước mắt

Mặc dù đã có sự hỗ trợ rất lớn từ khả năng xử lý của máy tính nhưng việc thu thập các số liệu cần thiết vẫn mất rất nhiều thời gian và đòi hỏi phải được thực hiện bởi những người có kinh nghiệm Đối với điều kiện của các công ty KTCTTL ở Việt Nam, để sử dụng Benchmarking có hiệu quả thì ban đầu cần sự hướng dẫn, tư vấn nhiều của các nhà nghiên cứu và người áp dụng phải có trình độ chuyên môn khá

Xác định mục đích,

dữ liệu liên quan, các nhân tố và lập kế hoạch

Trang 32

Hình 3.1 Quy trình đánh giá Benchmarking (ICID 2004)

Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia dựa trên hiểu biết của cộng đồng (bao gồm cả tổ chức quản lý) để xác định những hạn chế của hệ thống thuỷ nông hoặc đề xuất các giải pháp nâng cao dịch vụ tưới tiêu Phương pháp này có ưu điểm là

dễ đạt được sự đồng thuận giữa các bên về tồn tại của hệ thống cũng như giải pháp cải thiện dịch vụ nhưng thiên về xem xét hiện tượng, định tính hơn là chỉ ra bản chất vật

lý và xác định giá trị định lượng của các mối quan hệ trong hệ thống Kết quả của

phương pháp phụ thuộc nhiều vào trình độ, quan điểm và kỹ năng của những người tham gia đánh giá nên các kết quả chỉ có tính chất tương đối để đánh giá sơ bộ, để tham khảo

4 Một số công nghệ chẩn đoán, đánh giá đặc thù khác

Gần đây, công nghệ viễn thám đã được ứng dụng để đánh giá hoạt động của hệ thống thuỷ nông Việc dùng ảnh vệ tinh để theo dõi diễn biến bề mặt hệ thống thuỷ nông cho phép các cơ quan quản lý có được bức tranh toàn cảnh của hệ thống nhưng yêu cầu phải lấy mẫu để thực hiện phân tích dữ liệu và các khảo sát chi tiết bổ sung

Ứng dụng công nghệ viễn thám để đánh giá hoạt động của hệ thống thủy lợi chỉ

phù hợp với các hệ thống lớn được hiện đại hóa Hơn nữa chi phí để có được những bức ảnh vệ tinh (cho kết quả đáp ứng được độ tin cậy) thường rất cao Chính vì vậy, công nghệ này không phổ biến đối với các nước đang phát triển như Việt Nam và nhiều nước khác

b Sử dụng Phần mềm máy tính Để hỗ trợ công tác quản lý tưới tiêu, trên thế giới đã có các phần mềm máy tính chuyên ngành được xây dựng Nhìn chung, các phần mềm đều xử lý tính toán dựa trên các bài toán cơ bản về cân bằng nước, quá trình thuỷ lực, thuỷ văn trên HTTL

Ở Việt Nam, nhóm tác giả tại Viên Khoa học Thủy lợi đã nghiên cứu phát triển

để ứng dụng phần mềm IMSOP của Australia, điều hành hệ thống thuỷ nông và đánh giá hoạt động của hệ thống Tuy nhiên, số lượng các chỉ tiêu được xem xét là rất ít lại chỉ xét hiệu quả cấp nước tưới cây trồng là chủ yếu và thuần tuý ở mặt kỹ thuật nên chưa thể đánh giá được hiệu quả tổng hợp của HTTL

Nghiên cứu thực nghiệm cũng chỉ có thể triển khai giám sát, đánh giá qua một

số chỉ tiêu cụ thể về hiệu quả sử dụng và phân phối nước trên HTTL, hiệu quả tưới, tiêu nước cho cây trồng

Hạn chế lớn nhất của nghiên cứu thực nghiệm là khối lượng công tác lớn, chi phí lớn, công tác theo dõi và xử lý số liệu phải tuân thủ theo nguyên tắc rất chặt chẽ

Hơn nữa, đối với các hệ thống thuỷ nông luôn hoạt động ngoài trời thì dễ xảy ra sai lệch số liệu do bị ảnh hưởng của môi trường bên ngoài

Phương pháp điều tra theo mẫu câu hỏi cũng được ứng dụng để nghiên cứu đánh giá hệ thống thuỷ nông Các số liệu liên quan đến sản xuất nông nghiệp, năng suất, tổ chức xã hội, tranh chấp và giải quyết tranh chấp… có thể thu thập được thông qua các phiếu câu hỏi điều tra, nhưng cũng gặp khó khăn bất cập, vì phải thiết kế được mẫu điều tra phù hợp với từng nhiệm vụ, đối tượng được điều tra, các câu hỏi phải dễ hiểu nhưng có khả năng thu được những thông tin theo yêu cầu, phải huy động và đầo tạo nhiều nhân lực đi điều tra, thông tin điều tra được nhiều khi khó chính xác

Trang 33

Nhận xét:

các hệ thống thủy lợi họ mới tập trung vào hiệu quả tưới, tiêu nước cho cây trồng là chủ yếu

giả hiệu quả công trình thủy lợi (CTTL) đều tập trung vào đánh giá hiệu quả tưới, tiêu nước của hệ thống thủy nông (Performance Assessment in Irrigation and Drainage

Systems) như: Hiệu quả sử dụng, phân phối nước trên toàn hệ thống và kênh mương,

hiệu quả phân phối, cấp nước tại mặt ruộng cho - tưới cây trồng là chủ yếu, hệ số quay vòng đất, hiệu ích tưới, hiệu quả sử dụng nước, hiệu quả kinh tế do cấp nước tưới…)

- Một số ít kết quả nghiên cứu hiệu quả CTTL cấp nước nuôi trồng thủy sản kết hợp tưới nước, số rất ít kết quả nghiên cứu hiệu quả CTTL cấp nước tưới kết hợp cấp nước cho sinh hoạt dân cư, cho chăn nuôi

- Hiệu quả HTTL phục vụ các ngành du lịch và dịch vụ, kết hơp cấp nước sinh hoạt, phục vụ công nghiệp và tiểu công nghiệp, thuỷ điện chỉ được nêu định tính chung chung, còn đánh giá định lượng cụ thể thì hầu như chưa được xem xét tới

- Cũng có số rất ít kết quả nghiên cứu hiệu quả sản xuất tổng hợp của CTTL cấp nước cho các ngành, nhưng lại khá chung chung

- Đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường của HTTL lại cũng còn chung chung, định tính, phần định lượng còn thiếu nhiều

- Nhìn chung, cho đến nay phương pháp luận và phương pháp đánh giá hiệu quả tổng hợp CTTL phục vụ đa mục tiêu còn nhiều khiếm khuyết, chưa hoàn chỉnh, Chưa thấy rõ các kết quả nghiên cứu đánh giá định lượng hiệu quả CTTL cấp nước phục vụ đa mục tiêu cho phát triển từng ngành - hộ dùng nước riêng biệt (thủy sản, du lịch và dịch vụ, cấp nước sinh hoạt, thủy điện, công nghiệp )

3.1.2 Nhận xét về đánh giá hiệu quả các hệ thống thủy lợi ở Việt Nam

a) Tình hình chung

- Cho đến nay, các công ty khai thác CTTL mới đánh giá hiệu quả hệ thống chỉ

ở mức đơn giản là tổng kết tình hình thực hiện tưới, cấp nước và tiêu thoát nước hàng

vụ, năm so với nhiệm vụ thiết kế, năng lực công trình như: Diện tích phục vụ, năng suất và sản lượng cây trồng, hệ số sử dụng nước, hệ số quay vòng đất đó chỉ là các chỉ tiêu thuần túy về phục vụ canh tác cây trồng, trong khi nhiều hệ thống còn phục vụ

đa mục tiêu cấp, thoát nước cho các nhu cầu khác như thủy sản, du lịch, cấp nước sinh hoạt, tiêu thoát nước cho khu dân cư, đô thị, hiệu quả về môi trường, hiệu quả xã hội chưa được tổng kết, đánh giá để thấy rõ, đầy đủ các hiệu quả đa mục tiêu của CTTL

- Nhận thức, hiểu biết về hiệu quả tưới và phương pháp đánh giá hiệu quả CTTL phục vụ tổng hợp đa mục tiêu ở nước ta còn rất hạn chế, phiến diện, lại chưa thống nhất

- Chưa có được một hệ thống các chỉ tiêu hợp lý để đánh giá hiệu quả tổng hợp phục vụ đa mục tiêu của HTTL, do còn ít được quan tâm, quan điểm lại khác nhau về các chỉ tiêu đánh giá, nên thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả và hiệu quả phục vụ đa mục tiêu của HTTL

- Ngay đối với đánh giá hiệu quả tưới, tiêu nước cho cây trồng ở nước ta cũng chưa có phương pháp đánh giá một cách cụ thể, chính xác và thống nhất

Trang 34

Ở nước ta, các kết quả nghiên cứu về chuyên đề “Đánh giá hiệu quả tổng hợp của các hệ thống thủy nông” còn rất hạn chế Đến nay mới có vài kết quả đáng chú ý như:

- Nghiên cứu do PGS.TS Nguyễn Thế Quảng và PGS.TS Đoàn Doãn Tuấn thực hiện (năm 2005) đã đưa ra phương pháp phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ

thống thủy nông dựa trên 29 chỉ số đánh giá có liên quan đến năng suất cây trồng, nước, đất và năng suất lao động, nguồn nước cấp, kinh tế, môi trường, cơ sở hạ tầng và các cấp quản lý thủy nông chính thức và cộng đồng Nhưng vẫn chủ yếu là so sánh hiệu quả hoạt động thực tế với mục tiêu ban đầu đặt ra là hiệu quả tưới, tiêu nước cho các cây trồng

- Kết quả nghiên cứu của GS.TS Hà Lương Thuần và các cộng sự, trong tập báo

cáo hợp phần Các giải pháp nâng cao hiệu quả hệ thống tưới theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá (thuộc chương trình KC – 07, tháng 5- 2006) có nêu những kiến nghị bứớc đầu về các chỉ tiêu đánh giá hệ thống tưới, bao gồm:

+ Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công trình (tỷ lệ công trình họat động theo thiết kế, hiệu suất khai thác công trình đầu mối, hiệu xuất cung cấp nguồn nước tưới, hiệu quả phân phối nước tưới của kênh mương, của hệ thống TL, tỷ lệ tưới tương đối, chỉ tiêu phân phối nước tổng hợp…)

+ Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tưới (HQT) mặt ruộng (chỉ số HQT mặt ruộng, chỉ số lệch cao độ mặt đất, hệ số quay vòng đất)

+ Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường (chỉ số suy thaói tài nguyên, tăng giảm mực nước ngầm)

+ Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế tưới nước (sản lượng cây trồng nhờ tưới, hiệu quả tưới trên đơn vị diện tích, giá trị sản phẩm trên đơn vị nước tưới…)

+ Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội do tưới nước (thu nhập tăng lên do tưới nước, thoả mãn dịch vụ tưới, chỉ tiêu về tổ chức quản lý, sự tham gia của nông dân)

thử nghiệm tính toán buôn bán nước ảo (Virtual water – VW) của TS Lương Hữu Dũng, Viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường thực hiện có mục tiêu: Đề xuất phương pháp tính toán buôn bán nước ảo của Việt Nam và tính toán buôn bán nước ảo của xuất nhập khẩu lúa gạo, nông sản chính làm thí dụ

Cơ sở lý luận của nghiên cứu này là:

Gọi “nước ảo” ở đây chính là hàng hóa được trao đổi có hàm chứa nước trong

đó, chứ không phải lượng nước cần thiết cho sản xuất hàng hóa đó

Nếu một quốc gia xuất khẩu một sản phẩm tới một quốc gia khác, thì quốc gia

đó cũng đã xuất khấu nước nhưng dưới dạng ảo Hay ngược lại, quốc gia nhập khẩu đã nhập khẩu một lượng nước “ảo” ẩn chứa trong sản phẩm đó Bằng cách này, các quốc gia đó đã hỗ trợ các quốc gia khác một lượng nước cần thiết Với các quốc gia nghèo tài nguyên nước, có thể đảm bảo an ninh tài nguyên nước bằng cách nhập khẩu các sản phẩm cần nước để sản xuất thay vì tự sản xuất các sản phẩm đó trong nước mình

Đề tài này vẫn đang ở quá trình thực hiện, chưa có công bố nào

công trình thủy nông sử dụng đa mục tiêu bằng phương pháp kế toán nước” do PGS.TS Nguyễn Trọng Hà, Trường Đại học Thủy lợi thực hiện (năm 2008 – 2009) Mục tiều của đề tài: Áp dụng phương pháp kế toán nước trong đánh giá hiệu quả của

Trang 35

hệ thống công trình thủy lợi nói chung và hệ thống thủy nông nói riêng theo quan điểm

sử dụng tổng hợp tài nguyên nước

Nội dung chính nghiên cứu và triển khai thực nghiệm gồm:

1 Đề xuất cách xác định các thành phần kế toán nước cho một hệ thống

2 Đề xuất mối quan hệ trong kế toán nước và tính toán năng suất nước

3 Phân tích sự tiêu hao nước, sử dụng nước và năng suất làm cơ sở đề xuất các giải pháp, phân tích sự tiêu hao nước sử dụng nước

4 Áp dụng thủ phương pháp kế toán cho một hệ thống và phạm vi ứng dụng

Nhận xét: Các đề tài nêu trên đã tập trung chủ yếu vào đánh giá hiệu quả CTTL phục vụ tuới cây trồng, mà chưa nêu được phương pháp luận và phương pháp đánh giá hiệu quả CTTL phục vụ đa mục tiêu cấp nước cho phát triển các ngành - hộ dùng nước khác nhau (thủy sản, du lịch và dịch vụ, cấp nước sinh hoạt, thủy điện, công nghiệp ), hiệu quả kinh tế tổng hợp hiệu quả môi trường và hiệu quả xã hội cũng còn chung chung,và nhiều chỉ tiêu chưa được đề cập tới Do vậy cần thiết phải thiết lập được phương pháp đánh giá hiệu quả CTTL phục vụ đa mục tiêu phù hợp điều kiện Việt Nam và các nước dang phát triển

3.2 Kinh nghiệm thế giới và trong nước về các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu

3.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công trình thủy lợi

Dưới đây tổng hợp phân tích kết quả của một số công trình nghiên cứu điển hình như:

a) Chương trình đánh giá nước thế giới (WWAP)

for Irrigation and Drainage © M.G Bos, M.A Burton and D.J Molden 2005 Irrigation and Drainage 26

(CAWMA) do Viện quản lý nước quốc tế IWMI, vàtổ chức FAO đề xuất

d) Hội thảo vùng Châu Á – Thái Bình Dương về “Đánh giá hiệu quả tưới (HQT) trong phát triển nông nghiệp bền vững” tại Bangkok tháng 5/1994

tổng hợp cung cấp nước từ hệ thống thuỷ lợi

-Tại Việt Nam, đáng chú ý có kết quả Nghiên cứu do PGS.TS Nguyễn Thế Quảng và PGS.TS Đoàn Doãn Tuấn thực hiện (đã được trình bầy ở phần trên)

- Kết quả nghiên cứu của GS.TS Hà Lương Thuần và các cộng sự (đã được

- Các chỉ tiêu phải đầy đủ, thích ứng với từng loại hình công trình, từng vùng

- Mục đích của xác định các chỉ tiêu là đánh giá hiệu quả cấp nước cho tưới và cho các đối tượng sử dụng nước khác từ HTTL, là xác định được mức độ đạt được nhiệm vụ ban đầu, các nguyên nhân làm giảm hiệu quả, để rồi có giải pháp nâng cao các chỉ tiêu thực hiện, nâng cao hiệu quả của HTTL

Trang 36

- Các chỉ tiêu về cân bằng, phân phối nước của hệ thống CTTL

- Hiệu quả tưới mặt ruộng; hiệu ích tưới; hiệu quả sử dụng nước

- Một số chỉ tiêu về hiệu quả môi trường

- Một số chỉ tiêu về hiệu quả xã hội: Lao động; sở hữu ruộng đất; vấn đề giới

trong hoạt động tưới; sự thỏa mãn của nông dân

- Hiệu quả kinh tế tổng hợp của HTTL

- Các chỉ tiêu về tính khẩn cấp (thiên tai lũ lụt, hạn hán…)

Trong quá trình xây dựng và thực hiện các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của

HTTL cần chú ý tới các nhận định sau:

1 Các chỉ tiêu được xây dựng để đánh giá hiệu quả HTTL cần phải được thử

nghiệm trong điều kiện thực tế để từ đó hoàn chỉnh các chỉ tiêu

2 Sự đánh giá cụ thể, định lượng đầy đủ hiệu quả phục vụ môi trường, xã hội

của các HTTL là khó khăn vì thường thiếu các tài liệu khảo sát do gặp nhiều khó khăn

trong khảo sát, thu thập các tài liệu

3 Số lượng chỉ tiêu cần thiết cho một đánh giá phụ thuộc vào điều kiện biên,

vào tài liệu có được , phụ thuộc vào mục tiêu của việc đánh giá Hiệu quả tưới và cấp

nước nên được đánh giá từ các điều kiện hoàn cảnh khác nhau Để giảm thiểu một

cách tối đa chi phí khảo sát đinh lượng số liệu và khối lượng tính toán thì các chỉ tiêu

trong các nhóm trên cần phải được gộp lại thành một chương trình đánh giá

4 Việc có được các số liệu chính xác để tính toán giá trị các chỉ tiêu hiệu quả

đa mục tiêu của HTTL nhìn chung là khó khăn vì: Sẽ là rất khó để đo đếm chính xác

tổng khối lượng nước đã được sử dụng và hiệu quả của nó bởi nhiểu đối tượng sử dụng

với các cách khác nhau lại sinh lợi cũng khác nhau Hơn nữa, việc sử dụng nước sai

mục đích ở nơi này, cho đối tượng này này có thể được tái sử dụng sinh lợi ở đâu đó

5 Thiết lập các chỉ tiêu đánh giá sử dụng nước phi sản xuất là khó khăn do khó

xác định giá trị định lượng “sản phẩm” hiệu quả kinh tế của các dịch vụ cung cấp nước

phi thương mại như tác dụng phòng lũ, làm đẹp cảnh quan, tăng đời sống tinh thần,

nâng cao trình độ KHKT và dân trí, giảm ốm đau bệnh tật, tăng tuổi thọ cho nhân

dân Những loại sử dụng nước này không phải được buôn bán trong thị trường

6 Sự phân phối nước (cấp nước, thoát nước) không hợp lý, thiếu công bằng,

chất lượng kém sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ tới xác định hiệu quả CTTL, tới giá nước và

mức thu thủy lợi phí

7 Với những CTTL đa mục tiêu, một số loại sử dụng nước (như để sản xuất

hàng hóa) không thể xác định hiệu quả, định giá trực tiếp mà phải gián tiếp, đó chính

là khái niệm Hiệu quả sử dụng nuớc ảo nêu trên

Hiệu quả sản xuất của hệ thống thủy lợi và các chỉ tiêu đánh giá được phân

chia ra các nhóm sau:

1 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hệ thống tưới nông nghiệp gồm:

- Sản lượng cho mỗi diện tích gieo trồng

- Sản lượng cho mỗi đơn vị tiêu thụ nước

- Tổng sản lượng của tất cả các cây trồng trên hệ thống

- Các chỉ tiêu sử dụng nước: Lượng cấp nước tưới tương đối, hiệu quả cấp nước

cho tưới và cho các ngành

- Chỉ tiêu về tài chính cũng được nêu rất sơ lược, như: tổng thu nhập từ đầu tư

(%), khả năng tự chủ tài chính, hiệu quả tưới nước

2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phân phối, sử dụng nước gồm:

Trang 37

- Tỷ lệ cấp nước tương đối (Relative water supply – CN)

- Hệ số lợi dụng nước của kênh dẫn (SDkd)

- Hệ số lợi dụng nước của kênh phân phối (SDkpp)

- Hệ số lợi dụng nước của hệ thống kênh tưới (SDth)

- Tỷ lệ hoàn thành diện tích tiêu (HTdtc)

- Tỷ lệ hoàn thành diện tích tưới (HTdtt)

- Hiệu quả phân phối nước tại một vị trí trên kênh (HQvt)

- Hiệu quả khai thác của công trình đầu mối (HQdm)

Chỉ tiêu phân phối nước được biểu thị ở lượng nước phân phối, mức độ phân phối, tần suất phân phối hoặc thời gian phân phối Tại 1 điểm x trong hệ thống, tại thời điểm t, ta có thể xác định được:

QD(x,t) - Lượng nước đến hệ thống

QR(x,t) - Lượng nước yêu cầu ở hạ lưu điểm phân phối x

CVT - Là tỷ số giữa khoảng lệch của thời điểm đo (so với thời điểm chuẩn) và khoảng thời gian quan sát T

CVR - Là tỷ số giữa khoảng lệch của điểm đo (so với điểm mốc chuẩn) và khoảng cách đo R

Các thông số trên có thể xác định ở cấp mặt ruộng hoặc các cấp kênh cấp 1, cấp

2 Thông số Q R và Q D phải được tính toán, đo đạc một cách đầy đủ và chính xác Để

làm được điều này vừa phải đo đạc ngoài hiện trường, vừa phải tính toán các thông số bằng các công thức toán học

R

D A Q

Q

P = nếu Q D ≤ Q R ;

D

R F Q

Q

P = nếu Q D ≥ Q R

Giá trị PA, PF, PD, PE càng tiến gần đến 1 thì quá trình phân phối nước càng đảm

bảo tốt tính đầy đủ, tính hiệu quả, độ tin cậy, tính công bằng

Việc tính toán xác định các 4 Chỉ tiêu hiệu quả phân phối nước tổng hợp nêu

trên là rất khó khăn do phải có đầy đủ các tài liệu được đo đạc chính xác , chi tiết

Bảng 3.1 Các chỉ tiêu đánh giá tiêu hiệu quả phân phối nước tổng hợp

1- Phân phối nước đầy đủ (Adequacy) = 1∑(1∑( A )

T

R T P

2 - Phân phối nước hiệu quả (Efficiency) = 1∑(1∑( F )

T

R T P

3 - Độ tin cậy (Dependability) 1 ( D/ R)

R T

T

3 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế đã được thiết lập là:

- Giá trị sản xuất của nước tưới cho nhiều loại cây trồng hàng năm (Gsx)

- Khả năng đảm bảo tài chính tưới nước (KNtc)

Trang 38

- Khả năng tự chủ tài chính phục vụ tưới (KNtctc)

- Khả năng thu thủy lợi phí của đơn vị quản lý CTTL (KNtlp)

- Giá trị sản lượng cho một đơn vị lượng nước cấp (Gslw)

- Lợi nhuận thuần túy do các ngành sử dụng nước từ CTTL (HQsxth)

- Tỷ lệ lợi nhuận/chi phí kinh doanh tổng hợp (Klnk)

- Tác động của hệ thống thủy lợi đến môi trường nước:

+ Tác động của công trình thuỷ lợi đến thay đổi mực nước ngầm

- Tác động của CTTL đến thảm thực vật, vi khí hậu:

+ Tỷ lệ thảm phủ thực vật được tăng (do có hệ thống thuỷ lợi)

- Tác động của HTTL đến môi trường đất:

+ Diện tích úng ngập giảm

+ Chỉ số giảm suy thoái tài nguyên đất

+ Tỷ lệ cải tạo ruộng có năng suất thấp

+ Tỷ lệ diện tích trồng trọt tăng do có hệ thống thuỷ lợi

5 Đánh giá hiệu quả xã hội bao gồm các vấn đề:

- Khả năng tạo việc làm do có hệ thống thuỷ lợi (KNvl)

- Khả năng tăng thu nhập (KNtn)

- Phần trăm số hộ nghèo giảm do có hệ thống thuỷ lợi (NG)

- Tỷ lệ số dân phải di dời do xây dựng hệ thống thuỷ lợi (DD)

- Tỷ lệ số người/đơn vị hưởng lợi tham gia vào quản lý HTTL (TG)

Nhận xét:

- Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hệ thống tưới nông nghiệp, hiệu quả phân phối, sử dụng nước tưới trên HTTL và hiệu quả kinh tế đã đề cập khá đầy đủ các

vấn đề cần thiết, nhưng thiếu các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cung cấp nước cho từng

ngành, hộ dùng nước khác trên hệ thống (hiệu quả phục vụ phát triển du lịch, công

nghiệp, phát triển thủy điện, thủy sản, chăn nuôi, cấp nước sinh hoạt, và thiếu nhiều chỉ tiêu hiệu quả xã hội và môi trường )

- Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường và xã hội của các HTTL cũng chưa được thiết lập cụ thể ra công thức tính toán mà mới chỉ nêu khái quát tên các vấn đề,còn chung chung, nặng về định tính, mà lại còn thiếu

trên là rất khó khăn do phải có đầy đủ các tài liệu từ đo đạc phức tạp, chi tiết

- Một số quốc gia như Mỹ, Anh, Hà Lan, Pháp, Australia, Ấn Độ, Trung Quốc, Srilanca, Malaysia, Mexico… đã sử dụng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

CTTL tuy nhiên họ cũng chỉ rõ việc vận dụng hệ chỉ tiêu vào các nước là rất linh hoạt

tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và mục tiêu của từng vùng, từng CTTL Do vậy các quốc gia khác và Việt Nam cũng phải xây dựng, bổ sung hoàn

chỉnh hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả CTTL Hơn nữa phương pháp đánh giá

này được xây dựng từ các nước phát triển, có các HTTL đã hoàn chỉnh, được hiện đại hóa có đầy đủ trang thiết bị giám sát , đo đạc nên ít phù hợp, khó áp dụng cho các nước đang phát triển như Việt Nam có các HTTL còn chưa hoàn chỉnh, chưa được hiện đại hóa, còn thiếu nhiều trang thiết bị đo đạc

Trang 39

3.2.2 Các vấn đề liên quan

3.2.2.1 Phát triển nông nghiệp bền vững

Ngoài các chỉ tiêu đánh giá được đề cập ở trên, ngày nay trên thế giới quan tâm nhiều tới phát triển nông nghiệp bền vững, đi đôi với nó là các chỉ tiêu bền vững cũng được đề nghị áp dụng

Chỉ tiêu bền vững là một chỉ tiêu tổng hợp, có nơi đề xuất sử dụng các chỉ tiêu

về sự thay đổi sản lượng cây trồng, sự thay đổi hệ số quay vòng ruộng đất, thay đổi mực nước ngầm, đất nhiễm mặn, độ phì của đất

Chỉ tiêu bền vững là vấn đề mới, lại là một chỉ tiêu tổng hợp, phức tạp nên khó xác định cho đầy đủ và chính xác, do còn mới mẻ nên chưa có sự thống nhất về nhận thức, quan điểm, và phương pháp đánh giá

Từ kết quả nghiên cứu điển hình tại hệ thống thủy lợi hồ chứa Kirindi Oya, Srilanca và nhiều hệ thống thủy lợi khác cho thấy:

Sự khô hạn, thiếu nước sẽ nẩy sinh mâu thuẫn, tranh chấp về sử dụng nước trên HTTL Có khi nước trở thành nỗi sợ hãi do có nhiều sự cạnh tranh, thậm trí những xung đột vì tranh chấp sử dụng nước

Mâu thuẫn giữa tưới cây trồng và chăn nuôi

Mâu thuẫn giữa Tưới và Thủy sản

Mâu thuẫn giữa nước cho tưới và nước sinh hoạt

Mâu thuẫn Chăn nuôi và Thuỷ sản

Mâu thuẫn giữa Chăn nuôi và tắm rửa, giặt giũ

Để giải quyết tình trạng cạnh tranh, xung đột trong phân phối yêu cầu sử dụng nước, cần phải thực hiện xếp hạng ưu tiên theo trọng số hoặc đánh giá mức độ quan trọng của các mục tiêu và các chỉ tiêu thể hiện Quá trình này thường được gọi là phân tích đa tiêu chí

3.3 Đề xuất phương pháp luận đánh giá hiệu quả công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu ở Việt Nam

Trên cơ sở tham khảo, vận dụng các kết quả nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã trình bầy ở các phần trên, nhận thức được:

3.3.1 Các luận cứ khoa học chủ yếu cho xây dựng phương pháp đánh giá hiệu quả CTTL phục vụ đa mục tiêu

- Muc đích của đánh giá hiệu quả CTTL thông qua xác định các chỉ tiêu đánh

giá, qua đó xác định được mức độ đạt được nhiệm vụ ban đầu, các nguyên nhân làm giảm hiệu quả, để có cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao các chỉ tiêu thực hiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của CTTL

- Do hoạt động của các CTTL phụ thuộc nhiều váo các điều kiện tự nhiên, ký thuật, kinh tế, xã hội của địa phương, nên có sự phức tạp trong việc đánh giá và quản

lý hiệu quả các CTTL phục vụ đa mục tiêu, do vậy sẽ là một thử thách lớn để phát

triển, tìm ra một phương pháp đánh giá phù hợp với các thể loại CTTL, với các đối tượng sử dụng đa dạng và giải quyết quan hệ giữa các hộ dùng nước với nhau

- Trong việc đánh giá hiệu quả, cần phải xem xét tới những giá trị hiệu quả khác của nước: Bên cạnh giá trị về hiệu quả kinh tế của nước, phải xem xét các giá trị

về hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Tuy nhiên, sẽ gặp nhiều khó khăn trong khảo sát, thu thập các tài liệu.vì khó tách bạch để thấy rõ hiệu quả do riêng CTTL

Trang 40

mang lại cho nhiều yếu tố môi trường, xã hội, hơn nữa các yếu tố đó lại diễn biến chậm để thấy rõ kết quả

- Để đạt được kết quả mong muốn thì việc đánh giá hiệu quả CTTL nhất thiết phải dựa trên các tài liệu khảo sát, đo đạc thực tế và thu thập của các hộ dùng nước được HTTL phục vụ

- Việc xây dựng ra và thực hiện các chỉ tiêu đánh giá là khâu then chốt trong đánh giá hiệu quả tưới (HQT), hiệu quả phục vụ đa mục tiêu của CTTL

3.3.2 Các luận cứ khoa học chủ yếu cho xây dựng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

a) Đặc tính và yêu cầu xác định các chỉ tiêu thực hiện của CTTL:

- Các chỉ tiêu này thể hiện chất lượng quản lý vận hành các CTTL tốt hay kém

- Từ giá trị thực hiện các chỉ tiêu cho thấy rõ các thiếu xót, nhược điểm cần khắc phục để nâng cao hiệu quả hoạt động của HTTL, nâng cao giá trị các chỉ tiêu cho đạt yêu cầu

- Các chỉ tiêu đánh giá cần được thiết lập trên cơ sở khoa học và thực tiễn

- Các chỉ tiêu cần được số lượng hóa, đo đạc được, khả thi,dễ dàng thực hiện

- Các thông tin, tài liệu để thiết lập, tính toán các chỉ tiêu phải chính xác, trung thực phản ánh đúng tình hình thực tế của HTTL

- Cùng cấp thông tin cả hai chiều trong quá trình quản lý HTTL

- Cần chú ý tính chất tự nhiên khách quan của các chỉ tiêu

- Do khó xác định giá trị “sản phẩm” hiệu quả kinh tế của các dịch vụ cung cấp

nước phi thương mại,hơn nữa đánh giá hiệu quả môi trường, hiệu quả xã hội của hệ

thống thuỷ lợi là đặc biệt khó khăn Do vậy phải thực hiện đánh giá từng bước theo

tiến trình nâng cấp, hiện đại hóa HTTL và cải tiến quản lý HTTL, theo thời gian cho phép đạt được diễn biến của yếu tố và theo thời gian hoạt động của HTTL (để có được

tài liệu về thay đổi điều kiện môi trường, một số hiệu quả xã hội)

- Cần phải được xem xét, đánh giá hiệu quả CTTL ở các giai đoạn quy hoạch, thiết kế xây dựng, quản lý vận hành hệ thống, trong đó với các HTTL mới được xây dựng thì phải đánh giá cả hai giai đoạn quy hoạch, thiết kế và quản lý vận hành hệ thống, với các CTTL đa xây dựng và hoạt động lâu rồi thì chủ yếu đánh giá trong giai đoạn quản lý vận hành hệ thống -

- - Các chỉ tiêu được xây dựng để đánh giá hiệu quả HTTL cần phải được thử nghiệm trong điều kiện thực tế để từ đó hoàn chỉnh các chỉ tiêu

Căn cứ vào cơ sở khoa học và thực tiễn nêu trên, vào tình hình quản ký khai thác, hiệu quả và đánh giá hiệu quả CTTL ở Việt Nam

Để có thể đánh giá đầy đủ các mặt hiệu quả của CTTL,tiếp cận được trình độ KHKT khu vực và thế giới, lại khả thi phù hợp điều kiện Việt Nam, thì các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả CTTL phục vụ đa mục tiêu nên bao gồm các loại nhóm sau :

1 Nhóm chỉ tiêu làm cơ sở đánh giá hiệu quả cấp nước cho phát triển công nghiệp, thủy điện

2 Nhóm chỉ tiêu làm cơ sở đánh giá hiệu quả cấp nước cho phát triển thủy sản

3 Nhóm chỉ tiêu làm cơ sở đánh giá hiệu quả cấp nước cho sinh hoạt dân cư

4 Nhóm chỉ tiêu làm cơ sở đánh giá hiệu quả CTTL phục vụ phát triển du lịch,

5 Nhóm chỉ tiêu làm cơ sở đánh giá hiệu quả của CTTL đến môi trường,

6 Nhóm chỉ tiêu cơ sở đánh giá hiệu quả cấp nước chăn nuôi gia súc, gia cầm

Ngày đăng: 22/04/2014, 21:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Hiếu chủ biên và biên chính: Quản lý hệ thống thủy nông nâng cao, Giáo trình Cao học Đại học Thủy lợi, Nhà xuất bản Nông nghiệp 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hệ thống thủy nông nâng cao, Giáo trình Cao học Đại học Thủy lợi
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp 2007
2. Bộ môn Thuỷ Nông: Giáo trình Quy hoạch và thiết kế hệ thống Thuỷ lợi tập 1. NXB Xây dựng. Hà Nội 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quy hoạch và thiết kế hệ thống Thuỷ lợi tập 1
Nhà XB: NXB Xây dựng. Hà Nội 2007
3. Bộ môn Thuỷ văn công trình: Giáo trình Thuỷ văn công trình. NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ. Hà Nội 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thuỷ văn công trình
Nhà XB: NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ. Hà Nội 2008
4. Bộ môn Tính toán thuỷ văn: Tính toán thuỷ văn Thiết kế. NXB Nông nghiệp. Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính toán thuỷ văn Thiết kế
Nhà XB: NXB Nông nghiệp. Hà Nội 2003
14. Báo cáo đề tài NCKH cấp Bộ “Nghiên cứu giải pháp quản lý các hồ chứa vừa và nhỏ khu vực miền Trung và Tây nguyên, chống hạn trong thời kỳ thiếu nước” PGS Nguyễn Phương Mậu, Đại học Thủy lơi ( 5-2006 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp quản lý các hồ chứa vừa và nhỏ khu vực miền Trung và Tây nguyên, chống hạn trong thời kỳ thiếu nước
39. Báo cáo định hướng phát triển thuỷ lợi trong những năm tới và rà soát, dự kiến quy hoạch thuỷ lợi trên địa bàn bàn tỉnh Phú Thọ (sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo định hướng phát triển thuỷ lợi trong những năm tới và rà soát, dự kiến quy hoạch thuỷ lợi trên địa bàn bàn tỉnh Phú Thọ
Tác giả: sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ
54. Topic reference number: 2.4. Multiple Uses and Functions of water services. Drafted by: Daniel Renault FAO (7 th November 2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: th
57. Managing water for livestock and fisheries development Sileshi Ashine Senior Economist, Ministry of Agriculture, Addis Ababa, Ethiopia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managing water for livestock and fisheries development
Tác giả: Sileshi Ashine
Nhà XB: Ministry of Agriculture
59. Performance Indicators for Irrigation and Drainage M.G. Bos, M.A. Burton and D.J. Molden 2005. Irrigation and Drainage. FAO paper 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Performance Indicators for Irrigation and Drainage
Tác giả: M.G. Bos, M.A. Burton, D.J. Molden
Nhà XB: Irrigation and Drainage
Năm: 2005
60. Indicators for Comparing Performance of Irrigated Agricultural Systems David J. Molden, R.Sakthivadivel, Christopher J. PerryIWMI Research Report 20 International Water Management Institute P O Box 2075, Colombo, Sri Lanka Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indicators for Comparing Performance of Irrigated Agricultural Systems
Tác giả: David J. Molden, R. Sakthivadivel, Christopher J. Perry
Nhà XB: International Water Management Institute
62. Murty, V.V.N and K. Takeu chi, Overview of Irrigation Performance and . 63. Zhang Shaoquang, Improved Irrgation/Water management For Sustainable Agricultural Development in China. Report, The Asian Network on Water Management, Thailand 16 - 20 May 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Overview of Irrigation Performance
Tác giả: V.V.N Murty, K. Takeuchi, Zhang Shaoquang
Nhà XB: The Asian Network on Water Management
Năm: 1994
65. IWMI, Research Report GGA Godaliyada, Improved Irrgation/Water management For Sustainable Agricultural Development in Srilanca. Report, The Asian Network on Water Management, Thailand 16 - 20 May 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Improved Irrgation/Water management For Sustainable Agricultural Development in Srilanca
Tác giả: IWMI
Nhà XB: The Asian Network on Water Management
Năm: 1994
67. IWMI, Research Report GGA Godaliyada, Improved Irrgation/Water management For Sustainable Agricultural Development in Srilanca. Report, The Asian Network on Water Management, Thailand 16 - 20 May 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Improved Irrgation/Water management For Sustainable Agricultural Development in Srilanca
Tác giả: IWMI
Nhà XB: The Asian Network on Water Management
Năm: 1994
71. International Meeting on Soil Fertility Land Management and Agroclimatology. Turkey, 2008. p: 839-849 and ICID Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Meeting on Soil Fertility Land Management and Agroclimatology
Nhà XB: ICID
Năm: 2008
81. Influence of water on the livestock production system Sileshi Ashine Senior Economist, Ministry of Agriculture, Addis Ababa, Ethiopia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influence of water on the livestock production system
Tác giả: Sileshi Ashine
Nhà XB: Ministry of Agriculture
6. Trường Đại học Thuỷ lợi: Báo cáo Tông kết thực hiện Dự án điều tra cơ bản Đánh giá tác động của các công trình thủy lợi phục vụ cấp thoát nước nông thôn vùng Trung du và miền núi phía Bắc (2004-2006) Khác
7. Sổ tay hướng dẫn xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật trong quản lý khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi. NXB Nông nghiệp. Hà Nội 2010 Khác
9. Báo cáo khoa học chuyên đề Giải pháp nâng cao hiệu quả phục vụ đa mục tiêu của HTTL hồ chứa Xạ Hương, tỉnh Vĩnh Phúc-ThS Nguyễn Lương Bằng th 8- 2010 Khác
10. Báo cáo khoa học chuyên đề Giải pháp nâng cao hiệu quả phục vụ đa mục tiêu của HTTL 19 tháng 5, Nghĩa Lộ, Yên Bái. ThS Trần Quốc Lập, th 8-2010 Khác
11. Bùi Hiếu, Trần Quốc Lập, Hiệu quả các công trình thủy lợi phục vụ các ngành khác nông nghiệp vùng Trung du và đồi núi phía Bắc. Tạp chí KHKT Thủy lợi và Môi trường, Trường Đại học Thủy lợi, số 5 -2006 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.3. Sơ đồ khối Bộ khung tổng thể các bước đánh giá hiệu quả và quan hệ - Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lời các tỉnh trung du miền núi phía bắc phục vụ đa mục tiêu
Hình 3.3. Sơ đồ khối Bộ khung tổng thể các bước đánh giá hiệu quả và quan hệ (Trang 43)
Hình 3.4. Sơ đồ trình tự thực hiện, các công thức đánh giá hiệu quả cân bằng phân - Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lời các tỉnh trung du miền núi phía bắc phục vụ đa mục tiêu
Hình 3.4. Sơ đồ trình tự thực hiện, các công thức đánh giá hiệu quả cân bằng phân (Trang 44)
Hình 3.5. Trình tự tổng quát thực hiện đánh giá hiệu quả HTTL - Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lời các tỉnh trung du miền núi phía bắc phục vụ đa mục tiêu
Hình 3.5. Trình tự tổng quát thực hiện đánh giá hiệu quả HTTL (Trang 45)
Hình 5.2. Các sơ đồ khối cơ sở dữ liệu A, B, C, D - Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lời các tỉnh trung du miền núi phía bắc phục vụ đa mục tiêu
Hình 5.2. Các sơ đồ khối cơ sở dữ liệu A, B, C, D (Trang 73)
Hình 5.3. Một số màn hình minh hoạ ví dụ - Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lời các tỉnh trung du miền núi phía bắc phục vụ đa mục tiêu
Hình 5.3. Một số màn hình minh hoạ ví dụ (Trang 77)
Hình 5.4. Giao diện phần mềm tính toán CTTL phục vụ đa mục tiêu - Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lời các tỉnh trung du miền núi phía bắc phục vụ đa mục tiêu
Hình 5.4. Giao diện phần mềm tính toán CTTL phục vụ đa mục tiêu (Trang 78)
Hình 5.5. Giới thiệu ví dụ một số giao diện phần mềm tính toán các chỉ tiêu phục vụ - Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lời các tỉnh trung du miền núi phía bắc phục vụ đa mục tiêu
Hình 5.5. Giới thiệu ví dụ một số giao diện phần mềm tính toán các chỉ tiêu phục vụ (Trang 87)
Hình 6.1.  Hồ Ngòi Là – Tuyên Quang    Hình 6.2. Hệ thống kênh mương hồ Ngòi - Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lời các tỉnh trung du miền núi phía bắc phục vụ đa mục tiêu
Hình 6.1. Hồ Ngòi Là – Tuyên Quang Hình 6.2. Hệ thống kênh mương hồ Ngòi (Trang 88)
Sơ đồ httl hồ xạ hương - Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lời các tỉnh trung du miền núi phía bắc phục vụ đa mục tiêu
Sơ đồ httl hồ xạ hương (Trang 90)
Hình 6.14 Hồ Như Xuyên , Tuyên Quang bị - Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lời các tỉnh trung du miền núi phía bắc phục vụ đa mục tiêu
Hình 6.14 Hồ Như Xuyên , Tuyên Quang bị (Trang 101)
Hình 6.24. Quan hệ giữa Q c &amp; H TC    Trường hợp 2: - Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lời các tỉnh trung du miền núi phía bắc phục vụ đa mục tiêu
Hình 6.24. Quan hệ giữa Q c &amp; H TC Trường hợp 2: (Trang 129)
Hình 6.29. Sơ đồ xác định khẩu diện cống và đập dâng - Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lời các tỉnh trung du miền núi phía bắc phục vụ đa mục tiêu
Hình 6.29. Sơ đồ xác định khẩu diện cống và đập dâng (Trang 134)
Hình 6.30. Biểu đồ tính toán phối hợp nguồn nước trong trường hợp - Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lời các tỉnh trung du miền núi phía bắc phục vụ đa mục tiêu
Hình 6.30. Biểu đồ tính toán phối hợp nguồn nước trong trường hợp (Trang 135)
Bảng 6.27. So sánh  một số chỉ tiêu cơ bản ở hai Trường hợp 1 và 2 - Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lời các tỉnh trung du miền núi phía bắc phục vụ đa mục tiêu
Bảng 6.27. So sánh một số chỉ tiêu cơ bản ở hai Trường hợp 1 và 2 (Trang 139)
Hình 6.31. Hội nghị chuyển giao tại Xạ - Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lời các tỉnh trung du miền núi phía bắc phục vụ đa mục tiêu
Hình 6.31. Hội nghị chuyển giao tại Xạ (Trang 143)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w