1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chuyên đề thực tập hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thương mại ở việt nam

34 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề thực tập hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thương mại ở việt nam
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại Đề án
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 56,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỤC LỤC Phần I Khái quát chung về Hệ thống kiểm soát nội bộ trong NHTM 1 1 Hệ thống KSNB trong Ngân hàng thương mại ở VN 4 1 1 1 Khái quát về NHTM 4 1 1 2 Vai trò và chức năng cơ bản của ngân[.]

Trang 1

MỤC LỤC

Phần I: Khái quát chung về Hệ thống kiểm soát nội bộ trong NHTM

1.1 Hệ thống KSNB trong Ngân hàng thương mại ở VN………4

1.1.1 Khái quát về NHTM……… 4

1.1.2 Vai trò và chức năng cơ bản của ngân hàng……….…….5

1.1.3 Sự cần thiết của Hệ thống KSNB tại các ngân hàng thương mại VN…7 1.1.4 Các yếu tố cơ bản của Hệ thống KSNB của Ngân hàng Thương mại… 9

1.1.4.1 Môi trường kiểm soát………9

1.1.4.2 Hệ thống kế toán……… … 11

1.1.4.3 Các thủ tục kiểm soát……… 12

1.1.4.4 Kiểm toán nội bộ……….12

1.2 Kinh nghiệm quốc tế về hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ và tổ chức

kiểm toán nội bộ trong các tổ chức tín dụng……….……….16

Phần II: Thực trạng hoạt động và giải pháp hoàn thiện Hệ thống kiểm soát nội bộ của các NHTM ở Việt Nam 2.1 Những thành tựu của Hệ thống kiểm soát nội bộ trong NHTM ở Việt Nam…….20

2.2 Những hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ các NHTM ở Việt Nam hiện nay.21 2.3 Giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ và bộ phận kiểm toán nội bộ tại các NHTM ở Việt Nam……… ……….24

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, một doanh nghiệp phát triển bền vững phải

có một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh đi cùng Một hệ thống kiểm soát nội bộvững mạnh sẽ đem lại cho doanh nghiệp các lợi ích như: Giảm bớt nguy cơ rủi ro tiềm

ẩn trong sản xuất kinh doanh (sai sót vô tình gây thiệt hại, các rủi ro làm chậm kếhoạch, ); bảo vệ tài sản khỏi bị hư hỏng, mất mát bởi hao hụt, gian lận, lừa gạt, trộmcắp; đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính; đảm bảo mọithành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt của tổ chức chức cũng như các quyđịnh của luật pháp, đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực

và đạt được mục tiêu đặt ra; bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và gây dựng lòng tin đốivới họ

Ngân hàng thương mại - một loại hình doanh nghiệp đặc biệt hoạt động kinh doanhtrong lĩnh vực tiền tệ tín dụng thanh toán, liên quan đến toàn bộ nền kinh tế Việc thựchiện kiểm soát nội bộ với hệ thống ngân hàng thương mại càng trở nên quan trọng

Thấy được tầm quan trọng của việc phải xây đựng hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh cho hệ thống ngân hàng thương mại, em thực hiện đề án nghiên cứu việc ”

Tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của các Ngân hàng Thương mại ở Việt Nam”.

Trong đề tài này em chỉ đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu về bộ phận kiểm toán nội bộ trong Hệ thống Kiểm soát nội bộ

Theo đó, đề án được xây dựng ngoài phần mở đầu và kết luận còn gồm 2 phần: Phần I: Khái quát chung về hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại Phần II: Thực trạng hoạt động và giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại ở Việt Nam.

Trang 3

Để hoàn thành đề án này em đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của

Cô giáo TS.Nguyễn Thị Hồng Thuý Mặt khác do kiến thức còn hạn chế, bài viếtkhông tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy,

cô giáo, các bạn và những người quan tâm để hoàn thiện đề án này

Trang 4

Phần I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỆ THỐNG KSNB TRONG NHTM

1.1 Hệ thống KSNB trong Ngân hàng thương mại ở VN

1.1.1 Khái quát về NHTM

Theo luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997 định nghĩa: “NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan” “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi

và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán”

Ngân hàng là một trong những ngân hàng tổ chức tài chính quan trọng nhất củanền kinh tế Ngân hàng là người cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêu dùng (cánhân, hộ gia đình) và với hầu hết các cơ quan chính quyền điạ phương (thành phố,tỉnh ).Hơn nữa, đối với các doanh nghiệp nhỏ ở địa phương, từ người bán rau quả chotới người kinh doanh ô tô, ngân hàng là tổ chức cung cấp tín dụng cơ bản phục vụ choviệc mua hàng hoá dự trữ hoặc mua ô tô trưng bày Khi doanh nghiệp và người tiệudùng phải thanh toán cho các khoản mua hàng hoá và dịch vụ họ thường dùng phảithanh toán cho các khoản mua hàng hoá và dịch vụ họ thường sử dụng séc, thẻ tín dụnghay tài khoản điện tử Và khi cần thông tin tài chính hay cần lập kế hoạch tài chính, họthường tìm đến ngân hàng để nhận được lời tư vấn

Trên toàn thế giới, ngân hàng là loại hình tổ chức trung gian tài chính cung cấpcác khoản tín dụng trả góp cho người tiêu dùng với quy mô lớn nhất Trong mọi thời

kỳ, ngân hàng là một trong những thành viên qua trọng nhất trên thị trường tín phiếu vàtrái phiếu do chính quyền địa phương phát hành để tài trợ cho các công trình côngcộng, từ những hội trường, sân bóng đá cho đến sân bay và đường cao tốc Ngân hàngcũng là một trọng tổ chức tài chính cung cấp vốn lưu động quan trọng nhất cho các

Trang 5

doanh nghiệp và trong những năm gần đây, ngân hàng đã tăng cường mở rộng cho vaydài hạn đổi mới hay mua sắm máy móc thiết bị mới Với tất cả những lí do đó và hơnthế nữa, ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất của

xã hội

1.1.2 Vai trò và chức năng cơ bản của NHTM

Chức năng trung gian tín dụng

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay

và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay

Chức năng trung gian thanh toán

Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của kháchhàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ

Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó

mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặpngười phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó

để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này vô hình chung

Trang 6

đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn,

từ đó góp phần phát triển kinh tế

Chức năng tạo tiền

Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân NHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã

vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế

Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng,ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được kháchhàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ

sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM

đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán,chi trả của xã hội Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với nhtm do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn

Ngoài các chức năng chính trên thì NHTM ngày nay còn có thêm một số chức năng khác theo nhu cầu phát triển hiện đại

Trang 7

Chức năng uỷ thác Chức năng tín dụng

Ngân hàng hiện đại

Chức năng quản lý tiền mặt

Chức năng lập kế hoạch đầu tư

Chức năng thanh toán

Chức năng tiết kiệm

Sơ đồ 1.1: Những chức năng cơ bản của Ngân hàng đa năng ngày nay

1.1.3 Sự cần thiết của KTNB tại các ngân hàng thương mại VN

Đặc trưng hoạt động mang tính rủi ro cao của ngân hàng.

o NHTM tiến hành các hoạt động nghiệp vụ của mình thông qua việc sử dụng không chỉ nguồn vốn tự có của mình mà chủ yếu bằng nguồn vốn huy động của khách hàng Nếu như ngân hàng không thu hồi được số nợ mà họ đã cho vay hoặc đầu tư gặp phải rủi ro dẫn đến không hoàn trả được số tiền huy động của khách hàng làm cho ngân hàng phá sản

Trang 8

o Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, thanh toán, luôn gắn liền với sự rủi ro về biến động giá trị đồng tiền

o Hệ thống ngân hàng thương mại là huyết mạnh trong nền kinh tế quốc dân nếu như một ngân hàng bị phá sản rất dễ gây ra sự mất ổn định trong nền kinh tếXuất phát từ đặc trưng trong hoạt động của các NHTM mang tính rủi ro cao đã buộc các NHTM trong bất cứ một môi trường, chế độ xã hội nào cũng đều phải biết cách định dạng được các rủi ro và chế ngự sự xuất hiện của chúng thì các NHTM mới

có thể tồn tại được vì vậy hầu hết các NHTM ở những nước tiên tiến đều có hệ thống phân tích, dự đoán, kiểm soát rủi ro để chế ngự sự xuất hiện và phá hoại của chúng đối với hoạt động của ngân hàng Hệ thống phân tích, định dạng rủi ro chế ngự đó chính là "kiểm toán nội bộ"

Mặc dù là một nước đang phát triển, ngành ngân hàng Việt Nam ra đời muộn hơn rất nhiều so với các nước trên thế giới nhưng các NHTM Việt Nam cũng không thể nằm ngoài tính qui luật nói trên Ngày 1/8/2006 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN yêu cầu các ngân hàng phải thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ

Hiện nay phần lớn các NHTM ở Việt Nam thường có các chi nhánh và các đơn

vị thành viên thực hiện hạch toán độc lập hay các đơn vị sự nghiệp Như vậy trong mộtNHTM các hệ thống báo cáo tài chính được xây dựng từ những nghiệp vụ phát sinh ở các cơ sở trực tiếp giao dịch Do vậy khi tổng hợp quyết toán toàn NHTM thì cần thiết phải thẩm tra, xem xét, đánh giá cho đúng chuẩn mực từng nghiệp vụ phát sinh, từng loại báo cáo tài chính Để thẩm tra, xem xét, đánh giá các báo cáo tài chính từ cơ sở cho phù hợp với các loại chuẩn mực thì cần thiết phải có đội ngũ KTVNB tiến hành kiểm toán và ký xác nhận vào từng loại báo cáo trước khi tập hợp toàn ngân hàng

Nói tóm lại, trong giai đoạn hiện nay các ngân hàng hoạt động theo cơ chế thị trường KTNB trở nên hết sức cần thiết Việc thực hiện KTNB trong các NHTM tạo điều kiện cho các NHTM luôn có ý thức tự hoàn thiện các hoạt động của mình, nâng

Trang 9

cao và củng cố niềm tin, uy tín của ngân hàng trên thị trường, là điều kiện vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại của các NHTM Do dó, các NHTM không những phải làmtốt công tác KTNB mà còn biến nó trở thành một công cụ cạnh tranh của mình trên thị trường

1.1.4 Các yếu tố cơ bản của Hệ thống KSNB của Ngân hàng Thương mại.

1.1.4.1 Môi trường kiểm soát.

Môi trường kiểm soát là toàn bộ những yếu tố bên trong và bên ngoài của công

ty ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ và là các yếu tố tạo ra môi trường mà trong đó toàn bộ thành viên của công ty nhận thức được tầm quan trọng của

hệ thống kiểm soát nội bộ

Các nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm:

Đặc thù quản lý:

Các NHTM là các DN đặc biệt nên hoạt động của các ngân hàng cũng có những

“đặc thù” khác với các công ty đó là: sự không rõ ràng của một số nguồn thông tin tàichính khiến khó đánh giá chất lượng hoạt động và rủi ro; sự đa dạng về các đối tượngthụ hưởng nên khó quản lý; độ rủi ro lớn, nhiều khoản nợ ngắn hạn nên rủi ro tronghoạt động là rất cao và rất dễ dẫn đến phá sản; chịu sự quản lý chặt chẽ với nhiều quyđịnh khắt khe và chi tiết do tầm quan trọng trong hệ thống, nếu đổ vỡ có thể gây ra tổnthất lớn và trên phạm vi rộng Vì thế, bản thân các Ngân hàng cũng phải đưa ra các quyđịnh rất cụ thể, rõ ràng như các hạn chế về hoạt động (sản phẩm, chi nhánh), yêu cầu

về đảm bảo an toàn (phân loại tín dụng, dự trữ bắt buộc…)

Cơ cấu tổ chức:

Mô hình tổ chức và quản lý hiện tại được phân biệt chủ yếu theo chức năng với hai

cơ cấu quyền lực là cấp quản trị điều hành và cấp quản lý kinh doanh

Cấp quản trị điều hành: Là Hội đồng quản trị (HĐQT) gồm Chủ tịch HĐQT và

một số thành viên chuyên trách, làm việc theo chế độ tập thể Về nguyên tắc HĐQT

Trang 10

thực hiện chức năng quản lý đối với mọi hoạt động của NHTM, chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn; ban hành điều lệ, các cơ chế, qui chế tổ chức và hoạt động của ngân hàng.

Cấp quản lý kinh doanh: Là Ban điều hành gồm Tổng giám đốc, các Phó tổng

giám đốc, Kế toán trưởng và các phòng ban tham mưu giúp việc tại hội sở chính Cấp trực tiếp kinh doanh gồm các đơn vị hạch toán độc lập, các chi nhánh hạch toán phụ thuộc, các đơn vị sự nghiệp và đơn vị hùn vốn kinh doanh

Chính sách nhân sự:

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt đòi hỏi nhân viên ngânhàng nhanh nhạy với biến động của thị trường lãi suất, sáng tạo năng động tích cực Vìvậy cần có những chính sách cụ thể rõ ràng về tuyển dụng đào tạo, sắp xếp, đề bạt,khen thưởng… để có thể thu hút được nhân tài Bên cạnh đó ngân hàng là đơn vị kinhdoanh chịu nhiều rủi ro nên việc thiết kế vận hành chính sách và thủ tục kiểm soát chặtchẽ với đội ngũ nhân viên cũng được các nhà lãnh đạo hết sức quan tâm

cụ hữu hiệu để ngân hàng thực hiện công tác kiểm soát của mình trong cả các hoạtđộng liên quan như tín dụng, thanh toán và mục tiêu lợi nhuận

Ủy ban kiểm soát

Ủy ban kiểm soát bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao nhất của đơn vịnhư thành viên của Hội đồng quản trị nhưng không kiểm nhiệm các chức vụ quản lý và

Trang 11

những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát giám sát hoạt động ngân hàng, đánhgiá chính xác hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính của ngân hàng. 

Môi trường bên ngoài

Môi trường kiểm soát hoạt động của ngân hàng thương mại còn phụ thuộc vào cácnhân tố bên ngoài Các nhân tố này tuy không chịu sự kiểm soát của các nhà quản lýngân hàng nhưng có ảnh hưởng lớn đến thái độ, phong cách điều hành của các nhàquản lý trong việc điều hành công tác huy động vốn cũng như thiết kế vận hành cácquy chế và thủ tục kiểm soát nộ bộ Các nhân tố này bao gồm: Sự kiểm soát của các cơquan chức năng của Nhà nước như: Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Bộ tài chính, Ủyban giám sát tài chính Quốc gia… thông qua các quy định, chính sách điều tiết vĩ mô,các văn bản pháp luật…

Hệ thống sổ kế toán: Được phân chia theo cấp độ chi tiết (mức độ chi tiết phù

hợp vào quy mô của từng ngân hàng) Sổ chi tiết cấp I phân định theo loại tiền gửithanh toán, tiền gửi có kì hạn và tài khoản phát hành giấy tờ có giá và đơn vị tiền tệhuy động (VND, USD, ERU,…) Sổ chi tiết cấp II được phân định theo loại kỳ hạn (1

Trang 12

tuần, 2 tuần, 1 tháng, 1 năm …) Sổ chi tiết cấp III được phân định rõ ràng đối với cácđối tượng gửi tiền khác nhau (dân cư, tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng…).

Hệ thống báo cáo tài chính: giống như mọi doanh nghiệp khác hệ thống BCTC

gồm: Báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, bảng lưu chuyển tiền tệ vàthuyết minh báo cáo tài chính

1.1.4.3 Các thủ tục kiểm soát.

- Các thủ tục kiểm soát do nhà quản lý xây dựng lên dựa trên ba nguyên tắc cơ bản:nguyên tắc bất kiêm nhiệm, nguyên tắc phân công phân nhiệm rõ ràng và chế độ uỷquyền

- Các nguyên tắc này đảm bảo về trách nhiệm và công việc cho các bộ phận trongcông ty cụ thể và rõ ràng, đảm bảo sự tách biệt thích hợp về trách nhiệm ngăn ngừa saiphạm và hành vi lạm dụng quyền hạn, đảm bảo phạm vi quyền hạn giải quyết côngviệc trong phạm vi nhất định

- Ngoài nhưng nguyên tắc cơ bản trên, các thủ tục kiểm soát còn bao gồm việc quyđịnh chứng từ sổ sách phải đầy đủ, quá trình kiểm soát vật chất với tài sản và sổ sách

và kiểm soát độc lập việc thực hiện các hoạt động của công ty Thủ tục kiểm soát tốt sẽgiúp công ty hạn chế được các rủi ro, tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp và giúpcho quá trình kiểm soát nội bộ dễ dàng hơn

1.1.4.4 Kiểm toán nội bộ.

Kiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập trong NHTM, thông qua việc thực hiện vai trò,chức năng, nhiệm vụ của mình để kiểm tra, đánh giá, xác nhận tính hiệu quả của công tác quản

lý rủi ro và tính hữu hiệu của hệ thống kiểm toán, kiểm soát nội bộ, từ đó xác lập được các thôngtin về tài chính, tình hình hoạt động giúp Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc nắm bắt được mộtcách kịp thời các nguy cơ, tiềm ẩn rủi ro, mức độ hoàn thành mục tiêu, kế hoạch, xác định vàphân bổ nguồn lực, hoạch định chính sách và định hướng chiến lược cho mọi hoạt động củaNHTM

Trang 13

Đóng góp giá trị tăng thêm để cải thiện, nâng cao chất lượng hoạt động NHTM, từ đógóp phần củng cố vị thế của NHTM trong nền kinh tế cũng như tăng cường vai trò trung gian tàichính của NHTM thông qua việc hoàn thiện môi trường quản lý rủi ro và hệ thống kiểm soátnội bộ của NHTM

Chức năng:

Kiểm tra: là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật để xem xét, đối chiếu mức độ trungthực của các thông tin, tài liệu và tính hợp pháp của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lậpcác bản khai tài chính

Đánh giá: Thông qua kiểm tra, nhân viên Kiểm toán nội bộ đánh giá tính đúng đắn, trungthực và hợp pháp của các số liệu, thông tin, tài liệu được kiểm tra

Xác nhận: Thông qua kiểm tra, đánh giá nhân viên kiểm toán nội bộ xác nhận thực trạngcác thông tin đã kiểm tra về tính đúng đắn, trung thực và hợp pháp của các thông tin đó

Tư vấn: Trên cơ sở những phát hiện trong quá trình kiểm tra, đánh giá, nhân viên kiểmtoán nội bộ đề xuất và tư vấn các giải pháp, biện pháp để khắc phục sai sót, vi phạm, cải tiến vàhoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm đảm bảo an toàn và nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa NHTM, giúp NHTM đạt được mục tiêu của mình

Nhiệm vụ:

Kiểm tra, đánh giá độ tin cậy, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ

Trang 14

Kiểm tra, thẩm định tính xác thực, độ tin cậy của các thông tin quản lý, thông tin tài chính,bao gồm cả hệ thống thông tin điện tử và dịch vụ ngân hàng điện tử.

Kiểm tra, đánh giá tính tuân thủ Luật pháp và quy định nội bộ của NHTM

Kiểm tra, đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý rủi ro, các biện pháp đảm bảo

an toàn tài sản và sử dụng nguồn lực của NHTM

Kiến nghị các biện pháp sửa chữa, khắc phục sai sót, tồn tại; xử lý các sai phạm; đề xuất cácbiện pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thống quản lý rủi ro ngân hàng

Phạm vi hoạt động

Rà soát sự tuân thủ các nghiệp vụ và hồ sơ, chứng từ

Kiểm tra hệ thống kiểm soát và các thủ tục kiểm soát

Phân tích và rà soát các quy trình và các biện pháp được áp dụng

Soát xét các nguy cơ, tiềm ẩn rủi ro

Phân tích các thông tin quản lý và thông tin tài chính

Kiểm tra, xác nhận các thông tin quản lý và thông tin tài chính thông qua kiểm tra chi tiết vàkiểm tra các dữ liệu, cơ sở

 Các hoạt động kiểm toán nội bộ trong NHTM gồm:

Kiểm toán nội bộ hoat động tín dụng: Kiểm toán hoạt động tín dụng nhằm đánh giáđúng thực trạng, chất lượng tín dụng, phát hiện những sơ hở trong hoạt động tín dụng, những rủi

ro và tiềm ẩn rủi ro hoạt động tín dụng của ngân hàng từ đó đề xuất tư vấn hội đồng quản trị(HĐQT), Tổng Giám Đốc, Giám đốc các đơn vị thành viên các biện pháp, giải pháp nhằm giảmthiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng

Kiểm toán nội bộ hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn là một nghiệp vụ căn bản trong

hoạt động ngân hàng, nó chiếm phần chủ yếu trong cơ cấu tài sản Nợ của ngân hàng Một ngânhàng hoạt động có hiệu quả là ngân hàng kiểm soát được nguồn vốn mình đang quản lý, cân đốigiữa nguồn vốn và sử dụng vốn ở tỷ lệ hợp lý Muốn làm được điều này, đòi hỏi ngân hàng phải

Trang 15

thực sự là số một trong việc cạnh tranh trên thị trường vốn cũng như các thị trường dịch vụ kháctrong lĩnh vực tài chính ngân hàng Do đó đòi hỏi kiểm toán hoạt động huy động vốn của ngânhàng là tất yếu, nó nhằm đem đến cho nhà quản trị ngân hàng một cái nhìn tổng thể về hoạtđộng nguồn vốn nói chung, huy động vốn nói riêng ở ngân hàng mình, từ đó đưa ra nhữngquyết sách đúng đắn về chiến lược nguồn vốn, sử dụng vốn Đảm bảo những đồng vốn huyđộng sẽ đem lại hiệu quả kinh doanh cao nhất cho ngân hàng và hạn chế thấp nhất những rủi ro.

Kiểm toán nội bộ hoạt động kinh doanh ngoại tệ: Để đảm bảo an toàn hoạt động

kinh doanh của Ngân hàng nói chung và hoạt động kinh doanh ngoại tệ nói riêng trongđiều kiện có nhiều biến động về kinh tế, chính trị trong khu vực và trên thế giới Vì vậy

để kiểm soát, giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động thì đòi hỏi cần có một

hệ thống kiểm toán nội bộ để đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh nói chung vànghiệp vụ kinh doanh ngoại hối nói riêng

Kiểm toán hoạt động thanh toán và tài trợ thương mại: Kiểm toán nội bộ hoạt động

thanh toán nhằm kiểm tra, xác nhận độ tin cậy và đánh giá mức độ rủi ro của hoạt độngthanh toán từ đó đưa ra các khuyến nghị để hoạt động thanh toán an toàn và đạt hiệu quả

Kiểm toán nội bộ hoạt động kho quỹ: Kiểm toán nội bộ hoạt động kho quỹ nhằm kiểm

tra, phát hiện đánh giá và đưa ra ý kiến đề xuất về những rủi ro, sơ hở, yếu kém trong công táckho quỹ của từng đơn vị và trong toàn hệ thống NHTM

Kiểm toán nội bộ hoạt động công nghệ thông tin: Kiểm toán hệ thống công nghệ

thông tin ngoài mục tiêu đánh giá sự hợp lý, độ tin cậy của các số liệu, còn nhằm mụcđích kiểm toán hệ thống kiểm soát nội bộ trong các chương trình ứng dụng của toàn hệthống NHTM Chương trình xử lý số liệu hợp lý hay không, độ an toàn của hệ thốngthông tin cả về kỹ thuật lẫn chương trình có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả xử lý nghiệp

vụ và độ an toàn tài sản của ngân hàng cũng như hiệu quả kinh doanh

Kiểm toán nội bộ báo cáo tài chính: Đánh giá báo cáo tài chính phản ánh trung thực

và hợp lý về tình hình tài chính, kết quả hoạt động và lưu chuyển tiền tệ có phù hợp với cácchuẩn mực hoặc chế độ kế toán hiện hành hay không?

Trang 16

Kiểm tra và đánh giá việc tổ chức và thực hiện công tác kế toán, công tác kiểm soát tàichính của từng đơn vị được kiểm toán, việc tuân thủ pháp luật, chế độ liên quan đến tài chính kếtoán

Đưa ra được các ý kiến đề xuất, khuyến nghị và tư vấn để cải thiện hệ thống kiểm soátnội bộ của bộ phận kế toán tài chính trên cơ sở các phát hiện trong quá trình kiểm toán kết hợpvới việc phân tích, đánh giá tình hình tài chính và kết quả hoạt động

1.2 Kinh nghiệm quốc tế về hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ và tổ chức kiểm toán nội bộ trong các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng.

Bộ phận KTNB phải có quyền chủ động trong việc thực hiện công việc củamình tại bất cứ bộ phận, phòng ban chức năng nào của tổ chức Trao cho người đứngđầu bộ phận KTNB quyền chủ động liên lạc (một cách chính thức) trực tiếp với Hộiđồng quản trị (HĐQT) thông qua Uỷ ban kiểm tra (UBKT) Để đảm bảo tính độc lập,hầu hết bộ phận KTNB đều thuộc quyền kiểm soát trực tiếp của UBKT thuộc HĐQT,hoặc ít nhất Tổng giám đốc (TGĐ)

Về tổ chức hoạt động kiểm toán

Thứ nhất: Đối tượng phạm vi và nội dung kiểm toán

Trang 17

Mọi hoạt động, mọi đơn vị trong tổ chức đều là đối tượng của KTNB, nhưngtrước hết các nguồn lực của KTNB được định hướng vào những đơn vị, những hoạtđộng có rủi ro.

Phạm vi của KTNB bao gồm việc kiểm tra, đánh giá về tính phù hợp; tính hiệuquả của hệ thống kiểm soát nội bộ và về cách thức thực hiện các trách nhiệm đượcphân công Nói cách khác, nó chính là việc phân tích rủi ro của HTKSNB của tổ chức

Đối tượng của KTNB tại các NHTM là rất rộng, bao gồm những lĩnh vực quantrọng như: HTKSNB, các thủ tục quản lí rủi ro, hệ thống thông tin tài chính, kiểm tracác giao dịch và các thủ tục, kiểm tra tính tuân thủ với pháp luật và quy định của các cơquan quản lý và các cuộc điều tra đặc biệt khác Về phạm vi hoạt động của KTNB, tất

cả các hoạt động và các bộ phận trong NHTM đều nằm trong phạm vi kiểm toán

Thứ hai: Về tổ chức thực hiện kiểm toán

Các NHTM đều chuẩn bị chương trình kiểm toán, ghi chép các thủ tục kiểmtoán trong hồ sơ kiểm toán, và phát hành các báo cáo kiểm toán bằng văn bản kịp thờisau mỗi cuộc kiểm toán Các báo cáo sau đó được gửi tới đơn vị được kiểm toán và tớicác nhà quản trị điều hành cấp cao Tại một số NHTM, việc gửi báo cáo phụ thuộc vàotính chất nghiêm trọng của kết quả kiểm toán

Bộ phận KTNB của các NHTM này cũng theo dõi việc thực hiện các kiến nghịcủa mình, mức độ thường xuyên của công tác này phụ thuộc vào mức độ quan trọngcủa các kiến nghị Họ cũng báo cáo lên các nhà quản trị điều hành cấp cao về tình hìnhthực hiện các kiến nghị Và tuỳ theo tính nghiêm trọng của các phát hiện sau kiểmtoán, KTNB có thể báo cáo lên HĐQT hoặc UBKT

Thứ ba: Về kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán

Người đứng đầu bộ phận KTNB chịu trách nhiệm đảm bảo rằng hoạt động củaKTNB tuân thủ theo đúng những nguyên tắc và thông lệ tốt nhất áp dụng trong lĩnh

Ngày đăng: 30/03/2023, 13:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w