1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận rủi ro chăm sóc sức khỏe học viên phân tích một chính sách, quy định, thông tư…ảnh hưởng đến lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tại việt nam hiện nay

16 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Học viên phân tích một chính sách, quy định, thông tư…ảnh hưởng đến lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam hiện nay
Tác giả Tô Phước Hải, Huỳnh Lâm Tấn Bình
Người hướng dẫn Nguyễn Như Quỳnh
Trường học Đại học UEH
Chuyên ngành Quản trị
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 384,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH KHOA QUẢN TRỊ TIỂU LUẬN RỦI RO CHĂM SÓC SỨC KHỎE Giảng viên Tô Phước Hải & Huỳnh Lâm Tấn Bình Mã lớp học phần 22C1MAN50208101 Sinh viên Nguyễn Như Quỳnh Khóa Lớp 46 QB001[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH

KHOA QUẢN TRỊ

TIỂU LUẬN

RỦI RO CHĂM SÓC SỨC KHỎE

Giảng viên Tô Phước Hải & Huỳnh Lâm Tấn Bình

Mã lớp học phần 22C1MAN50208101

Sinh viên Nguyễn Như Quỳnh

TP Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 12 năm 2022

Trang 2

ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH KHOA QUẢN TRỊ

ĐỀ TÀI

Học viên phân tích một chính sách, quy định, thông tư…ảnh hưởng đến lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam hiện nay Học viên có thể tham khảo một bài bình luận được xuất bản trên các website của Bộ Y tế, WHO,

Sở Y tế tương đương (có trích nguồn).

Học viên sẽ áp dụng kiến thức đã học để viết bài theo một trong 2 hướng sau:

1/ Bài viết có thể đi sâu vào một quan điểm được nêu ra trong bài báo, thể hiện sự đồng tình hay không? Nhưng củng cố quan điểm được nêu chặt chẽ hơn.

2/ Bài viết áp dụng lý thuyết đã học để làm rõ các vấn đề được bài báo đề cập.

TP Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 12 năm 2022

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT 1

DANH MUC HÌNH ẢNH 1

LỜI MỞ ĐẦU 2

I CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

1 Bảo hiểm Y tế là gì ? 3

2 Vai trò của BHYT 3

II PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH BHYT 5

1 Chính sách BHYT nước ta 5

1.1 Hệ thống tổ chức bộ máy và chính sách BHYT từng bước hoàn thiện 5

1.2 Đối tượng, khi tham gia vào chính sách BHYT 6

1.3 Công tác thu chi, quỹ BHYT 7

2 Những đổi mới về chính sách BHYT từ năm 2021 8

III QUAN ĐIỂM 10

IV KẾT LUẬN 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT

BHYT : Bảo hiểm y tế

BHXH : Bảo hiểm xã hội

CSSK : Chăm sóc sức khỏe

KCB : Khám chữa bệnh

DANH MUC HÌNH ẢNH

Hình 1: Tỷ lệ dân số tham gia BHYT giai đoạn 2013-2017 và dự báo đến 2020

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Sau hơn nhiều năm, ngành Y tế Việt Nam đã phát triển và mở rộng, nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe của người dân cũng được nâng cao, các ứng dụng khoa học kỹ thuật về ngành y tế cũng đang được nghiên cứu và ứng dụng nhiều hơn trong công tác khám và điều trị bệnh cho bệnh nhân Nhưng thực chất, không phải

ai cũng có đủ điều kiện, kinh phí để chi trả cho những khoản rủi ro sức khỏe không được báo trước mà còn có khả năng tái đi tái lại nhiều lần Để khắc phục những khó khăn, rủi ro về tài chính Đảng và Nhà nước đã ban hành thực hiện chính sách “Bảo hiểm y tế” nhằm giúp đỡ cho người dân có cuộc sống tốt hơn

Sự xuất hiện của bảo hiểm y tế là một chính sách hỗ trợ người dân và được chú trọng thực hiện Đây là chính sách an sinh xã hội nhân văn, nhân đạo, được Đảng và Nhà nước tổ chức thực hiện từ năm 1992 BHYT là một trong những hoạt động nhân đạo nhất, tình thần tương thân tương ái giữa người giàu với người nghèo, chia sẻ những rủi ro trong chăm sóc sức khỏe giữa những người đang trong độ tuổi lao động với người già và trẻ em Đồng thời, BHYT mang tính dự phòng những rủi ro về chi phí cao cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam mặc dù đang trong đà phát triển, nhưng bên trong

sự phát triển đó thị trường chung xảy ra rất nhiều biến động và khó khăn Các chi phí cho việc chăm sóc sức khỏe trong thời điểm ngày càng tăng cao là điều không thể tránh khỏi Do đó, người dân không phải ai cũng sẽ có điều kiện tốt để có thể khám và điều trị bệnh với một mức chi phí cao, điều này khiến những người dân có hoàn cảnh khó khăn họ sẽ e ngại việc phải vào bệnh viện để thực hiện thăm khám với một mức chi phí khá đắt đỏ

Đặc biệt, với các chi phí về trang thiết bị hiện đại, dược phẩm có giá mua vào nhằm phục vụ cho công tác CSSK rất đắt so với trước kia do những biến động giá cả của thị trường Chính vì thế, chính sách BHYT gần đây đã được sửa đổi và bổ sung thêm để có thể phù hợp hơn với thị trường hiện nay, nhằm giảm đi những gánh nặng cho ngân sách nhà nước và mang lại lợi ích chung cho xã hội tránh những rủi ro về sức khỏe

Trang 6

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Bảo hiểm Y tế là gì ?

Bảo hiểm y tế (bảo hiểm sức khỏe) là loại hình bảo hiểm thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng Người hưởng BHYT sẽ được chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí khi thăm khám, điều trị, phục hồi, … nếu không may xảy ra các rủi ro về sức khỏe Theo khoản 1, điều 2 "Luật bảo hiểm Y tế" năm 2008 do Quốc hội ban hành:

Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức và thực hiện.

Bảo hiểm y tế sẽ được thực hiện dựa trên các nguyên tắc bảo đảm chia sẻ những rủi ro giữa những người tham gia BHYT Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, đảm bảo cân đối nguồn thu chi và được Nhà nước bảo hộ Bên cạnh đó các nguyên tắc về mức đóng, mức thưởng, chi phí khám chữa bệnh cũng

sẽ được quy định rất chặt chẽ

2 Vai trò của BHYT.

Đảng và Nhà nước ta luôn dành một sự quan tâm đặc biệt về những ảnh hưởng đến an sinh xã hội đối với cuộc sống của nhân dân Chính vì thế, Nhà nước đã tổ chức

và thực hiện chính sách BHYT với mục đích huy động sự đóng góp từ những người lao động, các tổ chức và cá nhân có nhu cầu được bảo hiểm Các chính sách BHYT luôn được thay đổi, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội Từ đó họ bắt đầu tạo ra một nguồn quỹ, nó sẽ được dùng để chi trả cho các chi phí khám và điều trị bệnh khi người lao động không may xảy ra những rủi ro về sức khỏe không mong muốn mà họ có tham gia vào BHYT

Trước hết, BHYT là biện pháp xóa bỏ khoảng cách giàu nghèo, tạo điều kiện cho người có bệnh nếu tham gia BHYT đều được điều trị Bảo hiểm y tế có tính chất cao cả, nhân văn, mang tính xã hội hóa theo nguyên tắc “đa số bù cho thiểu số” Khi

đã tham gia BHYT sẽ mang lại lợi ích cho bản thân và xã hội Một phần gánh nặng của mỗi người là nhỏ hơn so với chi phí chăm sóc y tế trong trường hợp rủi ro bệnh tật cận kề, thậm chí nếu lao động cả đời cũng không đủ chi phí một lần khi mắc bệnh hiểm nghèo

Trang 7

Thứ hai, BHYT còn giúp người tham gia khắc phục những khó khăn như là một

sự đảm bảo tài chính khi đối mặt với rủi ro bệnh tật Nhờ có bảo hiểm y tế, người dân

đã dành được một phần dự phòng cho việc chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là người nghèo, và nhờ đó họ có được sự đảm bảo phần nào về sức khỏe và kinh tế Từ đó, người lao động có thể yên tâm hơn khi có sự ra đời của BHYT, giúp họ khắc phục được những hậu quả, rủi ro kịp thời, không cần phải đau khổ khi mỗi lần đến hạn đóng viện phí quá cao

Thứ ba, BHYT nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc y tế và quản lý sức khỏe thông qua quỹ đầu tư BHYT Khi đó, trang thiết bị y tế sẽ hiện đại hơn, có kinh phí để sản xuất ra các loại thuốc đặc trị các bệnh hiểm nghèo, các cơ sở y tế có tổ chức hơn

để giúp người dân được điều trị, hiện đại hóa toàn diện sẽ dễ dàng và gần gũi hơn KCB

Thứ tư, BHYT góp phần giảm đi gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, hiện nay kinh phí y tế đến từ 4 nguồn chính: ngân sách Nhà nước, quỹ BHYT, tài trợ từ các tổ chức công, tổ chức từ thiện và viện trợ quốc tế Ngoài ra, BHYT còn phản ánh đến chi tiêu phúc lợi, thể hiện được trình độ phát triển của nước ta, đồng thời tạo ra nguồn tài chính hỗ trợ cung cấp cho hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Thứ năm, BHYT góp phần hạn chế cho những căn bệnh hiểm nghèo, với tiêu chí "phòng bệnh hơn chữa bệnh" khi có BHYT người dân cũng sẽ chủ động hơn trong việc kiểm tra sức khỏe định kỳ với chi phí thấp Người dân sẽ không cần phải lo lắng

về chi phí cao mà sợ đến với các cơ sở y tế thăm khám, từ đó bỏ qua tình trạng sức khỏe của bản thân

Trang 8

II PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH BHYT

1 Chính sách BHYT nước ta.

Chính sách BHYT ở Việt Nam bắt đầu được triển khai từ năm 1992 được Chính phủ ban hành Nghị định 299/HĐBT kèm theo điều lệnh Bảo hiểm y tế, đánh dấu sự ra đời chính thức của chính sánh BHYT nước ta cho đến nay Trải qua hơn chục năm thực hiện, chính sách BHYT đã trải qua 4 lần sửa đổi, bổ sung để phù hợp với sự phát triển định hướng thực tiễn nền kinh tế-xã hội

1.1 Hệ thống tổ chức bộ máy và chính sách BHYT từng bước hoàn thiện

Giai đoạn đầu tiên (1992-8/1998) là giai đoạn hình thành chính sách xây dựng

bộ máy tổ chức thực hiện chính sách Bộ máy BHYT trong giai đoạn này trực thuộc

Bộ Y tế và được tổ chức theo quy định của Thông tư 11/BYT-TT, bao gồm cơ quan BHYT Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế tỉnh, thành phố là một bộ phận trực thuộc Sở Y

tế Quỹ BHYT được quản lý theo từng tỉnh, hạch toán độc lập, không có sự bù đắp, điều tiết hỗ trợ lẫn nhau Có thể thấy vì đang trong giai đoạn đầu hình thành, mô hình

tổ chức bộ máy BHYT cũng đã phần nào ứng dụng được các yêu cầu, nhiệm vụ được

đề ra, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội ở mỗi địa phương lúc bấy giờ

Đến giai đoạn thứ hai (8/1998-6/2005) đây là giai đoạn mở rộng đối tượng BHYT, củng cố bộ máy Nhà nước Thời gian được xem như giải quyết những bất cập trong quá trình thực hiện Nghị định 299, Chính phủ đã ban hành Nghị định 58/1998/NĐ-CP mở rộng chính sách BHYT, đa dạng hóa các loại hình bảo hiểm để

mở rộng Từ 1/1/2003 hệ thống BHYT Việt Nam được chuyển giao từ Bộ Y tế sang BHXH Việt Nam theo Quyết định 20/QĐ-TTg ngày 20/1/2002 của Thủ tướng Chính phủ và được tổ chức hoạt động theo quy định tại Nghị định 100/2002/NĐ- CP ngày 6/12/2002 của Chính phủ Với sự sáp nhập này, quỹ BHYT trở thành một quỹ thành phần của quỹ BHXH, được quản lý tập trung, thống nhất và thực hiện điều tiết chung theo Quy chế quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam

Giai đoạn thứ ba (từ 7/2005-1/9/2009), giai đoạn này BHYT được mở rộng cho các đối tượng xã hội với sự hỗ trợ của Nhà nước Sau khi trải qua 2 gian đoạn đầu bước vào hệ thống chính sách BHYT, Chính phủ, các bộ, ngành liên quan đã ban hành

Trang 9

nhiều văn bản pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc tiếp tục triển khai chính sách, góp phần tích cực tạo nguồn tài chính bảo vệ, nâng cao sức khỏe nhân dân Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật BHYT và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1-7-2009 và ngày này đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định là Ngày BHYT Việt Nam theo Quyết định số 823/QĐ-TTg ngày 16-6-2009 Nội dung của Luật BHYT đã cơ bản khắc phục được những vướng mắc, tồn tại trong việc thực hiện chính sách tài chính y tế để từng bước tiến tới mục tiêu xây dựng nền y tế Việt Nam theo định hướng công bằng, hiệu quả và phát triển

Giai đoạn thứ bốn (1/7/2009-nay) là giai đoạn thực hiện Luật BHYT với mục tiêu toàn dân Khi Luật BHYT được thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7/2009, điều đó như là sự đánh dấu chuyển mình hoàn thiện trong pháp luật về BHYT Dựa vào cơ sở pháp lý cao nhất thể hóa các quan điểm, quyết định, định hướng của Đảng và Nhà nước trong quá trình thực hiện chính sách tài chính thông qua BHYT, với mục tiêu BHYT toàn dân, xây dựng Y tế Việt Nam với định hướng công bằng, hiệu quả và phát triển

1.2 Đối tượng, khi tham gia vào chính sách BHYT

Bước đầu khi phát triển chính sách BHYT, chính sách chỉ tập trung đến các đối tượng cán bộ, công nhân, viên chức, mất sức lao động ở các khu vực hành chính, người lao động sản xuất kinh doanh Còn các đối tượng khác có thể tham gia vào BHYT theo khả năng, nhu cầu và trên cơ sở tự nguyện Với mức chi phí khi tham gia bắt buộc được quy định là 3% so với mức lương và phụ cấp, tỏng đó người lao động đóng 1% và chủ sử dụng lao dộng sẽ đóng 2% Sau khoản thời gian dài thực hiện, dần hoàn thiện hơn về mặt pháp lý, các Nghị định được sửa đổi bổ sung thì các đối tượng BHYT càng được mở rộng hơn Đặc biệt là các đối tượng: người nghèo, người có công với cách mạng, người từ 85 tuổi trở lên, thân nhân của các sĩ quan quân đội nhân dân và các sĩ quan Công an nhân dân, cán bộ thị trấn phường xã, đại biểu hội đồng nhân dân, cựu chiến binh thời kỳ chống Mỹ, Pháp, người lao động thuộc các doanh nghiệp ngoài nhà nước, không phân biệt số lượng lao động tham gia vào BHYT bắt buộc

Sau khi trải qua 4 lần thay đổi Nghị định, đặc biệt từ khi triển khai Nghị định số

Trang 10

63/2005/NĐ-CP ngày 16-5-2005 của Chính phủ Đối tượng phạm vi bao phủ BHYT được mở rộng hơn và tăng một cách nhanh chóng, cũng như như cầu KCB người dân được tăng cao Có thể thấy rằng so với những năm đầu khi phát triển chính sách

1993-2005 chỉ có 3.79 triệu người tham gia BHYT, nhưng sau khoản năm 1993-2005, khi các chính sách pháp lý được hoàn chỉnh hơn về quyền lợi của người dân được nâng lên nhiều hơn, số lượng dân tham gia đã tăng lên 23,7 triệu, chiếm 38% Năm 2008, hơn 39,3 triệu chiếm đến 46% dân số vượt mức chỉ tiêu chính sách

Hình 1: Tỷ lệ dân số tham gia BHYT giai đoạn 2013-2017 và dự báo đến

2020

Có thể thấy khi các chính sách được áp dụng vào đời sống của người dân, tinh thần "Tương thân tương ái" được thể hiện rõ hơn thông qua các chính sách, quyền lợi được bao phủ lên hầu hết dân số Việt Nam Sự duy trì này cũng đang trong mức độ tăng, với tỷ lệ dân số tham gia tăng nhanh Đến năm 2015, số người tham BHYT đã tăng lên 69,9 triệu người, chiếm tỷ lệ 76% số dân Năm 2016 tỷ lệ dân tham gia đã đặt 85,6% tăng hơn 3,4% so với mục tiêu tỷ lệ Chính phủ đưa ra Cho đến thang 8/2018,

tỷ lệ người tham gia BHYT lại tieps tục tăng mạnh, đạt trên 87% dân số cả nước Chứng tỏ một điều răng, các nội dung về đối tượng chính sách tham gia BHYT trong luật BHYT đã thực sự đạt hiệu quả

Trang 11

1.3 Công tác thu chi, quỹ BHYT

Với sự phát triển của chính sách BHYT, các cơ sở KCB BHYT cũng càng ngày được

mở rộng hơn, dành cho cả công và tư Tổ chức cở sở KCB tại các tuyến xã, huyện nhằm giúp người dân dễ dàng tiếp cận, tiện lợi hơn trong việc phải lựa chọn cơ sở nào phù hợp, góp phần củng cố phát triển mạng lưới Y tế cơ sở, nâng cao chất lượng KCB BHYT

Song với sự gia tăng về đối tượng, cơ sở KCB BHYT, quyefn lợi và tần suất chăm sóc sức khỏe của người dân cũng dần tăng nên các chi trả chi phí KCB từ Quỹ BHYT tăng theo từng năm Ước tính tổng số thu BHYT năm 2008 khoảng 9.415 tỷ đồng, tăng gần 3 nghìn tỷ đồng so với năm 2007 Tổng thu BHYT tự nguyện chiếm khoảng 18% tổng thu của quỹ và số người đăng ký BHYT tự nguyện chiếm 27% tổng

số người đăng ký BHYT Ngoài kết quả trên, Cục Khám, chữa bệnh (KCB) đã thực hiện điều chỉnh giá KCB BHYT theo Nghị quyết số 18/2008/QH12 và Nghị quyết số 68/2013/QH13 của Quốc hội Nghị định số 16/2015/NĐ-CP trao quyền tự chủ cho cơ

sở y tế

Việc này làm tăng quyền lợi và giảm chi phí trong việc tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh cho người có bảo hiểm y tế, đặc biệt là người thuộc hộ nghèo và người dân tộc thiểu số có bảo hiểm y tế Số người tham gia BHYT ngày càng tăng qua các năm, đến năm 2015 có 130 triệu lượt người được KCB (số lượt KCB bình quân 1,85 lần/người/năm) Năm 2016, số lượt khám bệnh viện là 148 triệu lượt Sáu tháng đầu năm 2018, cả nước có khoảng 85 triệu lượt lượt khám bệnh, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm 2017 Tần suất KCB này phù hợp với nhu cầu chăm sóc sức khỏe và khả năng tiếp cận dịch vụ KCB của người dân Chỉ số này tương đối ổn định qua các năm Điều này cho thấy rằng việc mở cửa không làm tăng số lượt truy cập thực hành chung

Từ năm 2009 đến năm 2015, tình trạng thu, chi Quỹ BHYT liên tục kết dư Cụ thể, năm 2016, ước tính thu, khám chữa bệnh BHYT là 64.242 tỷ đồng, ước chi 69.410 tỷ đồng Nguyên nhân bội chi BHYT chủ yếu do điều chỉnh giá dịch vụ y tế, khoa học công nghệ trong y học phát triển, chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới ngày càng nhiều, điều kiện khám chữa bệnh thay đổi

Ngày đăng: 30/03/2023, 14:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w