1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chuyên đề thực tập tác động của tăng trưởng kinh tế việt nam đến giảm nghèo giai đoạn 2011 2016 rất nhỏ so với các giai đoạn trước

9 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của tăng trưởng kinh tế việt nam đến giảm nghèo giai đoạn 2011-2016 rất nhỏ so với các giai đoạn trước
Tác giả Nguyễn Duy Phúc, Hoàng Duy Thành, Nguyễn Chí Bảo, Trần Diệu Linh, Hà Văn Hùng, Lê Phạm Quỳnh Hương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại Bài thảo luận
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 31,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI THẢO LUẬN MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN Đề tài 4 Bình luận nhận định tác động của tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến giảm nghèo giai đoạn 2011 2016 rất nhỏ so với các giai đoạn trước Người thực hiện Nguyễn[.]

Trang 1

BÀI THẢO LUẬN MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

Đề tài 4:

Bình luận nhận định: tác động của tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến giảm nghèo giai đoạn 2011-2016 rất nhỏ so với các giai đoạn trước

Người thực hiện:

- Nguyễn Duy Phúc Msv: 11153473

- Hoàng Duy Thành Msv: 11153964

- Nguyễn Chí Bảo Msv: 11150514

- Trần Diệu Linh Msv: 11152647

- Lê Phạm Quỳnh Hương Msv: 11151911

Trang 2

I, Tác động của tăng trưởng kinh tế đến giảm nghèo giảm đáng kể

so với giai đoạn trước

Bảng 1: GDP tính theo giá so sánh 2010:

GDP(tỷ

đồng) 1588646 1699501 1820667 1923749 2027591 2157828 2292483 2412778 2543596 2695796 2875856 3054470

Bảng 2: tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2005-2016:

năm tốc độ pháttriển (%) tốc độ tăngtrưởng (%)

200

200

200

200

200

201

201

201

201

201

201

201

Bảng 3: tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 1998-2016:

Trang 3

) thị (%) thôn(%)

1998 37.4 9 44.9

2002 28.9 6.6 35.6

2004 18.1 8.6 21.2

2006 15.5 7.7 18

2008 13.4 6.7 16.1

2010 14.2 6.9 17.4

2011 12.6 5.1 15.9

2012 11.1 4.3 14.1

2013 9.8 3.7 12.7

2014 8.4 3 10.8

-Dựa vào bảng 2 và bảng 3: ta dễ dàng tính được: giai đoạn 1998-2010 tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm trung bình 4,64%/năm , trong khi tốc độ tăng trưởng trung bình của giai đoạn này là 6,52% Suy ra với 1% tăng trưởng sẽ giúp giảm 0,71% tỷ

lệ hộ nghèo cả nước

-Cũng theo bảng 2 và bảng 3: ta có tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2011-2016 giảm trung bình 1.4%/năm trong khi tốc độ tăng trưởng trung bình của giai đoạn này là 5,96% Suy ra với 1% tăng trưởng kinh tế kéo theo giảm 0,23% tỷ lệ hộ nghèo cả nước

=>Từ 2 ý trên có thể kết luận tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011-2016 tác động đến giảm nghèo là nhỏ hơn đáng kể so với các giai đoạn trước

Mặc dù là một yếu tố kinh tế song hệ quả này là kết quả của nhiều nguyên nhân khác nhau, nhiều yếu tố khác nhau cùng tác động vào công cuộc giảm nghèo ở Việt Nam

II, Nguyên nhân

1, Giảm nghèo chưa bền vững

Thực tế của công tác xóa đói giảm nghèo như một vòng luẩn quẩn, các chương trình hỗ trợ trực tiếp khiến nhiều hộ thoát nghèo, nhưng do không có các chính sách hỗ trợ hộ cận nghèo, không có “cần câu” đúng nghĩa nên các hộ thoát nghèo

Trang 4

chỉ sau một trận ốm, thậm chí sau một đêm bão là nghèo lại hoàn nghèo Báo cáo của Bộ LĐ-TBXH cũng cho thấy, cứ 3 hộ thoát nghèo thì có 1 hộ tái nghèo

Ngoài ra, theo một số nghiên cứu cũng cho thấy, các nhóm thiệt thòi ở Việt Nam thiếu hiểu biết về quyền của mình, thiếu khả năng tiếp cận thông tin, thiếu năng lực tham gia bầu cử và các quá trình ra quyết định khác Người dân thiếu thông tin và

kỹ năng để hiểu các vấn đề về thuế và ngân sách, họ không cảm thấy mình có quyền tham gia các quá trình này Phụ nữ thường không có tiếng nói trong huy động, phân bổ và chi ngân sách Nhà nước Người lao động nhập cư không được tham gia các quá trình lập kế hoạch ở địa bàn sinh sống và làm việc, khiến họ gặp nhiều khó khăn hơn khi tiếp cận các dịch vụ căn bản và bảo trợ xã hội

Về mặt chính sách, theo một báo cáo rà soát chính sách của Oxfam (tổ chức phi chính phủ quốc tế hoạt động hỗ trợ nhân đạo, phát triển nông thôn…), đến tháng 12-2014, tổng số văn bản chính sách liên quan đến giảm nghèo ở Việt Nam là 501, trong đó có 188 văn bản liên quan trực tiếp đến giảm nghèo đang có hiệu lực và

313 văn bản liên quan gián tiếp

Các chính sách tản mác, trùng lắp là một trong những nguyên nhân khiến các địa phương khó khăn khi thực hiện, nguồn lực bị phân tán Đặc biệt, cũng theo tổ chức này, đa số chính sách còn nặng về bao cấp, hỗ trợ cho không nên tạo cho người dân tâm lý trông chờ, ỷ lại, không muốn thoát nghèo

Do đó mà thành tựu về xóa đói giảm nghèo giai đoạn trước đã bị xóa bỏ phần nào, khiến cho số lượng hộ nghèo tăng trở lại Điều này thể hiện sự kém hiệu quả trong tác động đến giảm nghèo của toàn bộ các mặt như các chính sách, công tác tổ chức, sự phân phối thành quả của tăng trưởng kinh tế,…

2, Chuẩn nghèo không còn phù hợp

Việc sử dụng chuẩn nghèo dựa vào thu nhập, chi tiêu được áp dụng từ năm 1993 đến nay đã không còn phù hợp và bộc lộ nhiều hạn chế cần được sửa đổi cho phù hợp Nói về chuẩn mức sống tối thiểu mới được áp dụng thay cho các tiêu chí về chuẩn nghèo cũ, ông Ngô Trường Thi giải thích:

“Chuẩn mức sống tối thiểu phải dựa trên cơ sở nhu cầu lương thực, thực phẩm để đảm bảo mức sống tối thiểu của con người mà nhu cầu tính bằng calo, và cộng với các chi phí để đáp ứng các nhu cầu về phi thực phẩm Hai mức nhu cầu đó cộng

Trang 5

lại sẽ là chuẩn mức sống tối thiểu và chuẩn này hết sức khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của nhà nước.”

Theo báo Lao động online cho biết, báo cáo của Ngân hàng Thế giới đánh giá, tỷ lệ giảm nghèo ở Việt Nam nhanh nhưng chưa bền vững, khoảng cách giàu – nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư còn lớn; nhiều vùng còn nhiều khó khăn, có vùng còn trên 50% hộ nghèo, cá biệt có vùng còn 60% -70% hộ nghèo

Nói về các tồn tại trong công tác xóa đói giảm nghèo hiện nay, ông Ngô Trường Thi nhận định:

“Do chính sách về xóa đói giảm nghèo quá nhiều, nên dẫn đến việc phân tán nguồn lực rồi chồng chéo trong quá trình thực hiện Tôi xin lấy ví dụ như cùng là công tác dạy nghề, nhưng một đối tượng có thể thụ hưởng theo chính sách 156, hoặc dạy nghề cho đối tượng phụ nữ, dạy nghề cho nông dân hay dạy nghề cho người thiểu số Song quan trọng nhất theo tôi là hiệu quả của công tác đó chúng ta

đã không đánh giá được.”

Công tác xóa đói giảm nghèo đang đi dần vào các vấn đề mang tính thực chất hơn,

kể từ năm 2016, Bộ Lao động TB&XH sẽ tiến hành áp dụng chuẩn nghèo đa chiều toàn diện, tức là chuẩn nghèo sẽ không chỉ lo cơm ăn, lo áo mặc mà nó còn các yếu

tố khác như thông tin, được đi học và chăm sóc sức khỏe sẽ được đề cập tới Một cán bộ thuộc Viện Khoa học Lao động và Xã hội không muốn nêu danh tính khẳng định:

“Khi chúng ta đã xác định chuẩn nghèo đa chiều được rồi thì chắc chắn là số đối tượng cần tác động sẽ rất lớn Chứ không phải chỉ như hiện nay chỉ có 7-8% hộ nghèo có thu nhập thấp như bây giờ đâu.”

Đề xuất các giải pháp để việc xóa đói giảm nghèo trở nên bền vững và hiệu quả, ông Đinh Văn Tuyền khuyến nghị:

“Nhà nước không thể xóa đói giảm nghèo bằng cách hỗ trợ bằng tiền và vật chất như hiện nay, theo kiểu, thiếu gì thì hỗ trợ cái đó Về lâu dài tôi nghĩ phải thay thế bằng hình thức cho vay có điều kiện và buộc các hộ nghèo phải hoàn trả, hướng vào những chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững, không tiếp tục tạo ra sự trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước Trước hết, là những hộ mới thoát nghèo, những hộ cận nghèo để họ không tái nghèo và không rơi xuống diện nghèo Đồng thơi cần có các chính sách đồng bộ để tạo việc làm để tăng thu nhập cho người nghèo.”

3, Thành quả của tăng trưởng ko được phân phối cho người nghèo

Trang 6

- Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam dẫn đến kết quả của phần gia tăng trong chi tiêu

cá nhân nhưng lại không được phân bổ đều cho mọi thành viên trong xã hội mà lại chỉ thuộc về một nhóm người trong xã hội, do có sự khác biệt về lợi thế phát triển giữa các nhóm người trong xã hội

- Những người, những chủ thể kinh tế có những lợi thế khác nhau về điều kiện kinh tế, tự nhiên, xã hội, gia đình, cá nhân, họ sẽ được hưởng phần lớn phần thu nhập gia tăng Trong khi đó những người ở thế bất lợi về các điều kiện nguồn lực thì lại không nhận được sự cải thiện thu nhập

- Phần đông người nghèo ở Việt Nam sống trong hoàn cảnh tách biệt về mặt địa lý, dân tộc, ngôn ngữ, xã hội và kinh tế Vì vậy nên lợi ích thực sự của tăng trưởng kinh tế ít đến được với nhóm người chịu thiệt thòi này

- Tăng trưởng kinh tế ở nước ta đã làm chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm giàu

và nhóm nghèo có xu hướng gia tăng( Tỉ số Gini giảm)

- Tăng trưởng kinh tế phải chia sẻ tác động cho những mục tiêu phục hồi nền kinh

tế sau khủng hoảng kinh tế năm 2009 dẫn đến giảm hiệu quả xóa đói giảm nghèo của tăng trưởng kinh tế Mặc dù có khởi sắc, tuy nhiên kết hợp với những nguyên nhân trên thì tác động lên cả giai đoạn vẫn là nhỏ

III, Mục tiêu và giải pháp xóa đói giảm nghèo

1, Mục tiêu xóa đói giảm nghèo

Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến chính sách xóa đói giảm nghèo Mới đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định, trong 5 năm qua, chúng ta đã tạo ra thành quả rất to lớn trên lĩnh vực giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 14,2% năm 2010 xuống còn 4,25% năm 2015 (theo chuẩn nghèo 2011-2015).  Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều vấn đề xóa đói giảm nghèo cần phải giải quyết Nếu tiếp cận theo tiêu chí nghèo đa chiều thì tỉ lệ hộ nghèo còn 9,88%, cận nghèo còn 5,22%, 64 huyện nghèo còn số hộ nghèo trên 50%, có những huyện hộ nghèo chiếm tỉ lệ trên 70% Như vậy hộ nghèo đa chiều chiếm khoảng gần 10% số hộ dân toàn quốc Đó là một thách thức rất lớn cho xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2016-2020

Trang 7

Chương trình giảm nghèo bền vững đặt mục tiêu giảm tỉ lệ hộ nghèo cả nước cho giai đoạn này bình quân 1%-1,5%/năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, bảo đảm thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo cả nước cuối năm 2020 tăng lên 1,5 lần so với cuối năm 2015 Trong giai đoạn này, tình trạng gia tăng bất bình đẳng tại Việt Nam đang đe dọa thành tựu phát triển của đất nước trong nhiều thập kỷ qua Sự gia tăng bất bình đẳng nếu nhìn theo nhiều chiều sẽ tác động lớn đến công cuộc xóa đói giảm nghèo của Việt Nam Cụ thể, bất bình đẳng về kinh tế; bất bình đẳng về tiếng nói, về cơ hội; bất bình đẳng về vùng, miền; bất bình đẳng về giáo dục, y tế; bất bình đẳng về giới… đều có tác động làm tăng thêm khoảng cách giàu-nghèo. 

Đó cũng là cách nhìn theo hướng tiếp cận nghèo đa chiều mà nước ta sẽ áp dụng trong giai đoạn này Nhiều giải pháp đã đưa ra yêu cầu cao hơn về nâng cao dân trí, đời sống nhân dân, đặc biệt đối với vùng nông thôn, miền núi Trong bộ tiêu chuẩn đã xây dựng các tiêu chí để người nghèo tiếp cận được với những dịch vụ cơ bản mà người nghèo còn thiếu hụt như: y tế, văn hóa, giáo dục, nước sạch, thông tin… 

Bất bình đẳng kinh tế đi kèm với bất bình đẳng về tiếng nói và cơ hội khiến lợi ích của nhóm nghèo nhất khó được đưa vào chính sách hơn là nhóm những người giàu

Do không được tiếp cận với các dịch vụ công như y tế và giáo dục có chất lượng cao do thu nhập thấp và một số lý do khách quan sẽ kìm hãm sự tiến bộ của

Vì nghèo nên nhiều hộ không thể đảm bảo việc học hành cho tất cả các con Trong nhiều trường hợp, 1 hay 2 trẻ trong gia đình, thường là trẻ em gái, phải “hy sinh” con đường học hành của mình; Người nghèo có xu hướng sử dụng các dịch vụ y tế

ít hơn người khá giả, trong khi các nhóm thu nhập cao hơn có thể sử dụng nhiều loại dịch vụ nội và ngoại trú và cũng có nhiều cơ hội khám và điều trị hơn; Các nhóm thu nhập thấp hơn thường hay sử dụng các dịch vụ y tế công mà nơi cung cấp chủ yếu là từ trung tâm y tế xã/phường có chất lượng chưa cao…  Ngoài ra, theo một số nghiên cứu cũng cho thấy, các nhóm thiệt thòi ở Việt Nam thiếu hiểu biết về quyền của mình, thiếu khả năng tiếp cận thông tin, thiếu năng lực tham gia bầu cử và các quá trình ra quyết định khác Người dân thiếu thông tin và

kỹ năng để hiểu các vấn đề về thuế và ngân sách, họ không cảm thấy mình có quyền tham gia các quá trình này Phụ nữ thường không có tiếng nói trong huy động, phân bổ và chi ngân sách Nhà nước Người lao động nhập cư không được tham gia các quá trình lập kế hoạch ở địa bàn sinh sống và làm việc, khiến họ gặp

Trang 8

nhiều khó khăn hơn khi tiếp cận các dịch vụ căn bản và bảo trợ xã hội

Để có thể thu hẹp khoảng cách với góc độ đa chiều như trên, Chính phủ đang nỗ lực thực hiện nhiều chính sách tích cực hướng tới người dân như các chính sách an sinh xã hội, y tế, cải cách hành chính, chính sách thuế, hỗ trợ nhà xã hội, giám sát của MTTQVN để giảm sự bất bình đẳng theo các chiều. 

Theo đó, chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng giai đoạn 2016-2020 được Chính phủ phê duyệt, Với mức thu nhập này, tỷ lệ hộ nghèo cả nước sẽ vào khoảng 12% và tỷ lệ hộ cận nghèo khoảng 6%

Chương trình thực hiện trên phạm vi cả nước; ưu tiên các huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản khó khăn

2, Giải pháp xóa đói giảm nghèo

Kinh phí thực hiện chương trình từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, tối thiểu là 46.161 tỷ đồng; trong đó ngân sách trung ương là 41.449 tỷ đồng và 4.712 tỷ đồng

từ nguồn ngân sách địa phương

Để đảm giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, cầntriển khai đồng bộ các nhiệm

vụ, giải pháp, trong đó tập trung vào các nhóm giải pháp cơ bản:

Thứ nhất, các bộ, ngành, địa phương phải nâng cao nhận thức về ý nghĩa và tầm

quan trọng của công tác giảm nghèo trong thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của đất nước; phải coi công tác giảm nghèo là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, là một tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền

Thứ hai, tập trung rà soát chính sách để loại bỏ những điểm không còn phù hợp và

bổ sung những chính sách mới, phù hợp Các chính sách sửa đổi, bổ sung phải hướng vào hỗ trợ hộ nghèo, hỗ trợ vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo hướng hỗ trợ sản xuất và hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Hỗ trợ sản xuất tập trung vào hỗ trợ trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc; giao đất, giao rừng cho người dân gắn với phát triển và bảo

vệ rừng, điều chỉnh các chính sách về giữ rừng, bảo vệ rừng; hỗ trợ lương thực, giống, khuyến nông, đào tạo nghề, lãi suất cho vay phát triển sản xuất; hỗ trợ cho doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn khó khăn và thu hút lao động tại chỗ gắn với hỗ trợ đào tạo nghề thông qua doanh nghiệp

Hỗ trợ các dịch vụ xã hội cơ bản như nhà ở, nước sạch, bảo hiểm y tế, giáo dục, tiếp cận thông tin, đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

Trang 9

Thứ ba, huy động các nguồn lực cho công tác giảm nghèo và thực hiện lồng ghép,

sử dụng hiệu quả các nguồn lực Cùng với nguồn đầu tư từ ngân sách, cần huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, cộng đồng; khuyến khích sự nỗ lực của người nghèo, hộ nghèo

Ngân hàng Chính sách xã hội tăng thêm dư nợ tín dụng người nghèo so với chỉ tiêu 10% hiện nay để tăng mức hỗ trợ và mở rộng đối tượng hộ nghèo được hỗ trợ tín dụng chính sách; bảo đảm mục tiêu thoát nghèo bền vững

Thứ tư, Ban Chỉ đạo Trung ương về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020

tổng kết, đánh giá chương trình giảm nghèo giai đoạn 2011-2015 và xây dựng Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 với những tiêu chuẩn, tiêu chí cao hơn, gắn với việc xây dựng, ban hành và thực hiện chuẩn nghèo mới Khẩn trương hoàn thiện dự thảo Nghị định về chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách xóa đói, giảm nghèo và hỗ trợ đồng bào dân tộc trong thời gian tới

Ngày đăng: 30/03/2023, 14:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w